1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam tại 43 tỉnh thành (SAVI) năm 2003 - Bộ Y tế

7 579 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam
Trường học Bộ Y tế
Chuyên ngành Sức khỏe sinh sản
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc điều tra quốc gia vị thành niên và thanh niên việt nam năm 2003 được Bộ Y Tế và Tổng Cục Thống Kê thực hiện vơi sự giúp đỡ về kỹ thuật và tài chính của Tổ Chức Y Tế Thế Giới ( WHO) và Q

Trang 1

Chương 5

Nhận thức, kiến thức và

nguồn thông tin về sức

khỏe sinh sản

Thanh thiếu niên được hỏi về 4 vấn đề sức khỏe

sinh sản và tình dục gồm: kế hoạch hóa gia đình,

sự thụ thai và kinh nguyệt, giới tính-tình dục, tình

yêu và hôn nhân gia đình Trung bình, thanh

thiếu niên đã từng nghe về 3,4 chủ đề 95,5% đã

nghe ít nhất 1 chủ đề Số chủ đề thanh thiếu

niên đã được nghe tăng dần theo tuổi, từ 3,2 chủ

đề ở nhóm 14-17 tuổi lên đến 3,5 chủ đề ở nhóm

18-21, và 3,6 chủ đề ở nhóm 22-25 tuổi

5.1 Nhận thức về các chủ đề sức

khỏe sinh sản

Nhìn chung, tỷ lệ thanh thiếu niên đã nghe nói

về các chủ đề này rất cao, chủ đề ít được nghe

nhất cũng đạt 77,7% đó là chủ đề về thai nghén

và kinh nguyệt, chủ đề kế hoạch hóa gia đình

được nghe nói đến nhiều nhất với tỷ lệ 92,4%

Không có sự khác nhau đáng kể giữa nam và nữ

tuy nhiên có sự khác biệt rõ ràng giữa thanh

thiếu niên dân tộc Kinh với nhóm các dân tộc

khác Biểu đồ 22 cho thấy nhận thức của các

nhóm thanh thiếu niên dân tộc thiểu số về các

vấn đề sức khỏe sinh sản thấp hơn so với nhóm

thanh thiếu niên dân tộc Kinh từ 14-17%

Thanh thiếu niên nông thôn nhận thức về sức khỏe sinh sản tương đối thấp hơn trừ chủ đề kế hoạch hóa gia đình Điều này có thể giải thích được vì những chiến dịch truyền thông về kế hoạch hóa gia đình được tiến hành một cách rộng rãi trên toàn quốc trong hai thập niên qua so với các vấn đề sức khỏe sinh sản khác, ví dụ như vấn đề giới Vì vậy, khi lập kế hoạch chương trình trong tương lai cần nhấn mạnh hơn vào các chủ đề khác như: giới, quan hệ tình dục hoặc thai nghén

Tuy nhiên nhận thức về một vấn đề nào đó (ở đây được hiểu là có nghe nói về vấn đề đó) chưa chắc đã nói lên kiến thức và hiểu biết đúng trong lĩnh vực đó Kết quả của SAVY cho thấy tỷ lệ đã nghe nói về kế hoạch hóa gia đình và thai nghén/chu kỳ kinh nguyệt khá cao, nhưng khi hỏi về kiến thức thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh nguyệt chỉ có dưới 30% trả lời đúng

5.2 Nguồn thông tin

Thanh thiếu niên được yêu cầu cho biết họ nhận được thông tin về sức khỏe sinh sản từ những nguồn nào dựa vào 15 nguồn cho trước Các câu trả lời sau đó được gộp lại thành 4 nhóm nguồn chính sau:

z Thông tin đại chúng (ti vi, đài, báo và tạp chí, sách)

z Gia đình (cha mẹ, anh, chị)

z Những người có chuyên môn (giáo viên, nhân viên

y tế, cộng tác viên dân số)

z Bạn (bạn bè, người yêu)

Trung bình mỗi thanh thiếu niên có được thông tin từ 3,1 trên 4 nhóm Thấp nhất là nhóm nam dân

BIỂU ĐỒ 22Nhận thức về các chủ đề sức khỏe sinh sản

Tỷ lệ %

Trang 2

tộc thiểu số (2,6) và cao nhất là nữ thanh niên

thành thị 22-25 tuổi (3,5)

Biểu đồ 23 cho thấy, thông tin đại chúng là

nguồn cung cấp thông tin phổ biến nhất cho

thanh thiếu niên về sức khỏe sinh sản (trong số 4

nhóm được liệt kê nói trên) Một điều thú vị là sự

khác biệt giữa thành thị và nông thôn chỉ là 5%

trong việc tiếp cận thông tin từ nguồn thông tin

đại chúng (97% thành thị và 92% nông thôn), mặc

dù chỉ có 73% thanh thiếu niên nông thôn có tivi

Tỷ lệ thanh thiếu niên có được thông tin từ những

cán bộ chuyên môn xếp thứ 2 (80,2%), bao gồm giáo

viên (67,8%), nhân viên y tế (47,6%), và cộng tác

viên dân số (42,3%) Có sự khác biệt rõ rệt giữa tỷ lệ

thanh niên có gia đình (62%) và chưa có gia đình

(36,3%) tiếp cận thông tin từ cộng tác viên dân số

Thanh thiếu niên còn đang đi học nhận được thông

tin từ giáo viên nhiều hơn từ các nguồn khác

(70-80%) Điều này cho thấy giáo viên ở các trường phổ

thông có trao đổi một số thông tin về sức khỏe sinh

sản với học sinh Tuy nhiên nghiên cứu này không đi

sâu tìm hiểu các chương trình sức khỏe sinh sản ở

trường có đầy đủ và toàn diện hay không Các

phương tiện thông tin đại chúng có thể truyền đạt các

thông điệp tới thanh thiếu niên, tuy nhiên giáo viên

và nhà trường có thể làm tốt hơn trong việc hỗ trợ

các em phát triển kỹ năng sống, vì kỹ năng không

thể chuyển tải được qua các kênh truyền thông đại

chúng Ngoài ra, cũng cần nâng cao kỹ năng truyền

thông chuyển đổi hành vi cho cán bộ y tế

Có sự khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ trong việc

nhận được các thông tin về sức khỏe sinh sản từ

gia đình (84,9% nữ và 62,7% nam)

5.3 Chia sẻ thông tin về hiện tượng dậy thì

Thanh thiếu niên được hỏi có nói với ai về hiện tượng dậy thì của mình không Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa hai giới Mặc dù có khoảng một nửa số thanh thiếu niên kể chuyện này với người khác, nhưng nữ kể nhiều hơn hẳn (80,6%) so với nam (14,9%) Tỷ lệ nữ nói chuyện với một người nào đó trong gia đình cũng nhiều hơn so với nam (91,1% nữ và 24,2% nam) Một trong những giải thích có thể là hiện tượng kinh nguyệt lần đầu gây lo lắng cho thiếu nữ và các

em cần sự giúp đỡ về vệ sinh cơ thể nhiều hơn là các em nam khi xuất tinh lần đầu

Trong số nữ có chia sẻ với người khác về hiện tượng dậy thì của mình, 92,6% tâm sự với gia đình và người thân, chủ yếu nói với cha mẹ, trong khi đó nam thích nói chuyện với bạn bè hơn (72%) Tuy nhiên ở nam thanh thiếu niên càng trẻ tuổi, xu hướng tâm sự với gia đình càng cao (42% nam thành thị 14-17 giảm còn 31,1% ở nhóm 18-21 và tới 13,3% trong nhóm 22-25) Hiện tượng này cũng thấy ở nam nông thôn với tỷ lệ tương ứng với các nhóm tuổi là 42%, 14,2%, và 13,4% nói chuyện về dậy thì với gia đình

Khi so sánh việc tâm sự về hiện tượng dậy thì ở nữ, có thể thấy một điều đáng khích lệ là tỷ lệ nhóm nữ 14-17 tuổi tâm sự nhiều hơn so với nhóm tuổi 18-21 và 22-25 khi họ trải qua giai đoạn dậy thì (92%, 89%, 85% ở khu vực thành thị; 86%, 74%, 69% ở khu vực nông thôn tương ứng với 3 nhóm tuổi tăng dần), điều này cho thấy sự

BIỂU ĐỒ 23Các nguồn thông tin

Tỷ lệ %

Trang 3

nhận thức cởi mở hơn trước khi nói về những vấn

đề đã từng được coi là thầm kín và dấu diếm

Nhìn chung, 75,9% thanh thiếu niên cho biết họ

có nghe các chủ đề nói trên từ bạn bè, nhóm

22-25 tuổi là 85,1% tiếp đến là 82,2% ở nhóm 18-21

tuổi và 66,6% ở nhóm 14-17 tuổi Điều này cũng

dễ hiểu vì chủ đề sức khỏe sinh sản thường dễ

nói ở lứa tuổi lớn

5.4 Tiếp cận với thông tin đại

chúng

Thông tin đại chúng không chỉ là một phương tiện

giải trí mà còn là một nguồn cung cấp thông tin

hữu ích, và cuộc điều tra này đã tập trung tìm hiểu

khía cạnh thứ hai đó Như đã phân tích ở phần

trên, thông tin đại chúng là nguồn cung cấp thông

tin về sức khỏe sinh sản phổ biến nhất đối với tất

cả các nhóm thanh thiếu niên Trong SAVY thanh

thiếu niên được hỏi về việc tiếp cận các nguồn

thông tin (tivi, radio/đài, sách, báo/tạp chí và

Internet), được tính thang điểm từ 1-4, với điểm tối

đa là 4 nghĩa là đã tiếp cận tất cả nguồn được liệt

kê Điểm trung bình chung là 3,1

Thanh thiếu niên được hỏi về tần suất xem tivi,

nghe đài và đọc báo Kết quả cho thấy tivi vẫn là

nguồn thông tin quan trọng nhất

z Tivi: 86,5% thanh thiếu niên xem ít nhất 2 lần

một tuần, có 50% xem hàng ngày.

z Đài: 52% nghe đài ít nhất 2 lần một tuần.

z Báo, tạp chí: 45% đọc ít nhất 2 lần một tuần.

z Internet: 17,3% đã từng sử dụng; khác biệt đáng kể giữa thành thị và nông thôn (50,2% và 12,8%).

Ở khu vực thành thị, việc sử dụng tivi, sách báo và Internet nhiều hơn hẳn so với nông thôn tuy nhiên nghe đài thì theo chiều ngược lại (Biểu đồ 25) Điều này có thể giải thích do điều kiện kinh tế, Internet là tốn kém nhất, sách báo, tạp chí phải mua từng số và tivi thì không phải nhà nào ở nông thôn cũng có Đây là chỉ báo rất tốt cho việc nên tập trung vào nguồn thông tin nào hay đối tượng nào cho hiệu quả khi thiết kế các chương trình truyền thông trong tương lai

Tuy chỉ có 73% thanh thiếu niên nông thôn gia đình có tivi, nhưng 85% cho biết xem tivi thường xuyên, có thể là xem ở nhà hàng xóm, bạn bè hoặc quán xá làm cho việc xem tivi trở nên một sinh hoạt giao lưu Chương trình tivi yêu thích bao gồm: phim

BIỂU ĐỒ 25Sử dụng các phương tiện thông tin

đại chúng

BIỂU ĐỒ 24Kể với người khác về hiện tượng dậy thì (phân theo tuổi, giới, thành thị và nông thôn)

Trang 4

truyện, kể cả phim truyền hình (29,4%), thời sự

(23,9%) và âm nhạc (23,2%) Chương trình radio yêu

thích nhất là âm nhạc (40%), kể chuyện (22,2%) và

thời sự (10,5%) Báo được yêu thích nhất là các báo

Thể thao (11,9%), các báo Phụ nữ (11,3%), báo Hoa

học trò phổ biến hơn đối với nữ (10,3%)

Khi trưởng thành hơn, thanh thiếu niên thường có

xu hướng xem, nghe, đọc các nội dung mang tính

thông tin nhiều hơn giải trí đơn thuần Xu hướng

của nam thích xem báo Công an và chương trình

thời sự trên tivi, xu hướng của nữ là chuyển từ báo

Hoa học trò sang báo Phụ nữ

Internet

Thanh thiếu niên phần lớn đều biết Internet là một nguồn thông tin và giải trí: 90,3% thanh thiếu niên

ở thành thị và 65,6% ở nông thôn đã nghe nói về Internet, tuy nhiên tỷ lệ đã sử dụng còn thấp Chỉ có 17,3% trên tổng số đã từng dùng Internet, trong đó thanh thiếu niên nông thôn sử dụng ít hơn thanh thiếu niên thành thị tới 4 lần (12,8% và 50,2%) Thanh thiếu niên sử dụng Internet làm phương tiện giải trí nhiều hơn để tìm kiếm thông tin Phần đông (68,7%) có sử dụng Internet để tán gẫu và 61,4% sử dụng máy tính/Internet để chơi games

5.5 Nhận thức và kiến thức về sức khỏe sinh sản

Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STI)

Thanh thiếu niên được hỏi về 9 bệnh lây truyền qua đường tình dục ngoài HIV mà họ đã nghe nói Khi nêu đúng một tên bệnh, được tính 1 điểm Nhìn chung điểm trung bình của mỗi thanh thiếu niên là 3 Mức độ nhận thức về các bệnh: nam thành thị 22-25 tuổi 4,7 điểm, nam nông thôn 14-17 tuổi 2,5 điểm, nhóm thanh thiếu niên các dân tộc thiểu số 2,1 điểm Nhận thức về các bệnh lây qua đường tình dục có vẻ thấp hơn nhận thức về các chủ đề sức khỏe sinh sản, bao gồm HIV Nhận thức giữa hai nhóm có gia đình và còn độc thân tương tự nhau

Biểu đồ 28 cho thấy tỷ lệ thanh thiếu niên đã từng nghe nói đến bệnh viêm gan B cao nhất 72,2% Có sự khác biệt khá rõ giữa các nhóm, trong đó nhóm nam nữ thành thị cao hơn cả (81%) Một tỷ lệ khá cao đã nghe nói về giang mai và lậu (61,9% và 62,8%) 24,5% đã nghe nói về trùng roi, trong đó thanh thiếu niên nông thôn được nghe nói nhiều hơn thành thị, mụn rộp (herpes) (20,4%) và sùi mào gà/u nhú/mồng gà (21,8%) Chỉ có 7,2% nghe nói về chlamydia Có sự liên hệ rõ ràng giữa kiến thức về chlamydia ở các nhóm tuổi, càng lớn tuổi, thanh thiếu niên càng hiểu biết về bệnh này nhiều hơn

Có sự khác biệt về nhận thức giữa các nhóm về lậu và giang mai Nhóm nam thanh niên thành thị 22-25 tuổi nhận thức về giang mai (87%) và lậu (91%) cao hơn các nhóm khác Sự khác nhau về

BIỂU ĐỒ 27 Sửû dụng Internet

BIỂU ĐỒ 26 Sở thích đọc báo của nữ theo nhóm tuổi

Tuổi

Trang 5

nhận thức 2 bệnh này chênh lệch 20% giữa nhóm

thành thị và nông thôn (Biểu đồ 29)

Chỉ có 0,3% thanh thiếu niên cho biết đã từng mắc

STI, tuy nhiên tỷ lệ này ở nhóm đã lập gia đình là

0,5% và nhóm còn độc thân có quan hệ tình dục

là 0,2% Tỷ lệ này là nhỏ, và trong số những người

đã mắc, phần lớn đi chữa trị tại các cơ sở y tế

công, một số nhỏ tới phòng khám tư, một số tự

mua thuốc chữa và một vài người nói là không

điều trị gì

Hiểu biết về chu kỳ kinh nguyệt

Thanh thiếu niên còn thiếu kiến thức về thời điểm

dễ thụ thai trong chu kỳ kinh nguyệt, chỉ có 27,8%

trả lời đúng trong đó nữ hiểu biết cao hơn nam

(33,3% so với 21,1%) Đáng ngạc nhiên là mức độ

kiến thức của nhóm đã lập gia đình và chưa có gia đình ngang nhau

Phát hiện này cũng đáng lưu tâm vì thanh thiếu niên sẽ khó có thể chủ động về vấn đề thai nghén của họ và có quyết định về các hành vi tình dục của mình cũng như ý thức được các hậu quả có thể xảy ra Mặc dù thanh thiếu niên biết về các biện pháp tránh thai, nếu họ không biết thời điểm thích hợp nhất để sử dụng các biện pháp này thì hiệu quả cũng bị giảm sút Nữ thanh niên cũng cần biết về sự rối loạn chu kỳ kinh nguyệt và cần có biện pháp dự phòng vào bất kỳ lúc nào Rõ ràng là thông tin về thời điểm có thể thụ thai đã không được truyền thông đầy đủ Cũng có thể là thanh thiếu niên chưa hiểu rõ hoặc nhầm lẫn các khía cạnh khác của vấn đề sức khỏe sinh sản Điều này cho thấy cần làm cho công tác truyền

BIỂU ĐỒ 29Nghe nói về lậu, giang mai

Biểu đồ 28 Nghe nói về bệnh lây truyền qua đường tình dục

Trang 6

thông về sức khỏe sinh sản đi vào các nội dung cụ

thể, truyền thông có chiều sâu, trao đổi trực tiếp cá

nhân với cá nhân, giáo dục kỹ lưỡng chứ không

đơn thuần chỉ là những thông điệp truyền thông

chung chung cho tất cả mọi người

Nhận thức và sử dụng các biện pháp tránh

thai

Thanh thiếu niên được hỏi về các biện pháp tránh

thai, xem họ đã được nghe nói hay đã sử dụng

biện pháp nào Hầu hết thanh thiếu niên (97%)

đều biết ít nhất một biện pháp và trung bình thanh

thiếu niên biết đến 5,6/10 biện pháp Nhóm 22-25

tuổi có mức độ nhận thức cao hơn về các biện

pháp tránh thai so với các nhóm trẻ tuổi hơn,

tương tự mức độ nhận thức của nhóm thành thị là

7,3% ở nam và 7% ở nữ so với nhóm nông thôn là

6,4% ở nam và 6,9% ở nữ

Chỉ có 14% thanh thiếu niên được hỏi đã từng sử

dụng biện pháp tránh thai, trong đó nhóm đã lập

gia đình có tới 71,6% sử dụng so với 3,8% ở nhóm

chưa lập gia đình Lần quan hệ tình dục đầu tiên

có sử dụng là 59,4% ở nhóm có gia đình và 2,1% ở

nhóm chưa lập gia đình Cũng cần lưu ý rằng tỷ lệ

có quan hệ tình dục ở nhóm chưa lập gia đình nói

chung chỉ là 4,9%

Tính riêng trong số đã có quan hệ tình dục, 88%

thanh thiếu niên đã lập gia đình có sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ đầu tiên so với 51% thanh thiếu niên chưa lập gia đình có sử dụng một biện pháp nào đó Biện pháp tránh thai thường xuyên sử dụng nhất ở nhóm đã có gia đình là bao cao su (41,9%) và viên tránh thai (30,4%) Nhóm chưa lập gia đình chủ yếu sử dụng bao cao

su (79,9%), chỉ có 6,1% dùng thuốc viên tránh thai Có lẽ do nữ chưa lập gia đình khó tiếp cận thuốc viên tránh thai, do các thông điệp tuyên truyền về tình dục an toàn và HIV khiến cho thanh thiếu niên lựa chọn bao cao su để bảo vệ kép khỏi lây bệnh và tránh thai, ngoài ra một bộ phận thanh thiếu niên quan hệ tình dục lần đầu tiên với người mại dâm nên sẵn sàng sử dụng bao cao su hơn

Điều tra cũng hỏi xem trong lần quan hệ tình dục gần đây nhất, thanh thiếu niên có sử dụng biện pháp tránh thai nào không Có 52,5% trong số đã lập gia đình và 66,8% số chưa lập gia đình trả lời có Tỷ lệ này cũng cao tương tự với lần quan hệ tình dục đầu tiên ở thanh thiếu niên đã có quan hệ tình dục

Lý do không sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục đầu tiên khác nhau phụ thuộc vào việc thanh niên đã lập gia đình hay chưa vào thời điểm đó Phần đông thanh thiếu niên đã lập gia đình nói họ không muốn dùng bao cao su trong khi lý

do thường thấy ở nhóm chưa lập gia đình là do họ

BIỂU ĐỒ 30Hiểu biết về thời điểm có thai và chu kỳ kinh nguyệt

Tỷ lệ %

Trang 7

không định quan hệ tình dục vào thời điểm đó.

Một tỷ lệ nhỏ hơn không biết cách sử dụng bao

cao su và/hoặc bạn tình không muốn dùng Tỷ lệ

trả lời “lý do khác” là khá cao (30%) có thể là do

câu hỏi có quá ít phương án trả lời để thanh thiếu

niên có thể chọn, hoặc có thể do các quan niệm

xã hội dẫn đến không muốn sử dụng

Sử dụng bao cao su

70% thanh thiếu niên được hỏi đều nói dùng bao

cao su làm giảm khoái cảm Như đã phân tích ở

trên, đa số chưa dùng bao cao su Cũng cần tìm

hiểu thêm thanh thiếu niên lấy được thông tin này

từ đâu, vì sao họ cho rằng nó làm giảm khoái cảm

và làm thế nào để thông điệp truyền thông về bao

cao su mang tính thuyết phục hơn, và bớt đi tính

kỳ thị, định kiến

Có đến 98,5% biết rằng dùng bao cao su có thể phòng tránh thai, phòng HIV và bệnh lây qua đường tình dục Vấn đề giá cả không được đề cập đến, chỉ có 25% cho rằng bao cao su rất đắt

Điều tra này đã cung cấp một cái nhìn rõ nét hơn về cách thanh thiếu niên trao đổi, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm của họ về các vấn đề sức khỏe sinh sản và tình dục, về nguồn thông tin chính mà họ tiếp cận, cũng như nhận thức về các vấn đề, nguồn thông tin và chương trình họ ưa thích Những thông tin này sẽ góp phần vào việc thiết kế các chương trình trong tương lai nhằm tăng cường kiến thức và nâng cao kỹ năng cho thanh thiếu niên trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản Cần phân tích sâu các số liệu về nguồn thông tin cho thanh thiếu niên theo tuổi, giới và vùng địa lý để thiết kế các chương trình sao cho phù hợp, hiệu quả nhất với từng nhóm đối tượng

Ngày đăng: 29/10/2012, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w