1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dự án “Nâng cao vai trò làm chủ kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua các can thiệp thị trường ở tỉnh Lào Cai” (RVNA92)

47 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 808,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là: i lựa chọn sản phẩm chiến lược lợn thịt, lợn “cắp nách”, lợn giống và thiết kế các can thiệp về sản xuất và thị trường sao cho phù hợp với từng địa bàn; ii làm sao gia tăng đáng k

Trang 1

 

 

Báo cáo đánh giá giữa kỳ

Dự án “Nâng cao vai trò làm chủ kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua các can thiệp thị trường ở tỉnh Lào Cai”

(RVNA92)

Ageless Consultants

Hoàng Xuân Thành Nguyễn Thị Hoa Trương Tuấn Anh

Hà Nội, tháng 6 năm 2013

Trang 2

Lời cảm ơn

Báo cáo Đánh giá giữa kỳ dự án “Nâng cao vai trò làm chủ kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu

số thông qua các can thiệp thị trường ở tỉnh Lào Cai” (RVNA92) là nỗ lực tập thể, không thể

hoàn thành nếu thiếu sự đóng góp của nhiều người

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ của tổ chức Oxfam đã đóng góp những ý kiến quý báu trong suốt các bước thiết kế, triển khai thực địa và viết báo cáo Cán bộ chương trình của tổ chức đã trực tiếp tham gia thực địa, chia sẻ những kiến thức và kinh nghiệm hữu ích

về tình hình thực hiện dự án

Chúng tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của lãnh đạo các Sở NN&PTNT, Trung tâm Khuyến nông, Hội Phụ nữ tỉnh Lào Cai đã chia sẻ thông tin về quá trình thực hiện dự án, đóng góp ý kiến về những phát hiện ban đầu tại thực địa của đoàn đánh giá Cảm ơn cán bộ

Sở NN&PTNT tỉnh, cán bộ Trạm Khuyến nông và HPN các huyện Bát Xát và Mường Khương đã cùng tham gia khảo sát thực địa

Cảm ơn cán bộ hai xã Mường Hum (huyện Bát Xát) và Lùng Khấu Nhin (huyện Mường Khương) và các thôn khảo sát đã hỗ trợ đoàn đánh giá sắp xếp các cuộc thảo luận nhóm, phỏng vấn tại thực địa Cuối cùng, chúng tôi xin bày tỏ những lời cảm ơn chân thành nhất tới những người dân nam và nữ tại các thôn bản đã dành thời gian chia sẻ những suy nghĩ, trải nghiệm của họ khi tham gia dự án này Nếu không có sự tham gia tích cực của họ, đợt đánh giá này không thể thực hiện được

Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của mọi người quan tâm Chúng tôi xin chân thành cảm ơn

Nhóm tư vấn công ty Trường Xuân (Ageless)

Hoàng Xuân Thành (trưởng nhóm), cùng với

Nguyễn Thị Hoa

Trương Tuấn Anh

Trang 3

Đề án 14 Đề án "Đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư, trọng tâm

là vận động nhân dân cải tạo tập quán lạc hậu giai đoạn 2011 - 2015" của tỉnh Lào Cai

GAM Ma trận phân tích giới

GED Nhóm làm việc “Phát triển kinh tế nhạy cảm giới” (“Gender Economic

Development” working group) HPN Hội Phụ nữ

KN Khuyến nông

KNV Khuyến nông viên

M&E Theo dõi – giám sát

NN&PTNT Nông nghiệp & Phát triển nông thôn

SPIN Dự án “Đổi mới Sản phẩm Bền vững” (“Sustainable Product

Innovation” project) SWOT Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức

VSMT Vệ sinh môi trường

WEL Phụ nữ làm chủ kinh tế (“Women’s Economic Leadership”)

Trang 4

Mục lục

Lời cảm ơn 1

Danh mục từ viết tắt 2

Tóm lược 4

1 Giới thiệu 8

1.1 Mục tiêu đánh giá 8

1.2 Phương pháp đánh giá 8

1.3 Đặc điểm địa bàn khảo sát 10

2 Các phát hiện 11

2.1 Sự phù hợp 11

2.2 Hiệu quả 12

2.2.1 Mục tiêu 1: Cải thiện thu nhập của phụ nữ thông qua tham gia chuỗi giá trị lợn đen 12

Nâng cấp sản xuất 12

Nâng cấp “quá trình” 15

2.2.2 Mục tiêu 2: Cải thiện vị thế của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng 16

2.2.3 Mục tiêu 3: Lồng ghép, áp dụng rộng rãi WEL 22

2.3 Các vấn đề về quá trình 24

2.3.1 Quản lý dự án 24

2.3.2 Trách nhiệm giải trình và theo dõi – giám sát (M&E) 24

2.3.3 Hiệu suất sử dụng nguồn lực 25

2.4 Tính bền vững 26

3 Các bài học kinh nghiệm 28

4 Các thách thức 30

5 Kết luận và Khuyến nghị 38

5.1 Kết luận 38

5.2 Khuyến nghị 39

Phụ lục 1: Tài liệu tham khảo 41

Phụ lục 2: Lịch thực địa 42

Phụ lục 3: Khung đánh giá giữa kỳ 44

Phụ lục 4: Lịch thời vụ nuôi, bán và thu mua lợn đen (âm lịch) 46

Trang 5

Tóm lược

Dự án “Nâng cao vai trò làm chủ kinh tế cho phụ nữ DTTS thông qua các can thiệp thị trường ở tỉnh Lào Cai” tập trung vào sản phẩm lợn đen bản địa là phù hợp với tiềm năng và thế mạnh tại địa phương, phù hợp với nhu cầu thị trường Cách tiếp cận “phụ nữ làm chủ kinh tế - WEL” phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo và bình đẳng giới của địa phương

WEL là cách tiếp cận mới, được áp dụng lần đầu vào chuỗi giá trị lợn đen tại tỉnh Lào Cai Pha 1 của dự án WEL đã có những kết quả đáng kể Tuy nhiên, có những thách thức lớn cần tiếp tục nghiên cứu và giải quyết trong pha 2 Đó là: (i) lựa chọn sản phẩm chiến lược (lợn thịt, lợn “cắp nách”, lợn giống) và thiết kế các can thiệp về sản xuất và thị trường sao cho phù hợp với từng địa bàn; (ii) làm sao gia tăng đáng kể hiệu quả kinh tế (hướng tới qui

mô kinh tế) từ nuôi lợn đen để đa số phụ nữ DTTS ở vùng dự án thực sự có cơ hội “làm chủ

về kinh tế”; và (iii) tăng cường các can thiệp hướng đến thay đổi mô hình phân công lao động gia đình, làm sao giảm công sức và thời gian lao động của phụ nữ trong chăn nuôi lợn nhằm giảm tình trạng “nghèo về thời gian” của phụ nữ

Trong pha 1 của dự án, việc hỗ trợ lợn nái và thành lập “ngân hàng lợn” đã có kết quả rõ rệt Chất lượng lợn con đẻ ra cũng tăng lên so với trước Tuy nhiên, cách chọn lợn giống từ

xã khác như tại Lùng Khấu Nhin (huyện Mường Khương) có khả năng giúp tăng chất lượng đàn cao hơn so với việc sử dụng lợn giống tại chỗ như tại xã Mường Hum (huyện Bát Xát) Cách thức chăn nuôi của người dân đã có sự cải thiện hơn trước, nhưng để áp dụng bền vững và đồng bộ các biện pháp kỹ thuật trong chăn nuôi cần có quá trình lâu dài và hỗ trợ liên tục tại chỗ Vận hành tốt tủ thuốc thú y tại chỗ giúp cho việc phòng và chữa bệnh cho lợn kịp thời hơn, tuy nhiên, ý thức và kỹ năng phòng dịch của người dân vẫn còn yếu Hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ ủ phân vi sinh của dự án khá thành công, góp phần giảm ô nhiễm môi trường, giảm lây lan bệnh cho người, và giảm chi phí mua phân bón – được nhiều người dân tiếp tục áp dụng sau khi hết hỗ trợ

Cho đến nay, lợi ích kinh tế từ chăn nuôi lợn nái khá rõ rệt Chị em tham gia vào tổ nhóm đã biết cách nuôi lợn nái (đa số trước đó đi mua lợn con về nuôi vỗ béo thành lợn thịt) Những chị em lợn nái đã đẻ có thể chủ động được nguồn lợn con, từ đó tiết kiệm được một khoản tiền lớn so với trước đây phải mua lợn con Tuy nhiên, đến nay chưa có nhiều thay đổi về qui mô nuôi lợn thịt của hầu hết hộ gia đình khảo sát so với lúc trước dự án

Chị em phụ nữ trong các tổ nhóm có cơ hội học hỏi các kỹ năng quản lý kinh tế hộ và phát triển kinh doanh Tuy nhiên, do đa số chị em DTTS vùng cao không biết chữ nên tiếp thu các kiến thức tập huấn về quản lý kinh tế hộ, phát triển kinh doanh còn chậm

Vẫn còn khoảng cách lớn giữa cung và cầu trong chuỗi lợn đen Chuỗi lợn đen hiện vẫn đang vận hành theo mô hình tự phát Chất lượng, số lượng sản phẩm lợn đen của những phụ nữ sản xuất nhỏ ở vùng dự án còn khoảng cách khá xa so với yêu cầu của các tác nhân thu mua, chế biến trong chuỗi giá trị Điều đó cho thấy, trong bối cảnh hiện nay, việc

“nâng cấp sản xuất” thông qua các hành động tập thể cần được đẩy mạnh hơn để làm nền tảng cho việc “nâng cấp quá trình”

Dự án đã chú trọng xây dựng đội ngũ phụ nữ DTTS tiên phong trong các tổ nhóm, có nhiều hoạt động hỗ trợ nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho nhóm tiên phong Tuy nhiên, nhiều chị em DTTS trong nhóm tiên phong còn hạn chế về kiến thức và kỹ năng, nên khả năng lan tỏa đến các phụ nữ khác chưa cao

Tính liên kết giữa các thành viên trong tổ nhóm lợn đen khá chặt chẽ Các tổ nhóm lợn đen đều tự xây dựng quỹ dành cho chị em trong hoặc ngoài tổ nhóm vay và thăm hỏi chị em gặp

Trang 6

hoạn nạn Tuy nhiên, các tổ nhóm chưa xây dựng được hành động tập thể nhằm nâng cao

vị thế trên thị trường

Tham gia sinh hoạt trong tổ nhóm lợn đen, bước ra khỏi ngưỡng cửa gia đình giúp đa số chị

em DTTS tự tin hơn so với trước Đã nhận thấy sự thay đổi nhất định trong phân công lao động trong một số gia đình, nam giới đã chia sẻ công việc nhiều hơn với phụ nữ Ngay cả khi thu nhập từ lợn chưa thay đổi đáng kể thì vị thế của phụ nữ trong gia đình đã có sự cải thiện do quá trình tham gia tích cực vào hoạt động của tổ nhóm

Việc sử dụng Quỹ sáng kiến WEL của đối tác địa phương (HPN tỉnh) còn lúng túng Do quỹ WEL có qui mô nhỏ, việc hỗ trợ các ngành hàng khác (ví dụ sản xuất bánh) ngoài các tổ nhóm lợn đen sẽ dẫn đến hỗ trợ nhỏ lẻ, dàn trải khó mang lại hiệu quả cao Trong khi đó, ngay trong các tổ nhóm lợn đen còn có nhiều cơ hội hỗ trợ chị em phụ nữ DTTS để giảm sự nặng nhọc và thời gian lao động, tăng các hành động tập thể của tổ nhóm, tăng cường đa dạng hóa sinh kế cho phụ nữ nghèo

Cụm từ “phụ nữ làm chủ kinh tế” (WEL) đã trở nên khá phổ biến đối với các cấp Việc tài liệu hóa và truyền thông được tiến hành khá bài bản giúp cho việc phổ biến WEL thuận lợi hơn Dự án WEL đã có sự lồng ghép với các CT-DA khác ở cấp tỉnh, nhưng chưa có sự lồng ghép với các dự án khác ở cấp cơ sở Liên kết mạng lưới về WEL ở tầm quốc gia đã được thực hiện

Các dòng thông tin giữa các bên khá thông suốt Vận hành “ngân hàng lợn” tại chỗ là hình thức để phụ nữ hưởng lợi tự giải trình với nhau Tính tự chịu trách nhiệm của các chị em trong tổ nhóm rất cao Hoạt động theo dõi – giám sát được thực hiện thường xuyên, nhưng đôi lúc còn hạn chế do các đối tác cấp tỉnh bận nhiều công việc chuyên môn nên khó sát sao được tình hình Trong pha 1 của dự án vai trò của đối tác cấp xã chủ yếu là hỗ trợ cho cấp huyện, tỉnh trong những công việc cụ thể, chưa đóng vai trò chủ động trong triển khai các hoạt động của dự án, nên trách nhiệm giải trình của cấp xã chưa cao

Hoạt động “nâng cấp sản xuất” (đầu ra 1.1) và “thúc đẩy WEL” thông qua tổ nhóm phụ nữ (đầu ra 2.1) có thể xem là có hiệu quả tài chính tốt nhất trong pha 1 của dự án, vì đem lại những kết quả nhìn thấy được rõ ràng (xây dựng tổ nhóm, hướng dẫn kỹ thuật, cấp lợn giống…) Ngược lại, chi phí dành cho các can thiệp nâng cấp liên kết chuỗi lợn đen (đầu ra 1.1.2) chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu chi phí của dự án pha 1, nhưng hiệu quả thực tế chưa rõ ràng Lý do đây là loại hoạt động khó, cần thêm thời gian và thêm nỗ lực để có thể phát huy hiệu quả Kinh phí dành cho hoạt động “lồng ghép và áp dụng rộng rãi WEL” (đầu

ra 3.1) trong pha 1 của dự án còn ít, do pha 1 tập trung nhiều vào các hoạt động hiện trường; và kinh phí cho loại hoạt động này cần được nâng lên trong pha 2 để đảm bảo mục tiêu bền vững và lan rộng của dự án

Gắn các tổ nhóm lợn đen với các thiết chế sẵn có tại địa phương là nhân tố quyết định sự bền vững của các tổ nhóm Do gắn với HPN, khả năng tự gia tăng thêm thành viên và nhân rộng các tổ nhóm sang các thôn khác rất thuận lợi Việc thể chế hóa các chính sách hỗ trợ ngành hàng lợn đen, lồng ghép và phối hợp với các CT-DA tại địa phương nhằm áp dụng cách tiếp cận “phụ nữ làm chủ về kinh tế” là hướng đi tạo nên sự nhân rộng những thay đổi

do dự án đem lại – đây là cơ hội của dự án trong pha 2 sắp tới

Qua đợt đánh giá giữa kỳ này, báo cáo này nêu lên một số khuyến nghị như sau:

1 Xác định rõ sản phẩm chiến lược (lợn thịt, lợn cắp nách, lợn con giống) cho từng địa bàn cụ thể (xã, thôn) phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của từng địa bàn và nhu cầu của thị trường Chẳng hạn xã Mường Hum (huyện Bát Xát) có thế mạnh hơn về nuôi lợn cắp nách, xã Lùng Khấu Nhin (huyện Mường Khương) có thế mạnh hơn về nuôi lợn con và lợn thịt Ngay trong cùng một xã, mỗi thôn bản lại có thế mạnh riêng,

Trang 7

những thôn xa trung tâm xã có thể phát triển lợn cắp nách tốt hơn Từ đó, xây dựng các mô hình, thông điệp khuyến nông, truyền thông và hỗ trợ nâng cấp liên kết chuỗi giá trị định hướng thị trường cho phù hợp

2 Nghiên cứu,ban hành và phổ biến qui trình kỹ thuật nuôi lợn “cắp nách” (Sở NN&PTNT chủ trì) theo hướng mô hình nuôi lợn đen “khoanh nhốt”, kết hợp giữa các kỹ thuật thâm canh và kỹ thuật quảng canh truyền thống Hỗ trợ thử nghiệm một

số mô hình “khoanh nhốt” nhằm tăng chất lượng lợn cắp nách dựa trên tham khảo

và cải tiến các mô hình “khoanh nhốt” bản địa hiện có của người dân, như tại xã Mường Hum

3 Trao quyền cho cấp xã và thôn bản nhiều hơn trong củng cố việc quản lý điều hành

tổ nhóm và duy trì việc áp dụng kỹ thuật chăn nuôi lợn đen bản địa nhằm tăng tính bền vững của dự án Vai trò của các đối tác cấp tỉnh, huyện nên chuyển từ người trực tiếp thực hiện các hoạt động tại cơ sở như trong pha 1 (là bước cần thiết đối với

dự án có cách tiếp cận mới như dự án WEL) sang là người quản lý chung và hỗ trợ, theo dõi – giám sát các hoạt động tại cơ sở trong pha 2 Việc củng cố, duy trì các thành quả đã đạt được từ pha 1 ở cơ sở nên giao cho cấp xã, thôn bản thực hiện nhiều hơn Cần huy động sự tham gia mạnh hơn của các thiết chế cơ sở vào các hoạt động dự án Ví dụ, tủ thuốc thú y ở các tổ nhóm nên được đặt dưới sự quản lý chung và hỗ trợ của thú y xã; các hoạt động hỗ trợ tổ nhóm và hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi ở thôn bản nên có sự tham gia tích cực của KNV thôn bản…

4 Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ “nâng cấp sản xuất” và “thúc đẩy bình đẳng giới” theo chiều sâu tại các tổ nhóm lợn đen hiện có, trên cơ sở nâng cao vai trò lan tỏa của các nhân tố tiên phong (các chị em phụ nữ DTTS nòng cốt trong mỗi tổ nhóm), liên tục củng cố các thành quả đã đạt được tại pha 1 Hỗ trợ và theo dõi – giám sát chặt chẽ để các xã dự án tự nhân rộng các tổ nhóm theo chiều rộng dựa trên việc vận hành “ngân hàng lợn”, có những hỗ trợ bổ sung cần thiết (về tập huấn, thú y, lợn đực giống…) đối với các tổ nhóm mới

5 Trọng tâm hỗ trợ “nâng cấp quá trình” của pha 2 ở cơ sở nên là nâng cao “hành động tập thể” của các tổ nhóm lợn đen (phối kết hợp giữa các thành viên trong quá trình sản xuất và giao dịch thị trường) nhằm tạo ưu thế cho những người sản xuất nhỏ trong liên kết chuỗi giá trị, thông qua việc đẩy mạnh yếu tố thể chế: nâng cao năng lực cho người điều hành tổ nhóm, xây dựng các cơ chế liên kết, ràng buộc giữa các thành viên, gắn với qui chế hoạt động của HPN, hương ước qui ước của thôn bản Trước mắt nên chọn tại mỗi xã dự án một số tổ nhóm điển hình để tập trung củng cố hoạt động và hỗ trợ về nâng cao hành động tập thể trong tiếp cận thị trường, kết nối với các tác nhân thị trường, từ đó rút kinh nghiệm cho việc tiếp tục lan rộng sang các tổ nhóm khác

6 Hỗ trợ kỹ thuật cho Sở NN&PTNT và 2 huyện dự án (Mường Khương, Bát Xát) trong việc xây dựng Đề án phát triển ngành hàng lợn đen, trên cơ sở bám sát định hướng

và qui hoạch của tỉnh Lào Cai về phát triển ngành hàng lợn đen đến 2020 (tầm nhìn 2030) Trong Đề án chú trọng thể chế hóa các chính sách hỗ trợ cho người chăn nuôi lợn đen qui mô nhỏ, xây dựng và phát triển thương hiệu lợn đen Lào Cai (cả lợn thịt to và lợn cắp nách), nâng cấp liên kết chuỗi giá trị

7 Tiếp tục môt số thử nghiệm mới theo hướng giảm nặng nhọc và thời gian lao động cho phụ nữ trong chăn nuôi lợn, ví dụ các mô hình phối hợp với dự án SPIN đang thực hiện tại xã Lùng Khấu Nhin (huyện Mường Khương) trong pha 1 Tuy nhiên cần cân nhắc giảm chi phí các kỹ thuật mới sao cho phù hợp với đa số phụ nữ DTTS

8 Hướng dẫn, thúc đẩy hoạt động gây quỹ của các tổ nhóm hướng đến hỗ trợ cho những phụ nữ nghèo trong tổ Có thể sử dụng Quỹ WEL để hỗ trợ giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong chăn nuôi lợn đen và hỗ trợ đa dạng hóa sinh kế cho các chị em nghèo hơn trong các tổ nhóm chăn nuôi dựa trên khảo sát cụ thể Tiếp

Trang 8

tục tăng cường các biện pháp tập huấn “cầm tay chỉ việc” nhằm phù hợp với trình độ của các phụ nữ DTTS không biết chữ

9 Hướng dẫn, hỗ trợ các xã chủ động trong việc lồng ghép các nguồn lực sẵn có tại địa phương vào các tổ nhóm chăn nuôi lợn đen hiện có (ví dụ nguồn lực từ Quỹ phát triển xã trong dự án WB, nguồn tín dụng thông qua Hội Phụ nữ…)

Trang 9

1 Giới thiệu

1.1 Mục tiêu đánh giá

Đói nghèo ở Việt Nam hiện nay tập trung ở các khu vực miền núi và DTTS Phụ nữ thuộc các nhóm DTTS thường dễ bị tổn thương hoặc phải chịu đựng sự đói nghèo và các cú sốc (ví dụ thiên tai, bất bình đẳng xã hội…) nhiều hơn là phụ nữ người Kinh hoặc nam giới trong cùng nhóm dân tộc do ít được tích lũy các nguồn lực về con người (giáo dục, kiến thức và

kỹ năng sản xuất, sức lao động) và vốn xã hội (cụ thể là các mối quan hệ bên trong và bên ngoài cộng đồng) Đây là hệ quả của các quan niệm gia trưởng trọng nam đang tồn tại trong

nhiều gia đình và cộng đồng ở Việt Nam, đặc biệt là với nhiều nhóm DTTS

Dự án “Nâng cao vai trò làm chủ kinh tế cho phụ nữ DTTS thông qua các can thiệp thị trường ở tỉnh Lào Cai – RVNA92” (trong báo cáo này gọi tắt là “dự án WEL”) được thực hiện tại hai huyện Bát Xát và Mường Khương, tỉnh Lào Cai, là một trong những tỉnh có tỷ lệ nghèo cao nhất Việt Nam, trong đó đa số người nghèo là người DTTS Dự án này có mục tiêu giải quyết các vấn đề về phát triển của phụ nữ DTTS thông qua giải pháp thị trường có lồng ghép yếu tố giới Dự án áp dụng các can thiệp thị trường thông qua một chuỗi giá trị lợn đen như điểm khởi đầu để giải quyết vấn đề về quyền làm chủ kinh tế của phụ nữ ở tỉnh Lào Cai từ các khía cạnh đa chiều của việc tiếp cận với các nguồn lực sản xuất (nguồn vốn, kiến thức và kỹ năng sản xuất theo định hướng thị trường, nguồn đầu vào sản xuất có chất lượng cao ), tạo môi trường thuận lợi cho phụ nữ DTTS tham dự vào một thị trường công bằng hơn (không bị thiệt thòi khi mua bán hàng hóa trên thị trường, đặc biệt với sản phẩm

do hộ gia đình làm ra), và có khả năng đối phó với các cú sốc Từ những kết quả đó, dự án

sẽ vận động cho việc lồng ghép các mục tiêu về nâng cao vai trò làm chủ kinh tế của phụ nữ

trong các chiến lược phát triển của tỉnh Lào Cai

Đợt đánh giá giữa kỳ của dự án WEL thực hiện trong tháng 5/2013, tập trung vào những chủ đề chính sau đây:

 Đo lường các thành tựu của dự án so với mục tiêu/kết quả dự kiến;

 Xác định các thay đổi mà dự án mang lại về mặt năng lực sản xuất và năng suất, tiếp cận thị trường, liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị, bình đẳng giới và nâng cao năng lực cho các đối tượng hưởng lợi trực tiếp và gián tiếp;

 Đo lường sự phù hợp, hiệu quả, hiệu suất và tính bền vững của dự án về cả mặt thiết kế và thực hiện;

 Tài liệu hóa các thực hành tốt và bài học kinh nghiệm từ việc thiết kế, thực hiện và theo dõi – giám sát dự án;

 Tài liệu hóa các trường hợp điển hình liên quan đến phụ nữ làm chủ kinh tế tại các địa bàn dự án;

 Đề xuất các khuyến nghị cụ thể để cải thiện kết quả thực hiện và tính bền vững của

1

 Nguồn: http://www.uwex.edu/ces/pdande/evaluation/evallogicmodel.html 

Trang 10

hợp và tính bền vững của các Kết quả - Outcomes, Tác động – Impacts liên quan đến ba Mục tiêu - Objectives của dự án WEL Lào Cai Lưu ý rằng, các dự án phát triển như dự án WEL luôn hoạt động trong môi trường năng động với những quá trình phức tạp, các giả định

và ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài, do đó việc ra quyết định sáng tạo và linh hoạt là

điều cần thiết, đôi khi vượt qua ngoài bất kỳ “khung logic” hoặc “lý thuyết thay đổi” nào

Phương pháp đánh giá

Bối cảnh kinh tế - xã hội, văn hóa, nghèo đói, bất bình đẳng, năng lực thể chế và nhận thức của người dân liên quan đến các vấn đề “phụ nữ làm chủ kinh tế - WEL” rất khác nhau giữa các huyện/xã/thôn bản Nhóm đánh giá chỉ có cơ hội khảo sát tại một số thôn bản trong một thời gian ngắn Các thách thức giữa tìm ra các kết luận phổ quát (có tính đại diện) với các nghiên cứu trường hợp (phụ thuộc bối cảnh) luôn hiện diện trong bất cứ nhiệm vụ đánh giá tại thực địa nào

Nhóm đánh giá sẽ cố gắng tổng hợp các nhận xét chính xác và khách quan nhất dựa trên việc liên tục tham vấn và xác minh thông tin với các đối tác, và kiểm tra chéo thông tin từ các nguồn khác nhau

Do đó, kết hợp các phương pháp đánh giá (phương pháp tham gia dựa trên thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, quan sát, họp sơ kết và tham vấn hai chiều với các đối tác, kết hợp với nghiên cứu tài liệu dự án và các báo cáo/số liệu của địa phương) là rất quan trọng đối với đợt đánh giá giữa kỳ này, như được trình bày trong Phụ lục 3

Các công cụ thu thập thông tin chính

Thảo luận nhóm: được thực hiện với nhóm cán bộ tỉnh, nhóm cán bộ huyện, nhóm cán bộ

xã và các nhóm người hưởng lợi tại địa phương Trong đợt đánh giá đã thực hiện 10 cuộc thảo luận nhóm (tỉnh: 2, huyện: 2, xã: 2, thôn: 4) với sự tham gia của 56 người, trong đó 44

người là nữ (tất cả đều là thành viên của các tổ nhóm chăn nuôi lợn đen)

Trang 11

Phỏng vấn sâu: được thực hiện với một số hộ điển hình (trong đó có những hộ làm ăn giỏi,

hộ nghèo, hộ có tham gia tổ nhóm và những hộ không tham gia tổ nhóm) tại mỗi thôn để hiểu sâu hơn về những tác động “trước – sau”, “có – không” của dự án WEL Nhóm đánh

giá đã phỏng vấn một số tác nhân tham gia ngành hàng lợn đen tại các địa bàn (1 HTX

giết mổ tại thành phố Lào Cai, 1 lò giết mổ tại Bát Xát và 1 cơ sở giết mổ tập trung tại

Mường Khương và một số ba toa thu gom tại các địa bàn) Tổng cộng, đã phỏng vấn sâu 25

người, bao gồm 17 phụ nữ (trong đó có 15 phụ nữ là thành viên của các tổ nhóm chăn nuôi lợn đen)

1.3 Đặc điểm địa bàn khảo sát

Xã Lùng Khấu Nhin – huyện Mường Khương: Là một xã vùng cao của huyện Mường

Khương, tỉnh Lào Cai, Việt Nam Nằm ở phía đông của huyện, cách trung tâm huyện lỵ 12

km diện tích tự nhiên 3001 ha Gồm 12 thôn, 7 dân tộc (Mông, Nùng, Dao, Tu Dí, Pa Dí, Kinh, Tày) Tỷ lệ nghèo2 2013 là 63% Sản xuất chính là nông nghiệp gồm: ngô (314ha), lúa

110 ha, rừng 200 ha

Đặc điểm của 3 thôn khảo sát như sau:

 Thôn Lùng Khấu Nhin 2: tổng số 40 hộ, 100% đồng bào người Nùng Tỷ lệ hộ nghèo

là 83% Sản xuất chính là làm nông nghiệp (ngô, lúa, trâu bò)

 Thôn Sín Lùng Chải B: tổng số hộ 57 hộ, 55% đồng bào người Mông, 43% là đồng bào người Nùng, còn lại 2% là đồng bào dân tộc khác Tỷ lệ hộ nghèo 2013 là

38,5% Sản xuất chính là làm nông nghiệp (ngô, lúa)

 Thôn Ma Ngán B: tổng số 32 hộ, 100% đồng bào người H’ Mông Tỷ lệ hộ nghèo 2013: 80% Sản xuất chính là ngô và lúa

Xã Mường Hum – huyện Bát Xát: Là một xã thuộc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Việt Nam

Nằm ở phía đông nam của huyện, cách trung tâm huyện 30 km diện tích tự nhiên 2703 ha Gồm 6 thôn, 8 dân tộc (trong đó dân tộc Dáy và Dao là chủ yếu) Tỷ lệ nghèo: 45% Sản xuất chính: lúa (141 ha), gia súc lớn (trâu, bò, ngựa) và tiểu gia súc (lợn), thảo quả (141 ha), chè (106 ha)

Đặc điểm của 2 thôn khảo sát như sau:

 Thôn Ki Quan San: có tổng số 85 hộ, 100% dân tộc Dao Tỷ lệ hộ nghèo 2013: 53% Sản xuất chính là nông nghiệp (lúa, thảo quả, chăn nuôi lợn)

 Thôn Piềng Láo: tổng số hộ 73 hộ, 100% Dân tộc Dáy Tỷ lệ hộ nghèo 2013: 53%, Sản xuất chính là sản xuất Nông nghiệp (lúa, chè)

2

Tỷ lệ hộ nghèo nêu trong phần “1.3 Đặc điểm địa bàn khảo sát” là tỷ lệ hộ nghèo điều tra cuối năm 2012 theo Chuẩn nghèo của Chính phủ

Trang 12

2 Các phát hiện

2.1 Sự phù hợp

Lợn đen bản địa là sản phẩm truyền thống của đồng bào DTTS ở Lào Cai, phù hợp với điều kiện tự nhiên tại địa phương Phụ nữ DTTS đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi

lợn đen, có nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi loại lợn này Các loại thức ăn tự nhiên phục

vụ cho lợn đen khá sẵn có tại địa phương (chuối, rau rừng…), các hộ nuôi quy mô nhỏ sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí, việc nuôi bằng những loại thức ăn tự nhiên lại giúp gia tăng tính cạnh tranh với những sản phẩm lợn nuôi thâm canh khác Đây là giống lợn bản địa, quen với khí hậu tại địa phương nên khả năng miễn dịch khá tốt

-“17 xã vùng cao của huyện người dân chăn nuôi lợn bản địa từ bao nhiêu đời nay rồi, họ có kinh nghiệm rồi, lại còn có thức ăn sẵn có nữa, lợn phải nuôi rau rừng, thân chuối mới thích Nó cũng quen khí hậu rồi, mấy năm trước lợn trắng ở huyện dịch nhiều nhưng lợn đen bản địa thì ít chết lắm, nó kháng dịch tốt bà con dễ nuôi.”

(Nhóm cán bộ huyện Bát Xát)

Phát triển ngành hàng lợn đen bản địa phù hợp với nhu cầu thị trường Thị trường hiện

có nhu cầu lớn với lợn đen bản địa, với cả hai sản phẩm lợn cắp nách và lợn thịt to Dù giá

cả thị trường biến động, giá lợn đen bản địa (cả giá lợn hơi và lợn thịt) luôn cao hơn so với lợn trắng Thịt lợn đen to hiện nay chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tại chỗ trong xã/huyện, nhưng tại TP Lào Cai nhu cầu sử dụng sản phẩm này ngày càng gia tăng Một số thương lái

đã đưa sản phẩm lợn đen tiếp cận với thị trường Hà Nội và các tỉnh khác và có phản hồi tích cực Lợn cắp nách được coi là đặc sản địa phương, bên cạnh việc phục vụ cho nhu cầu của người dân trong tỉnh và khách du lịch tại Sa Pa, tiềm năng đưa sản phẩm đến các đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội không hề nhỏ

Mặc dù nhu cầu thị trường lớn nhưng chuỗi ngành hàng lợn đen bản địa chưa phát triển, sản phẩm mới chỉ được tiêu thụ qua các tác nhân nhỏ lẻ Nhiều nơi nghe tiếng “lợn đen Lào Cai” nhưng chưa được biết tường tận sản phẩm Đây là cơ hội thị trường tiềm năng cho sự

hỗ trợ của dự án WEL

-“Lợn đen cả lợn to với lợn cắp nách thì chị sợ không có mà bán Ở đây lợn đen to thịt ra là bán nhanh lắm, bình thường thịt nạc lợn trắng bán 80 nghìn một cân thì lợn đen phải 100 đến 110.000 đồng một cân.”

(Nhóm cán bộ huyện Mường Khương)

-“Lợn cắp nách thì khỏi phải nói, chỉ sợ không có hàng mà bán thôi Dịp Tết ở Thành phố này cán bộ, người làm ăn chả muốn có 1-2 con ăn Tết, còn ngày thường thì làm đặc sản nhà hàng Thị trường Hà Nội cũng đang có nhu cầu lớn.”

(Đại diện HTX Thành Công, TP Lào Cai)

Dự án WEL đóng góp vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo và bình đẳng giới của địa phương Quy hoạch phát triển chăn nuôi đến năm 2020 của tỉnh Lào

Cai, định hướng của các Phòng nông nghiệp các huyện Bát Xát và Mường Khương, kế hoạch phát triển KT-XH của hai xã khảo sát đều quan tâm đến việc phát triển con lợn đen bản địa kể từ sau khi dự án WEL đi vào hoạt động Dự án WEL gắn với mục tiêu bình đẳng giới, giúp phụ nữ làm chủ kinh tế phù hợp với chương trình hành động của Hội Phụ nữ nói riêng và của chính quyền các cấp tại tỉnh Lào Cai nói chung Đảm bảo VSMT do quy định không thả rông và áp dụng một số mô hình thử nghiệm (phân vi sinh, đệm lót sinh học, bếp

Trang 13

khí hóa3, mô hình giun đỏ…) của dự án WEL cũng phù hợp với chủ trương của tỉnh Lào Cai, chương trình Nông thôn mới

-“Phụ nữ nói chung và phụ nữ DTTS nói riêng là mối quan tâm hàng đầu của tỉnh Lào Cai Cách làm của dự án A92 giúp nâng cao đời sống cũng như tinh thần cho người phụ nữ là rất cần thiết Qua việc nuôi lợn đen, giúp phụ nữ làm chủ về kinh tế, phát triển kinh tế hộ gia đình ở vùng DTTS Mục tiêu này phù hợp để phụ nữ khẳng định vị thế của mình.”

(Lãnh đạo Sở NN&PTNT tỉnh Lào Cai)

-“Huyện đang có định hướng nuôi lợn thành lợn cắp nách, tầm dưới 25 cân một con, theo cách quây lại để thành lợn đen nuôi khoanh nhốt, nửa dân gian, nửa hiện đại, vẫn nhốt nhưng có chỗ cho nó chạy thể dục để chắc thịt, khách người ta thích.”

(Lãnh đạo Phòng NN&PTNT huyện Bát Xát)

2.2 Hiệu quả

2.2.1 Mục tiêu 1: Cải thiện thu nhập của phụ nữ thông qua tham gia chuỗi giá trị lợn đen

Nâng cấp sản xuất

Số lượng người hưởng lợi trực tiếp vượt kế hoạch ban đầu Tính đến tháng 5/2013,

trong khuôn khổ dự án WEL đã thành lập được 14 tổ nhóm chăn nuôi lợn đen (8 tổ tại xã Lùng Khấu Nhin – huyện Mường Khương; 4 tổ tại xã Mường Hum, 2 tổ tại xã Trịnh Tường – huyện Bát Xát) Tổng số phụ nữ tham gia tổ nhóm lợn đen là 366, trong đó có 219 người được nhận lợn giống đợt đầu Số lượng phụ nữ được nhận giống lợn đã vượt kế hoạch ban đầu (ban đầu dự án dự kiến hỗ trợ lợn giống cho 117 phụ nữ), do UBND tỉnh Lào Cai quyết định hỗ trợ bổ sung 100 con lợn giống (trích từ nguồn của dự án Danida4) và việc hỗ trợ thêm một số lợn đực giống của dự án WEL nhằm hình thành “ngân hàng lợn5” tại các xã dự

án Đa số phụ nữ tham gia tổ nhóm lợn đen thuộc các dân tộc Mông, Dao, Dáy – những nhóm DTTS có tỷ lệ nghèo thuộc loại cao nhất trong tỉnh Lào Cai

Việc hỗ trợ giống lợn nái và thành lập “ngân hàng lợn” giúp tăng số lượng đàn lợn tại địa phương Nhờ sự hướng dẫn và hỗ trợ của dự án WEL, nhiều chị em người Mông,

người Dao trước đây không nuôi lợn nái (chỉ đi mua lợn con về nuôi thành lợn thịt) nay đã biết nuôi lợn nái, chủ động được nguồn lợn con Tại xã Lùng Khấu Nhin, tổng cả hai đợt cấp giống (đợt 1 vào tháng 3/2012, đợt 2 vào tháng 7/2012) dự án hỗ trợ 150 con lợn (121 nái

và 29 lợn đực) Tính đến 30/4/2013 có 95 con đã chửa, 65 con đã đẻ (cho 342 lợn con) và hiện đã luân chuyển 15 lợn nái giống6 cho những hộ khác Lãnh đạo xã Lùng Khấu Nhin khẳng định, đến hết năm 2013 “ngân hàng lợn” sẽ đảm bảo cung cấp lợn giống cho tất cả chị em đã tham gia nhóm nuôi lợn mà chưa được hỗ trợ lợn giống đợt đầu Tại xã Mường

5 Ngân hàng lợn: Là quy định về việc quay vòng con giống, áp dụng với những hộ nhận lợn nái Theo đó, hộ được nhận lợn nái từ dự án sẽ có nhiệm vụ nuôi lớn và cho sinh sản Lần sinh sản đầu tiên, hộ được hưởng lợi phải trả lại cho tổ nhóm 1 con lợn nái (đủ 15kg) để chuyển cho các hộ khác Số lượng lợn sẽ được xoay vòng cho những hộ còn lại tham gia tổ nhóm mà chưa được nhận hỗ trợ lợn, thông qua bình xét của tổ

6

Lợn nái giống là lợn cái được sinh ra từ những con mẹ thuộc ngân hàng lợn, khi đủ 15kg sẽ được luân chuyển qua cho các hộ khác trong tổ nhóm. 

Trang 14

Hum, dự án hỗ trợ 70 nái và 4 lợn đực, trong đó có 12 con đã đẻ (cho 59 lợn con), 15 con đang chửa và dự định trong khoảng 3 – 6 tháng nữa sẽ bắt đầu luân chuyển lợn7

Chất lượng lợn con đẻ ra cao hơn so với trước Trước đây, các gia đình thường không

có lợn đực chuyên dành để phối giống, lợn lại được thả rông nên tự phối giống; nhiều trường hợp lai cận huyết khiến lợn con sinh ra nhỏ và dễ gặp bệnh tật Với việc hỗ trợ lợn đực chuyên để phối giống, lợn lại được nhốt trong chuồng, dự án đã giúp giảm nguy cơ lai

cận huyết, nâng cao chất lượng lợn con khi mới đẻ ra

-“Trước thả rông, lợn đực phối lung tung, giờ biết nhốt lợn đực nên tỷ lệ đẻ cao, đẻ khỏe, mặc dù tỷ lệ nuôi sống còn thấp một chút Việc chọn lợn đực cũng chọn ở xã lân cận để tránh cận huyết rồi.”

(Nhóm cán bộ huyện Mường Khương)

Tuy nhiên, một số ý kiến của cán bộ cơ sở và người dân cho rằng chất lượng một số con lợn đực giống mà dự án cấp phát vẫn chưa tốt (màu lông vàng, lợn còi, không đẹp…), dẫn đến nhiều người dân vẫn tự tìm nguồn lợn đực khác để phối giống cho lợn nái Với cách chọn lợn đực giống ngay tại chỗ của xã Mường Hum (huyện Bát Xát), nhiều cán bộ và người dân lo ngại khả năng lai cận huyết dễ xảy ra, ảnh hưởng đến mục tiêu nâng cao chất lượng đàn lợn Ngược lại, tại xã Lùng Khấu Nhin (Mường Khương), hầu hết lợn giống được chọn từ các xã khác trong huyện nên khả năng lai cận huyết khó xảy ra Do dự án chọn lợn nái hậu bị từ các hộ trong và ngoài xã (không có trại giống) nên trọng lượng không đồng đều Đợt cấp giống thứ 2 tại Lùng Khấu Nhin (huyện Mường Khương), cán bộ Trung tâm Khuyến nông và Phòng chăn nuôi thuê dịch vụ địa phương lựa chọn con giống nên chất lượng con giống không được tốt như đợt 1 Theo hướng dẫn8, lợn nái hậu bị (chọn lần 1) khi tách mẹ phải đạt khoảng 7-8 kg/con và động dục khi trọng lượng đạt khoảng 35-40kg Tuy nhiên một số lợn nái hậu bị cấp đợt 2 tại xã Lùng Khấu Nhin ước tính chỉ đạt 5-6 kg/con, do đó khoảng 25-30 kg đã động dục sớm

-“Lợn đực cấp cho chị M., có người phối có người chê vì lông vàng Họ cũng có tự phối hoặc tìm con đực khác.”

(Nhóm người dân thôn Ki Quan San, xã Mường Hum, huyện Bát Xát)

-“Chọn lợn đực ngay tại xã này thì mình vẫn lo về lai cận huyết, nếu chọn được ở nơi khác đến thì tốt hơn Của nhà này phối với nhà kia nhưng có khi tính ra nó vẫn có

họ hàng với nhau.”

(Nhóm cán bộ xã Mường Hum, huyện Bát Xát)

Cách thức chăn nuôi lợn của người dân đã được cải thiện Được tập huấn tại chỗ về kỹ

thuật chăn nuôi, thực hiện quy định của dự án và quy định của Đề án 149, nên tình trạng thả rông lợn đã giảm hẳn, vệ sinh môi trường được cải thiện Chuồng trại đã được kiên cố hóa hơn với nền xi măng, cột bê tông và mái fibro; tỷ lệ chuồng lợn nền đất, cột gỗ đã giảm hẳn

so với trước đây

-“Thôn này 32 hộ giờ 22 hộ đã có chuồng kiên cố để nhốt lợn rồi, ngày xưa thì toàn chuồng gỗ thôi, cứ thả con lợn ra cho nó ăn, tối nó mới về chuồng thì không cần chuồng nền xi măng Giờ vào dự án rồi, không có chuồng tốt không được nhận lợn nên dân mới làm chuồng nền xi măng đấy.”

Trang 15

(T.C.D, bí thư chi bộ thôn Ma Ngán B, xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

Hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ ủ phân vi sinh của dự án khá thành công, góp phần xử lý

chất thải chăn nuôi, giảm ô nhiễm môi trường, giảm lây lan bệnh cho người, và giảm chi phí mua phân bón – được rất nhiều chị em tiếp tục áp dụng sau khi hết hỗ trợ (Hộp 1)

Hộp 1: Ủ phân vi sinh mang lại lợi ích tại xã Lùng Khấu Nhin

Năm 2012, dự án WEL hỗ trợ các tổ nhóm phụ nữ ủ phân vi sinh Ban đầu, dự án hỗ trợ cho chị em bạt dứa và gói chế phẩm cho lần ủ đầu Cán bộ Trạm Khuyến nông huyện Mường Khương hướng dẫn kỹ thuật cho 1-2 hộ mô hình trong tổ nhóm, các hô khác đến tham quan học hỏi tại chỗ và về tự ủ

Hầu hết chị em nhận hỗ trợ của dự án đã ủ phân thành công, góp phần giảm ô nhiễm và giảm chi phí mua phân bón Nhận thấy lợi ích của việc ủ phân, sau khi hết hỗ trợ của dự án, nhiều hộ gia đình vẫn tiếp tục hoạt động này, đặc biệt là tại những thôn trung tâm xã nơi các

hộ gia đình nuôi nhốt có lượng phân chuồng lớn Cán bộ xã Lùng Khấu Nhin cho biết, dự án

hỗ trợ lần đầu cho 117 chị tham gia tổ nhóm Nhung đến nay, khoảng 180 chị trong xã tiếp tục ủ phân vi sinh, trong đó khoảng 10 chị không nằm trong tổ nhóm lợn đen Ngoài việc lên huyện mua gói chế phẩm, nhiều hộ gia đình đã áp dụng biện pháp ủ bằng lân

-“Có hai cách ủ, bằng chế phẩm với cả bằng lân, ở đây một số đi mua ở huyện, nhiều người thì dùng lân cũng được Phân vi sinh bón rau thích lắm, chị em đỡ phải mua phân, lại sạch sẽ nhà cửa Người ngoài nhóm cũng học theo làm mà.”

(S.C.M, Hội trưởng HPN xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

Cách phối trộn thức ăn của người dân đã có thay đổi Theo ước tính của cán bộ hai xã, khoảng 60-70% chị em trong các tổ nhóm đã biết tăng tỷ lệ tinh bột, bổ sung khoáng chất (peramix), đậu tương sẵn có của gia đình (trước đây chỉ để bán hoặc cho người ăn) để làm thức ăn cho lợn Chế độ ăn tốt hơn kết hợp với nuôi nhốt giúp năng suất chăn nuôi tăng so với trước (tại xã Lùng Khấu Nhin, theo ước tính của nhóm cán bộ xã, năng suất tăng khoảng 10%)

Để không thả rông nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng lợn con, một số hộ gia đình tại xã Mường Hum (Bát Xát), đã áp dụng biện pháp khoanh nuôi - rào một khu đất lại, bên trong

vừa có chuồng lợn, vừa có không gian để lợn con có chỗ chạy (Hộp 2) Mô hình khoanh nuôi lợn đen theo kinh nghiệm bản địa có tiềm năng tốt, nên được dự án WEL lưu ý

áp dụng trong pha 2

Hộp 2: Mô hình khoanh nuôi giúp lợn con có mẫu mã đẹp tại xã Mường Hum

Bác L.V.D trưởng thôn Piềng Láo (xã Mường Hum) hiện đang nuôi 3 lợn nái đen và 12 lợn con Hàng năm bác vẫn bán 2 - 3 lứa lợn con (khoảng 3 tháng/lứa), mỗi lần xuất khoảng 20 con cho những hộ trong xã và ở các xã lân cận Giá bán lợn con trung bình 70.000 đồng/kg (cao điểm có thể bán được 80.000 đồng/kg, thấp nhất là 60.000 đồng/kg) Theo như bác D., nuôi và bán lợn con như vậy cũng được giá ngang với lợn “cắp nách”, mà lại xoay vòng nhanh có thể đem lại thu nhập cao

Bác cho biết, gia đình bác có tiếng bán lợn con và bán được giá như vậy là do cách “khoanh nuôi” được hơn 10 năm Với 3 chuồng nhốt lợn mẹ, chỉ để cửa để lợn con chui vào, chui ra Diện tích khoanh trong vườn nhà rộng 500m2, rào kín bằng tre vầu Lợn con có chỗ chạy nhiều giúp lợn trông khỏe, đẹp và cứng cáp hơn so với lợn nuôi nhốt hoàn toàn Với mô hình khoanh nuôi hiện nay, gia đình bác cũng có thể kiểm soát được bệnh Bác chia sẻ:

-“Người ta đến xem thấy lợn nhảy nhót là thích rồi, nhìn qua thì mỹ quan sẽ tốt hơn, nên dễ bán Còn lợn nuôi nhốt không cứng cáp, nhìn lông không mượt, bụng võng, ỉa đái bẩn thỉu, người mua sẽ mất cảm tình hơn.”

Trang 16

Tủ thuốc thú y vận hành tốt tại từng tổ nhóm giúp cho việc phòng và chữa bệnh cho lợn kịp thời hơn Mỗi tổ nhóm lợn đen được phát một tủ thuốc thú y nhỏ với những loại

thuốc chữa bệnh thông thường trên lợn Ngoài các thành viên trong nhóm, các hộ gia đình trong thôn nếu có nhu cầu đều có thể đến mua Các tủ thuốc đều hoạt động khá hiệu quả, việc xoay vòng thuốc đã được thực hiện Người quản lý tủ thuốc thường là trưởng nhóm, một số nơi đã gắn tủ thuốc với một số thiết chế cơ sở (trưởng thôn, thú y viên xã…) giúp tăng hiệu quả hoạt động (người dân biết đến tủ thuốc nhiều hơn, hiệu quả chữa trị tốt hơn)

-“Tủ thuốc thú y tại chỗ là một điểm mạnh Quay vòng rất hiệu quả, có nhóm xấp xỉ

1 triệu rồi.”

(Nhóm cán bộ huyện Mường Khương)

Cho đến thời điểm đánh giá (tháng 5/2013), lợi ích kinh tế từ chăn nuôi lợn nái khá rõ rệt Các chị em tham gia vào tổ nhóm đã biết cách nuôi lợn nái (đa số trước đó đi mua lợn

con về nuôi vỗ béo thành lợn thịt) Những chị có lợn nái đã đẻ có thể chủ động được nguồn lợn con, từ đó tiết kiệm được một khoản tiền lớn so với trước đây phải mua lợn con (tính trung bình một hộ mua 3-4 con lợn con/năm, giá thị trường khoảng trên dưới 1 triệu đồng/lợn con 10-15 kg)

Đợt đánh giá này chưa có điều kiện đo lường số liệu về tác động kinh tế của dự án trong việc tăng số đàn lợn thịt xuất chuồng hàng năm của mỗi hộ gia đình Việc cấp lợn nái hậu bị tại các địa bàn dự án chưa lâu (hơn một năm với xã Lùng Khấu Nhin, hơn 6 tháng với xã Mường Hum), chưa đến thời điểm bà con xuất chuồng lợn thịt từ nguồn hỗ trợ của dự án, nên chưa thể tính được lợi ích tăng thêm từ tăng nuôi lợn thịt Tuy nhiên, kết quả thảo luận

nhóm và phỏng vấn sâu cho thấy, đến nay chưa có nhiều thay đổi về qui mô chăn nuôi lợn thịt của hầu hết hộ gia đình khảo sát so với lúc trước dự án Một số chị em điển

hình nuôi nhiều lợn thịt (5-10 con/năm) thì vẫn tiếp tục nuôi nhiều Còn đa số chị em còn lại,

vì nhiều hạn chế về diện tích chuồng, thức ăn, lao động, vẫn nuôi nhỏ lẻ 2-3 con/năm – những chị em này nếu lợn nái đẻ nhiều con thì sẽ bán bớt lợn con đi, chỉ để lại 2-3 con để nuôi tiếp thành lợn thịt (xem thêm phần Thách thức)

Hộp 3: Những thay đổi của hộ gia đình sau khi tham gia dự án

Chị T.T.L thôn Ma Ngán B (xã Lùng Khấu Nhin) là gia đình thuộc hộ khá giả trong thôn Khi tham gia vào tổ nhóm cuối 2011, chị được dự án hỗ trợ một lợn nái Từ khi tham gia dự án, gia đình chị đã thay đổi lớn về kỹ thuật chăn nuôi cũng như cách hạch toán kinh doanh

Trước khi vào tổ nhóm Sau khi tham gia vào tổ nhóm

Quy mô 2-3 con lợn thit 1 lợn nái, 3 lợn thịt

Chuồng trại Chuồng gỗ, chỉ nhốt lợn vào mùa

lúa (tháng 5-tháng 9), những tháng còn lại thả rông

Chuồng nền xi măng, tường xây gạch, không thả rông

Cách cho ă Sáng cho ăn rau rừng, ban ngày

thả rông để lợn tự tìm thức ăn, tối Cho lợn nái ăn rau, ít cám Cho lợn thịt ăn ngày 3 bữa Cho ăn

Trang 17

về cho ăn một ít cám ngô và rau cám nhiều hơn, ngoài cám ngô còn

trộn cám gạo và bột đậu tương Cho ăn ít rau hơn trước

Thời gian nuôi/ cân

nặng lợn thịt trung

bình

Hơn 1 năm Lợn khoảng 50 – 60 kg/con 8-9 tháng Lợn đạt từ 80 – 90 kg/con Dịch bệnh/thú y Chưa từng tiêm phòng cho lợn

Lợn ốm chờ chết thì thịt mời anh

em Năm 2010, chết 2 con lợn

Đã tiêm phòng cho lợn (theo dự án) Khi lợn ốm, đến mua thuốc của nhóm (đặt tại nhà trưởng thôn) và nhờ tiêm hộ

Năm 2012, không chết con nào Thời điểm bán Tháng 2-3 cần tiền mua phân,

giống thì bán Bán trước Tết nguyên đán khi giá thị trường cao, tùy theo cân nặng

trừ chi phí đầu vào:

giống, thức ăn…)

Dao động từ 2.500 – 3.000.000 đồng, nếu được giá Trên 3.000.000 đồng Việc quyết định bán

lợn/ giữ tiền bán lợn Chồng và vợ quyết định bán, chồng cầm tiền Chồng và vợ quyết định bán, vợ cầm tiền

2.2.2 Mục tiêu 2: Cải thiện vị thế của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng

Các tổ nhóm chăn nuôi đã được thiết lập Trung bình mỗi tổ nhóm có khoảng 25-30 phụ nữ DTTS Hàng tháng, các tổ nhóm họp 1-2 lần, tỷ lệ thành viên tham gia sinh hoạt trung bình khoảng 90% Trong đó, tối thiểu 10% các chị tham gia sinh hoạt nhóm cùng chồng

Dự án đã chú trọng xây dựng đội ngũ tiên phong trong các tổ nhóm Những phụ nữ

tham gia tổ nhóm lợn đen thường là người thuộc hộ trung bình trở lên trong thôn Trong đó, người được nhận lợn đợt đầu thường là những chị em tương đối khá trong thôn Như vậy, phụ nữ trong các thôn khảo sát có thể được chia làm ba nhóm:

 Nhóm 1: Chị em tham gia tổ nhóm lợn đen và được nhận lợn đợt đầu: thuộc hộ tương đối khá trong thôn (tự nguyện, có nhiều kinh nghiệm nuôi lợn đen, có chuồng lợn đạt tiêu chuẩn, xuất chuồng ít nhất 5 con lợn thịt/năm, nhanh nhẹn, một số thạo tiếng Kinh)

 Nhóm 2: Chị em tham gia tổ nhóm lợn đen nhưng chưa được nhận lợn đợt đầu: thuộc hộ trung bình trong thôn (tự nguyện, đã có kinh nghiệm nuôi lợn đen, một số chưa có chuồng đạt tiêu chuẩn - nhưng cam kết sẽ nâng cấp chuồng, số lượng lợn xuất chuồng hàng năm ít hơn – thường chỉ 2-3 con lợn thịt/năm, đa số không thạo tiếng Kinh)

 Nhóm 3: Chị em không tham gia tổ nhóm lợn đen: thuộc hộ khó khăn hoặc hộ nghèo hơn10 trong thôn (mới tách hộ, chưa có chuồng đạt tiêu chuẩn, ít nuôi lợn – một số

hộ chưa từng nuôi lợn, không thạo tiếng Kinh, ngại tham gia hoạt động xã hội)

Thực chất, đây là ba vòng lan tỏa Vòng thứ nhất là nhóm hộ tiên phong, những kỹ năng, kinh nghiệm của họ được kỳ vọng sẽ lan tỏa đến vòng thứ hai hiện cùng trong tổ nhóm lợn

10 Khái niệm “hộ khó khăn” hoặc “hộ nghèo hơn” sử dụng ở đây là theo cách phân loại tương đối trong cộng đồng (có đời sống kém hơn so với các hộ được coi là hộ trung bình, hộ khá trong từng thôn bản), không nhất thiết trùng với khái niệm “hộ nghèo” theo tiêu chuẩn của Nhà nước

Trang 18

đen Tổ nhóm lợn đen hoạt động thành công được kỳ vọng theo thời gian sẽ dần lan tỏa tiếp đến vòng thứ ba là các chị em khác hiện còn nằm ngoài tổ nhóm lợn đen (Hình 1)

Hình 1 Ba vòng lan tỏa của tổ nhóm chăn nuôi lợn đen

Ví dụ tại thôn Ki Quan San xã Mường Hum: thôn có 48 chị tham gia sinh hoạt HPN, tổ nhóm lợn đen được thành lập ban đầu có 30 chị tham gia, trong đó 18 chị được nhận lợn giống đợt đầu Khảo sát cho thấy, một số chị chưa tham gia tổ nhóm hiện nay cũng muốn tham gia (do nhận thấy lợi ích như được cấp lợn giống, được tập huấn, sinh hoạt tổ nhóm…), nhưng địa phương chủ trương củng cố nhóm hiện tại trước, sau thời gian nữa mới kết nạp thêm thành viên

Nhiều hoạt động đã giúp nâng cao kiến thức, kỹ năng cho nhóm tiên phong Tổ trưởng, tổ phó và 1-2 thành viên nòng cốt trong tổ nhóm nuôi lợn được tham gia nhiều hội thảo, tập huấn về bình đẳng giới, quyền phụ nữ, phụ nữ làm chủ kinh tế và quản lý kinh tế hộ, kỹ năng thúc đẩy… Một số mô hình nhỏ áp dụng kỹ thuật mới (ví dụ mô hình “đệm lót sinh học”11 – phối hợp với dự án SPIN) cũng chú trọng ưu tiên những chị em “tiên phong” nhất (cũng là cán bộ HPN tại cơ sở) Qua các khóa tập huấn, làm mô hình, các kinh nghiệm, cách làm hay được các chị em tiên phong chia sẻ lại với các thành viên khác khi sinh hoạt tổ nhóm

Tham gia vào tổ nhóm lợn đen, phụ nữ DTTS được nâng cao năng lực trên nhiều khía cạnh khác nhau như kỹ năng chăn nuôi, hạch toán kinh doanh, bình đẳng giới… Dự

án có nhiều hình thức để nâng cao năng lực cho nhóm phụ nữ hưởng lợi, bao gồm: tham quan thực tế, tham gia vào các trò chơi/ hội thảo/ tập huấn… Về tập huấn, có hai dạng: 1- các lớp tập huấn thiết kế chung cho tất cả những người hưởng lợi; 2- các lớp tập huấn thiết

kế riêng cho những thành viên nòng cốt Khác với những lớp tập huấn khuyến nông thông thường, tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các lớp tập huấn của dự án chiếm ưu thế Theo nhóm cán bộ xã Lùng Khấu Nhin, các lớp tập huấn theo ngành dọc khuyến nông và các chương trình dự án khác, chủ yếu là nam giới tham gia do phân công lao động truyền thống (những hoạt động bên ngoài là việc của nam giới, phụ nữ thường lo việc nhà), bản thân nhiều phụ

nữ cũng e ngại tham gia (e ngại không biết chữ, ngại đám đông) Nhưng với những lớp tập

11 Đệm lót sinh học trong chăn nuôi là phương pháp nuôi dưỡng vật nuôi trên đệm lót chuồng có chứa một quần thể các vi sinh vật, có khả năng phân giải mạnh chất hữu cơ và ức chế các vi sinh vật có hại, gây bệnh Đồng thời, có tác dụng làm giảm các khí độc và mùi hôi trong chuồng Nguyên liệu được sử dụng làm đệm lót chuồng

là bột bắp, mùn cưa, trấu trộn đều với nhau làm nền thay cho nền xi măng Áp dụng mô hình này, người chăn nuôi tiết kiệm được tiền điện, nước, nhân công lao động, do không phải tắm cho lợn, rửa chuồng và giảm đáng

kể công quét dọn chuồng

Trang 19

huấn của tổ nhóm lợn đen (loại lớp dành cho tất cả người hưởng lợi), tính sở hữu của phụ

nữ khá cao (tập huấn là hoạt động thường xuyên của tổ nhóm) nên chị em rất tự tin tham

gia, bản thân nam giới cũng tạo điều kiện cho chị em tham gia, một số người chồng còn chủ động tham gia cùng để hướng dẫn lại cho vợ

-“Giờ thì đàn ông phải để cho vợ đi, đấy là việc của các chị mà Có ông chồng đi cùng để hướng dẫn cho vợ vì vợ chưa va chạm bên ngoài nhiều.”

(Nhóm cán bộ xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

Tất cả tổ nhóm lợn đen tại 2 xã khảo sát đã hình thành được quỹ riêng của tổ Các tổ

nhóm đều có quỹ khoảng hơn 1 triệu đồng/tổ, có quỹ lên tới 3 triệu đồng/tổ (như tổ nhóm tại thôn Piềng Láo và tổ nhóm thôn Ki Quan San, xã Mường Hum, huyện Bát Xát) Quỹ nhóm được xây dựng từ các nguồn như: trích lại từ tiền hỗ trợ ban đầu của dự án (50 nghìn đồng/thành viên), mỗi buổi họp chị em đóng góp thêm 10 - 20 nghìn đồng/thành viên Tại xã Lùng Khấu Nhin, chị em tự thỏa thuận khi thành viên trong nhóm bán 1 con lợn sẽ nộp lại cho trưởng nhóm 50.000 đồng để làm quỹ nhóm

Quỹ nhóm dành để cho chị em vay và thăm hỏi chị em gặp hoạn nạn Mức lãi khác nhau giữa các tổ nhóm, tiền lãi được tiếp tục gửi vào quỹ Chị em ngoài tổ nhóm cũng có thể vay nhưng chịu lãi suất cao hơn so với chị em trong tổ nhóm Nhiều chị em đã vay tiền từ quỹ

do thủ tục nhanh gọn, linh hoạt trong cả vay và trả

-“Tổ nhóm chăn nuôi lợn có 30 chị em, hiện nay quỹ tổ đã có trên 3 triệu đồng, hình thức đóng góp: mỗi chị em cầm 10 ngàn đi đóng khi đi họp Tổ tự thành lập quỹ, quỹ này được cho vay lấy lãi (người ngoài tổ vay 1 triệu lấy lãi 50 ngàn/tháng; trong tổ vay lấy lãi 30 ngàn/tháng) Cuối năm tổng kết và liên hoan hay tổ chức ngày 8/3, nam giới hôm đó cũng phải tham gia làm còn chị em thì sinh hoạt, vui chơi…”

(Nhóm phụ nữ thôn Ki Quan San, xã Mường Hum, huyện Bát Xát)

-Mỗi nhóm giờ có quỹ hơn 1 triệu rồi, đi thăm hỏi chị em lúc hoạn nạn và chị em nào khó khăn vay không lấy lãi Chị em nó thích vay, mình là chị em với nhau tin nhay thôi, nó vay khi nào có thì trả không phải giấy tờ gì.”

(S.C.M, CT HPN xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

Tham gia vào tổ nhóm giúp đa số chị em tự tin hơn so với trước Điều này khác hẳn so

với trước đây, nhiều chị em DTTS, đặc biệt phụ nữ Mông (Lùng Khấu Nhin – Mường Khương), Dao (Mường Hum – Bát Xát), rất ít đi xa ra khỏi cộng đồng Ngay trong thôn bản, chị em trước đây cũng ít khi tham dự các sinh hoạt chung, chủ yếu là làm nương rẫy và chăm lo công việc nội trợ

-“Ở đây, đàn bà chỉ đi chợ huyện Mường Khương hoặc đi hội Gầu Tào ở Pha Long (xã Pha Long, huyện Mường Khương) là xa nhất thôi Mà đều đi với chồng hết, vợ không đi một mình đâu.”

(T.C.D, thôn Ma Ngán B, xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

-“Chị em người Dao mình chỉ loanh quanh đây, đi đến chợ Mường Hum rồi lại về quanh quanh cái nương, cái ruộng thôi Có khi nào phải ốm đau đi bệnh viện thì mới lên huyện, lên tỉnh thôi.”

(T.T.M, thôn Ki Quan San, xã Mường Hum, huyện Bát Xát)

Từ khi tham gia vào tổ nhóm, chị em được tiếp xúc với thế giới bên ngoài nhiều hơn: sinh hoạt cùng với chị em trong thôn, đi tập huấn tại xã, tại tỉnh, một số chị em còn được đi thăm quan học hỏi tại các tỉnh khác Điều này giúp chị em nâng cao hiểu biết và tự tin hơn trong gia đình, trong giao tiếp xã hội cũng như trong các hoạt động chung của cộng đồng Một bằng chứng được nhóm cán bộ thôn Ma Ngán B (xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường

Trang 20

Khương) đưa ra là chị em phụ nữ tích cực tham gia phát biểu ý kiến hơn trong các cuộc họp thôn

-“Trước đàn bà cũng đi họp nhưng nó không nói mấy, nó ngại cứ ngồi dưới mà ôm con, mình có gọi tên hộ nhà nó lên thì nó mới lên tiếng thôi Bây giờ những bà nào

mà đi sinh hoạt tổ nhóm là bạo dạn nói lắm, ý kiến sôi nổi hơn rồi, đi sinh hoạt nó cũng khác thật.”

(Nhóm cán bộ thôn Ma Ngán B, xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

Trong gia đình, nhiều chị em cho biết đã thẳng thắn trao đổi với chồng nhiều vấn đề gia đình

mà trước đó chị em thường giấu/bỏ qua như kế hoạch hóa gia đình, phân công lao động

Trong giao tiếp xã hội, chị em đã tự tin thể hiện mình Điển hình như việc chị em tại xã Lùng Khấu Nhin đã tự thực hiện những thước phim về đời sống của mình (dưới sự hướng dẫn của nhóm tình nguyện viên quốc tế thuộc dự án H.E.A.R đầu năm 2013) Trong gia đình, chị

em đã mạnh dạn nói lên tiếng nói của mình hơn so với trước

-“Vợ đi sinh hoạt về nó hơn ngày xưa, bố mẹ mình thích nhiều con nhưng nó bảo

đẻ ít thôi còn có tiền mà nuôi con Trước đây nó chưa nói được như thế bao giờ.”

(T.C.D, thôn Ma Ngán B, xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

-“Đi sinh hoạt xong có nhiều chị em về mạnh dạn trao đổi với chồng đấy, không phải nó cãi nhưng nó biết nói cái đúng chứ không im như ngày xưa Chồng nó thấy mình ăn nói được nên nó phải nghe đấy.”

(Chi hội trưởng HPN thôn Ki Quan San, xã Mường Hum, huyện Bát Xát)

Đã nhận thấy sự thay đổi trong phân công lao động trong một số gia đình Phụ nữ sinh

hoạt tổ nhóm lợn đen đã tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội Tỷ lệ nữ đi họp thôn được đánh giá là tăng tại tất cả các thôn khảo sát, đặc biệt là với những dân tộc ít người như Mông, Dao Trước đây, chị em thường để nam giới đi họp thôn theo phân công lao động truyền thống, nếu có đi họp chị em cũng ít đóng góp ý kiến Tham gia sinh hoạt nhóm lợn đen giúp phụ nữ thấy sự bình đẳng trong việc tham gia các hoạt động xã hội, nhiều chị

em đã tích cực tham gia vào các buổi họp thôn bản và tự tin đóng góp ý kiến

-“Giờ nữ đi họp thôn tăng hẳn so với trước, tối đến tổ chức họp là chồng cùng cho

vợ đi.”

(Nhóm cán bộ thôn Ki Quan San, xã Mường Hum, huyện Bát Xát)

-“Trước bảo họp thôn cứ đàn ông với người già đi, đàn bà không đi vì còn trông con

ở nhà Giờ thì đàn bà đi họp nhiều hơn rồi, nó cũng có ý kiến nhiều như mọi người.”

(Trưởng thôn Ma Ngán B, xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

Trong các phong trào do HPN tổ chức, chị em tham gia tích cực hơn trước Điển hình như tại xã Lùng Khấu Nhin (huyện Mường Khương), chị em các tổ nhóm tham gia rất tích cực vào các buổi tuyên truyền của HPN HPN xã đứng ra tổ chức, các tổ nhóm dựng tiết mục, luyện tập công phu cho các buổi biểu diễn

-“Đầu năm nay, Hội tổ chức buổi tuyên truyền về vệ sinh môi trường tại xã Lùng Khấu Nhin, chị em tham gia tích cực lắm, cả chị em Nùng và Mông Chị em xung phong trả lời câu hỏi, biểu diễn văn nghệ Hồi trước chưa có dự án không được như thế đâu.”

(Cán bộ HPN huyện Mường Khương)

Để chị em tham gia vào các hoạt động xã hội nhiều hơn, bản thân nam giới đã có những thay đổi về nhận thức và hành động Qua phỏng vấn sâu 6 nam giới có vợ tham gia vào các

Trang 21

tổ nhóm lợn đen có thể thấy, quan niệm về phân công lao động trong gia đình đã có sự thay đổi Từ chỗ cho rằng, việc nhà là việc của phụ nữ đến chỗ cho rằng đây là việc chung của hai vợ chồng 5/6 nam giới được phỏng vấn đã tham gia vào những công việc trước đây chỉ phụ nữ và trẻ em tham gia là chủ yếu như cho lợn gà ăn, đi cấy lúa, bế con… Lúc rảnh rỗi, 5 anh này còn thỉnh thoảng đi sinh hoạt tổ nhóm cùng vợ (người còn lại thường xuyên đi làm thuê xa nhà nên không thấy có sự thay đổi) (Hộp 4)

-“Vợ đi sinh hoạt là tốt cho nó, mình tham gia cũng được nhưng còn việc nhà phải làm Được cái nó đi họp về cũng biết ăn nói, vợ chồng không cãi chửi nhau như trước Nó đi họp, đi tập huấn, mình vẫn ở nhà trông con nhỏ mà.”

(T.C.D, thôn Ma Ngán B, xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

-“Cho vợ đi họp nhóm thì ở nhà mỗi người phải giúp một tay, ông bà nội bế cháu

hộ, chồng cho lợn ăn Bảo đi họp tổ nhóm lợn là cả nhà ủng hộ.”

(Một thành viên nhóm hưởng lợi thôn Ki Quan San, xã Mường Hum, huyện Bát Xát)

-“Hôm nay đang vụ cấy, mình đi họp với đoàn thế này là chồng đã phải đi cấy giúp rồi đấy Trước đây thì đấy là việc của phụ nữ, nhưng giờ nam giới cũng giúp phụ nữ nhiều rồi.”

(Nhóm phụ nữ thôn Sín Lùng Chải B, xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

Hộp 4: “Trước đây chồng mình chưa được như thế bao giờ”

Anh T.C.Q, 33 tuổi, dân tộc Mông, thôn Ma Ngán B (xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương) có

vợ tham gia tổ nhóm lợn đen Gia đình anh được hỗ trợ một con lợn nái, đã đẻ được một lứa nhưng lợn con bị chết do gặp dịch bệnh

Anh cho biết, trước đây, cũng như nhiều người đàn ông khác, anh có suy nghĩ là “lấy vợ về là để làm việc”, vì vậy, những việc chăn nuôi, bếp núc, chăm sóc con cái trong gia đình anh thường để vợ làm Anh chỉ lo làm nương (vợ cũng tham gia cùng) và các công việc bên ngoài xã hội (đi họp thôn, đi tập huấn, xin giấy tờ trên xã…)

Từ khi vợ tham gia vào tổ nhóm lợn đen, được truyền đạt những kiến thức về bình đẳng giới, chị có

về trao đổi lại với anh Bản thân anh cũng vài lần tham gia sinh hoạt cùng tổ nhóm nên đã hiểu và thông cảm cho vợ hơn Buổi sáng, trong khi vợ nấu cơm, anh dành khoảng 1,5 tiếng làm việc nhà như cho gia súc, lợn, gia cầm ăn và quét dọn nhà cửa Buổi chiều, thay vì sang hàng xóm xem ti vi như trước đây, anh thái rau cho lợn Vợ anh, chị T.T.L, chia sẻ:

-“Cam đoan là trước đây chồng mình chưa được như thế bao giờ Từ ngày mình đi sinh hoạt nhóm chồng mới thay đổi như thế.”

Một số phụ nữ đã có vị thế hơn trong việc ra những quyết định trong gia đình Kết quả

bài tập thực hiện với nhóm phụ nữ tại thôn Ma Ngán B (xã Lùng Khấu Nhin) – thôn được coi

là khó khăn nhất trong số các thôn bản khảo sát với 100% người dân tộc Mông (Bảng 1) cho thấy, phụ nữ tham gia vào tất cả các quyết định trong gia đình với mức độ khác nhau

Họ được hoàn toàn quyết định loại thức ăn, tham gia mạnh (có tham vấn ý kiến của nam giới nhưng phụ nữ là người quyết định cuối cùng) vào khoảng hơn 20% các quyết định, cùng tham gia (có tiếng nói ngang bằng với chồng) trong khoảng gần 60% các quyết định trong gia đình Theo 6 phụ nữ tham gia thảo luận nhóm, đây là sự thay đổi lớn so với cách đây 3 năm Tại thời điểm đó, với đa số các quyết định, sự tham gia của phụ nữ ở mức “cùng tham gia”, “tham gia ít” và “không tham gia” Mức độ tham gia của phụ nữ thay đổi rõ rệt nhất là ở các quyết định sau:

 Quyết định chi tiêu mua đồ dùng lớn trong gia đình: trước đây, phụ nữ thường

không có tiếng nói trong quyết định mua sắm các những đồ dùng gia đình có giá

Trang 22

trị lớn có giá trị khoảng 2 triệu đồng trở lên (ti vi, xe máy…); nhưng khoảng 2

năm trở lại đây, phụ nữ đã có vị thế ngang với chồng trong loại quyết định này

 Quyết định sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động cộng đồng: phụ nữ từ chỗ

“tham gia ít” lên “tham gia mạnh” vào quyết định này Trước đây, khi muốn tham

gia hoạt động cộng đồng (sinh hoạt HPN, họp thôn, liên hoan văn nghệ…), phụ

nữ thường ít chủ động, phụ thuộc chủ yếu vào quyết định của chồng Hiện nay,

nhiều chị em đã chủ động đề nghị chồng tạo điều kiện để bản thân được tham

gia các hoạt động cộng đồng

-“Lấy chồng hơn 10 năm rồi, bây giờ thấy chồng thoải mái nhất Trước nó quyết hết,

giờ mình đi họp nhóm mình cũng biết mình có quyền, về bảo chồng là cái này, cái kia

phải hỏi mình nhá, không quyết một mình được, chồng nó nghe Bán lợn giờ mình bảo

mình không muốn bán là nó không bán được.”

(T.T.N, thôn Ma Ngán B, xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

Bảng 1: Sự tham gia của phụ nữ vào các quyết định trong gia đình, tình trạng hiện

nay

toàn do phụ nữ quyết định

Phụ nữ tham gia mạnh (có tham vấn nam giới nhưng phụ nữ là người quyết định cuối cùng)

Cùng tham gia Phụ tham gia nữ

ít (được nam giới tham vấn)

Không tham gia

1 Loại thức ăn x

2 Chi tiêu cho giáo dục của con cái x

3 Chi tiêu cho các nhu cầu về sức khỏe

4 Chi tiêu chăm sóc sức khỏe cho con

6 Chi tiêu mua quần áo cho bản thân x

8 Mua tài sản lớn có tầm quan trọng

trong sản xuất (trang thiết bị cho sản

xuất nông nghiệp…)

x

9 Mua vật tư đầu vào cho sản xuất

10 Chi tiêu cho đi lại của bản thân x

11 Chi tiêu mua đồ dùng lớn (bản ghế,

xe máy…)

x

12 Quyết định về tiết kiệm trong gia đình x

13 Chi tiền cho họ hàng (biếu xén, ai,

18 Quyết định việc kế hoạch hóa gia

Trang 23

19 Quyết định sự tham gia của phụ nữ

20 Quyết định về việc di chuyển của phụ

21 Quyết định phạt trẻ con khi mắc lỗi x

24 Quyết định đồ mừng cho người thân

Nguồn: Thảo luận với nhóm phụ nữ (6 người) thôn Ma Ngán B, xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường

Khương

Ngay cả khi thu nhập từ lợn đen chưa cải thiện nhiều, thì thúc đẩy bình đẳng giới,

nâng cao vị thế của phụ nữ vẫn có những tiến triển khích lệ Theo logic của dự án, phụ

nữ DTTS sẽ có vị thế bình đẳng hơn với nam giới trong gia đình và cộng đồng thông qua sự

tăng lên về thu nhập, kiểm soát nguồn lực và tham gia tích cực hơn vào thị trường Trên

thực tế, mặc dù thu nhập từ lợn đen chưa tăng rõ rệt nhưng đã có sự cải thiện về bình đẳng

giới tại các địa bàn khảo sát Cải thiện này là do quá trình tham gia đem lại Minh chứng là

tại nhiều hộ gia đình tham gia tổ nhóm, lợn dự án hỗ trợ bị chết nhưng vị thế người phụ nữ

trong gia đình vẫn được nâng lên

-“Nhóm có 26 thành viên, được cấp 19 lợn, chết 8 con, còn 11 con thôi Nhà lợn

chết cũng như nhà không có lợn, bình đẳng giới đều tiến bộ Đi sinh hoạt mới là quan

trọng nhất, mình hiểu biết về nói lại với chồng để chồng nó thông cảm cho, không có

lợn cũng thế.”

(G.T.D, nhóm trưởng thôn Ma Ngán B, xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

2.2.3 Mục tiêu 3: Lồng ghép, áp dụng rộng rãi WEL

Cụm từ “phụ nữ làm chủ kinh tế” (WEL) đã trở nên khá phổ biến đối với các cấp trong

tỉnh Lào Cai Các đối tác địa phương (đặc biệt là ba đối tác cấp tỉnh) đã có nhiều nỗ lực

trong việc truyền thông về WEL Các hoạt động cụ thể như: làm phim tư liệu, tin bài trên hệ

thống phát thanh/truyền hình và báo chí; giới thiệu, thảo luận về WEL trong Hội nghị Ban

chấp hành HPN tỉnh và huyện; nghiên cứu và tổ chức hội thảo… Những hoạt động này đã

giúp cho cán bộ các cấp và người dân làm quen với khái niệm WEL Trong các cuộc trao

đổi với cán bộ huyện, xã các thôn khảo sát, cụm từ “phụ nữ làm chủ kinh tế” được nhắc đến

nhiều lần Đặc biệt, trong những gia đình người hưởng lợi, cụm từ này cũng dần trở nên

thân thuộc

-“Giờ đi sinh hoạt tổ nhóm rồi thì vấn đề “phụ nữ làm chủ kinh tế” không lạ gì rồi

Mình cũng nói với chồng như thế, anh phải tạo điều kiện cho em được làm chủ kinh

tế gia đình, học tính toán làm ăn, quản lý chi tiêu.”

(G.T.D, thôn Ma Ngán B, xã Lùng Khấu Nhin, huyện Mường Khương)

Việc biên soạn tài liệu, tổ chức nghiên cứu, hội thảo và truyền thông về WEL được

tiến hành khá bài bản giúp cho việc phổ biến các vấn đề liên quan đến WEL đến các cơ

quan, ban ngành các cấp và người dân thuận lợi hơn Một nghiên cứu sâu về WEL đã được

tiến hành; hội thảo về kết quả nghiên cứu thu hút sự tham gia của nhiều ban ngành và đối

tác của dự án WEL trong tỉnh Lào Cai Hai bộ phim tài liệu về WEL đã được phát trên truyền

hình Lào Cai Nhiều bản tin ngắn về hoạt động của dự án WEL được phát trên truyền hình

tình và đài truyền thanh 2 huyện dự án Các số tay, lịch, poster, tài liệu tập huấn về WEL

được in ấn và phân phát rộng rãi trong toàn tỉnh thông qua mạng lưới của HPN và Trung

tâm khuyến nông tỉnh Các tài liệu đã cố gắng đơn giản hóa, nhiều hình ảnh để phù hợp với

Ngày đăng: 26/07/2020, 18:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

đến vòng thứ ba là các chị em khác hiện còn nằm ngoài tổ nhóm lợn đen (Hình 1). - Dự án “Nâng cao vai trò làm chủ kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua các can thiệp thị trường ở tỉnh Lào Cai” (RVNA92)
n vòng thứ ba là các chị em khác hiện còn nằm ngoài tổ nhóm lợn đen (Hình 1) (Trang 18)
thống phát thanh/truyền hình và báo chí; giới thiệu, thảo luận về WEL trong Hội nghị Ban chấp hành HPN tỉnh và huyện; nghiên cứu và tổ chức hội thảo… Những hoạt động này đã  giúp cho cán bộ các cấp và người dân làm quen với khái niệm WEL - Dự án “Nâng cao vai trò làm chủ kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua các can thiệp thị trường ở tỉnh Lào Cai” (RVNA92)
th ống phát thanh/truyền hình và báo chí; giới thiệu, thảo luận về WEL trong Hội nghị Ban chấp hành HPN tỉnh và huyện; nghiên cứu và tổ chức hội thảo… Những hoạt động này đã giúp cho cán bộ các cấp và người dân làm quen với khái niệm WEL (Trang 23)
Theo Bảng 2, kinh phí đã sử dụng (utilisation) của dự án chiếm 72% tổng kinh phí được duyệt (Approved Budget) giai đoạn 6/2011 – tháng 6/2012, và 56% giai đoạn 6 tháng cuối  năm 2012 - Dự án “Nâng cao vai trò làm chủ kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua các can thiệp thị trường ở tỉnh Lào Cai” (RVNA92)
heo Bảng 2, kinh phí đã sử dụng (utilisation) của dự án chiếm 72% tổng kinh phí được duyệt (Approved Budget) giai đoạn 6/2011 – tháng 6/2012, và 56% giai đoạn 6 tháng cuối năm 2012 (Trang 26)
Bảng 3: Khoảng cách giữa cung và cầu về quan niệm sản phẩm “lợn đen” hiện nay  Người dân (các tổ  - Dự án “Nâng cao vai trò làm chủ kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua các can thiệp thị trường ở tỉnh Lào Cai” (RVNA92)
Bảng 3 Khoảng cách giữa cung và cầu về quan niệm sản phẩm “lợn đen” hiện nay Người dân (các tổ (Trang 34)
Các câu chuyện điền hình, các bài học kinh nghiệm về  sự  tham gia và vai trò  làm chủ kinh tế, chăn nuôi và bán lợn  bởi phụ nữ và gia đình của họ - Dự án “Nâng cao vai trò làm chủ kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua các can thiệp thị trường ở tỉnh Lào Cai” (RVNA92)
c câu chuyện điền hình, các bài học kinh nghiệm về sự tham gia và vai trò làm chủ kinh tế, chăn nuôi và bán lợn bởi phụ nữ và gia đình của họ (Trang 45)
Các câu chuyện điển hình và các bài học kinh nghiệm  - Dự án “Nâng cao vai trò làm chủ kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua các can thiệp thị trường ở tỉnh Lào Cai” (RVNA92)
c câu chuyện điển hình và các bài học kinh nghiệm (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w