1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát đánh giá thực trạng xây dựng cao ốc văn phòng Bình Dương

42 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 5,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng đánh giá Dựa trên hiện trạng thực tế, ta có thể chia cao ốc văn phòng ở Bình Dương làm 2 loại hình công trình: công trình văn phòng tư nhân, công trình văn phòng công sở và công tr

Trang 1

1

M ỤC LỤC

I Đặt vấn đề 3

II Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận 3

III Khảo sát đánh giá thực trạng xây dựng cao ốc văn phòng ở Bình Dương 4

III.1.Hiện trạng tổng thể 4

III.2.Hiện trạng công trình 7

IV Bảng đánh giá 31

V Kết luận và một số vấn đề tồn tại 34

V.1 Kết luận 34

V.2 Một số vấn đề tồn tại 34

VI Tài liệu tham khảo 35

VII Phụ lục 36

VII.1 Phụ lục 1: Phác thảo vài nét về đất Bình Dương thời kì khai phá 36

VII.2 Phụ lục 2: Định hướng phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020 38

VIII Xác nhận thực hiện chuyên đề 42

Trang 3

3

I Đặt vấn đề

Hiện trạng thực tế của công trình kiến trúc hay một không gian đô thị biểu hiện rõ ràng nhất những ảnh hưởng của điều kiện khí hậu cũng như đặc điểm văn hóa của một địa phương Do đó việc khảo sát thực tế là một công việc quan trọng, là cơ sở cho việc nghiên cứu và kiến nghị bám sát với thực tế

Như vậy, việc khảo sát đánh giá thực trạng xây dựng cao ốc văn phòng ở Bình Dương là cần thiết nhằm hướng dẫn thiết kế tường bao che và hệ thống lam che chắn cho công trình cao ốc văn phòng thích ứng với điều kiện khí hậu ở Bình Dương

II Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận

Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sẽ sử dụng được xây dựng dựa vào mục tiêu cụ thể của đề tài là:

 Các giải pháp thiết kế Tường và lam che chắn bên ngòai cao ốc văn phòng phải ưu tiên thông gió và chiếu sáng tự nhiên

 Việc thiết kế mặt đứng công trình cao ốc văn phòng phải có tính kết nối với các tiêu chí của thiết kế đô thị

 Bước thực hiện: Thu thập thông tin, số liệu, xử lý dữ liệu,…(tổ chức trực tiếp điều tra, sử dụng số liệu từ các cơ quan ban ngành) Giai đọan này sử dụng: phương pháp thu thập và xử lí thông tin

Trang 5

5

Sơ đồ thể hiện sự phân bố các công trình cao ốc văn phòng theo khu vực hành chính

Các công trình cao ốc văn phòng phân bố tập trung trong khung màu vàng

Trang 6

6

Sơ đồ vị trí cụ thể các cao ốc văn phòng ở TP TDM và Thuận An

Bảng thống kê cao ốc văn phòng

TP TDM Thuận An Dĩ An Tân Uyên Phú Giáo Bến

Cát Dầu Tiếng

Phần

Trang 7

7

III.2.Hiện trạng công trình

NGÂN HÀNG ĐÔNG Á-Chi nhánh Thuận An-Quốc lộ 13, Thuận An

Trang 8

8

NGÂN HÀNG ĐÔNG Á-Chi nhánh Thuận An-Quốc lộ 13, Thuận An

Trang 9

9

Trang 10

10

Trang 11

11

NGÂN HÀNG PHƯƠNG TÂY - 203 Đại lộ Bình Dương, TP TDM

Trang 12

12

NGÂN HÀNG PHƯƠNG TÂY - 203 Đại lộ Bình Dương, TP TDM

Trang 13

13

NGÂN HÀNG PHƯƠNG ĐÔNG - 233 Đại lộ Bình Dương, TP TDM

Trang 14

14

NGÂN HÀNG PHƯƠNG ĐÔNG - 233 Đại lộ Bình Dương, TP TDM

Trang 15

15

Trang 16

16

Trang 17

17

Trang 18

18

Trang 19

19

Trang 20

20

Trang 21

21

Trang 22

22

Trang 23

23

Trang 24

24

Trang 25

25

Trang 26

26

Trang 27

27

Trang 28

28

Trang 29

29

NGÂN HÀNG PHƯƠNG NAM – 425 CMT8, TP TDM

Trang 30

30

NGÂN HÀNG PHƯƠNG NAM – 425 CMT8, TP TDM

Trang 31

31

IV Bảng đánh giá

Dựa trên hiện trạng thực tế, ta có thể chia cao ốc văn phòng ở Bình Dương làm 2 loại hình công trình: công trình văn phòng tư nhân, công trình văn phòng công sở và công trình thương mại (để so sánh)

 Công trình văn phòng tư nhân: có 10 công trình bao gồm:

1 Ngân hàng Đông Á

2 Ngân hàng Phương Tây

3 Ngân hàng Phương Đông

10 Ngân hàng Phương Nam

 Công trình văn phòng công sở: có 1 công trình

1 Kho bạc nhà nước Bình Dương

 Công trình thương mại: có 1 công trình

2 HPT palace

Dễ dàng nhận thấy các công trình cao ốc văn phòng ở Bình Dương đều sử dụng vật liệu gạch gốm kết hợp vật liệu kính làm bề mặt tường bao che cho công trình Các công trình văn phòng tư nhân sử dụng đa dạng vật liệu hơn với sự kết hợp giữa vật liệu gạch gốm, kính và hợp kim nhôm Công trình công sở sử dụng vật liệu gạch gốm là tường bao che và cửa sổ kính Công trình thương mại cũng sử dụng kết hợp vật liệu gạch gốm, kính và hợp kim nhôm nhưng vật liệu hợp kim nhôm và kính được sử dụng nhiều hơn

Các công trình văn phòng tư nhân có sự khác biệt nhau giữa công trình cũ và mới:

 Công trình cũ: sử dụng nhiều hơn vật liệu gạch gốm, ít vật liệu kính và hợp kim nhôm

 Công trình mới: sử dụng nhiều vật liệu kính hơn ( công trình Becamex sử dụng toàn bộ vỏ bao che bằng kính), nhiều vật liệu hợp kim nhôm hơn và ít vật liệu gạch gốm hơn

Trang 32

32

Dựa trên tiêu chí điều kiện khí hậu và văn hóa ảnh hưởng đến công trình kiến trúc, đề xuất sử dụng vật liệu cho tường bao che của công trình cao ốc văn phòng ở Bình Dương: Bảng đề xuất sử dụng vật liệu bề mặt trên công trình (dấu X thể hiện công trình sử dụng

 Văn hóa

Có thể nói gạch đất nung là một sản phẩm của làng nghề gốm truyền thống có

từ lâu đời ở Bình Dương Gạch đất nung được sử dụng trên tường bao che các công trình ở Bình Dương là một nét văn hóa đặc sắc ở nơi đây

 Làm đẹp

Việc lựa chọn hình dáng bên ngoài của ngôi nhà là biểu hiện của phong cách

và thị hiếu riêng của mỗi người, ấn tượng được tạo ra từ cái nhìn bên ngoài của một ngôi nhà là đặc biệt quan trọng Việc sử dụng gạch trong thiết kế giúp chúng ta hiểu nhiều về xây dựng trong quá khứ đến đương đại

Gạch đất sét nung tuynel với mầu sắc đỏ đặc trưng giúp tôn lên vẻ đẹp sang trọng & cổ kính của ngôi nhà đồng thời thể hiện tốt phong cách của người chủ Hơn nữa sản phẩm gạch tuynel được sản xuất với nhiều kiểu dáng, màu sắc và kết cấu khác nhau giúp truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của nhà thiết kế và chủ nhà

nhằm góp phần tạo nên một mái ấm mơ ước

 Vĩnh cửu

Công trình được xây dựng bởi gạch tuynel giúp tăng tuổi thọ công trình và giúp công trình trường tồn lâu dài cho các thế hệ sau này Gạch tuynel bản chất có thể chống chọi lại mọi sự thay đổi về môi trường và sự khắc nghiệt của thời tiết Gạch đất sét nung nổi tiếng như là một vật liệu lâu đời và vĩnh cữu, như ta có thể

Trang 33

độ ẩm nội thất và phát tán vào khí quyển bên ngoài, giúp ngăn ngừa sự tích tụ của hơi nước và cung cấp một môi trường sống thoải mái hơn Một bức tường gạch có thể hấp thụ năng lượng từ mặt trời cũng như lưu trữ nhiệt trong nhà Nó phát tán nhiệt vào không khí trong phòng chỉ tại một điểm sau này trong ngày Điều này tiết kiệm chi phí sưởi ấm thêm vào đó nhiệt độ được cân bằng do sự hấp thụ và phát tán

của nhiệt Do đó, về mùa đông trong phòng của bạn vẫn ấm áp và thoải mái, mát mẻ

dễ chịu trong mùa hè Chức năng cách âm từ gạch giảm thiểu tiếng ồn từ các tòa nhà bên cạnh cũng như ở xung quanh

 Thân thiện môi trường

Gạch tuynel là sản phẩm tinh khiết từ tự nhiên, được làm từ lửa, nước, không khí, và đất Gạch tuynel được làm độc nhất từ nguyên liệu mùn hoặc đất sét và sau

đó được phơi khô và đem nung Nó đảm bảo được sức khỏe cho cuộc sống vì bốn yếu tố tự nhiên là lửa, nước, không khí và đất được thống nhất với nhau Do các yếu

tố cấu thành như vậy nên gạch đất sét nung là ưu tiên lựa chọn trong các công trình đòi hỏi phù hợp phong thủy Nguyên liệu được sử dụng cho việc tạo ra một viên

gạch là đất sét và nước Đây là những sản phẩm tự nhiên Gạch tuynel cũng không chứa chất gây ô nhiễm hoặc các chất gây dị ứng Ngoài ra, gạch đất nung giúp kháng và chống các công trình độc hại

Gạch - dễ dàng tái chế: gạch Tuynel có thể dễ dàng là vật liệu tái chế-khoáng sản như gạch có thể được tái sử dụng mà không gặp khó khăn, ví dụ như làm vật

liệu nền cho xây dựng đường bộ, cho bức tường cách âm, làm sân tennis

Gạch - Cân bằng môi trường: các tính chất tích cực của gạch, giá trị thẩm mỹ cao và nền kinh tế được bổ sung bằng cách tạo ra giá trị môi trường

Trang 34

xe cơ giới tổ chức xuống hầm hoặc bán hầm)

 Cây xanh-mặt nước: đa phần các cao ốc văn phòng ở Bình Dương chưa chú trọng nhiều đến tổ chức cây xanh mặt nước, tạo cảnh quan xung quanh công trình

 Khoảng lùi: đa số các công trình cao ốc đều có khoảng lùi hợp lí

 Vật liệu: vật liệu xây chủ yếu là gạch, vật liệu ốp chủ yếu là tấm hợp kim nhôm, vật liệu lấy sáng là kính phản quang hoặc kính trong

 Hệ thống che chắn: chưa quan tâm nhiều đến hệ thống che chắn bên ngoài công trình, hoặc có sử dụng nhưng hiệu quả không cao

 Cung cấp thêm kinh phí thêm cho phần chuyên đề này, đồng thời giúp tạo nguồn kinh phí cho chuyên đề tiếp theo

Trang 35

35

VI Tài liệu tham khảo

-Tất cả các ảnh chụp công trình là do nhóm tác giả thực hiện

-Tất cả các hình vẽ được sử dụng trong website: www.vietbando.com

-Tất cả các hình vệ tinh được sử dụng trong website: www.maps.google.com

Trang 36

36

VII Phụ lục

VII.1 Phụ lục 1: Phác thảo vài nét về đất Bình Dương thời kì khai phá

Cũng như hầu hết các địa phương thuộc lưu vực sông Phước Long (nay là sông Đồng Nai) và sông Tân Bình (nay là sông Sài Gòn), vùng đất nay là Bình Dương cho đến cuối thế

kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, vẫn còn là vùng đất hoang dã, rừng rậm lan tràn Lý do là vì lúc bấy giờ trên vùng đất mênh mông này mới chỉ có một ít cư dân thuộc các thành phần dân tộc: Stiêng, Châu-ro, Châu-mạ, Mơ-nông, Khơ me sinh sống Các dân tộc vừa dân số ít ỏi, vừa có

kỹ thuật sản xuất thấp kém, họ sống chủ yếu nhờ vào phá rừng làm nương, tỉa lúa theo phương thức du canh du cư, kết hợp với hái lượm và săn bắt, sống rải rác đây đó theo từng buôn sóc cách xa nhau, cho nên ngoại trừ một vài vùng đất cao ở bìa rừng và một số gò đồi, đại bộ phận đất đai còn lại đều là rừng rậm chưa hề được khai phá Chính vì lẽ đó mà cho đến giữa thế kỷ XVIII Lê Qúi Đôn vẫn ghi nhận trong sách Phủ biên tạp lục của ông cho rằng: “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp (Soài Rạp), Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm”

Vùng đất Đồng Nai - Gia Định hầu như hoang vắng vào cuối thế kỷ XVI, thì bổng trở nên sôi động từ đầu thế kỷ XVII, sự xuất hiện của lớp cư dân mới - lưu dân người Việt từ miền Thuận Quảng nhập cư vào Đây là số nông dân nghèo không chịu nổi sự vơ vét, bóc lột của nhà nước phong kiến Nguyễn và bọn địa chủ cường hào, cũng như cảnh sống cơ cực, lầm than, chết chóc do cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh Nguyễn gây ra Đây toàn là những người mất tội “Nghịch mạng triều đình” mà phải bị lưu đầy đến đây, những người vì trốn tránh sưu thuế, binh dịch phải chạy vào đây tìm chốn nương thân Theo chân người Việt vào những thập kỷ cuối thế kỷ XVII, một số người Hoa “Phản Thanh Phục Minh” cũng được Chúa Nguyễn cho lánh nạn vào đây sinh sống

Số lưu dân người Việt khi vào tới đất Đồng Nai - Gia Định thì địa điểm dừng chân đầu tiên của họ, theo sử cũ “Gia Định thành thông chí” là vùng Mỗi Xuy (còn gọi là Mô Xoài) - Bà Rịa vì đây là đất địa đầu nằm trên trục giao thông đường bộ từ Bình Thuận vào Nam, lại ở giáp biển Rồi từ Mô Xoài - Bà Rịa, họ tiến dần lên Đồng Nai (Biên Hòa) với các điểm định cư sớm nhất là: Bà Lân, Bến Gỗ, Bến Cá, An Hòa, Long Thành, Cù Lao Phố, Cù Lao Rùa, Cù Lao Tân Chánh, Cù Lao Ngô, Cù Lao Tân Triều… Cũng có một bộ phận lưu dân vào cửa Cần Giờ, ngược sông Bình Phước (sông Lòng Tàu) lên vùng Sài Gòn – Bến Nghé và vùng ngày nay là huyện Thuận An và huyện Bến Cát

Tiến trình nhập cư của lưu dân người Việt vào đất Đồng Nai - Sài Gòn đã diễn ra liên tục trong suốt thế kỷ XVII và đến cuối thế kỷ này thì dân số đã hơn 40.000 hộ, phân bố gần như khắp vùng mặc dù mật độ dân cư còn tương đối thấp Đó chính là cơ sở xã hội để vào mùa xuân năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn Phúc Chu quyết định phái Thống suất Chưởng

Cơ lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào “kinh lược” (tức là thiết lập hệ thống quản lý hành chính vùng này) “lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn” (Trịnh Hoài Đức, “Gia Định thành thông chí”)

Sau khi thiết lập chính quyền, Nguyễn Hữu Cảnh lập tức chiêu mộ những lưu dân từ châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) trở vô Nam đến ở khắp nơi, đặt ra phường ấp xã thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế đinh điền và lập hộ tịch đinh điền

Trang 37

tự nhiên của đất Bình An khá thuận lợi cho cuộc sống con người, cho nên đây cũng là nơi sớm thu hút lưu dân đến sinh cư lập nghiệp Thời kỳ ban đầu, lưu dân người Việt, người Hoa sống chủ yếu ven sông Đồng Nai, sông Sài Gòn Càng về sau, dân số càng phát triển do sinh

đẻ tự nhiên và do di dân bổ sung, họ mở rộng địa bàn cư trú và khai thác về phía Bắc

Kết quả là chỉ trong vòng một thế kỷ từ sau ngày Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược (1698), vùng đất này có bước phát triển khá nhanh về kinh tế và xã hội Chính vì vậy mà năm

1808, triều Nguyễn đã quyết định nâng huyện lên phủ, nâng tổng lên huyện, “xét đất rông hẹp, dân nhiều ít, cứ theo địa thế liên lạc nhau mà chia đều, lại đặt thêm tổng đều lập giới hạn” Theo quyết định này, tổng Bình An được nâng lên huyện Bình An gồm 2 tổng (Bình Chánh, An Thủy) với 119 xã, thôn, phường, ấp, điểm

Ở đây cần nói rõ một điều là vào thời điểm đạc điền lập địa bạ năm 1836, Biên Hòa là thuộc diện đất rộng người thưa trong tổng số 31 tỉnh của cả nước lúc đó Năm 1840, cả nước

có 4.063.892 mẫu ruộng đất, Biên Hòa chỉ có 13.420 mẫu ruộng đất canh tác chiếm 0,31% Năm 1847, cả nước có 1.024,388 suất đinh, Biên Hòa mới có 16.949 suất đinh Chiếm tỉ lệ 1,65% Đó là sự thật, vì Đồng Nai – Biên Hòa tuy là nơi lưu dân đến sinh cư lập nghiệp sớm nhất, nhưng vì đất đai ở đây khó khai khẩn (rừng rậm, đất đồi bazan chỉ thích hợp với loại cây công nghiệp dài ngày như cao su chẳng hạn) so với trình độ kỹ thuật sản xuất nông nghiệp lúc bấy giờ Nhưng đó là xét chung tỉnh Biên Hòa so sánh với các địa phương khác trong cả nước Còn nếu chỉ xét riêng huyện Bình An thì tình hình không phải như vậy Trong số 4 huyện của tỉnh Biên Hòa, Bình An là huyện có số diện tích thực canh lớn nhất

Đơn vị: mẫu, sào, thước Tây

STT Huyện Diện tích đo đạc Diện tích thực canh

6723.1.5.6 3435.7.3.7 2425.0.2.7 1729.4.3.3

6119.6.14.4 3279.9.14.9 2329.1.9.0 1698.2.13.2 (Nguồn: Nguyễn Đình Đầu, nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn-Biên Hòa Nxb Tp HCM, 1994.)

Và trong đó diện tích thực canh, nếu tính riêng diện tích làm ruộng (điền canh) và diện tích làm hoa màu (thổ canh) thì Bình An cũng chiếm tỉ lệ cao nhất Về diện tích làm ruộng, toàn tỉnh Biên Hòa có 11.109m8s14th7t thì riêng Bình An có tới 5.494m4s2th7t chiếm 49,46%

Về diện tích trồng hoa màu (thổ canh), toàn tỉnh Biên Hòa có 2.317m2s6th8t thì riêng huyện Bình An có tới 589m5s4th8t chiếm 26,10%

Trang 38

38

Hoa màu trồng ở đây chủ yếu là khoai, đậu, đậu phụng, phiên lê

Về phương thức canh tác ruộng lúa ở Biên Hòa nói chung, huyện Bình An nói riêng, Trịnh Hoài Đức cho biết là ruộng lúa lúc bấy giờ chia làm 2 loại sơn điền và thảo điền Sơn điền (ruộng cao), lúc bắt đầu khai khẩn thì đốn chặt cây cối, đợi cho khô đốt làm phân tro, khi mưa xuống trồng lúa, không cần cày bừa, dùng lực ít mà được bội lợi Trong ba năm, bốn năm thì đổi làm chổ khác… lại có chỗ nguyên ruộng thấp (thảo điền) mà nghiệp chủ trưng dụng làm sơn điền, lâu đã thành thục thì cày bừa cũng như thảo điền (ruộng thấp ướt, cỏ mọc) Thảo điền là ruộng lùng lác bùn lầy, lúc nắng khô nứt nẻ như vẻ mu rùa, có hang hố sâu lớn, đợi có nước mưa đầy đủ đầm thấm, nhiên hậu mới hạ canh, mà trâu cày phải lựa con nào

có sức mạnh, móng chân cao, mới kéo cày được, nếu không vậy thì ngã ngập trong bùn lầy, không đứng dậy nổi Ruộng cày trâu ở Phiên An, Biên Hòa một hộc lúa giống thâu hoạch được 100 hộc”

Ruộng lúa ở Biên Hòa nói chung, Bình An nói riêng còn được chia làm 3 loại theo thời vụ: ruộng sớm: tháng 5 gieo mạ, tháng 6 cấy, tháng 9 gặt; ruộng muộn: tháng 6 gieo mạ tháng 7 cấy, tháng 11 gặt ; trong huyện Bình An, tổng Bình Chánh có ruộng sớm, tổng An Thủy có cả ruộng sớm lẫn ruộng muộn

Bên trên là những thành quả về mặt khai khẩn và trên lĩnh vực kinh tế nói chung Trên lĩnh vực xã hội, Bình An là nơi có dân số tăng nhanh so với các huyện khác trong tỉnh Biên Hòa Sử liệu không ghi lại dân số từng huyện, nhưng ta có thể tìm hiểu vấn đề này qua diện tích đất ở Theo số liệu có được thông qua cuộc đạc điền năm 1836, diện tích đất ở của toàn trấn Biên Hòa là 686 mẫu 2 sào 9 thước 7 tấc (chiếm 4,86% tổng diện tích đất sử dụng) thì riêng Bình An đã có tới 543 mẫu 9 sào 2 thước 3 tấc, chiếm 79,26% đất ở của toàn tỉnh Biên Hòa

Như vậy qua các số liệu trên, ta thấy Bình An là nơi có tốc độ khai phá nhanh nhất và quy mô khai phá sớm nhất so với toàn trấn Biên Hòa trong thời kỳ khai phá thuộc 2 thế kỷ XVII, XVIII Đó chính là tiền đề vững chắc cho những bước phát triển mạnh mẽ tiếp theo của vùng đất giàu tiềm năng này

VII.2 Phụ lục 2: Định hướng phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020

a Quan điểm phát triển

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020 nhằm xây dựng Bình Dương thành một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, toàn diện đảm bảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, xoá đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

Tập trung khai thác lợi thế về vị trí địa lý, sự hợp tác của các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cực hạt nhân phát triển là thành phố Hồ Chí Minh để phát triển kinh

tế - xã hội Chủ động hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả kinh tế gắn với phát triển xã hội trên cơ sở đầu tư có trọng điểm; xây dựng mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; phát triển công nghiệp gắn với phát triển đô thị và dịch vụ; phát triển kinh tế xã hội kết hợp chặt chẽ với bảo

vệ môi trường, đảm bảo quốc phòng, an ninh vững mạnh trên địa bàn

Ngày đăng: 26/07/2020, 19:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w