1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TẠO VIỆC LÀM BỀN VỮNG CHO LAO ĐỘNG THANH NIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ. LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

208 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TẠO VIỆC LÀM BỀN VỮNG CHO LAO ĐỘNG THANH NIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ .... Để thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 về Phát tr

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

TRỊNH THU NGA

TẠO VIỆC LÀM BỀN VỮNG CHO LAO ĐỘNG THANH NIÊN TRONG BỐI CẢNH

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Ngành : Kinh tế phát triển

Mã số : 9.31.01.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Bùi Quang Tuấn

2 PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương

Hà Nội- 2019

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trịnh Thu Nga

Trang 3

ii

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TẠO VIỆC LÀM BỀN VỮNG CHO LAO ĐỘNG THANH NIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 10

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 10

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 10

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 16

1.2 Khoảng trống nghiên cứu 24

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM BỀN VỮNG CHO LAO ĐỘNG THANH NIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 25

2.1 Khái niệm và đặc điểm về tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 25

2.1.1 Khái niệm về thanh niên và lao động thanh niên 25

2.1.2 Khái niệm về việc làm và việc làm bền vững 26

2.1.3 Khái niệm về tạo việc làm và tạo việc làm bền vững 27

2.1.4 Hội nhập kinh tế quốc tế 31

2.1.5 Đặc điểm của thanh niên trong tạo việc làm bền vững 31

2.2 Lý thuyết kinh tế phát triển về tạo việc làm bền vững 33

2.2.1 Lý thuyết trọng cầu 33

2.2.2 Lý thuyết trọng cung 36

2.3 Nội dung tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 37

2.3.1 Nội dung việc làm bền vững của thanh niên và hệ thống tiêu chí đánh giá việc làm bền vững của lao động thanh niên 38

2.3.2 Nội dung tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên 40

2.4 Các nhân tố tác động đến tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 45

Trang 4

iii

2.4.1 Tổng cầu và tăng trưởng kinh tế 45

2.4.2 Cung lao động thanh niên 47

2.4.3 Môi trường thể chế kinh tế - xã hội 48

2.4.4 Nhóm nhân tố hội nhập kinh tế quốc tế 50

2.5 Kinh nghiệm quốc tế và bài học về tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 52

2.5.1 Kinh nghiệm quốc tế 52

2.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 59

Chương 3: THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM BỀN VỮNG CHO LAO ĐỘNG THANH NIÊN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 62

3.1 Khái quát về bối cảnh kinh tế - xã hội và thực trạng việc làm bền vững của lao động thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011-2017 62

3.1.1 Bối cảnh kinh tế- xã hội 62

3.1.2 Đặc điểm cung lao động thanh niên Việt Nam 66

3.1.3 Thực trạng việc làm bền vững của lao động thanh niên Việt Nam trong giai đoạn 2011-2017 69

3.2 Thực trạng tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 78

3.2.1 Tạo cơ hội việc làm bền vững cho thanh niên 78

3.2.2 Đảm bảo chất lượng việc làm cho lao động thanh niên 97

3.2.3 Đảm bảo năng lực làm việc cho lao động thanh niên 104

3.3 Nghiên cứu định lượng về ảnh hưởng của các yếu tố đến tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong giai đoạn 2011-2017 111

3.3.1 Mô hình ước lượng 111

3.3.2 Kết quả ước lượng 111

3.4 Đánh giá chung 116

3.4.1 Mặt được 116

3.4.2 Hạn chế 117

Trang 5

iv

3.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 122

Chương 4: GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM BỀN VỮNG CHO LAO ĐỘNG THANH NIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 126

4.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong giai đoạn tới 126

4.1.1 Bối cảnh quốc tế 126

4.1.2 Bối cảnh trong nước 127

4.2 Cơ hội và thách thức trong tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 129

4.2.1 Cơ hội 129

4.2.2 Thách thức 131

4.3 Quan điểm tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 134

4.4 Giải pháp tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 134

4.4.1 Nhóm giải pháp chung thúc đẩy tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 134

4.4.2 Nhóm giải pháp tạo cơ hội việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 135

4.4.3 Nhóm giải pháp đảm bảo chất lượng việc làm cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 139

4.4.4 Giải pháp phát triển năng lực việc làm cho lao động thanh niên 142

KẾT LUẬN 149

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 148 PHỤ LỤC LUẬN ÁN

Trang 6

v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AT-VSLĐ An toàn vệ sinh lao động

CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ

xuyên Thái Bình Dương

CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

L Đ-TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 7

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các yếu tố của VLBV và các tiêu chí/chỉ số nhận dạng VLBV của thanh niên 39Bảng 3.1: Hệ số co giãn việc làm với GDP, giá trị xuất khẩu, nhập khẩu và vốn đầu tư toàn xã hội, giai đoạn 2011-2017 63Bảng 3.2: Quy mô và cơ cấu lao động thanh niên có việc làm theo giới tính và khu vực sinh sống, giai đoạn 2011 - 2017 70Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả các chỉ số giám sát việc làm bền vững của thanh niên, năm 2011 và 2017 71Bảng 3.4 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm (Hệ số co giãn việc làm theo tổng sản phẩm quốc nội) 79Bảng 3.5 Phân bố việc làm thanh niên theo ngành và giới tính, vị thế việc làm năm 2011 và 2017 81Bảng 3.6 Tình hình hoạt động doanh nghiệp, giai đoạn 2011-2017 85Bảng 3.7 Cơ cấu việc làm thanh niên theo hình thức sở hữu, giai đoạn 2011-2017 87Bảng 3.8: Quy mô lao động đi làm việc ở nước ngoài, giai đoạn 2011-2017 91Bảng 3.9 Kết quả ước lượng các yếu tố tác động đến việc làm bền vững 112

Trang 8

vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Khung phân tích tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong

bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 38

Hình 3.1 Tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số giá tiêu dùng và thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam, giai đoạn 2011 – 2017 62

Hình 3.2 Tổng dân số thanh niên Việt Nam, tỷ lệ dân số thanh niên nữ

và tỷ lệ dân số thanh niên thành thị, 2011-2017 67

Hình 4.1 Các kênh tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến TTLĐ Việt Nam 129

Trang 9

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc làm bền vững là mục tiêu của xã hội hiện đại Theo đó, người lao động được làm việc trong điều kiện tốt hơn, an toàn hơn, được bảo đảm về mặt an sinh xã hội, có năng suất và thu nhập cao hơn và bảo đảm sự cân bằng giữa các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội Tuy nhiên, thiếu việc làm bền vững đang là mối quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới và đặc biệt trầm trọng ở các nền kinh tế đang phát triển Thế giới đang phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, việc làm chất lượng kém và không hiệu quả, quyền của người lao động tại nơi làm việc không đảm bảo [102] Đặc biệt, thế hệ trẻ là lực lượng chủ chốt, năng động cho sự thay đổi xã hội và là động lực cho phát triển kinh tế và đổi mới công nghệ, song lại đang bị ảnh hưởng không tương xứng của thất nghiệp và gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận việc làm bền vững Năm 2017, ước tính toàn cầu có khoảng 91 triệu thanh niên thất nghiệp, chiếm gần 40% tổng số người thất nghiệp toàn cầu Tỷ

lệ thất nghiệp thanh niên là 13,1%, bằng 2,3 lần tỷ lệ thất nghiệp chung toàn cầu Ở các nền kinh tế đang phát triển, phần lớn thanh niên làm việc trong thị trường lao động phi chính thức, trong các công việc với an ninh kinh tế hạn chế, ít cơ hội đào tạo và các điều kiện làm việc nghèo nàn [103]

Việt Nam cũng không là trường hợp ngoại lệ Đến năm 2017, lực lượng lao động (LLLĐ) thanh niên từ 15-24 tuổi có 7,58 triệu người, chiếm 13,83% trong tổng LLLĐ cả nước Lao động thanh niên Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do tỷ lệ thất nghiệp khá cao (7,5%, bằng 3 lần tỷ lệ thất nghiệp chung), chất lượng việc làm thấp (gần 60% lao động thanh niên có việc làm phi chính thức) Trong giai đoạn 2011-2017, mỗi năm Việt Nam có hơn 1 triệu thanh niên gia nhập vào TTLĐ, rất nhiều trong số họ phải rất vất vả tìm và giữ được việc làm

Theo Tổ chức Lao động quốc tế, chiến lược tạo việc làm bền vững (VLBV) cho thanh niên mang lợi ích đến cho tất cả mọi người, hay nói cách khác tạo việc làm bền vững cho thanh niên không chỉ thiết yếu đối với tương lai của họ mà còn cho tương lai của cộng đồng, địa phương, đất nước và xã hội toàn cầu [101] Thành công sớm ở độ tuổi thanh niên trong phát triển nghề nghiệp có liên quan đến triển vọng nghề nghiệp dài hạn của người lao động Điều này giúp cho việc chuyển thanh

Trang 10

2

niên từ sự phụ thuộc về mặt xã hội sang sự độc lập, giúp họ thoát nghèo và đóng góp tích cực cho xã hội Ở Việt Nam, tạo cơ hội việc làm bền vững cho người lao động, trong đó có lao động thanh niên là một nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011–2020 [39] Chính phủ Việt Nam đã ban hành và thực thi nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động thông qua phát triển kinh tế, chính sách thị trường lao động (dạy nghề, giới thiệu việc làm hay tín dụng ưu đãi, v.v…) Tuy nhiên, việc tiếp cận của lao động thanh niên đến các chính sách, chương trình này còn rất hạn chế, lao động thanh niên tiếp tục là đối tượng yếu thế trên TTLĐ

Trong những năm qua, Việt Nam đã chủ động hội nhập ngày càng sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới, là thành viên của 63 tổ chức quốc tế lớn khác trên thế giới (WTO, ASEAN, ASEM, APEC, v.v ) và tham gia 16 hiệp định thương mại tự

do (FTA) với các đối tác chiến lược như Nhật Bản, Hàn Quốc, EU v.v… và sắp tới

là các quốc gia trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu được xem

là một trong những hướng đi quan trọng để mang lại lợi ích quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia trên thương trường quốc tế, tăng cường tạo VLBV cho người lao động, trong đó có lực lượng chủ chốt và năng động là thanh niên Tuy nhiên, lao động thanh niên ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói

riêng có nguy cơ “lấn sâu” vào công đoạn thấp của chuỗi cung ứng toàn cầu Đây

thường là những công đoạn sản xuất hay ngành nghề nặng nhọc, độc hại hay ô nhiễm môi trường và sử dụng chủ yếu là lực lượng thanh niên mà các nước phát triển có xu hướng “chuyển giao” ngày càng mạnh mẽ cho các nước đang phát triển trong quá trình hội nhập thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, tự do hóa thương mại và dịch chuyển lao động [92]

Tạo VLBV cho thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT vừa là cơ hội, vừa

là thách thức cho Việt Nam Để thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc (UNDP), đã đến lúc cần phải có tổng kết, đánh giá thực trạng tạo VLBV cho thanh niên để làm rõ những ưu điểm, hạn chế và bất cập trong các biện pháp, chính sách tạo việc làm trong thời gian qua, cũng như các tác động tiềm năng của bối cảnh mới, trong đó có hội nhập KTQT đến tạo VLBV cho

Trang 11

3

lao động thanh niên và đề xuất giải pháp tạo VLBV cho thanh niên trong bối cảnh hội nhập Tuy nhiên, cho đến nay, còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu như vậy cả

ở bình diện quốc tế và Việt Nam

Với những lý do trên, đề tài “Tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên

trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” mang tính cấp thiết và có ý nghĩa cả về

mặt lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT và đánh giá được thực trạng tạo VLBV cho lao động thanh niên Việt Nam trong thời gian qua, đề xuất giải pháp tạo VLBV cho lao động thanh niên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT

- Làm rõ thực trạng tạo VLBV cho lao động thanh niên ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2017 trên khung khổ tiêu chí VLBV, chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

- Đề xuất giải pháp tạo VLBV cho lao động thanh niên ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là các vấn đề lý luận và thực tiễn về tạo VLBV cho lao động thanh niên Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về tạo

VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT, xem xét từ giác độ cung - cầu lao động thanh niên; nghiên cứu thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp tạo VLBV cho lao động thanh niên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT

Khách thể nghiên cứu của luận án là lao động thanh niên, đó là những người trong độ tuổi từ 15-24 thuộc lực lượng lao động (đang có việc làm hoặc đang thất nghiệp)

Trang 12

4

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng tạo VLBV cho lao động thanh

niên Việt Nam trong giai đoạn 2011–2017 và các giải pháp tạo VLBV cho lao động thanh niên Việt Nam đến 2025, tầm nhìn đến 2035

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu việc làm của lao động thanh niên trong độ

tuổi 15-24 ở quy mô quốc gia (Việt Nam), bao gồm cả hoạt động đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (hay còn gọi là xuất khẩu lao động)

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Câu hỏi nghiên cứu:

- Thực trạng tạo VLBV cho lao động thanh niên ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT hiện nay như thế nào?

- Các giải pháp nào thúc đẩy tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT?

4.2 Phương pháp luận

Tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để tiếp cận và giải quyết các vấn đề nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, NCS đặt đối tượng nghiên cứu là tạo VLBV cho lao động thanh niên trong mối quan hệ với sự phát triển KT-XH và trong bối cảnh hội nhập KTQT, vận động và không ngừng phát triển

Luận án sử dụng các cách tiếp cận sau:

- Tiếp cận hệ thống: Cách tiếp cận này đặt vấn đề tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT là một bộ phận trong tổng thể phát triển KT-XH bền vững ở Việt Nam Đây là cách tiếp cận kết hợp giữa lý luận, thực tiễn

và chính sách, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp tạo VLBV cho lao động thanh niên

- Tiếp cận liên ngành: để xem xét các yếu tố KT-XH của Việt Nam và các yếu tố bên ngoài (hội nhập) tác động đến VLBV của lao động thanh niên

- Tiếp cận định tính và định lượng để trả lời các câu hỏi nghiên cứu

4.3 Dữ liệu nghiên cứu

4.3.1 Sử dụng cho nghiên cứu định tính

- Tổng hợp tài liệu thứ cấp từ các nguồn chính thống, bao gồm các báo cáo hành chính và các nghiên cứu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-

Trang 13

5

TB&XH) và các tổ chức quốc tế như ILO, Quỹ Dân số Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới để thu thập thông tin về các định hướng/ chiến lược việc làm thanh niên của quốc tế và Việt Nam, cũng như khái quát hóa tình hình hội nhập TTLĐ và việc làm của lao động thanh niên Việt Nam trong thời gian qua

- Sử dụng các bộ số liệu thô (cơ sở dữ liệu của các cuộc điều tra) của Tổng cục Thống kê (TCTK) để phân tích so sánh và phân tích thống kê, dự báo nhằm đo lường mức độ bền vững của việc làm thanh niên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập; đánh giá mặt được và chưa được trong vấn đề tạo VLBV của lao động thanh niên Việt Nam, cũng như tìm ra nguyên nhân của những tồn tại hiện nay Các bộ số liệu chính bao gồm:

+ Điều tra Mức sống hộ gia đình năm 2016: Đây là cuộc điều tra chọn mẫu trong chương trình điều tra thống kê quốc gia được thực hiện nhằm mục đích: thu thập thông tin về thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình; các thông tin khác về hộ gia đình và các thành viên liên quan đến vấn đề việc làm, tiếp cận các chính sách KT-

XH, v.v…

+ Điều tra lao động việc làm hằng năm, giai đoạn 2011-2017: Đây là cuộc điều tra chọn mẫu trong chương trình điều tra thống kê quốc gia được thực hiện nhằm mục đích: thu thập thông tin về tình trạng tham gia TTLĐ của những người từ

15 tuổi trở lên hiện đang sống tại Việt Nam làm cơ sở để tổng hợp, biên soạn các chỉ tiêu thống kê quốc gia về lao động, việc làm, thất nghiệp và thu nhập của người lao động

4.3.2 Sử dụng cho nghiên cứu định lượng

Sử dụng số liệu thô của Tổng Điều tra Doanh nghiệp năm 2016 và Điều tra Mức sống hộ gia đình năm 2016 của Tổng cục Thống kê Hai bộ số liệu này cho phép đo lường khả năng có VLBV của lao động thanh niên với các biến số chính như sau:

+ Thông tin về đặc điểm nhân khẩu học của thanh niên từ 15-24 tuổi, bao gồm: tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT), tình trạng hôn nhân, phân bố theo khu vực thành thị - nông thôn, 06 vùng kinh tế, v.v…

+ Thông tin về tình trạng hoạt động kinh tế của thanh niên từ 15-24 tuổi, bao gồm có việc làm (việc làm theo ngành nghề, điều kiện làm việc, tiền lương/thu

Trang 14

+ Thông tin về hội nhập KTQT, bao gồm: giá trị xuất khẩu theo ngành kinh

tế, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) theo ngành kinh tế

4.4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu sau:

4.4.1 Nghiên cứu định tính:

Trong nghiên cứu định tính, đề tài sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:

- Phương pháp tổng quan tài liệu thứ cấp: NCS tổng hợp, phân tích đánh giá

các tài liệu nghiên cứu và các báo cáo quản lý về tình hình việc làm của lao động thanh niên và tạo VLBV cho lao động thanh niên trong thời gian quađể tìm hiểu và

hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực trạng Từ đó, kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu hay báo cáo trước, kế thừa có chọn lọc các tài liệu này

- Phương pháp phân tích thống kê: Trong phần phân tích thực trạng, luận án

sẽ sử dụng phương pháp này để phân tích đặc trưng việc làm của lao động thanh niên và mức độ bền vững của việc làm thanh niên; phân tích thực trạng tạo VLBV cho lao động thanh niên gắn với hội nhập KTQT

- Phương pháp phân tích so sánh: phương pháp này nhằm phân tích, đo

lường mức độ bền vững việc làm của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT, có so sánh đối chứng giữa nhóm thanh niên và nhóm lao động trưởng thành hay so sánh giữa các nhóm tuổi khác nhau trong thanh niên Đồng thời, phương pháp này còn để phục vụ phân tích, so sánh mức độ ưu việt giữa các chính sách, biện pháp tạo VLBV cho lao động thanh niên trong thời gian qua

- Phương pháp phân tích xu hướng phát triển: Phương pháp này được dùng

để phân tích mức độ cải thiện về số lượng và chất lượng việc làm của lao động thanh niên qua các năm, cũng như mức độ và khả năng tạo VLBV cho thanh niên trong 10 năm qua (tốt lên hay xấu đi trong bối cảnh hội nhập KTQT) Bên cạnh đó, phương pháp này còn được sử dụng để nhận diện nhu cầu việc làm thanh niên và tác động của bối cảnh kinh tế - xã hội mới, đặc biệt là hội nhập KTQT đến tạo

Trang 15

7

VLBV cho lao động thanh niên trong thời gian tới

- Phương pháp phân tích tổng hợp, khái quát hóa: phương pháp này được sử

dụng để hệ thống hóa, khái quát hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm rút ra các đánh giá, nhận định một cách hệ thống và toàn diện về vấn đề tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT, cũng như đề xuất định hướng và giải pháp tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT

4.4.2 Nghiên cứu định lượng:

Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạo VLBV của lao động thanh niên, luận án sử dụng mô hình hồi quy Probit để xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến khả năng tạo VLBV của lao động thanh niên Phương trình mô hình hồi quy xác suất Probit có dạng:

Yi= o + i*Xi + εi (*) Trong đó:

Yi: Biến giả - biến phụ thuộc nhị phân (1,0)

Xi: Các biến độc lập – bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến biến Y

o: Hệ số chặn; i: Vector tham số

εi: Sai số ngẫu nhiên

Trên cơ sở mô hình Probit, tác giả xây dựng mô hình xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến khả năng tạo VLBV của lao động thanh niên như sau:

Y= o + 1* tuoi + 2* gioitinh + 3* namdihoc + 4* honnhan2 + 5* honnhan3 + 6*vonuudai + 7*dtnghe + 8* ttnt + 9* vung6_2 + 10* vung6_3 + 11* vung6_4 +

12* vung6_5 + 13* vung6_6 + 14* lnfdi_thuchien + 15* lngtxk + εi (1)

+ Y=0: Người thất nghiệp hoặc lao động có việc làm không bền vững (việc làm không đảm bảo đồng thời các tiêu chí của VLBL hay nói cách khác là các

tiêu chí của Y=1)

Trang 16

8

- Các biến độc lập X (vế phải): thể hiện các yếu tố ảnh hưởng đến tạo VLBV

của thanh niên, bao gồm:

+ Nhóm biến đặc điểm lao động thanh niên: tuổi, giới tính, trình độ giáo đào tạo, hôn nhân;

dục-+ Nhóm biến liên quan đến trình độ phát triển kinh tế (nơi sinh sống của người lao động): khu vực thành thị - nông thôn, 6 vùng kinh tế;

+ Nhóm biến liên quan đến chính sách TTLĐ: vay vốn ưu đãi, được đào tạo nghề; + Nhóm biến hội nhập: giá trị xuất khẩu, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Ghi chú: Xem giải thích chi tiết về các biến độc lập và dấu kỳ vọng tại Bảng 2-Phụ lục II

- ε i là phần dư với giá trị trung bình = 0 (bao gồm tác động của từng đặc

điểm không thể quan sát được như năng lực cá nhân, các mối quan hệ xã hội ) Giả định rằng i không tương quan với các đặc điểm có thể quan sát được Xi

5 Những đóng góp mới của luận án

5.1 Về lý luận

Thứ nhất, luận án đã xây dựng khung lý thuyết toàn diện về tạo VLBV cho

lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT, đã lý giải đầy đủ và chính xác nội hàm của tạo VLBV và các nhóm yếu tố tác động đến tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT

Thứ hai, luận án đã làm rõ xu hướng tác động của hội nhập KTQT đến tạo

VLBV và những vấn đề đặt ra đối với tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT

Thứ ba, luận án chỉ rõ tầm quan trọng của tạo VLBV của lao động thanh

niên trong bối cảnh hội nhập KTQT

5.2 Về thực tiễn

Thứ nhất, luận án đã đánh giá được thực trạng VLBV và tạo VLBV cho lao

động thanh niên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT trong giai đoạn

2011-2017 Trên cơ sở đó, rút ra được những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong tạo VLBV cho lao động thanh niên Việt Nam trong thời gian qua Luận án đã xác định được 04 nhóm yếu tố tác động đến tạo VLBV cho lao động thanh niên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập KTQ; đã có các kết luận xác đáng về tác động của 4 nhóm yếu tố đến khả năng tạo VLBV của lao động thanh niên Việt

Trang 17

9

Nam trong bối cảnh hội nhập KTQT trong thời gian qua

Thứ hai, luận án đã đưa ra những gợi ý chính sách của Việt Nam trong việc

hỗ trợ thanh niên tiếp cận tốt hơn đến VLBV trong bối cảnh hội nhập KTQT

Thứ ba, luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý và hoạch định

chính sách, các chuyên gia kinh tế và độc giả quan tâm đến chủ đề này Đồng thời

là tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy, học tập ở các cơ sở đào tạo

6 Ý nghĩa khoa học của luận án

Về ý nghĩa lý luận, đề tài hệ thống và thống nhất lại các khái niệm về thanh

niên và tạo VLBV cho lao động thanh niên, hệ thống lý thuyết liên quan, từ đó xây dựng khung phân tích tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT và các tiêu chí đánh giá cụ thể

Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam bởi hiện

nay gần 2/3 lao động thanh niên Việt Nam có chất lượng việc làm rất thấp; tiềm năng của lao động trẻ chưa được sử dụng hết; phổ biến tình trạng lao động trẻ không phù hợp với yêu cầu công việc - đang gióng lên hồi chuông báo động đối với TTLĐ trẻ Việt Nam Chính vì vậy, đề tài phân tích thực trạng tạo VLBV lao động thanh niên trong thời gian qua ở Việt Nam, cũng như làm rõ nguyên nhân cơ bản của thất nghiệp thanh niên và chất lượng việc làm thanh niên, những khó khăn, thách thức trong tiếp cận đến VLBV của thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT, v.v… Trên cơ sở đó, xác định được hệ thống giải pháp tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh mới

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 3 Thực trạng tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 4 Giải pháp tạo việc làm bền vững cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 18

10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TẠO VIỆC LÀM BỀN VỮNG CHO LAO ĐỘNG THANH NIÊN TRONG

BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tình hình nghiên cứu trong nước có liên quan đến tạo VLBV cho thanh niên

trong bối cảnh hội nhập rất đa dạng Có thể phân loại thành hai nhóm chủ đề sau:

1.1.1.1 Nghiên cứu về các vấn đề lý thuyết về tạo việc làm bền vững nói chung

và cho lao động thanh niên nói riêng trong bối cảnh hội nhập

- Viện Khoa học lao động và Xã hội (2016), báo cáo: “Đánh giá tác động của

Hội nhập quốc tế đối với lĩnh vực lao động-xã hội ở Việt Nam” [92] Về lý luận,

báo cáo đã chỉ ra các kênh tác động của hội nhập đến TTLĐ như: (i) Quá trình thu

hút đầu tư và xúc tiến thương mại giúp nền kinh tế phát triển và có khả năng tạo

thêm nhiều việc làm, cải thiện thu nhập cho người lao động, cải thiện năng suất lao

động (NSLĐ); (ii) tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế và đảm bảo các quyền của

người lao động đã trở thành xu thế trong hợp tác và thương mại quốc tế Tuy nhiên,

báo cáo cũng cho thấy hội nhập cũng tạo ra nhiều thách thức về chất lượng nguồn nhân

lực (NNL), các vấn đề về lao động di cư, bất bình đẳng, hệ thống an sinh xã hội,…Đặc

biệt, đối với các nền kinh tế đang phát triển, việc làm có xu hướng gia tăng, song tập

trung chủ yếu trong các ngành sử dụng nhiều lao động, yêu cầu kỹ năng thấp; mức tiền

lương có xu hướng tăng song chủ yếu trong nhóm lao động gắn với xuất nhập khẩu và

lao động có trình độ tay nghề cao Báo cáo đã cung cấp các thông tin quan trọng cho

việc xây dựng và phát triển khung lý thuyết của luận án

- Nguyễn Bao Cường, Đào Ngọc Nga, Tống Thị Mai Hồng và Nguyễn Văn

Hưng (2014), tài liệu: “Bộ công cụ đánh giá nhanh về VLBV trong các chương

trình/chính sách phát triển của ngành/địa phương” [53] Tài liệu được xây dựng trên

cơ sở kế thừa, rút gọn và Việt hóa, sắp xếp lại các đề mục trên cơ sở “Bộ công cụ

Lồng ghép việc làm và VLBV - áp dụng ở cấp quốc gia” năm 2008 của ILO để phù

hợp hơn với cách hiểu của Việt Nam và cấp độ đánh giá Tài liệu tập trung làm rõ

các cấu phần của VLBV, các chỉ tiêu đo lường và các chiến lược thúc đẩy VLBV

cho người lao động nói chung Đây là tham khảo tốt cho luận án để phát triển hệ

thống chỉ số VLBV của lao động thanh niên

Trang 19

11

- Nguyễn Văn Thắng (2014), Luận án tiến sỹ kinh tế “Chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi đất của Hà Nội” [62] đã làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tới chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn vùng thu hồi đất như các yếu tố chính trị-pháp lý, các yếu tố kinh tế, các yếu tố văn hoá, xã hội, toàn cầu hoá và hội nhập KTQT Trong đó, Luận án cũng chỉ ra toàn cầu hoá và hội nhập KTQT tạo ra nhiều cơ hội và cả thách thức đối với chính sách việc làm cho thanh niên nông thôn, cụ thể: (i) đó là cơ hội lớn cho các nước đang phát triển tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, góp phần giải quyết việc làm cho lao động trong nước; (ii) HNQT đỏi hỏi NNL chất lượng cao cho các ngành kinh tế, nhất là các ngành công nghệ cao; (iii) HNQT cũng tạo ra các thách thức khi doanh nghiệp và người lao động trong nước phải cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, điều này có thể ảnh hưởng đến cung và cầu việc làm; không ít thanh niên đang làm việc ở nước ngoài cũng phải trở về nước Trong bối cảnh đó, chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn càng chịu nhiều áp lực

- Triệu Đức Hạnh (2013), Luận án tiến sỹ kinh tế “Tạo VLBV cho lao động nông thôn” [83] Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận của tạo VLBV cho lao động nông thôn và sự cần thiết phải tạo VLBV cho lao động nông thôn Tác giả Luận án cho rằng VLBV được hình thành từ 5 yếu tố (i) Quyền tại nơi làm việc; (ii) Ổn định việc làm và thu nhập; (iii) Tạo và xúc tiến việc làm; (iv) Bảo trợ xã hội; (v) Đối thoại xã hội Để tạo ra VLBV phải củng cố 5 yếu tố trên Luận án cũng đã làm rõ các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho lao động nông thôn bao gồm: (i) Điều kiện tự nhiên, môi trường, sinh thái; (ii) Cơ chế chính sách của Nhà nước; (iii) Trình độ phát triển kinh tế; (iv) Dân số Tuy nhiên, hạn chế của Luận án này mới chỉ tập trung vào lý luận về VLBV của lao động nông thôn và các nhân tố ảnh hưởng, chứ chưa làm rõ nội dung của tạo VLBV

- Ngô Quỳnh Anh (2013), Luận án tiến sỹ kinh tế “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm của thanh niên” [61] đã đề cập đến lý thuyết tự tạo việc làm của thanh niên Luận án hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận nghiên cứu về tự tạo việc làm nói chung, tự tạo việc làm của thanh niên nói riêng và các yếu tố ảnh hưởng thông qua xây dựng lần đầu tiên khái niệm sâu và đầy đủ về “tự tạo việc làm”, “khả năng

tự tạo việc làm” và “tăng cường khả năng tự tạo việc làm” Luận án đã phân tích và đánh giá thực trạng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh nền KTTT và HNQT, đưa ra kết luận là khả năng này ở thanh niên Việt Nam còn chưa

Trang 20

- Ngân hàng Thế giới (2017), Báo cáo “Tương lai việc làm Việt Nam: Khai thác xu hướng lớn cho sự phát triển thịnh vượng hơn” [51] đã cho thấy những thay đổi nhanh chóng của quá trình phát triển kinh tế-xã hội đã làm thay đổi bức tranh

việc làm ở Việt Nam Báo cáo đã chỉ ra các xu hướng lớn hiện nay có tác động đến

tương lai việc làm của Việt Nam như: “Sự thay đổi các xu hướng thương mại và

tiêu dùng, sự phát triển của nền kinh tế tri thức và tự động hóa; cách mạng công nghiệp 4.0; già hóa dân số có thể hoặc mang lại những cơ hội việc làm tốt hơn nhưng cũng có thể đe dọa đến chất lượng việc làm của Việt Nam” Trong đó, những đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất đó chính là tầng lớp thanh niên- những người có khả năng học tập và thích ứng tốt hơn; phụ nữ - được đối xử bình đẳng hơn trong các cơ hội việc

làm Báo cáo đã nhấn mạnh tới cách chính sách của Việt Nam cần hướng tới nhằm

giải quyết tốt 3 nhóm vấn đề lớn của lao động-việc làm hiện nay đó là: (i) tạo việc làm

tốt trong nền kinh tế hiện đại; (ii) Nâng cao chất lượng việc làm trong nền kinh tế truyền thống; ( iii) Kết nối người lao động có trình độ với những việc làm phù hợp

- ILO (2017), Báo cáo Quốc gia “Điều tra chuyển tiếp từ trường học đến việc làm năm 2017” [107] Báo cáo tập trung phân tích các xu hướng chuyển tiếp từ trường học đến việc làm của thanh niên Việt Nam trong TTLĐ và cũng chỉ ra

Trang 21

13

những khó khăn của thanh niên trong hội nhập TTLĐ - kết quả điều tra cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa trình độ học vấn và thời gian chuyển tiếp sang TTLĐ của thanh niên Kết quả điều tra cũng chỉ ra những hạn chế dai dẳng trong việc làm thanh niên như: sự không phù hợp với yêu cầu công việc, chưa tận dụng hết tiềm năng lao động và việc làm chất lượng thấp đối với thanh niên Việt Nam từ 15 đến

29 tuổi Báo cáo cũng đưa ra một số khuyến nghị đối với TTLĐ trẻ của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh vào sự hợp tác giữa Chính phủ, doanh nghiệp và công đoàn nhằm thúc đẩy VLBV cho thanh niên; phát triển kinh doanh với khu vực tư nhân là đầu tàu kiến tạo việc làm cho thanh niên

- Nguyễn Thị Quỳnh Hoa và đồng nghiệp (2017), Báo cáo “Xu hướng dịch chuyển việc làm của thanh niên nông thôn hiện nay” [58] cho thấy việc làm của thanh niên nông thôn hiện nay bắt đầu có sự chuyển dịch việc làm mạnh mẽ từ khu vực nông nghiệp sang khu vực dịch vụ, công nghiệp; từ nông thôn ra thành thị Tuy nhiên, chủ yếu vẫn là các công việc giản đơn như buôn bán, lao động làm thuê xây dựng, bốc vác, giúp việc gia đình, v.v…Khó khăn của lao động nông thôn khi dịch chuyển vẫn là trình độ thấp, thiếu vốn đầu tư, hạn chế về thị trường tiêu thụ sản phẩm, thiếu thông tin về cơ hội việc làm tại địa phương và các tỉnh lân cận, các thành phố lớn;

cơ sở hạ tầng nông thôn chưa đáp ứng được cho việc dịch chuyển thuận lợi; địa phương chưa có nhiều hỗ trợ cho thanh niên dịch chuyển, v.v Trên cơ sở đó, báo cáo cũng nhấn mạnh đến các giải pháp về chính sách tạo việc làm cho thanh niên nông thôn như phát triển các ngành công nghệ cao, các ngành có lợi thế trong xuất khẩu và

sử dụng nhiều lao động; phát triển mạnh các khu công nghiệp và chế xuất; đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn trình độ thấp; hướng nghiệp và tổ chức các phiên giao dịch việc làm tại địa phương; hỗ trợ thanh niên lập nghiệp tại địa phương v.v…

- Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Thân Thương, Nguyễn Thế Hà, Trịnh Thu Nga

và Nguyễn Văn Thụy (2015), ấn phẩm “Sự chuyển tiếp sang TTLĐ của thanh niên Việt Nam” [54] Nghiên cứu đã đề cập đến chính sách và chương trình tạo việc làm cho người lao động nói chung và lao động thanh niên nói riêng trong thời gian qua Đồng thời, báo cáo cũng đề cập đến những hạn chế, khó khăn, thách thức trong vấn

đề việc làm thanh niên và những rào cản trong quá trình “vật lộn” để chuyển tiếp sang VLBV của thanh niên trong thời gian qua Trên cơ sở đó, báo cáo cũng đưa ra một số khuyến nghị chính về việc thanh niên Việt Nam cần được hỗ trợ để có một quá trình chuyển tiếp sang TTLĐ thuận lợi hơn Mối liên hệ giữa giáo dục đào tạo

Trang 22

14

và tăng trưởng xuất khẩu, đa dạng hóa nền kinh tế và việc tạo thêm việc làm và việc làm tốt hơn, cần được đẩy mạnh Trong khi đó, những chính sách khác như hướng nghiệp, tư vấn việc làm, thông tin TTLĐ và dịch vụ việc làm, có thể giúp quá trình chuyển tiếp từ trường học tới việc làm trở nên thuận lợi hơn”

- Nguyễn Thị Lan Hương, Trịnh Thu Nga, Lưu Quang Tuấn và nhóm nghiên cứu (2015), Báo cáo “Khảo sát người mới tốt nghiệp đại học hội nhập TTLĐ” [56] Nghiên cứu đã tập trung phân tích thực trạng hội nhập TTLĐ và chỉ ra những khó khăn thách thức trong vấn đề tiếp cận VLBV của người mới tốt nghiệp Nghiên cứu này cũng làm rõ các nguyên nhân của việc làm thanh niên chưa bền vững như: Chất lượng đào tạo không đáp ứng nhu cầu của TTLĐ; Ngành nghề đào tạo không phù hợp với yêu cầu của TTLĐ; Người mới tốt nghiệp đại học thiếu thông tin TTLĐ và định hướng việc làm, tìm việc làm các trung tâm dịch vụ việc làm công và tư nhân Báo cáo đã đưa ra những giải pháp nhằm hỗ trợ người mới tốt nghiệp rút ngắn thời gian chuyển tiếp và tạo cơ hội tiếp cận tốt hơn đến VLBV; chính sách phát triển cung, cầu lao động CMKT cao; tăng cường hỗ trợ và bảo vệ lợi ích đối với những người mới tốt nghiệp đại học có nguy cơ dễ bị tổn thương trong TTLĐ

- Bộ Nội Vụ và Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (2015), Báo cáo quốc gia về Thanh niên Việt Nam [11] Báo cáo đã nhấn mạnh vào những khó khăn, thách thức trong tạo việc làm cho thanh niên, như phổ biến tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm Thanh niên nông thôn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm các

cơ hội việc làm ổn định; chất lượng LLLĐ còn thấp, định hướng đào tạo nghề cho

thanh niên còn nhiều khó khăn, bất cập, đào tạo chưa gắn với TTLĐ Trên cơ sở

đó, báo cáo cũng đưa ra một số khuyến nghị cho chính sách lao động – việc làm của thanh niên liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, mở

rộng diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp; Chính phủ cần có các mô hình đào tạo dạy nghề phù hợp với nhu cầu thực tiễn, dạy nghề cho lao động khu vực nông thôn, tăng

tỷ lệ lao động được đào tạo chính quy, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) và đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn-đô thị; Việt Nam cần thu thập thêm thông tin về nhu cầu nhân lực thực tế cũng như những thông tin về các kỹ năng, kiến thức chủ chốt mà các ngành nghề lao động cần có để có thể lập kế hoạch và cơ cấu lại hoạt động đào tạo nghề cho phù hợp với thực tế

- Ngô Quỳnh Anh (2013), Luận án tiến sỹ kinh tế “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm của thanh niên” [61] đã đề cập đến khía cạnh tự tạo việc làm của thanh

Trang 23

15

niên Tác giả đã đưa ra một số phát hiện về khả năng tự tạo việc làm của thanh nhiên, cụ thể: (i) Thanh niên đến với tự tạo việc làm là do “lực đẩy” nhiều hơn “lực hút” và khó có thể mong đợi khu vực tự tạo việc làm của thanh niên có thể đóng góp hiệu quả vào TTKT của vùng và của quốc gia; (ii) Trong khi vốn con người thông qua giáo dục và đào tạo chính thống chủ yếu đem lại lợi ích cho thanh niên trong lĩnh vực làm công chính thống, thì quá trình học tập và tích luỹ kinh nghiệm qua hoạt động thực tế có vai trò quan trọng đối với nhóm thanh niên tự tạo việc làm; (iii) Tuy chưa thực sự là hiện tượng phổ biến nhưng đã có bằng chứng cho thấy vốn

xã hội liên kết thông qua vai trò hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, của Chính phủ, các chương trình phát triển KT-XH, trình độ phát triển của vùng, ngành…đã phát huy tác dụng đối với nhóm thanh niên làm chủ sản xuất kinh doanh (SXKD), khởi sự doanh nghiệp trong khi gia đình vẫn đóng vai trò chủ đạo Tác giả cũng nhấn mạnh,

xu thế hội nhập quốc tế đòi hỏi thế hệ thanh niên tự tạo việc làm vẫn thực sự cần thiết được đào tạo phù hợp thì mới phát triển bền vững

- Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (2011), Báo cáo “Thanh niên Việt Nam [66]: Tóm tắt một số chỉ số thống kê từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009” đã phân tích các các xu hướng nổi bật về thanh niên - thế hệ có tầm quan trọng đối với sự phát triển của Việt Nam trong tương lai – Năm 2009, hơn 40% dân số độ tuổi 15-19 và xấp xỉ 80% dân số trong độ tuổi 20-24 tham gia LLLĐ, thanh niên ở nông thôn tham gia vào LLLĐ sớm và có ít cơ hội hơn thanh niên thành thị trong việc tiếp tục đi học và nâng cao trình độ học vấn; hầu hết thanh niên làm việc trong các hộ SXKD cá thể hoặc khu vực tư nhân; trong các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, lao động nữ thanh niên cao hơn hai lần lao động nam thanh niên; nói cách khác, khu vực kinh tế này thu hút lao động nữ trẻ tuổi Báo cáo này cũng cho thấy một bức tranh sinh động về tình hình di cư dài hạn trong nước ở Việt Nam, đó là dân số trong độ tuổi 15-24 không chỉ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nhóm người di cư, mà phần lớn trong số này lại là nữ thanh niên Dân số trong độ tuổi 15-24 có xu hướng di cư ra thành thị, trong khi dân số ở độ tuổi từ 25 trở lên lại có xu hướng di cư đến cả hai khu vực thành thị và nông thôn Điều này cho thấy di cư của thanh niên đóng vai trò quan trọng trong phát triển khu vực đô thị trong thập kỷ vừa qua Điều này cũng có nghĩa là chỉ khi chính sách phát triển

đô thị phù hợp có tính đến các dòng di cư và sự biến động dân số thì lúc đó người di

cư mới có thể tiếp cận được tới các dịch vụ xã hội và cơ hội việc làm Quan trọng hơn, do nữ giới chiếm tỷ trọng lớn trong số thanh niên di cư nên việc cung cấp các dịch vụ sức khỏe sinh sản cho nữ thanh niên di cư nhằm bảo vệ họ trước các rủi ro sức khỏe không đáng có là điều rất cần thiết

Trang 24

Tóm lại: các nghiên cứu trong nước liên quan đến vấn đề việc làm thanh niên

và tạo việc làm cho thanh niên khá nhiều và đa dạng, đề cập đến nhiều khía cạnh liên quan, bao gồm: khái niệm và nội hàm của VLBV nói chung, luật pháp, chính sách, thực trạng, thách thức và giải pháp trong tạo việc làm cho thanh niên hay thúc đẩy việc làm năng suất, chất lượng cho lao động thanh niên Tuy nhiên, sự đa dạng của các tài liệu này mới thể hiện ở các báo cáo nghiên cứu, bài báo, bản tin và chưa

có những công trình nghiên cứu chuyên sâu hay đề cập trực tiếp đến tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT Hơn nữa, các nghiên cứu này mới chỉ phản ánh một khía cạnh nào đó của bức tranh tạo VLBV cho lao động thanh niên ở Việt Nam hiện nay, các giải pháp còn đề ra chung chung và thiếu nhất quán, chưa gắn với bối cảnh hội nhập KTQT Vì vậy, “Tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT” là đề tài mới, với mong muốn hệ thống hóa lại cơ sở lý luận và thực trạng tạo VLBV cho lao động thanh niên hiện nay, xác định những cơ hội, thách thức đối với tạo VLBV của thanh niên trong bối cảnh hội nhập và

đề xuất hệ giải pháp tạo VLBV cho thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trên thế giới có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, có thể chia thành 2 nhóm, bao gồm: các nghiên cứu mang tính lý thuyết về tạo việc làm nói chung và các nghiên cứu về tạo VLBV cho thanh niên

1.1.2.1 Nghiên cứu lý thuyết về tạo việc làm

- Một số lý thuyết quan trọng bàn về vấn đề tạo việc làm bao gồm: Lý thuyết tạo việc làm của John Maynard Keynes [118]; Lý thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực của nền kinh tế của tác giả Arthur Lewis

Trang 25

17

[130], John Fei và Gustav Ranis (1961) đã phát triển mở rộng mô hình của Lewis;

Lý thuyết của Harry T Oshima [44]; Mô hình thu nhập kỳ vọng của Harris – Todaro [36] Các lý thuyết này đã nghiên cứu vấn đề tạo việc làm trên các góc độ khác nhau - Trong lý thuyết của Keynes, tạo việc làm được xem xét trong mối quan

hệ với tổng cầu của nền kinh tế quốc dân Harry Toshima nghiên cứu đặc điểm cơ bản của nền kinh tế châu Á gió mùa với mục tiêu là thay đổi nền kinh tế từ chỗ sử dụng không hết lao động tiến tới tận dụng hết lao động ở mức độ cao qua 3 giai đoạn phát triển của nền kinh tế Harris - Todaro đã nghiên cứu vấn đề việc làm ở các nước đang phát triển bằng sự di chuyển lao động trên cơ sở thực hiện điều tiết thu nhập, tiền lương giữa các khu vực kinh tế khác nhau… Các lý thuyết này đã cho thấy việc làm được tạo ra phụ thuộc vào việc gia tăng sản lượng và phương thức tăng trưởng của một nền kinh tế; góp phần lý giải tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm cũng như sự di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị ở các nước đang phát triển trong quá trình CNH; đồng thời cũng chỉ ra các bước phát triển để tiến tới toàn dụng lao động của các nền kinh tế đang phát triển

- Vào những năm 1980, trường phái trọng cung xuất hiện ở Mỹ, với các đại

biểu là A Laffer , J, Winniski, n Ture, P.C Roberto, Trường phái trọng cung ra đời nhằm tìm kiếm con đường giải quyết nhịp độ tăng trưởng và duy trì NSLĐ Các

lý thuyết này đã nhấn mạnh vào vai trò quan trọng của nghiên cứu và phát triển (R&D)

và giáo dục và đào tạo đối với TTKT trong dài hạn của một quốc gia Họ phê phán những quan điểm của phái trọng cầu và của phái Keynes khi các phái này phân tích nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế là do thiếu cầu và do tiết kiệm quá lớn [64]

- Trong phân tích kinh tế lao động, các lý thuyết về vốn con người mà điển hình

là lý thuyết của Gary Becker cũng nhấn mạnh vào những ảnh hưởng của giáo dục, kinh nghiệm của một cá nhân trong xác định việc làm và NSLĐ của họ [98] Lý thuyết của Becker đã chỉ ra rằng không có số lượng cố định những việc làm tốt, mà số lượng công việc được trả lương cao sẽ gia tăng khi các nước đào tạo ra nhiều sinh viên tốt nghiệp

có kỹ năng sáng tạo, đổi mới hơn Becker đã chỉ ra các nước Châu Á từ Hàn Quốc, Singapore đến Trung Quốc như là những ví dụ về những nền kinh tế đã sử dụng giáo dục để thúc đẩy tăng trưởng và việc làm năng suất, chất lượng cao Mặc dù có rất ít tài nguyên thiên nhiên, nhưng họ đã phát triển NNL của mình và gặt hái những phần thưởng xứng đáng Đối với những quốc gia khác muốn làm theo tấm gương của họ,

thông điệp vẫn là rất đơn giản nhưng sống còn: hãy đầu tư vào con người

Trang 26

lý cho phụ nữ và các chính sách hỗ trợ hộ gia đình; (ii) Các quy chế lao động ngặt nghèo thường đi kèm với tỷ lệ việc làm thấp, tỷ lệ việc làm PCT cao hơn trong thanh niên, nhất là nữ thanh niên Vấn đề khó khăn là làm sao để đảm bảo các quy định không quá chặt, cũng không quá lỏng lẻo – có thể hỗ trợ cải cách bằng các chương trình trợ cấp tiền mặt có mục tiêu và dần mở rộng mạng lưới an sinh xã hội

để giải quyết tình trạng bất bình đẳng và bảo vệ người lao động thay vì chỉ tập trung vào tạo việc làm; (iii) Giảm chi phí khởi nghiệp kinh doanh, tăng mức độ mở cửa thương mại, và xây dựng các thị trường sản phẩm cạnh tranh hơn đều có thể giúp cải thiện hiệu quả lao động của thanh niên Bên cạnh việc vận hành TTLĐ, vấn đề mấu chốt là giáo dục và đào tạo cần tiếp tục được cải thiện mạnh mẽ hơn nữa

- ILO (2016), “Nghị quyết của ILO liên quan đến VLBV trong các chuỗi cung ứng toàn cầu” [104] Nghị quyết đã nhấn mạnh vào các cơ hội và thách thức của tạo VLBV trong chuỗi cung ứng toàn cầu Nghị quyết cũng đã đưa ra các giải pháp liên quan đến: (i) sự phối hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và việc làm bền vừng; (ii) các biện pháp và hệ thống quản trị phù hợp Nghị quyết đã thống nhất hành động của ILO trong thúc đẩy VLBV như: thúc đẩy phê duyệt và thực hiện các tiêu chuẩn Lao động quốc tế, cung cấp sự trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viện của LIO, thúc đẩy đối thoại xã hội liên biên giới, quốc gia, mở rộng quy mô các chương trình hợp tác phát triển, thúc đẩy VLBV và bảo về các quyền cơ bản tại nơi làm việc,.v.v…

- ILO (2015), Báo cáo “Giải pháp cho việc làm thanh niên: Báo cáo cơ sở năm 2015” [108] Báo cáo đã phân tích các rào cản cho việc làm thanh niên, bao gồm: Năng lực cá nhân hạn chế (thiếu nhận thức, thiếu kỹ năng; thiếu quan hệ xã hội, thu nhập thấp; thiên lệch về tâm lý); Thất bại của thị trường và Chính phủ (các

Trang 27

ưu tiên đến năm 2020 đó là: xây dựng quan hệ đối tác, mở rộng căn cứ dựa trên bằng chứng, tăng các nguồn lực cho các chương trình, thúc đẩy đổi mới; Các lĩnh vực thực thi gồm: tác động của kỷ nguyên số, khoảng cách kỹ năng, phát triển kinh doanh và tự tạo việc làm, các công việc có chất lượng

- ILO và Ngân hàng Phát triển Châu Á (2014), Báo cáo “Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới thịnh vượng chung và việc làm tốt hơn” [106] Báo cáo nhấn mạnh các ưu tiên chính để giải quyết những cơ hội và thách thức của AEC về tăng cường cơ chế hợp tác khu vực, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng việc làm, tăng cường phát triển kỹ năng nghề, nâng cao năng suất và tiền lương, và quản lý lao động di cư Trong đó, xây dựng kết nối là chìa khóa thực hiện tầm nhìn AEC về tăng trưởng bền vững và phát triển công bằng Hội nhập khu vực sâu hơn mang đến nhiều triển vọng kinh tế to lớn, nhưng biến những lợi ích này thành sự thịnh vượng chung và phát triển công bằng cần có những cải cách mạnh

mẽ về thể chế cho TTLĐ Các chính phủ có thể tiến hành những cải cách này để tăng trưởng toàn diện và cân đối hơn Họ có thể tăng cường liên kết giữa năng suất

và tiền lương thông qua cơ chế thích hợp để thiết lập mức lương tối thiểu và thương lượng tập thể, thúc đẩy bình đẳng giới và lao động trẻ thông qua tăng cường tiếp cận tới đào tạo nghề, đồng thời bảo vệ lao động di cư và đảm bảo đối xử công bằng với họ và tăng cường hợp đối thoại ba bên

- ILO (2013), Sổ tay “Các chỉ tiêu VLBV: hướng dẫn cho người sản suất và

sử dụng thông tin” đã công bố hệ thống các chỉ tiêu VLBV (21 chỉ tiêu về khung khổ pháp luật và 58 chỉ tiêu thống kê) [110] Bộ chỉ số này sẽ cho phép các quốc gia sử dụng để thực hiện giám sát VLBV Việc thống kê theo các chỉ tiêu này còn phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn thông tin thống kê, khả năng cải tiến các công cụ đo lường và tính khả thi của các nghiên cứu mới về vấn đề lao động Bộ chỉ số bao gồm: các chỉ tiêu có thể đo lường định lượng (chỉ tiêu thống kê) hoặc đo lường định tính (mô tả quyền tại nơi làm việc và khung pháp lý)

Trang 28

sự chuyển tiếp lâu hơn sang VLBV cũng ảnh hưởng đến những quá trình chuyển tiếp khác của họ, cản trở các giai đoạn sau của cuộc đời Sự hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm thanh niên là một công cụ giải quyết thách thức – giảm thiểu chi phí và tối đa hoá tiềm năng

- L Brewe (Geneva, ILO, 2004), Báo cáo “Rủi ro của Thanh niên: Vai trò của phát triển kỹ năng trong tạo điều kiện chuyển tiếp thành công đến việc làm” đã nhấn mạnh vào ý nghĩa, hậu quả của thất nghiệp thanh niên và việc làm không bền vững [119] Trước hết, đó là sự suy yếu năng lực làm việc, thu nhập và tiếp cận đến việc làm có chất lượng của mỗi cá nhân và cái giá của việc không quan tâm đến thanh niên có thể được đo bằng sự suy giảm về vốn xã hội và vốn con người Đồng thời, mất đi cơ hội TTKT, tình trạng này tăng lên theo độ tuổi của lực lượng này mà không đạt được kỹ năng và VLBV Khó khăn nhiều hơn là cái giá của nghèo đói, bất ổn xã hội và xung đột địa phương

- Niall O‟Higgins (2002), Báo cáo “Việc làm thanh niên ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: Khung phân tích và Khuyến nghị chính sách” đã xem xét và thống kê các khái niệm và quan niệm về “thanh niên” và các chủ đề/lĩnh vực cần tập trung để thúc đẩy việc làm cho thanh niên [120] Báo cáo này cũng đề xuất một khung chính sách TTLĐ trong phát triển việc làm cho lao động thanh niên khi nghiên cứu việc làm thanh niên ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

- Cộng đồng Châu Âu (2000), Báo cáo “Tình hình xã hội ở Liên hiệp Châu Âu” [97] đã làm rõ lợi ích của VLBV cho thanh niên và trong đó nhấn mạnh đến lý luận chuyển tiếp thành công vào TTLĐ (có VLBV) có mối liên hệ chặt chẽ với những chuyển tiếp chủ chốt khác trong cuộc đời (sự độc lập về kinh tế, làm chủ cuộc sống, xây

Trang 29

21

dựng gia đình) Sự hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm thanh niên là một công cụ giải quyết thách thức – giảm thiểu chi phí và tối đa hoá tiềm năng

b Nghiên cứu về thực trạng và giải pháp tạo VLBV cho thanh niên:

- S Mahendra Dev (2017), Báo cáo: “Thách thức việc làm thanh niên và các chính sách khởi nghiệp cho thanh niên: Nghiên cứu trường hợp 8 nước Châu Á” [121] Báo cáo cung cấp thông tin về hiện trạng việc làm thanh niên và các thách thức việc làm thanh niên của các nước Châu Á, bao gồm Malaixia, Thailan, Phillipines, Việt Nam, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Indonesia Công trình nghiên cứu này cũng cung cấp kinh nghiệm về các chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên của các nước này, đặc biệt là các chính sách, chương trình hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp Báo cáo cũng đưa ra một số khuyến nghị quan trọng trong việc rỡ bỏ các rào cản và thúc đẩy tạo VLBV cho thanh niên ở Châu Á

- ILO (Geneva, 2017), Báo cáo “Xu hướng việc làm toàn cầu cho thanh niên năm 2017” [103] đã tập trung phân tích các xu hướng việc làm thanh niên ở cấp độ khu vực và toàn cầu, các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển tiếp thành công của thanh niên vào TTLĐ, dự báo tác động của chuyển dịch ngành và công nghệ đến nhu cầu

kỹ năng và việc làm thanh niên, nhận dạng các hình thức việc làm mới của thanh niên Trên cơ sở đó, báo cáo cũng đề xuất các chính sách thúc đẩy tương lai việc làm thanh niên tốt đẹp hơn, bao gồm: thúc đẩy tạo việc làm thông qua các chính sách kinh tế, tăng cường kỹ năng cho thanh niên, các biện pháp TTLĐ chủ động và công nghệ thông tin, chính sách hỗ trợ tự tạo việc làm và khởi nghiệp cho thanh niên, đảm bảo quyền tại nơi làm việc cho phụ nữ và nam giới

- ILO (2016), Báo cáo: “Việc làm và kỹ năng cho thanh niên: Tổng quan các chính sách việc làm thanh niên của Trung Quốc” [105] tập trung vào phân tích các chính sách tạo việc làm cho thanh niên Trung Quốc hiện nay, bao gồm các chính sách kinh tế và các chính sách TTLĐ Báo cáo cũng phân tích hiện trạng việc làm, các nhóm thanh niên yếu thế và các rào cản trong thúc đẩy VLBV cho thanh niên Trung Quốc Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển việc làm cho thanh niên liên quan đến hoàn thiện thể chế, chính sách và tăng cường thực thi pháp luật lao động; phát triển kinh tế tạo nhiều việc làm; phát triển kỹ năng cho thanh niên; tăng cường kết nối việc làm và tăng cường vai trò của các bên liên quan, v.v…

- Bộ LĐ-TB&XH Việt Nam (2014), Báo cáo: “Tăng cường kết nối con người

và chất lượng việc làm thông qua phát triển NNL trong các nền kinh tế APEC” [9] đã bàn về vấn đề tạo và duy trì VLBV của thanh niên trong các nền kinh tế APEC đáp

Trang 30

ra một số khuyến nghị quan trọng nhằm thúc đẩy hợp tác hiệu quả trong tạo VLBV cho thanh niên, bao gồm: nâng cao hợp tác về pháp lý giữa các nền kinh tế; Đầu tư nhiều hơn vào hệ thống giáo dục và đào tạo lan tỏa ảnh hưởng tích cực đến chuỗi cung ứng; Nâng cao hiệu quả của chính sách thị trường lao động; Thúc đẩy dịch chuyển lao động hiệu quả giữa các nước thành viên APEC

- ILO (Geneva, 2013), Báo cáo “Xu hướng Việc làm Thanh niên Toàn cầu năm 2013: một thế hệ rủi ro” [111] đã nhấn mạnh về thực trạng việc làm thanh niên

và mức độ rủi ro cao của thanh niên trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua Để đối phó với những bất lợi và thách thức trong vấn đề việc làm thanh niên, báo cáo đã phát triển các biện pháp hỗ trợ về kỹ thuật và năng lực lãnh đạo cho thanh niên, bao gồm: (i) Nâng cao nhận thức về TTLĐ thanh niên; (ii) Mở rộng hiểu biết về các chính sách, chương trình can thiệp cần thiết để làm nhẹ sự chuyển tiếp từ trường học đến việc làm cho thanh niên nói chung và những thanh niên bị bất lợi nói riêng; (iii) cung cấp các tư vấn kỹ thuật và các công cụ về đào tạo kỹ năng và hướng nghiệp để nâng cao năng lực việc làm cho thanh niên trong quá trình học hay sau khi tốt nghiệp; (iv) cung cấp tư vấn kỹ thuật và công cụ nhằm thúc đẩy kinh doanh và phát triển kinh tế địa phương nhằm tăng cường cơ hội tự tạo việc làm

ổn định và năng suất; (v) cung cấp tư vấn kỹ thuật và công cụ nhằm cải thiện chất lượng nghề nghiệp và giải quyết các vấn đề an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, bất bình đẳng giới; (vi) Lồng ghép các mối quan tâm của thanh niên vào khung khổ phát triển chung của Quốc gia và cung cấp các dịch vụ việc làm thanh niên; (vii) Tăng cường sự tham gia của người sử dụng lao động, người lao động và các tổ chức của họ tham gia vào phát triển chính sách

- Liên hợp quốc (2012), Báo cáo “Việc làm thanh niên: triển vọng thanh niên

về theo đuổi VLBV trong giai đoạn đang chuyển đổi” [129] đã nhấn mạnh sự chuyển tiếp từ trường học đến TTLĐ là một giai đoạn thiết yếu trong chu kỳ cuộc đời Kịch bản việc làm hiện tại cho thanh niên đã bị xấu đi do khủng hoảng kinh tế, đưa đến một thách thức gay go trong dài hạn cho cả thanh niên và toàn xã hội Bản

Trang 31

23

thân thanh niên là những đối tác thiết yếu trong duy trì và theo đuổi VLBV và năng suất cho tất cả mọi người, song tiếng nói của họ không được chú ý đến và các kinh nghiệm, cũng như quan điểm tích cực và tiêu cực cũng không được chia sẻ, đặc biệt không đến được với các nhà hoạch định chính sách Báo cáo cũng khẳng định về khoảng cách ngày càng tăng trong VLBV cho thanh niên Với ít kinh nghiệm và kỹ năng hơn so với người trưởng thành, thanh niên thường đối mặt với khó khăn trong tiếp cận công việc

- ILO (2006), Báo cáo “Thập kỷ việc làm bền vững ở ASEAN: thách thức về việc làm thanh niên” [114] đã chỉ rõ một số thách thức chính về việc làm thanh niên: (i) mặc dù cứ 5 lao động thanh niên trong nhóm tuổi 15 - 24 thì có 1 người thất nghiệp, nhóm này chiếm gần 1/2 số lao động mất việc của khu vực Trong khu vực, số thanh niên thất nghiệp cao gấp 3 lần so với người trưởng thành, gấp 5 lần ở khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương Đối với lao động thanh niên nghèo, không còn lựa chọn nào khác là làm các công việc nặng nhọc, kéo dài thời gian ở khu vực PCT với hợp đồng tạm thời, tiền công thấp và không có triển vọng; (ii) Lao động trẻ ở các nước đang phát triển ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương bị thiếu

sự bảo trợ xã hội Hầu hết những lao động này, sự lựa chọn duy nhất của họ là tham gia vào các phân khúc thị trường trong khu vực PCT, điều đó đã đặt họ vào trong tình trạng “lao động nghèo”; (iii) Thanh niên cũng làm tăng thêm gánh nặng của dòng chảy

di cư từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm, gây thêm áp lực nặng nề cho TTLĐ ở khu vực thành thị Số lượng nữ thanh niên ASEAN đi làm việc ở nước ngoài ngày càng tăng, chủ yếu làm giúp việc gia đình và trong các ngành sản xuất chế tạo sử dụng nhiều lao động, dễ bị tổn thương do bị bóc lột và lạm dụng

Tóm lại: Các tài liệu nghiên cứu quốc tế đã làm rõ khái niệm và nội hàm

VLBV Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã áp dụng khái niệm này để làm sáng tỏ các vấn đề việc làm toàn cầu và quốc gia hay trong các khu vực khác nhau trên thế giới, đặc biệt là ở một số nước đang phát triển Một số nghiên cứu khác liên quan trực tiếp đến việc làm thanh niên và cũng chỉ ra các nguyên nhân cơ bản của sự không bền vững trong việc làm thanh niên đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế vừa qua, cũng như đưa ra những biện pháp hỗ trợ tổng thể nhằm thúc đẩy lao động thanh niên hòa nhập TTLĐ, hướng tới VLBV Tuy nhiên, tùy vào điều kiện và tình hình của từng quốc gia, từng khu vực mà có những biện pháp cụ thể Bên cạnh đó, một số các nghiên cứu cũng đưa ra phương pháp phân tích và cách tiếp cận trong tạo VLBV cho thanh niên, nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở lý thuyết

Trang 32

24

mang tính xã hội và kinh nghiệm (như lý thuyết vòng đời), chứ chưa gắn với các lý thuyết kinh tế phát triển Ngoài ra, các vấn đề về lý thuyết và cơ sở khoa học về tạo VLBV cho thanh niên, cũng như nội dung và các nhân tố tác động đến tạo VLBV trong bối cảnh hội nhập KTQT cho thanh niên chưa được làm rõ ở các nghiên cứu này Vì vậy, đề tài luận án hoàn toàn mang tính mới

1.2 Khoảng trống nghiên cứu

Sau khi nghiên cứu tổng quan, NCS rút ra kết luận sau:

- Hệ thống lý thuyết về tạo việc làm cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về vấn đề tạo việc làm của một nền kinh tế Ý nghĩa của việc nghiên cứu các mô hình nêu trên cũng cho thấy cần phải xây dựng được mô hình nghiên cứu tạo VLBV cho thanh niên trong bối cảnh hội nhập rút ra từ các lý thuyết này

- Các công trình, bài viết nêu trên đều đề cập đến vấn đề VLBV và tạo VLBV nói chung hay cho một số đối tượng đặc thù như lao động thanh niên, lao động nông thôn, nông thôn vùng thu hồi đất Đó là nguồn tài liệu phong phú để tác giả luận án kế thừa và tiếp tục nghiên cứu Tuy nhiên, đến nay các tài liệu nghiên cứu chưa làm rõ phương pháp tiếp cận và khung phân tích tạo VLBV cho lao động thanh niên Bên cạnh đó, vấn đề tạo VLBV cho thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT chưa được nghiên cứu một cách

hệ thống, khoa học và cập nhật do đó chưa thấy hết được những nguyên nhân và hạn chế trong tạo VLBV cho thanh niên Việt Nam hiện nay Đây là những khoảng trống được luận án tiếp tục nghiên cứu, đánh giá để đưa ra những khuyến nghị hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam trong thời gian tới

Do đó, những vấn đề thuộc nội dung luận án mà NCS cần và sẽ tập trung giải quyết bao gồm:

- Xây dựng khung phân tích tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT Trong đó, làm rõ các khái niệm, đặc điểm, nội dung tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT và các nhân tố ảnh hưởng đến tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT

- Trên cơ sở khung phân tích, đánh giá một cách khoa học và toàn diện thực trạng tạo VLBV cho lao động thanh niên Việt Nam trong thời gian qua, gắn với bối cảnh hội nhập KTQT

- Xác định cơ hội và thách thức của tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT

- Xây dựng các giải pháp tạo VLBV cho lao động thanh niên trong bối cảnh hội nhập KTQT trong thời gian tới

Trang 33

2.1.1 Khái niệm về thanh niên và lao động thanh niên

2.1.1.1 Thanh niên

O‟Higgins đã chỉ ra rằng [120]: Khái niệm thanh niên phụ thuộc vào các đặc điểm văn hóa và xã hội của từng quốc gia Nhìn chung, thanh niên có thể được xác định như là một giai đoạn trong vòng đời trước khi bắt đầu cuộc đời của người trưởng thành, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuổi trung bình khi người thanh niên tốt nghiệp giáo dục và đào tạo ban đầu và tuổi trung bình kì vọng khi họ bắt đầu đóng các vai trò trưởng thành trong cộng đồng

Theo khái niệm tiêu chuẩn của Liên hợp quốc (UN) [127], thanh niên là những người trong độ tuổi từ 15 đến 24 Thanh niên thường chỉ tính trong độ tuổi 15-24 để hàm ý ở độ tuổi này thanh niên bao gồm những người rời ghế nhà trường sớm nhất từ 15 tuổi (kết thúc phổ thông cơ sở) và kết thúc việc đào tạo nghề nghiệp

ở cấp đại học lúc 24 tuổi Hầu hết các quốc gia Châu Âu đã phê chuẩn khái niệm này Đặc biệt, trong các phân tích và hoạch định chính sách của các quốc gia đang phát triển, ILO khuyến nghị tập trung vào nhóm thanh niên từ 15-24 tuổi, đây là nhóm dễ bị tổn thương hơn cả trong TTLĐ

Ở Việt Nam, từ góc độ pháp luật, theo điều 1, Luật Thanh niên năm 2005:

“Thanh niên là công dân Việt Nam từ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” Tuy nhiên, theo pháp luật lao động, ngưỡng tuổi tối thiểu có thể tham gia lao động là 15 tuổi

Do đó, khi xem xét lao động thanh niên cần phải bao gồm cả lứa tuổi từ 15

Trong nghiên cứu này, để đảm bảo tính so sánh quốc tế và phù hợp với pháp luật lao động của Việt Nam và khuyến nghị của ILO, nghiên cứu sinh (NCS) sử dụng khái niệm “thanh niên là những người trong độ tuổi từ 15-24”

2.1.1.2 Lao động thanh niên

Theo ILO, “người lao động là những người từ 15 tuổi trở lên, có nhu cầu làm việc, đang có việc làm hay đang tìm kiếm việc làm” [115]

Như vậy, lao động thanh niên được hiểu là những người trong độ tuổi từ 15 –

Trang 34

ILO đã đưa ra khái niệm về việc làm như sau: “Việc làm là tất cả các hoạt

động do những người trong một độ tuổi xác định nào đó thực hiện trong một khoảng thời gian cụ thể, có thể là một tuần hoặc một ngày, để được trả công, hay tạo ra lợi nhuận hay tạo ra lợi ích cho gia đình, bằng tiền mặt hay hiện vật” [115]

Khái niệm này đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng Tuy nhiên, khái niệm này mang nghĩa rất rộng bao trùm mọi hoạt động lao động của con người Đặc biệt, nếu xem tất cả các công việc được trả công là việc làm thì sẽ dẫn đến sự thừa nhận các hoạt động bất hợp pháp như các hoạt động tội phạm, các hoạt động vi phạm đạo đức

xã hội, truyền thống các dân tộc cũng được xem là việc làm

Ở Việt Nam, “việc làm” được quan niệm như sau: “Mọi hoạt động tạo ra thu

nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” (Điều 13, Bộ Luật Lao

động 2012), hay nói cách khác “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà

không bị pháp luật cấm” (Điều 3, Luật Việc làm 2013) Như vậy, khái niệm này nhấn

mạnh tới hai tiêu thức cơ bản “thu nhập” và “tính hợp pháp” để xác định hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm Điều này có nghĩa là, nếu một hoạt động tạo ra thu nhập nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma tuý… thì không được thừa nhận là việc làm Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp và có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là việc làm như hoạt động nội trợ

Từ các quan điểm trên, tác giả thống nhất với quan niệm việc làm của Chính

phủ Việt Nam “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp

luật cấm” Với quan niệm việc làm như vậy sẽ góp phần ngăn chặn những công

việc phi pháp dễ nảy sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Phân loại tình trạng việc làm của người lao động, có 3 trạng thái sau:

+ Có việc làm đầy đủ (sau này được phát triển thành VLBV) là việc làm ổn định, năng suất với điều kiện tự do, bình đẳng và bảo đảm nhân phẩm

+ Thiếu việc làm: “người thiếu việc làm là người có số giờ làm việc trong tuần lễ điều tra dưới 35 giờ hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định và họ

có nhu cầu làm thêm giờ”

Trang 35

27

+ Thất nghiệp: “Thất nghiệp là hiện tượng mà những người lao động trong tuần điều tra không làm việc gì (ít nhất 1 giờ), nhưng có nhu cầu làm việc và đã có các hoạt động tìm việc như đến các trung tâm dịch vụ việc làm đăng ký, nộp đơn xin việc đến doanh nghiệp, tìm sự hỗ trợ của gia đình, người thân, bạn bè để có việc làm, v.v ”

2.1.2.2 Việc làm bền vững

Việc làm bền vững là thuật ngữ do ILO xây dựng và được cộng đồng quốc tế thông qua: “VLBV là việc làm cho phụ nữ và nam giới được thực hiện trong điều kiện tự do, bình đẳng, an sinh và tôn trọng nhân phẩm” [110]

Năm 2007, ILO đã phát triển khái niệm VLBV với 4 nội dung cụ thể: (i) việc

làm đầy đủ quyền con người với đúng trình độ cá nhân; (ii) việc làm với các điều kiện chấp nhận được, bình đẳng, có cơ hội phát triển và hoàn thiện các kỹ năng cá nhân; (iii) việc làm có ASXH, an toàn tại nơi làm việc hướng tới chăm sóc sức khỏe

và phòng ngừa rủi ro; (iv) việc làm có ĐTXH thông qua tự do hiệp hội, tự do phát ngôn, được tham gia đối thoại cởi mở giữa Chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động, được tham gia xây dựng các chính sách, chiến lược có liên quan

[113] Với các nội hàm này, khái niệm VLBV có tính khái quát hơn, bao gồm các khía cạnh khác nhau của người lao động, nhất là được bảo đảm về ASXH

Trên cơ sở đó, Hội nghị quốc tế lần thứ 18 về Thống kê lao động đã đưa ra khung khổ đánh giá VLBV ở phạm vi quốc gia bao gồm 10 thành tố chính của VLBV và hệ thống các chỉ số VLBV (21 chỉ tiêu về khung khổ pháp luật và 58 chỉ tiêu thống kê) [110, 112] Bộ chỉ số này cho phép các quốc gia sử dụng để thực hiện giám sát VLBV Việc thống kê theo các chỉ số này còn phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn thông tin thống kê, khả năng cải tiến các công cụ đo lường và tính khả thi của các nghiên cứu mới về vấn đề lao động

NCS đồng thuận với quan điểm của ILO về VLBV và sẽ chính thức sử dụng khái niệm VLBV của ILO trong các phân tích tạo VLBV cho lao động thanh niên Việt Nam xuyên suốt luận án này Bên cạnh đó, NCS cũng sẽ sử dụng khung khổ đánh giá và hệ thống chỉ số giám sát VLBV của ILO làm căn cứ xây dựng và phát triển khung VLBV và hệ thống chỉ số giám sát VLBV của lao động thanh niên

2.1.3 Khái niệm về tạo việc làm và tạo việc làm bền vững

2.1.3.1 Tạo việc làm

Theo Giáo trình Kinh tế NNL: “Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng và

chất lượng tư liệu sản xuất, sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết

Trang 36

28

khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động, đem lại thu nhập cho người lao động” [82]

Như vậy, muốn tạo việc làm cần 3 yếu tố cơ bản: tư liệu sản xuất, sức lao động

và các điều kiện KT-XH khác (để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động), cụ thể:

+ Yếu tố tư liệu sản xuất hay chính là điều kiện tự nhiên, vốn, công nghệ: là

các tiền đề vật chất để tiến hành bất cứ một hoạt động sản xuất nào Điều kiện tự nhiên do thiên nhiên ưu đãi Vốn do tích luỹ mà có hoặc được tạo ra từ các nguồn khác Công nghệ do tự sáng chế hoặc áp dụng theo những công nghệ đã có sẵn Nhân tố này cùng với sức lao động nói lên năng lực sản xuất của một quốc gia

+ Yếu tố sức lao động hay còn gọi là năng lực người lao động trong quá trình

lao động, bao gồm: thể lực, trí lực, kinh nghiệm quản lý, sản xuất của người lao động Người lao động có được những thứ này lại phụ thuộc vào điều kiện sống, quá trình đào tạo và tích luỹ kinh nghiệm của bản thân, sự kế thừa những tài sản đó từ các thế hệ trước

+ Yếu tố điều kiện KT-XH hay chính là cơ chế, chính sách KT-XH của mỗi

quốc gia: Việc làm được tạo ra như thế nào, chủ yếu cho đối tượng nào, với số lượng dự tính bao nhiêu,… phụ thuộc vào cơ chế, chính sách KT-XH của mỗi quốc

gia trong từng thời kỳ cụ thể Muốn có được nhiều việc làm cần có các chính sách,

biện pháp tạo việc làm hiệu quả Ví dụ: Chính sách tạo vốn để phát triển kinh tế;

Chính sách di dân đi vùng kinh tế mới; Chính sách gia công sản xuất hàng tiêu dùng cho xuất khẩu; Chính sách phát triển ngành nghề truyền thống; Chính sách phát triển hình thức hội, hiệp hội ngành nghề làm kinh tế và tạo việc làm; Chính sách

xuất khẩu lao động; v.v…cũng như các định chế phát triển TTLĐ bao gồm hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm và hệ thống thông tin TTLĐ, v.v… do Chính phủ

và các tổ chức KT-XH thực hiện

2.1.3.2 Tạo việc làm bền vững

VLBV cho người lao động là mục tiêu của xã hội hiện đại Chương trình nghị

sự về VLBV của ILO đã đặt ra 4 trụ cột chiến lược trong tạo VLBV, cụ thể: (i) Tạo cơ hội VLBV cho cả nam giới và phụ nữ; (ii) Đảm bảo các quyền cơ bản tại nơi làm việc; (iii) Đảm bảo ASXH; (iv) Đảm bảo ĐTXH Bốn trụ cột này có tầm quan trọng ngang nhau, thuộc cách tiếp cận cân bằng và lồng ghép trong tạo VLBV hay nói cách khác chúng có mối quan hệ qua lại, gắn bó và hỗ trợ lẫn nhau [110, 112]

Trên cơ sở đó, theo NCS “Tạo việc làm bền vững là các hoạt động và biện

Trang 37

29

pháp tạo ra số lượng việc làm nhằm toàn dụng NNL, đồng thời đảm bảo chất lượng việc làm và ASXH, ĐTXH cho người lao động” hay nói cách khác tạo VLBV chính

là củng cố 4 trụ cột của VLBV, cụ thể:

- Trụ cột 1 Tạo cơ hội VLBV cho cả nam giới và phụ nữ Đây là mục tiêu

quan trọng trong mọi xã hội Để đạt được mục tiêu này, các biện pháp bao gồm: thực thi các mục tiêu phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và đảm bảo mức sống tốt cho người dân; Tạo điều kiện để các doanh nghiệp tư nhân và nhà nước phát triển bền vững và tạo nhiều cơ hội việc làm, thu nhập và triển vọng phát triển cho tất cả mọi người; Tăng cường đào tạo và phát triển kỹ năng cho người lao động để nâng cao năng lực, kỹ năng cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu công việc một cách hiệu quả

- Trụ cột 2 Đảm bảo các quyền cơ bản tại nơi làm việc Các biện pháp cơ

bản bao gồm: Đó là thực thi quyền tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể; tạo điều kiện cho người lao động làm việc hiệu quả, làm việc với đúng trình độ cá nhân, bảo đảm nhân phẩm tại nơi làm việc; thúc đẩy môi trường làm việc với các điều kiện chấp nhận được, bình đẳng, có cơ hội phát triển và hoàn thiện các kỹ năng

cá nhân; Đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh, hướng tới chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa các rủi ro cho người lao động; Xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động trẻ em, xóa bỏ sự phân biệt đối xử về nghề nghiệp tại nơi làm việc

- Trụ cột 3 Đảm bảo an sinh xã hội: Mở rộng ASXH toàn dân, bao gồm cả

các biện pháp đảm bảo thu nhập cơ bản cho tất cả những người cần hỗ trợ, mở rộng loại hình và phạm vi bao phủ để đáp ứng những nhu cầu mới và những rủi ro mới gây ra do những biến đổi liên tục trong công nghệ, dân số, KT-XH; Những chính sách về tiền lương và thu nhập, thời giờ làm việc và những điều kiện làm việc khác được thiết kế nhằm đảm bảo chia sẻ những lợi ích của tiến bộ, tăng trưởng tới tất cả mọi người và đảm bảo tất cả những người có việc làm và những người cần được hỗ trợ có mức sống và thu nhập tối thiểu

- Trụ cột 4 Đảm bảo đối thoại xã hội: Điều chỉnh việc thực hiện các mục

tiêu chiến lược cho phù hợp với nhu cầu và điều kiện cụ thể của từng ngành, địa phương; Tạo điều kiện để đảm bảo cân bằng phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, tăng cường tính nhất quán trong những chính sách quốc gia và quốc tế có tác động tới các chương trình, chiến lược việc làm và VLBV; và tăng cường hiệu quả của hệ thống luật pháp và thể chế lao động, bao gồm cả về quan hệ việc làm, thúc đẩy quan

hệ lao động hài hòa, và xây dựng hệ thống thanh tra lao động hiệu quả

Trang 38

30

Nếu như trong khái niệm “tạo việc làm” chỉ đề cập đến tạo ra số lượng việc làm cho người lao động một cách chung nhất, khái niệm “tạo việc làm bền vững” có tính chất toàn diện hơn và cụ thể hơn, đó là tạo việc làm nhiều hơn (cơ hội việc làm)

và tốt hơn (và thúc đẩy các quyền, nguyên tắc cơ bản tại nơi làm việc, đảm bảo ASXH và ĐTXH) cho người lao động

2.1.3.3 Cơ chế tạo việc làm bền vững

Theo ILO, cơ chế tạo VLBV đòi hỏi sự tham gia tích cực của các bên: Chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động Bên cạnh đó, cùng với Chính phủ,

tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động và tổ chức đại diện cho người lao động cũng có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản trị TTLĐ [104, 112]

+ Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong tạo ra môi trường thuận lợi để

việc làm hình thành, ổn định và phát triển thông qua hàng loạt các chính sách, biện pháp như chính sách giải quyết việc làm, chính sách GD-ĐT, ASXH, BTXH cho người lao động, chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển KT-XH v.v… Đặc biệt trong phát triển VLBV, Chính phủ còn có vai trò quan trọng trong: (i) thực thi pháp luật về thanh tra và quản trị lao động, cũng như các cơ chế khiếu nại và bồi thường phù hợp; (ii) Thúc đẩy ĐTXH và các quyền cơ bản tạo nơi làm việc; hợp tác thông qua các cơ quan cấp vùng để hài hòa giữa luật pháp và thực tiễn, v.v…

+ Về phía người sử dụng lao động, gồm các doanh nghiệp trong nước thuộc

các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp có vốn đầu tư ngước ngoài, các tổ chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ làm việc mà còn phải duy trì và phát triển chỗ làm việc cho người lao động Đó cũng chính là duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do đó, NSLĐ cần có vốn để mua hoặc thuê nhà xưởng, công nghệ, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, sức lao động để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ; cần có kinh nghiệm quản lý - yếu tố quyết định thắng lợi trong cạnh tranh Trong thúc đẩy VLBV cho người lao động, các doanh nghiệp cần tuân thủ và thực thi pháp luật lao động, AT-VSLĐ và đảm bảo các chế độ phúc lợi cho người lao động

+ Về phía người lao động, muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập

cao, cần phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho sức lao động, phải học tập, đào tạo để nắm vững một nghề, biết nhiều nghề và không ngừng hoàn thiện nâng cao tay nghề Trong một số trường hợp người lao động, với tư cách là tự làm hoặc lao động tự do hay chủ cơ sở SXKD, cũng chính là chủ thể tạo việc làm cho bản thân

Trang 39

31

và những người lao động khác

+ Tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động: Cung cấp các hướng dẫn

thực tiễn để thực thi pháp luật lao động gắn với quản lý hoạt động của doanh nghiệp; Chú ý đặc biệt đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm nâng cao trách nhiệm của họ trong tạo VLBV cho người lao động

+ Tổ chức đại diện cho người lao động: Cung cấp thông tin và hỗ trợ người

lao động liên quan đến quyền và các điều kiện làm việc; đại diện người lao động đàm phán các thỏa thuận về lao động – việc làm, phúc lợi với chủ sử dụng và các bên liên quan khác liên quan

2.1.4 Hội nhập kinh tế quốc tế

Theo Giáo trình Kinh tế quốc tế: “Hội nhập KTQT là sự gắn kết nền kinh tế

của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có sự rằng buộc theo những quy định chung của khối” [86, tr 235]

Bản chất của hội nhập KTQT là sự mở cửa nền kinh tế, trao đổi thương mại đầu tư với các nước trong khu vực và quốc tế, đón nhận những “luồng gió” mới từ bên ngoài vào, kích thích các yếu tố, điều kiện trong nước để phát triển kinh tế Hiện nay, nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới có mối liên hệ phụ thuộc ngày càng chặt chẽ thì sự liên kết, hội nhập giữa các quốc gia này là điều hoàn toàn tất yếu Quá trình đó diễn ra ngày càng mạnh mẽ dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, quốc tế hoá nền kinh tế và sự phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu Trong thời đại mới này không thể có một quốc gia nào lại tồn tại được nếu không có bất cứ một sự liên hệ nào với thế giới bên ngoài và cũng không

có quốc gia nào có nền kinh tế phát triển mà lại không có nhiều sự liên kết hợp tác với các quốc gia khác Hội nhập là quy luật tất yếu khi lực lượng sản xuất ngày càng phát triển Chính vì thế, trong thời đại mới này hội nhập KTQT là xu hướng tất yếu khách quan

2.1.5 Đặc điểm của thanh niên trong tạo việc làm bền vững

Tuổi thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp đầu tiên và quan trọng nhất từ thời niên thiếu sang giai đoạn trưởng thành [111] Ở giai đoạn này, sự phát triển về thể chất đạt đến đỉnh cao, tuy nhiên, các yếu tố tâm lý mới được định hình và ổn định một cách tương đối Thanh niên có một tính chất chung, đó là tính trẻ Tính trẻ được thể hiện ở sự năng động, nhiệt huyết, chấp nhận mạo hiểm, giàu mơ ước và hoài bão

Trang 40

32

lớn, thích cái mới, thích giao lưu, học hỏi và mong muốn có những đóng góp cho xã hội để khẳng định bản thân [61] Xét từ góc độ năng lực của họ, có thể chia đối tượng thanh niên theo các nhóm tuổi sau:

+ Nhóm 15 - 17 tuổi là nhóm trẻ tuổi nhất đang chuẩn bị kết thúc những năm học phổ thông, mối quan tâm lớn nhất của họ là lựa chọn nghề nghiệp, chọn trường

để tiếp tục học cao hơn, hoặc bước vào làm việc Nhóm thanh niên này phụ thuộc nhiều vào gia đình, tham gia lao động với tư cách là LLLĐ bổ sung chứ không phải

là LLLĐ chính Do đó, việc thanh niên ở độ tuổi này tham gia chính thức vào TTLĐ được xem là quá sớm vì chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng để có thể tiếp cận đến VLBV, hay nói cách khác đó là một thách thức lớn cho vấn đề tạo VLBV Ở những nước đang phát triển, do điều kiện kinh tế khó khăn, tình trạng thanh niên ở nhóm tuổi trẻ này phải nghỉ học sớm để tham gia vào TTLĐ là khá phổ biến Để tạo VLBV cho thanh niên ở nhóm tuổi này, tăng cường năng lực thông qua nâng cao trình

độ văn hóa và giáo dục nghề nghiệp cho họ cần được xem là ưu tiên số một

+ Nhóm 18 - 24 tuổi là nhóm đã kết thúc giai đoạn học phổ thông và tham gia quá trình giáo dục, đào tạo kỹ năng, nghề nghiệp, trải nghiệm để lựa chọn nghề nghiệp và việc làm Với xu thế học tập suốt đời, nhiều thanh niên lựa chọn hình thức vừa học, vừa làm trong giai đoạn này Từ nhóm tuổi này trở đi, người thanh niên mới có đủ năng lực pháp lý và đây cũng là giai đoạn mới bước vào hoạt động nghề nghiệp, đang ứng phó với những khó khăn, thử thách ban đầu của hoạt động này Tuy nhiên, sự thiếu hụt các kỹ năng, kinh nghiệm và các mối quan hệ xã hội là những rào cản chính cho thanh niên nói chung và thanh niên ở nhóm tuổi trong tiếp cận đến các cơ hội VLBV

Nữ và nam thanh niên cũng phấn đấu để đóng góp cho gia đình, cộng đồng

và xã hội; xây dựng gia đình và cộng đồng riêng của họ, họ tự tìm kiếm cho mình

cơ hội tốt hơn; họ có những giấc mơ và những đam mê để phấn đấu Con đường này chỉ có thể đạt được thông qua VLBV [111] Nếu cánh cửa này bị đóng, tương lai của thanh niên, của gia đình, cộng đồng và xã hội sẽ trở nên ảm đạm Thành công sớm ở độ tuổi thanh niên trong phát triển nghề nghiệp có liên quan đến triển vọng nghề nghiệp dài hạn của người lao động Điều này giúp cho việc chuyển thanh niên

từ sự phụ thuộc về mặt xã hội sang sự độc lập, giúp họ thoát nghèo và đóng góp tích cực cho xã hội [97]

Theo ILO, lao động thanh niên là nguồn nhân lực chính cho phát triển, là lực

Ngày đăng: 26/07/2020, 19:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w