1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nho Sĩ Duy Tân Cuối Thế Kỷ XIX - Đầu Thế Kỷ XX

102 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử sẽ có những hệ tư tưởng đóng vai trò dẫn đường gắn liền với sự thay đổi, phát triển xã hội, đặc biệt là trước những sự kiện ảnh hưởng đến tình

Trang 3

L Đ

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Lan Những nghiên cứu và kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Đặng Thị Thảo

Trang 4

L I CẢ Ơ

Luận văn thạc sĩ với đề tài “Tư tưởng chính trị - xã hội của nho sĩ duy

tân cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX” là kết quả của quá trình học tập và nghiên

cứu một cách nghiêm túc của tác giả trong chương trình đào tạo cao học Triết học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực

hiện đề tài luận văn Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS

guyễn hị Lan - người đã hết lòng giúp đỡ, định hướng, trực tiếp dẫn dắt

cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh

Mặc dù đã cố gắng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, song luận văn không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự góp

ý của của thầy cô để luận văn hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Đặng Thị Thảo

Trang 5

1.1.1 Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX 14 1.1.2 Bối cảnh Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX 19

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của nho sỹ duy Tân cu i thế kỷ XIX– đầu thế kỷ XX 28

1.2.1 Sự khủng hoảng của nho giáo Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX 29 1.2.2 Tư tưởng cải cách, duy tân ở Nhật Bản, Trung Quốc cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX 32

ƯƠ 2 Ư ƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ H I CỦ SĨ D Y TÂN CU I THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX – NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ 40 2.1 Những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn rường Tộ, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh 40

2.1.1.Tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trường Tộ 41 2.1.2 Tư tưởng chính trị - xã hội của Phan Bội Châu 52

2.2 Những giá trị và hạn chế trong tư tưởng chính trị - xã hội của nho ĩ duy tân cu i thế kỷ XIX – đầu thế kỷXX 75

2.2.1 Những giá trị trong tư tưởng chính trị - xã hội của nho sĩ duy tân cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX 75

Trang 6

2

2.2.2 Những hạn chế trong tư tưởng chính trị - xã hội của nho sĩ duy tân cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX 82

KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tư tưởng chính trị - xã hội là hệ thống những quan điểm, tư tưởng mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội cũng như vấn đề giành, giữ và xây dựng chính quyền cũng như thực thi quyền lực nhà nước Tư tưởng chính trị - xã hội được nảy sinh từ những điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa – tư tưởng, được chính bối cảnh lịch sử, văn hóa đó quy định Ngược lại, tư tưởng chính trị - xã hội sẽ phản ánh trực tiếp, rõ ràng và chính xác thực trạng của xã hội thông qua mối quan hệ giữa các giai cấp và tầng lớp trong xã hội

Mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử sẽ có những hệ tư tưởng đóng vai trò dẫn đường gắn liền với sự thay đổi, phát triển xã hội, đặc biệt là trước những sự kiện ảnh hưởng đến tình hình chính trị – xã hội lớn của dân tộc Trong bối cảnh đó, tư tưởng chính trị giữ vai trò rất quan trọng, chi phối, định hướng con đường phát triển của dân tộc

Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị, kinh tế - văn hóa thế giới có nhiều biến động Các nước châu Á, Phi và Mỹ La tinh trở thành miếng mồi ngon cho các nước tư bản đang trong giai đoạn chuyển sang chủ nghĩa đế quốc xâu xé Nhiều nước bị biến thành thuộc địa, nửa thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam cũng không nằm ngoài luồng mở rộng thuộc địa của các nước đế quốc phương Tây Từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược

nước ta, năm 1883 Việt Nam trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến

Sự biến chuyển về tình hình chính trị - xã hội trong và ngoài nước tất yếu sẽ dẫn đến sự chuyển biến về nhận thức tư tưởng nhằm giải quyết các vấn

đề bức thiết của dân tộc, của thời đại Lịch sửViệt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là minh chứng rõ nhất cho điều đó

Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX từ một quốc gia độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Lúc này, hệ tư tưởng

Trang 8

4

nắm vai trò thống trị là Nho giáo đã bất lực trước sự thay đổi của thời đại Nho giáo dần mất đi vai trò thống trị trong hệ hệ thống chính trị bởi những hạn chế về mặt thời đại của mình Những biến đổi về mặt lịch sử cùng với sự xuất hiện của phương thức sản xuất mới đã dẫn đến sự biến đổi trong tư tưởng chính trị - xã hội giai đoạn này Đó là sự xuất hiện của tư tưởng canh tân vào cuối thế kỷ XIX với những đề xuất canh tân của các trí thức Nho học như Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch Các nho sĩ đề xuất những chủ trương canh tân trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là những tư tưởng chính trị: cải cách bộ máy chính quyền, phát triển kinh tế - xã hội Nhưng những đề xuất canh tân này vẫn chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng phong kiến, chưa có sự chuyển biến triệt để theo hệ tư tưởng mới

Sang đầu thế kỷ XX, tiếp thu tư tưởng Tân thư và trên cơ sở tư tưởng canh tân các nhà tư tưởng Việt Nam tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng đã đưa ra, đề xuất những tư tưởng chính trị - xã hội mới, đánh dấu sự chuyển biến quan trọng về mặt ý thức hệ tư tưởng dân tộc giai đoạn này, từ hệ tư tưởng phong kiến sang tư tưởng dân chủ tư sản và tiến gần đến chủ nghĩa Mác – Lênin Tư tưởng chính trị theo khuynh hướng dân chủ tư sản những năm đầu thế kỷ XX đã tác động không nhỏ đời sống xã hội nói chung và tiến trình cách mạng dân tộc giai đoạn này nói riêng

Nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn này vẫn còn nhiều khía cạnh mới mẻ, cần được nghiên cứu Tư tưởng Việt Nam giai đoạn này là sự phản ánh của tồn tại xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ

XX Những chuyển biến về mặt lịch sử tạo nên những chuyển biết về mặt tư tưởng để phù hợp với sự thay đổi của thời đại, phù hợp với yêu cầu của tiến trình lịch sử dân tộc Đây là kết quả tất yếu của sự phát triển của lịch sử nói chung và lịch sử tư tưởng nói riêng Đồng thời, là kết quả của logic phát triển

Trang 9

5

lịch sử tư tưởng giai đoạn trước đó cũng như là động lực phát triển cho lịch sử

tư tưởng giai đoạn tiếp theo

Bên cạnh đó, những tư tưởng chính trị - xã hội của các nhà tư tưởng giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vừa thể hiện sự phát triển của tư tưởng dân tộc vừa phản ánh sự nhạy cảm chính trị của các nhà tư tưởng Những ảnh hưởng mạnh mẽ của những cải cách ở Nhật Bản cũng như những ảnh hưởng của Tân thư Tân văn ở Trung Quốc đối với các nhà tư tưởng Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX đã cho thấy sự chuyển biến trong hệ tư tưởng dân tộc nhằm tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, nhận thấy được những hạn chế mà hệ tư tưởng Nho giáo không giải quyết được,

mở ra hướng đi mới trong con đường cách mạng dân tộc

Chính vì vậy, việc lựa chọn và tiếp thu những tư tưởng cách mạng đương thời của Trung Hoa, Nhật Bản cũng như những tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây giai đoạn này đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng, giải quyết nhu cầu về việc tìm ra một hệ tư tưởng mới dẫn đường cho cách mạng Mặc dù những tư tưởng chính trị - xã hội của các nho sĩ giai đoạn này thất bại, song những tư tưởng chính trị đó của đã tạo nên sự thay đổi mạnh

mẽ, mang tính căn bản cho lối tư duy bảo thủ, lạc hậu trong tư tưởng chính trị phong kiến

Trong tư tưởng chính trị - xã hội giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ

XX, thì tư tưởng chính trị của Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã thể hiện được rõ nhất những sự chuyển biến, chuyển mình của các ông trong việc xác định đường lối lý luận cho cách mạng Việt Nam nói riêng và lĩnh vực tư tưởng nói chung Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ lựa chọn Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu và Phan Châu trinh để phân tích

Trang 10

6

Giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là giai đoạn quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam nói chung và cả trong tiến trình lịch sử tư tưởng dân tộc Đánh dấu sự chuyển biến của xã hội Việt Nam cũng như sự chuyển biến về mặt tư tưởng, thể hiện logic tất yếu của lịch sử tư tưởng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của thời đại Đây là minh chứng quan trọng nhất cho tính biện chứng của tư tưởng Việt Nam

Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kỳ mới với bối cảnh thời đại có nhiều sự kiện lịch sử quan trọng Xu thế toàn cầu hóa kinh tế

và vấn đề hội nhập quốc tế trở thành xu thế tất yếu mà các quốc gia đều phải đối mặt Trong bối cảnh đó, vấn đề quan trọng nhất, mang tính xuyên suốt cho con đường xây dựng và phát triển đất nước được đặt ra đó chính là việc lựa chọn con đường để vừa hội nhập vừa giữ vững được độc lập chủ quyền; vừa tiếp thu được sự tiến bộ của nhân loại nhưng vừa phát huy được những giá trị truyền thống của dân tộc để theo kịp thời đại? Bối cảnh lịch sử cũng như vị thế xã hội Việt Nam giai đoạn này mặc dù khác giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX nhưng cả hai giai đoạn đều có điểm chung nằm trong sự giao thời của lịch sử nên có những yêu cầu, đặc điểm giống nhau, đó là: cần

có trí tuệ, bản lĩnh vững vàng và sự nhạy cảm chính trị để đổi mới, lựa chọn con đường hội nhập, độc lập tự chủ trước những thách thức lớn của thời đại, v.v

Cho nên chúng ta cần nghiên cứu những bài học lịch sử của giai đoạn trước để tránh bớt những sai lầm cũng như biết phát huy những giá trị truyền thống đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Vì những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài Tư tưởng chính trị - xã hội của nho

sĩ duy tân cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 11

7

Nghiên cứu về tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối XIX đầu thế kỷ XX đã có khá nhiều công trình không chỉ của triết học mà còn của các khoa học khác như văn học, lịch sử Trong đó, liên quan đến đề tài, có một số công trình đã được nghiên cứu:

Hướng công trình nghiên cứu thứ nhất: Những công trình nghiên cứu

về lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

Công trình Đại cương lịch sử Việt Nam (3 tập, Nxb Giáo dục, Hà Nội,

2006) của Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (Chủ biên) Trong tác phẩm này, các tác giả đã nghiên cứu và trình bày toàn diện đời sống

xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng,… của các giai đoạn lịch sử dân tộc, trong đó có giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Về lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung không thể không nói đến hai

cuốn sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam(1993) của Viện Triết học và Viện Khoa

học xã hội Tập thể tác giả đã đi sâu nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử cụ thể, từ thời nguyên thủy đến thế kỷ XIX với những đặc điểm, đặc trưng cho từng giai đoạn

Các tác giả cũng đưa ra nhận định rằng, dù mỗi giai đoạn, lịch sử tư tưởng sẽ có những đặc điểm, đặc trưng riêng nhưng khuynh hướng chung của

tư duy triết học Việt Nam là chú trọng đến các vấn đề xã hội và nhân sinh, vềchính trị - xã hội và luân lý, những vấn đề liên quan đến giáo dục đạo làm người.Liên quan đến đề tài, các tác giả cho rằng, tư tưởng Việt Nam nói chung, tư tưởng triết học Việt Nam nói riêng có quá trình tiếp biến mạnh mẽ

để tạo nên nhiềunét mới trong đặc điểm, phương pháp tư duy và hành động Tuy nhiên, kết quả của sự tiếp biến ấy đã làm xuất hiện các trào lưu tư tưởng, những vấn đề mới cần được tiếp tục giải quyết như thế nào lại chưa rõ

Tác giả Trần Văn Giàu với công trình Sự phát triển của tư tưởng Việt

Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám(1993) gồm 3 tập Trong tập 2

Trang 12

8

của bộ sách này, tác giả đã đi vào nghiên cứu hệ ý thức của giai cấp tư sản Việt Nam với tư cách là vấn đề triết học, chính trị và sự bất lực của nó trước thực tiễn xã hội nửa đầu thế kỷ XX Liên quan đến lịch sử tư tưởng, tác giả cũng bàn đến những vấn đề về đường lối tư tưởng và chính trị được các nhà

tư tưởng lựa chọn nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: cầu viện, bạo động, cải lương… Tác giả cho rằng, con đường canh tân, đổi mới hay những hình thức đấu tranh trên thực chất là tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây,

mà lực lượng tiếp thu và truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản là những nho sĩ nên tư tưởng mang nhiều sắc thái và khía cạnh đặc biệt biểu hiện đặc trưng của xã hội Việt Nam

Tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội, tập 2, Hà

Nội, 1997) của Lê Sỹ Thắng cũng đã trình bày tư tưởng của một số nhà tư tưởng canh tân nửa cuối thế kỷ XIX như Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch Bên cạnh đó, còn có công trình nghiên

cứu Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) của tập thể tác giả, do Trương Văn Chung, Doãn Chính đồng chủ biên Các tác giả đã nghiên cứu những tiền đề của bước chuyển, nội dung quan điểm, tư tưởng chính trị - xã hội của các nho sĩ duy tân cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX

Hội thảo khoa họcTư tưởng triết học Việt Nam trong bối cảnh du nhập

các tư tưởng Đông – Tây nửa đầu thế kỷ XX (2005) đã tập hợp những báo cáo

từ rất nhiều công trình nghiên cứu về triết học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ

XX của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau do trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Trong phần thứ hai và thứ ba

của cuốn kỷ yếu với nội dung Sự du nhập của các trào lưu tư tưởng phương

Đông và phương Tây vào Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng triết học Việt Nam đã đi sâu vào nội dung và ảnh hưởng của các trào lưu triết học

Trang 13

9

phương Đông, phương Tây khi du nhập vào nước ta Đặc biệt, trong những báo cáo đó đã đưa ra quan điểm về vận mệnh của Nho giáo trong xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX và những sự chuyển biến về mặt tư tưởng của các Nho sĩ – những người xuất thân từ Nho giáo Họ đã tiếp biến những tư tưởng bên ngoài đó nhưng đồng thời cũng không lãng quên những giá trị tiến bộ của Nho gia

Đề tài khoa học đặc biệt của GS.TS Nguyễn Hữu Vui và Lương Gia

Tĩnh về Tư tưởng triết học Việt Nam từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX (2003)đi

sâu vào tư tưởng triết học Việt Nam trong bối cảnh thực dân Pháp xâm lược với nội dung chính là quá trình chuyển biến tư tưởng của các nhà tư tưởng giai đoạn này và những hệ tư tưởng chủ yếu của họ đề ra trong quá trình tìm

ra con đường chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp

Tóm lại, tổng quan lại những công trình nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, chúng tôi thấy được rằng việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn này khá toàn diện Tuy nhiên, ở phương diện nội dung, hệ thống nội dung tư tưởng của các nhà

tư tưởng vẫn chưa được đề cập sâu trong các công trình này

Hướng nghiên cứu thứ hai, các công trình nghiên cứu về Nho giáo và

nho sĩViệt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Chúng tôi nhận thấy cần phải khảo cứu những công trình này bởi những công trình này liên quan trực tiếp đến nhiều nội dung trong đề tài Đồng thời, chủ thể của những tư tưởng chính trị - xã hội giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là tầng lớp nho sĩ duy tân

Tác giả Phan Đại Doãn có tác phẩm Một số vấn đề Nho giáo Việt

Nam(1998),trong tác phẩmnày tác giả tập trung vào những vấn đề của Nho

giáo thời Lê – Nguyễn; Tư tưởng dân chủ của các nhà nho duy tân đầu thế kỷ XX; Nho giáo với phong trào Đông kinh Nghĩa thục… Trong đó, nho sĩ duy

Trang 14

10

tân giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là những người tiên phong, đi đầu trong việc truyền bé tư tưởng dân chủ Điều này chứng tỏ các nho sĩ duy tân đã có những bước chuyển về mặt tư tưởng để phù hợp với sự phát triển của tiến trình lịch sử xã hội cũng như lịch sử tư tưởng

Công trình Góp phần tìm hiểu Nho giáo, nho sĩ, trí thức Việt Nam trước

1945 (1998) của Chương Thâu cũng đã đưa ra những nhận xét, đánh giá của

những tư tưởng chính trị - xã hội của các nho sĩ duy tân cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX cũng như vị trí, vai trò của họ trong tiến trình cách mạng Việt Nam Những tư tưởng chính trị của họ, cụ thể là khuynh hướng dân chủ tư sản được đánh giá là tiến bộ nhưng chưa đủ sức giành thắng lợi trước thực dân Pháp Nhưng điều quan trọng là các nho sĩ duy tân đã dần thoát khỏi ý thức hệ

tư tưởng phong kiến bảo thủ để đi đến với ý thức hệ mới tiến bộ hơn

Khi nghiên cứu về nho sĩ duy tân Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX không thể không nhắc đến những công trình tiêu biểu như: Nguyễn

Trường Tộ con người và di thảo (1988) của Trương Bá Cần; Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh (1996) của tác giả Đỗ Thị Hòa Hới; Tư tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châu (2005) của tác giả Nguyễn

Văn Hòa

Về tác phẩm Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo của tác giả Trương

Bá Cần, tác phẩm trình bày những di thảo của Nguyễn Trường Tộ, đặc biệt là những bản điều trần của ông gửi cho triều đình nhà Nguyễn và vua Tự Đức Trong số những di thảo đó, ông đã đưa ra rất nhiều những tư tưởng, đề nghị canh tân đất nước, đặc biệt những đề nghị liên quan đến lĩnh vực chính trị - xã hội,

Công trình Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh (1996), tác

giả Đỗ Thị Hòa Hới đã chỉ ra được những bối cảnh của sự ra đời tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh và giai đoạn phát triển trong tư tưởng dân chủ của

Trang 15

11

Phan Châu Trinh Theo đó, tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh được chia

ra làm hai thời kì: thời kì tiếp nhận và truyền bá tư tưởng dân chủ ở Việt Nam những năm 1902 – 1911 và thời kỳ Phan Châu Trinh hoạt động ở Pháp và những năm cuối đời ở Việt Nam 1911-1925

Trong mỗi giai đoạn, tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh được phát triển theo sự biến động của lịch sử để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử Nếu như giai đoạn trước 1911 là thời kỳ vận động trong tư tưởng Duy tân của ông với những tư tưởng nổi bật như đề cao con người, vai trò của người dân, của quần chúng nhân dân trong xã hội hay việc giải quyết mâu thuẫn cơ bản nhất của

xã hội Việt Nam lúc bấy giờ… Sang giai đoạn sau 1911, ông đã phát triển hơn nữa những tư tưởng dân chủ đó của mình Cụ thể thông qua việc ông công khai đấu tranh đòi quyền dân chủ cho nhân dân Việt Nam, yêu cầu chính quyền thực dân thực thi dan chủ như như ở “chính quốc”; ông cũng đưa ra mô hình nhà nước phù hợp với xã hội Việt Nam… Như vậy, trong mỗi giai đoạn, Phan Châu Trinh đề xuất những tư tưởng cải cách phù họp với hoàn cảnh xã hội Nhưng mục đích cao nhất trong tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh

đó chính là việc thực thi dân chủ mà theo ông thực dân Pháp đã đi ngược lại với tinh thần “Tự do – Bình đẳng – Bác ai” như cách mạng tư sản Pháp đã làm được

Trong số những nho sĩ duy tân tiêu biểu giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu được coi là đại diện xuất sắc nhất trong trào lưu canh tân, đổi mới đất nước những năm đầu thế kỷ XX Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu cũng như cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của ông Nhưng nghiên cứu về tư tưởng của Phan Bội Châu

phải kể đến tác phẩm Tư tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châu

(2005) của tác giả Nguyễn Văn Hòa

Trang 16

12

Tác phẩm đã trình bày những tư tưởng triết học cũng như chính trị của Phan Bội Châu Đặc biệt những tư tưởng về chính trị của ông có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tiến trình cách mạng Việt Nam giai đoạn này Trong tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu giai đoạn này, giải phóng dân tộc được coi

là mục đích tối cao, xuyên suốt trong quá trình hoạt động cách mạng của ông

Như vậy, ởcác trình nghiên cứu về nho giáo và nho sĩ duy tân, các tác giả đã khái quát nên bức tranh về lịch sử nho giáo nói chung và tư tưởng của nho sĩ duy tân Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX Các công trình đã trình bày được những đặc điểm nổi bật nhất về những tư tưởng của các nho sĩ giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX Nhưng bên cạnh

đó, các công trình cũng chưa đề cập được một cách sâu sắctư tưởng chính trị -

xã hội của nho sĩ duy tân giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

Tóm lại, việc nghiên cứu tư tưởng nho sĩ duy tân giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được nhiều tác giả, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm với các phương diện khác nhau Đặc biệt trên phương diện tư tưởng chính trị - xã hội Đây là nội dung có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tiến trình lịch sử tư tưởng của các nho sĩ duy tân nói riêng và toàn bộ tiến trình lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX Với ý nghĩa đó, tác giả

đã lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ

3 ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Luận văn phân tích làm rõ tư tưởng chính trị - xã hội của các nho sĩ duy tân, cụ thể là Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh Từ đó, chỉ ra những giá trị, hạn chế của những tư tưởng này trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX và trong thời đại ngày nay

Nhiệm vụ:

Trang 17

13

- Phân tích những điều kiện và tiền đề dẫn đến sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh

- Phân tích một số nội dung tư tưởng chính trị - xã hội của ba nhà tư tưởng Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh

- Phân tích giá trị, hạn chế trong tư tưởng chính – trị xã hội của Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh trong bối cảnh giai đoạn cuối thể kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như: thống nhất logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu tư tưởng chính trị - xã hội giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX nói riêng

và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung

Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu học tập, nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn thế kỷ XIX – XX

7 ết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 18

14

N I DUNG

ƢƠ 1 NHỮ Đ ỀU KIỆN VÀ TIỀ ĐỀ CHO SỰ Ì Ƣ ƢỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ H I CỦ SĨ D Y CU I THẾ

KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX 1.1 B i cảnh thế giới và Việt Nam cu i thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

1.1.1 Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến to lớn Chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của của nền kinh tế các nước TBCNngày càng làm gia tăng nhu cầu tìm kiếm thuộc địa để cung cấp nguồn tài nguyên và thị trường tiêu thụ hàng hóa Để mở rộng thị trường, chủ nghĩa tư bản tiến hành xâm lược các nước Á, Phi, Mỹ La tinh – nơi có đẩy đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu phát triển của chủ nghĩa tư bản

Trong quá trình xâm lược thuộc địa, Đông Á và Đông Nam Á được xem

là mục tiêuxâm lược mà của các nước đế quốc Cũng giống như quá trình xâm lược thuộc địa ở các châu lục khác, thủ đoạn nham hiểm nhất mà các nước đế quốc sử dụng chính là trực tiếp đe dọa đến chủ quyền và sự tồn vong của các quốc gia, dân tộc Lúc này, những người đứng đầu nhà nước của các quốc gia này tỏ ra lúng túng, bị động bởi họ không thể đánh giá đúng bản chất sức mạnh

và dã tâm xâm lược của chủ nghĩa thực dân Mặt khác, những bất ổn trong chính

bộ máy nhà nước và đời sống xã hội càng tạo cơ hội cho các nước đế quốc thành công trong công cuộc biến các nước Á Đông thành thuộc địa

Đến đầu thế kỷ XX, miếng bánh thuộc địa phương Đông về cơ bản

đã phân chia xong Sự xâm lược của các nước đế quốc phương Tây một mặt đã làm phá vỡ xã hội cổ truyền đã tồn tại hàng nghìn năm ở các nước phương Đông Nhưng mặt khác, với công cuộc khai thác thuộc địa, một

Trang 19

có những sự thay đổi, chuyển biến để thích nghi với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ Theo đó, các quốc gia, dân tộc sẽ lựa chọn những phương thức ứng phó khác nhau, trong đó nổi lên ba phương thức tiêu biểu:

Phương thức thứ nhất: đầu hàng, chấp nhận ách chiếm đóng của thực

dân Phương Tây [32, tr.42]

Đây là phương thức ứng phó đã được các quốc gia Campuchia, Philippin, Inđônêxia lựa chọn Trong đó, trường hợp của Campuchia là một ví

dụ điển hình nhất Vốn nằm trong địa bàn tranh chấp quyền lực giữa Xiêm và Việt Nam, nhưng khi thực dân Pháp xâm lược thì quốc vương Nôrôđôm đã tự nguyện thần phục nhằm thoát khỏi sức ép của hai nước láng giềng

Phương thức ứng phó thứ hai: kiên quyết đứng lên đấu tranh chống lại

cuộc xâm lược của thực dân phương Tây bằng biện pháp kháng chiến [32, tr.42] Đây là phương thức ứng phó được nhiều dân tộc Đông Á lựa chọn nhất Các quốc gia lựa chọn phương thức đối đầu này đều được sự ủng hộ mạnh mẽ của đông đảo dân chúng

Chính nhờ sự ủng hộ mạnh mẽ của quần chúngnhân dân càng làm cho các phong trào phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, những phong trào đấu tranh của các quốc gia, dân tộc ở khu vực Đông Á giai đoạn này đều gặp thất bại Nguyên nhân dẫn đến thất bại của các phong trào này chứa đựng cả yếu tố khách quan và chủ quan Điều đó chứng tỏ trong bối cảnh thế kỷ XIX, phương thức kháng chiến theo kiểu truyền thống không phải là sự lựachọn phù hợp để đối phó với chủ nghĩa thực dân Phương Tây

Trang 20

16

Phương thức ứng phó thứ ba: tiến hành cải cách, duy tân theo mô hình

phát triển của các nước phương Tây

Phương thức ứng phó này được lựa chọn một mặt đối phó với nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản, nhưng đồng thời góp phần thúc đẩy quá trình các quốc gia Đông Á tự thay đổi mô hình phát triển, tự lực giải thoát khỏi sự trì trệ và bế tắc của lịch sử

Mặc dù công cuộc duy tân, cải cách được thực hiện và thể hiện dưới nhiều hình thức và sắc thái khác nhau, song đã thể hiện ý chí, nỗ lực tự thân vận động của các dân tộc Đông Á trong việc mô phỏng mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa của phương Tây nhằm chỉnh sửa mô hình phát triển truyền thống của mình, mở ra con đường phát triển mới của dân tộc mình thoát khỏi tình trạng lạc hậu, thoát khỏi họa xâm lăng của chủ nghĩa thực dân phương Tây.Tiêu biểu cho phương thức ứng phó này là Nhật Bản và Trung Quốc

Nhật Bản trước năm 1868 là một nước phong kiến Từ giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản cũng như các quốc gia phương Đông khác, đều trở thành miếng mồi cho các nước thực dân phương Tây xâu xé Trước áp lực của các nước phương Tây đòi mở cửa, Nhật Bản đứng trước hai lựa chọn: tăng cường

hệ thống phòng thủ để chống lại sự xâm lược và yêu sách đòi mở cửa của thực dân phương Tây Thứ hai, chấp nhận mở cửa giao thương với các nước phương Tây, tránh được họa xâm lăng

Trong bối cảnh đó, chính quyền Nhật đã lựa chọn mở cửa giao thương với phương Tây Quyết định này của chính phủ Nhật Bản cho thấy nỗ lực của chính quyền trong việc giữ thế chủ động ngoại giao và hy vọng vào khả năng duy trì độc lập Sau cuộc đấu tranh quyết liệt và thắng lợi chống lại các thế lực thủ cựu, Nhật Bản đã bắt đầu công cuộc duy tân trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội Và thực chất của công cuộc cải cách của Nhật bản chính là tuân theo những yêu cầu phát triển theo phương thức sản xuất tư bản chủ

Trang 21

17

nghĩa tuyvẫn còn giữ nhiều tàn tích phong kiến trọng yếu trong chính trị Nhờphát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa mà Nhật Bản giữ được độc lập tự do cho dân tộc, sớm trở thành quốc gia cường thịnh trong khu vực và đi theo con đường mà chủ nghĩa thực dân phương Tây đã đi: bành trướng chính sách thực dân, tiến hành xâm lược thuộc địa

Trung Quốc là quốc gia phong kiến điển hình nhất ở phương Đông Các nước như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam… đều chịu ảnh hưởng mạnh

mẽ của văn minh Trung Hoa Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, cũng giống như Việt Nam, Trung Quốc từ một quốc gia quân chủ phong kiến tập quyền trở thành quốc gia nửa thuộc địa nửa phong kiến sau các cuộc xâm lược thực dân phương Tây Sau khi trở thành thuộc địa, mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng dần xuất hiện Chính sách bế quan tỏa cảng dần bị phá bỏ, mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa dần được hình thành Bên cạnh đó, việc mở cửa giao thương với bên ngoài cùng với những ảnh hưởng từ duy tân Nhật Bản cũng tạo điều kiện cho sự thay đổi trong thế giới quan của giới trí thức Trung Quốc, đồng thời là nguồn gốc của những trào lưu tư tưởng, cải cách kỷ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

Những năm đầu thế kỷ XX, cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc không ngừng phát triển; các sĩ phu tiến bộ và trí thức tư sản đã mạnh dạn đòi cải cách, sáng lập ra nhiềuhọc hội, học đường, nhà xuất bản Tiêu biểu là chủ trương “Biến pháp duy tân” do Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu đứng đầu, tồn tại dưới tổ chức mang tên “Cường học hội”, với chủ trương chính duy trì

và cải tiến chế độ phong kiến nhà Thanh Họ tiến hành công cuộc duy tân vào năm 1898 học tập theo mô hình Nhật Bản Nhưng sau đó phong trào thất bại, biến pháp không thể thi hành do sự đàn áp của phe thủ cựu trong triều đình Bên cạnh đó, phong trào chưa có sự tham gia của quần chúng nhân dân, đây

có thể coi là lực lượng cơ bản nhưng biến pháp duy tân lại thiếu hụt điều này

Trang 22

đổ, chế độ cộng hòa ra đời Nhưng trên thực tế, cách mạng Tân Hợi vẫn chưa giải quyết được vấn đề cơ bản nhất trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ là đánh đuổi đế quốc, cũng chưa giải quyết được vấn đề ruộng đất cho nhân dân

Từ nửa sau thế kỷ XIX, hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều trở thành đối tượng xâm lược của các nước tư bản phương Tây Đến những năm

90 của thế kỷ XIX, về cơ bản, miếng bánh thuộc địa Đông Nam Á đã được phân chia xong Thực dân Anh chiếm Malaixia, Mianma; Pháp chiếm Việt Nam, Lào, Campuchia; Tây Ban Nha sau đó là Mỹ chiếm Philippin; Hà Lan chiếm Indonesia Ở Đông Nam Á chỉ có duy nhất Thái Lan thoát khỏi tình trạng thuộc địa nhưng về cơ bản vẫn là nước phụ thuộc Sau khi quá trình xâm lược hoàn thành, các quốc gia phương Tây bắt đầu vào quá trình khai thác thuộc địa Cùng với đó là phong trào yêu nước, phong trào đấu tranh tại các nước thuộc địa bùng lên mạnh mẽ Nhưng hầu hết các phong trào này đều thất bại Phải đến khi cách mạng tháng Mười Nga (1917) thắng lợi, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á mới có những chuyển biến, dấu hiệu tích cực

Vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu của thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển và có sự chuyển hóa, từ giai đoạn tự do cạnh tranh

Trang 23

19

sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và bắt đầu bộc lộ những mặt hạn chế của

nó Chính trong bối cảnh đó, cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra và giành thắng lợi, nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới ra đời

Thắng lợi này đã mở ra một đường lối cứu nước mới cho các dân tộc bị

áp bức: con đường giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác -Lênin

Những chuyển biến về tình hình thế giới những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX đã có những ảnh hưởng, tác động đến tình hình chính trị, kinh

tế xã hội nước ta giai đoạn này Từ sự biến đổi về mặt xã hội, tạo nên sự hình thành, phát triển tất yếu của kiến trúc thượng tầng tương ứng trong xã hội Hay nói cách khác, đây là điều kiện cần cho quá trình hình thành, chuyển biến

tư tưởng của các nho sĩ yêu nước ở Việt Nam giai đoạn này

1.1.2 Bối cảnh Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

Nửa cuối thế kỷ XIX, Pháp tiến hành xâm lược Đông Dương, trong đó

có Việt Nam Từ khi thực dân Pháp nổ sung xâm lược nước ta vào năm 1858

ta từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến và cuốn vào vòng xoáy của chủ nghĩa tư bản

Sau khi biến nước ta thành thuộc địa, thực dân Pháp bắt tay thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất

Dưới tác động của khai thác thuộc địa, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa – giáo dục đều có sự chuyển biến mạnh mẽ

* Về kinh tế:

Khi tiến hành xâm lược Việt Nam, mục đích của thực dân Pháp muốn biến Việt Nam thành thị trường độc chiếm để bóc lột sức lao động với nguồn

Trang 24

20

nhân công rẻ mạt cùng với nguồn nguyên liệu phong phú giá rẻ, nhằm thu lợi nhuận tối đa, phục vụ lợi lích của “mẫu quốc” Để làm được điều đó, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa với việc du nhập các phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào nước ta Nhưng đồng thời thực dân Pháp vẫn duy trì các phương thức sản xuất phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch Điều này dẫn đến nền tảng và cơ cấu kinh tế - xã hội của nước ta có sự chuyển biến

Dưới sự tác động của hai phương thức sản xuất này, nền tảngcơ cấu kinh tế - xã hội của nước ta dần chuyển theo tư bản chủ nghĩa nhưng là thứ tư bản chủ nghĩa phụ thuộc vào chính quốc

Đầu tiên, những đô thị mới mọc lên với những trung tâm kinh tế và tụđiểm cư dân mới Cùng với đó, quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ để nhường chỗ cho sự hình thành của những đô thị mới

Cơ cấu kinh tế truyền thống bị thay đổi, nền sản xuất nông nghiệp không còn giữ vai trò độc tôn như trước Các công trường, xí nghiệp, thương điếm, nhà máy, hầm mỏ lần lượt ra đời

Nhưng với việc vẫn duy trì phương thức sản xuất phong kiến kinh tế nước ta không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp Nhưng sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế, đã tạo điều kiện thuận lợi để các luồng tư tưởng bên ngoài có thể du nhập vào nước ta

Mặt khác, những chuyển biến trong lĩnh vực kinh tế đã làm phá sản chính sách bế quan tỏa cảnh của nhà Nguyễn, tạo điều kiện để Việt Nam tiếp xúc với thế giới Mặc dù trước đó, việc trở thành thuộc địa của thực dân Pháp phần nào mở ra cơ hội cho việc tiếp xúc với thế giới nhưng lại trong tâm thế của một nước thuộc địa, phụ thuộc và “chỉ có quan hệ với riêng một nước Pháp

mà thôi”

Trang 25

21

Tóm lại, nền kinh tế Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX về cơ bản vẫn là nền kinh tế tự cung tự cấp “Trên thực tế, các lực lượng sản xuất xã hội cũ vẫn giữ một vai trò quan trọng” [29, tr.11]

Dưới những điều kiện kinh tế này, đã làm thay đổi tính chất của xã hội Việt Nam Cái cũ, cái truyền thống bị phá vỡ, cùng với đó là sự xuất hiện của phương thức sản xuất mới Đây là nguyên nhân quyết định đến sự thay đổi của toàn bộ nội dung trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam giai đoạn này nói chung và các nhà tư tưởng giai đoạn này nói riêng

* Về chính trị:

Nhằm mục đích phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, ngay sau khi hoàn thành xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thiết lập bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương Song song với sự tồn tại với chính quyền thực dân đóng vai trò thống trị, thực dân Pháp đồng thời duy trì bộ máy chính quyền phong kiến bù nhìn, biến thành công cụ tay sai đắc lực cho chính quyền thực dân trong công cuộc thống trị và khai thác thuộc địa

Những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, những phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống lại sự đô hộ của chính quyền thực dân bùng lên mạnh mẽ nhưng thực dân Pháp đã dùng vũ lực để đàn áp những phong trào

đó Chúng thẳng tay đàn áp, khủng bố, các cuộc đấu tranh của dân Việt Nam trong biển máu

Cùng với việc đàn áp các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, chính quyền thực dân còn thực hiện những chính sách cai trị hết sức thâm độc, như chia để trị, áp đặt những chế độ cai trị khác nhau tại Bắc kì, Trung kì và Nam kì Chưa dừng lại ở đó, thực dân Pháp còn nhập ba kì của nước ta với Lào và Campuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp, xóa tên nước ta khỏi bản đồ thế giới

Trang 26

22

Bên cạnh thi hành những chính sách cai trị đó, thực dân Pháp còn chuyển mọi quyền hành tập trung trong tay các viên quan cai trị người Pháp,

từ Toàn quyền Đông Dương, vị trí đứng đầu các kì, công sứ các tỉnh, đến các

bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án

Thực dân Pháp còn thực hiện chính sách dùng người Việt trị người Việt gây chia rẽ, hận thù dân tộc giữa ba miền Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số Hoặc thâm độc hơn dùng chính những phần tử phong kiến đã đầu hàng thực dân để cai trị chính quyền làng xã, làm công cụ bóc lột nhân dân ta, biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai…

Với những chính sách cai trị đó đã làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp càng thêm gay gắt Để giải quyết được mâu thuẫn đó cần có sự đoàn kết, đồng tâm hiệp lực của toàn thể dân tộc, của mọi giai tầng yêu nước trong xã hội Nhưng để có được sự đoàn kết của toàn thể dân tộc cần có một hệ tư tưởng đúng đắn soi đường Chính yêu cầu này đã ảnh hưởng và phản ánh rõ nét trong tiến trình phát triển tư tưởng của các nhà yêu nước, cách mạng giai đoạn này

* Về xã hội:

Sự tác động đồng thời của hai phương thức sản xuất cùng với việc thực hiện những chính sách cai trị của chính quyền thực dân đã làm cho cơ cấu, vai trò của các giai cấp trong xã hội Việt Nam có sự phân hóa, biến đổi Tạo ra bộ mặt xã hội mới cho xã hội Việt Nam giai đoạn này

Bên cạnh giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại mấy trăm năm, việc thực dân sự du nhập của chủ nghĩa tư bản thực dân đã tạo ra sự biến đổi trong

cơ cấu và nền tảng xã hội thể hiện rõ qua sự xuất hiện thêm những giai tầng

Trang 27

23

mới trong xã hội Như vậy, “xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là sự bảo tồn và duy trì giai cấp cũ trong xã hội để làm cơ sở cho chế độ thuộc địa cùng với sự xuất hiện thêm những giai cấp, tầng lớp mới –

hệ quả của chương trình khai thác thuộc địa”

Giai cấp địa chủ

Đây được xem là giai cấp có lịch sử lâu đời nhất trong xã hội Việt Nam Do chính sách cai trị của chính quyền thực dân, giai cấp địa chủ Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX đã có sự phân hóa mạnh mẽ, thành ba bộ phận khá rõ rệt: tiểu, trung và đại địa chủ

Đại bộ phận của giai cấp này đã lựa chọn con đường thỏa hiệp, đầu hàng chính quyền thực dân để bảo vệ “quyền lợi” của mình Họ liên minh, cấu kết với chính quyền thực dân để đàn áp, bóc lột nhân ta

Ở một khía cạnh nào đó, hành động này của đại bộ phận giai cấp địa chủ đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của xã hội nói chung và lịch sử

tư tưởng cũng như con đường truyền bá hệ tư tưởng mới của các nhà yêu nước nói riêng, “nó kìm hãm các yếu tố mới” từ bên ngoài khi được du nhập vào nước ta

Bộ phận còn lại có lập trường thái độ đối nghịch với chính quyền thực dân Họ chỉ là những địa chủ vừa và nhỏ, non yếu về mọi mặt, cả kinh tế lẫn địa vị chính trị nhưng một mặt vẫn ủng hộ các phong trào cách mạng khi có

đủ điều kiện

Tầng lớp trung và tiểu địa chủ vốn sinh ra và lớn lên trong một quốc gia dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, lại bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về kinh tế, nên bộ phận này không chịu nỗi nhục mất nước Họ cũng có mâu thuẫn với chính những người cùng tầng lớp là bộ phận đại địa chủ trên phương diện quyền lợi khi bị chính những đại địa chủ chèn ép vì không lựa chọn đứng về phía chính

Trang 28

Chính sách độc quyền kinh tế, tô cao, thuế nặng, chế độ cho vay nặng lãi của đế quốc và phong kiến đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa không lối thoát Dưới ách kìm kẹp của thực dân Pháp cùng đội ngũ tay sai quan lại bù nhìn, đời sống nhân dân ngày càng điêu đứng Nông dân sống trong cảnh lầm than, “một cổ hai tròng”

Để duy trì cuộc sống, họ buộc phải bán sức lao động, làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền hoặc bị bắt đi làm phu dịch tại các thuộc địa khác của đế quốc Pháp Vì những áp bức bóc lột nặng nề mà họ phải gánh chịu cùng nỗi đau mất nước nên mâu thuẫn với chính quyền thực dân và đội ngũ tay sai ngày càng gay gắt Họ mang trong mình truyền thống yêu nước bất khuất với lực lượng hùng hậu Nhưng điều đó chưa đủ để họ trở thành tầng lớp lãnh đạo cách mạng Giai cấp nông dân chỉ trở thành lực lượng nòng cốt trong của cách mạng khi có lý luận cách mạng đúng đắn soi đường

Bên cạnh hai giai cấp cơ bản, cốt lõi trong xã hội giai đoạn nửa cuối thế

kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là địa chủ và nông dân, xã hội Việt Nam giai đoạn này còn có sự tồn tại của một tầng lớp khác, đóng vai trò quan trọng trong

tiến trình lịch sử Việt Nam giai đoạn này Đó là tầng lớp sĩ phu yêu nước

Trang 29

25

Đây là tầng lớp đứng đầu trong số những giai cấp, tầng lớp của xã hội Việt Nam giai đoạn này Cùng với sự phân hóa của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, tầng lớp sĩ phu giai đoạn này cũng có sự phân hóa nhất định

Một bộ phận tỏ ra bế tắc, chán nản và chọn con đường lui về ở ẩn để giữ trọn “đạo trung”, giữ gìn chữ “danh” Một số khác lại chọn con đường

“ôm chân đế quốc”, luồn cúi “liếm gót thực dân”

Nhưng bên cạnh đó, vẫn có những sĩ phu yêu nước tiến bộ, luôn nêu cao tinh thần yêu nước, kiên quyết chống ngoại xâm Đứng trước cảnh nước mất nhà tan, họ ra sức thức tỉnh tinh thần yêu nước dân tộc trong mọi tầng lớp

xã hội Thông qua hoạt động thực tiễn và những điều học hỏi được từ bên ngoài, họ đã nhận thấy được những hạn chế, bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Sẵn sàng gạt bỏ, phê phán những cái lỗi thời, nhưng cũng không phủ định sạch trơn những giá trị, tinh hoa truyền thống của dân tộc, sẵn sàng tiếp nhận, học hỏi những luồng tư tưởng mới mà các nước “đồng chủng đồng văn” đã thực hiện

Tuy có những hạn chế nhất định bởi hoàn cảnh lịch sử “nhưng họ thực

sự là những cầu nối cho sự chuyển hướng đi lên của dân tộc” [36, tr.34]

Bên cạnh các giai cấp đại diện cho xã hội Việt Nam truyền thống, những giai cấp, tầng lớp mới được sinh ra từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng dần được hình thành Qua thời gian, đến những năm 20 của thế kỷ

XX, những giai cấp này mới đủ trưởng thành, trình độ để bước lên vũ đài chính trị, tham gia, lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Giai cấp tư sản

Được hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé Bởi vì ra đời trong điều kiện bị tư bản Pháp chèn ép,

Trang 30

Bộ phận tư sản dân tộc có khuynh hướng kinh doanh, phát triển kinh tế độc lập, nên ít nhiều có tinh thần dân tộc, dân chủ chống đế quốc, phong kiến, nhưng lập trường của họ không kiên định, dễ dàng thỏa hiệp, cải lương

Còn với Tư sản mại bản mại bản, tầng lớp này một mặt cấu kết chặt chẽ với

tư bản nước ngoài, mặt khác cấu kết chặt chẽ với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai trong nước để bóc lột nhân dân lao động để duy trì địa vị và lợi ích của mình

Dưới tác động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tầng lớp tiểu

tư sản cũng bắt đầu xuất hiện Tầng lớp này này sinh và phát triển theo sự hình thành và phát triển của các đô thị

Cùng với sự phát triển mở rộng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tầng lớp tiểu tư sản ngày càng đông và bắt đầu có sự phân hóa Một bộ phận trở nên giàu có và trở thành tầng lớp đại tư sản, có địa vị xã hội Một bộ phận khác bị bần cũng hóa, thất nghiệp, phá sản và có xu hướng gia nhập đội ngũ công nhân lao động Trong tầng lớp tiểu tư sản, bộ phận trí thức, học sinh, sinh viên là bộ phận năng động nhất

Trang 31

27

Đặc biệt bộ phận trí thức là tầng lớp rất nhạy cảm với thời cuộc, dễ tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ và canh tân đất nước, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Khi phong trào cách mạng có lý luận soi đường, họ bước vào trận chiến đấu tranh giải phóng dân tộc và đóng một vai trò quan trọng Họ chính là những người tiếp thu, truyền bá những tư tưởng tiến bộ đến sâu rộng quần chúng nhân dân

Giai cấp công nhân:

Sản phẩm đặc trưng nhất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

sản sinh ra ở tất cả các quốc gia đó chính là sự ra đời của giai cấp công nhân

Ở Việt Nam cũng không ngoại lệ, giai cấp công nhân là sản phẩm của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp trên đất Đông Dương Nó

là sản phẩm của nền kinh tế tư bản thuộc địa và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng của thực dân Pháp

Giai đoạn cuối thế kỷ XIX, những năm đầu thế kỷ XX, giai cấp công nhân Việt Nam còn hết sức non yếu, “chưa đủ độ trưởng thành để đảm nhận nhiệm vụ lịch sử được giao phó” [29, tr.19]

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), dưới sự tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, đặc biệt dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào công nhân đã có những bước phát triển mới

Cuộc bãi công của công nhân nhà máy Ba Son (1925) là điểm khởi đầu cho quá trình phát triển về chất của giai cấp công nhân Việt Nam “Từ đây, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam bước đầu đi vào đấu tranh tự giác…” [29, tr.20] Bước ngoặt chứng minh cho sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam đó chính là sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam (1930) Từ đây, giai cấp công nhân Việt Nam từ giai cấp “tự nó” đã phát triển thành giai cấp tiên phong, nắm vững ngọn cờ lãnh đạo của cách mạng Việt Nam

Như vậy, dưới sự tác động của công cuộc khai thác thuộc địa, cơ cấu giai cấp của xã hội Việt Nam đã có sự chuyển biển căn bản Việt Nam từ một

xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thành một xã hội thuộc địa Nhưng tính

Trang 32

28

chất xã hội cổ truyền không hoàn toàn mất, thực dân Pháp vẫn duy trì một phần tính chất phong kiến của xã hội truyền thống, song khi đã thành thuộc địa thì tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều bịđặt trong quỹđạo chuyển động của xã hội đó

Chính điều này đã làm cho mâu thuẫn giữa thực dân Pháp và nhân dân Việt Nam vốn đã sâu sắc lại càng sâu sắc hơn Nhưng đồng thời đây cũng là động lực thúc đẩy quá trình cách mạng hóa diễn ra sâu rộng trong xã hội Việt Nam giai đoạn này diễn ra nhanh hơn

Mặt khác, vào cuối thế kỷ XIX, các phong trào yêu nước lần lượt thất bại Đặc biệt, sau sự thất bại của phong trào Cần Vương, cùng lúc đó thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị cho công cuộc khai thác thuộc địa tại Việt Nam Khó khăn chồng chất họ nhận thức được rằng đấu tranh theo phương thức cũ chỉ là con đường chết nhưng lúc này họ chưa thể tìm ra một con đường khác đúng đắn hơn

Sang đầu thế kỷ XX, khi công cuộc bình định nước ta đã hoàn thành, chính thức đi vào giai đoạn khai thác, thực dân Pháp càng có cơ sở vững chắc

để tăng cường bộ máy cai trị Như vậy,cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc Việt Nam càng khó khăn

Một xã hội với cơ cấu giai cấp phức tạp như thế đã kéo theo sự phức tạp trong kiến trúc thượng tầng của xã hội, khi mà các hệ tư tưởng khác nhau cùng tồn tại, nhưng lại chưa tìm ra một hệ tư tưởng đúng đắn, phù hợp soi đường

Trong bối cảnh đó, yêu cầu về cải cách, canh tân để đưa đất nước thoát khỏi ách xâm lược là điều tất yếu, phù hợp với yêu cầu của lịch sử, của thời đại Những tư tưởng về chính trị - xã hội của các tầng lớp yêu nước trong xã hội cũng từ đây được hình thành, phát triển, phù hợp với khách quan phát triển lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử tư tưởng nói riêng

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của nho sỹ duy Tân cu i thế kỷ XIX– đầu thế kỷ XX

Trang 33

cụ để thống trị nhân dân ta

Đến thời Ngô, Đinh, Tiền Lê những ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội nước ta giai đoạn này cũng chưa thực sự sâu sắc Nhưng sang thế kỷ 11,

từ thời nhà Lý trở đi, Nho giáo dần có sức ảnh hưởng lớn hơn trong bộ máy nhà nước phong kiến tập quyền bởi những điều mà nó làm được trong việc duy trì trật tự, ổn định xã hội, trong việc quản lý, xây dựng và phát triển đất nước Nho giáo được đề cao và được sử dụng như một công cụ trong việc cai trị và quản lý xã hội

Sang đến thế kỷ XV, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính, hệ tư tưởng thống trị trong xã hội Việt Nam Từ bộ máy chính quyền đến đời sống nhân dân đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của nho giáo Đặc biệt dưới thời nhà Nguyễn vai trò của Nho giáo càng được đẩy lên cao, triều đình nhà Nguyễn độc tôn nho giáo Vai trò của nho sĩ càng được đề cao, đặc biệt trong đời sống nhân dân Chính vì vậy, không có gì lạ khi trong tư tưởng của các sĩ phu yêu nước tiến bộ sau này đều chịu ảnh hưởng của nho giáo

Nhưng từ khi thực dân Pháp nổ sung xâm lược Việt Nam 1858 đến khi triều đình nhà Nguyễn chính thức đầu hàng Pháp sau Hiệp ước Hác – măng

1883, nho giáo đã không thể phát huy những vai trò của mình trong việc hoạch định đường lối để ứng phó với sự thay đổi của thời đại Chế độ phong kiến Việt Nam cùng với hệ tư tưởng nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước

Trang 34

30

yêu cầu của công cuộc chống ngoại xâm Nho giáo chính thức bước vào thời

kì suy “vong trên vũ đài tư tưởng” Theo đó, tầng lớp nho sĩ đã phải phải đứng trước sự lựa chọn trong cuộc đấu tranh về mặt tư tưởng giữa “duy tân và thủ cựu” hay đường lối “chủ chiến và chủ hòa” Nhưng nho sĩ nhà Nguyễn cũng chưa thể giải quyết được những vấn đề mang tính thời đại đó, dẫn đến nho giáo ngày càng bất lực trước nhiệm vụ lịch sử của dân tộc

Trong bối cảnh đó, một số nhà tư tưởng tiêu biểu như Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh,… đã thực hiện một bước chuyển tư tưởng chính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn

Các nhà tư tưởng này phần lớn đều xuất thân từ nho sĩ, chính vì xuất thân từ nho sĩ nên họ đã hiểu được và nhận thấy được nho giáo đã không còn phù hợp với bối cảnh xã hội Việt Nam hiện tại, họ nhận thấy nho giáo đã đi vào con đường suy tàn, bất lực trước yêu cầu của lịch sử Từ sự phê phán hệ

tư tưởng phong kiến đó, các ông đã đề xuất tư tưởng canh tân vào cuối thế kỷ XIX và sau đó, khởi xướng tư tưởng dân chủ tư sản vào đầu thế kỷ XX, tạo nên ảnh hưởng lớn đối với xã hội Việt Nam

Trong trào lưu tư tưởng canh tân cuối thế kỷ XIX, Đặng Huy Trứ (1825 – 1874), Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871)… là những nhà tư tưởng tiêu biểu nhất Cả hai ông đều là những người am hiểu nho học, chính vì vậy, dù là tư tưởng canh tân, cải cách nhưng đâu đó vẫn còn bong dáng của những tư tưởng nho giáo xưa

Cụ thể, Nguyễn Trường Tộ coi “ngôi vua là quý”, “chức quan là trọng”, không muốn thay đổi chế độ quân chủ mà muốn có một người cầm quyền đủ khả năng dẫn dắt toàn dân tiến hành canh tân đất nước Tuy nhiên, bên cạnh việc đề cao chế độ quân chủ, kêu gọi thực hiện “chính danh”, Nguyễn Trường Tộ cũng nhận thấy vai trò của pháp luật và cho

Trang 35

31

rằng, vua cũng nên tự hạ mình để ghép vào vòng pháp luật Đây chính là điểm duy tân trong tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ trong việc xây dựng nhà nước theo mô hình quân chủ mà ông vẫn muốn lưu giữ

Ông viết: “Bề trên lo giữ pháp độ, lo việc nước thì chỉ dùng người hiền,

đã theo công lý giữ pháp luật thì trên sẽ hợp điển chế không ai dị nghị, sự nghiệp không suy đốn” [2, tr.204]

Như vậy, trong quan điểm của Nguyễn Trường Tộ, những yếu tố của tư tưởng dân chủ đã xuất hiện, nhưng vẫn đan xen tồn tại với quan điểm nho giáo khi ông vẫn muốn giữ lại chế độ quân chủ chuyên chế, người đứng đầu nhà nước vẫn là vua… Qua đó phản ánh sự dao động tư tưởng của các nho sĩ yêu nước khi “hệ tư tưởng cũ lung lay, hệ tư tưởng mới chưa được xác lập”

Quan điểm về “dân” là quan điểm khá nổi bật trong tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX Trong đó nổi bật là quan điểm của Đặng Huy Trứ Ông coi “dân là gốc của nước, là chủ của thần”; “Khí mạnh của nước là lấy dân làm gốc Bồi bổ cái gốc đó mới là thầy thuốc giỏi” [48, tr.284]

Những quan niệm về vai trò của “dân” trong sự phát triển của xã hội đã

có từ lâu và trở thành một đạo lý Thời Lý – Trần, những tư tưởng về thân dân, khoan dân, huệ dân, v.v đã xuất hiện và đã góp phần tích cực vào việc làm cho thời đại Lý – Trần hưng thịnh Đến Nguyễn Trãi, quan điểm về “an dân” đã được ông tiếp thu, kế thừa, mở rộng và nâng cao trong suốt thời kỳ hoạt động của mình Như vậy, những quan niệm của Nguyễn Công Trứ về

“dân” như đã đưa ra ở trên đều xuất phát, kế thừa những quan niệm về dân của nho giáo Trên cơ sở kế thừa đó, ông mở rộng ra hơn nữa vai trò của

“dân” trong sự ổn định và phát triển xã hội Đây chình là biểu hiện của việc đánh dấu sự đổi mới trong tư duy của dân tộc ta cuối thế kỷ XIX

Sang đến đầu thế kỷ XX, một số nhà tư tưởng đầu thế kỷ XX, như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh…

Trang 36

32

đã tiếp thu tư tưởng của các nhà canh tân cuối thế kỷ XIX trong khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc, tiếp tục phát triển tư tưởng đó lên trình độ mới, cao hơn về chất Các ông đã từ bỏ dần hệ tư tưởng phong kiến, mạnh dạn đi tìm hệ tư tưởng mới cho dân tộc

1.2.2 Tư tưởng cải cách, duy tân ở Nhật Bản, Trung Quốc cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

* Tư tưởng cải cách, duy tân của Nhật Bản

Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX khi các nước phương Đông đều chịu

sự thống trị, phụ thuộc của các nước tư bản phương Tây thì Nhật Bản lại thoát khỏi được tình trạng đó Nhờ vào công cuộc cải cách, duy tân được thực hiện vào những năm cuối thế kỷ XIX đã đưa Nhật Bản thoát khỏi họa xâm lăng Chính “phong cách tư duy độc lập, tự chủ, duy lý” của người Nhật đã góp phần không nhỏ vào thành công của công cuộc cải cách, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng bị xâm lược, phát triển ngang hàng với tư bản phương Tây

Nhật Bản cũng là quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn minh Trung Hoa, đặc biệt là tư tưởng Nho giáo, nhưng trong xã hội Nhật Bản lại không xuất hiện hiện tượng độc tôn về mặt tư tưởng Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các học thuyết, trường phái khác Bên cạnh tầng lớp nho sĩ trong xã hội góp phần định hình, phát triển xã hội, xã hội Nhật Bản còn một tầng lớp khác đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý xã hội, đó là tầng lớp võ sĩ Hai tầng lớp này khác nhau về địa vị xã hội, nhưng họ đều đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi lích giai cấp mình Do vậy, trong công cuộc cải cách, duy tân Nhật Bản cuối thế lỷ XIX, tầng lớp võ sĩ nắm giữ vai trò quyết định, nhưng sang đầu thế kỷ XX, vai trò này được chuyển giao sang cho tầng lớp trí thức Tây học

Tư tưởng cải cách, duy tân Nhật Bản xuất phát điểm với những nguồn gốc khác nhau, với những phương thức khác nhau, lực lượng xã hội khác

Trang 37

33

nhau nhưng tất cả đều chung môt mục tiêu xây dựng xã hội mới, đưa đất nước thoát khỏi họa xâm lăng

Một số nội dung tiêu biểu trong công cuộc duy tân Minh Trị của Nhật Bản:

Về chính trị: thực hiện cải cách cơ bản hệ thống chính trị, tầng lớp võ sĩ

nắm giữ các vị trí chủ chốt Chế độ trung ương tập quyền được thiết lập

Về kinh tế: Cải cách nền tài chính, tập trung phát triển nội thương,

ngoại thương, tích lũy tư bản Sức mạnh kinh tế và quyền lực chính trị nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền

Về xã hội: tiến hành đổi mới xã hội theo kiểu phương Tây.Tất cả các

lĩnh vực của đời sống xã hội: kiến trúc, phong cách sinh hoạt… đều học tập theo phương Tây

Về giáo dục: Đây là lĩnh vực được chính quyền hết sức coi trọng, coi đây

là cơ sở để thay đổi đất nước, chính vì vậy, chính quyền lựa chọn học hỏi theo

mô hình phương Tây, cụ thể là Pháp với những hình thức như cử người đi du học, thuê các chuyên gia giáo dục ở các quốc gia tiến bộ về Nhật giảng dạy

Cải cách Minh Trị diễn ra đã đạt được kết quả to lớn, không chỉ giữ vững được nền độc lập mà còn trở thành quốc gia tư bản phát triển hùng mạnh Trong số những nhà tư tưởng đóng vai trò cho sự thành công đó của duy tân Minh Trị, Fukuzawa Yukichi là một trong những nhà tư tưởng tiêu biểu nhất

Fukuzawa Yukichi là một nho sĩ có xuất thân từ tầng lớp võ sĩ Là một nho sĩ, ông nhận thấy được những hạn chế của Nho giáo như sự phân chia đẳng cấp xã hội Cùng với việc được chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các nước phương Tây, ông đã có những sự chuyển biến quan trọng trong tư tưởng để đưa Nhật Bản trở thành một cường quốc vào đầu thế kỷ XX, điều

mà những nho sĩ tiến bộ ở Trung Quốc hay Việt Nam chưa làm được

Trang 38

34

Tư tưởng cải cách, duy tân của Fukuzawa Yukichi hướng đến tinh thần học tập văn minh phương Tây nhưng trên cơ sở vẫn giữ gìn bản sắc và độc lập, tự chủ dân tộc Một trong những tư tưởng có tính then chốt trong hệ thống tư tưởng của ông có ảnh hưởng đến các nho sĩ duy tân Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX đó chính là những quan điểm về con người

Ông đề xuất tư tưởng “con người bình đẳng” Ông cho rằng, khi sinh

ra, mọi người đều bình đẳng, có tư cách địa vị như nhau, không phân biệt trai gái, thấp hèn, không cho mình quyền đứng trên người khác Trời sinh

ra con người nhưng không tạo ra cuộc sống của họ, cuộc sống của mỗi người là do chính bàn tay họ tạo dựng nên Tư tưởng này khắc phục hạn chế của Nho giáo về “Thiên mệnh”

Ngoài ra, quan điểm về nhà nước là đại diện của dân, điều hành mọi hoạt động của nhân dân Nhà nước phải làm ra luật để bảo vệ dân Đây là những tư tưởng chịu ảnh hưởng của tư tưởng chính trị phương Tây mà ông

đã tiếp thu được Chưa dừng lại ở đó, ông cho rằng, cần khuyến khích học tập phương pháp tư duy của phương Tây trong lĩnh vực tư tưởng, đồng thời phê phán lối tư duy của người phương Đông, phá bỏ những tư tưởng lạc hậu, khắc nghiệt của nho giáo…

Tóm lại, những tư tưởng cải cách, duy tân ở Nhật bản cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX đã đưa Nhật Bản từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu trở thành một cường quốc ở phương Đông Những tư tưởng cải cách đó có

ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ với xã hội Nhật Bản nói riêng mà cả lịch sử tư tưởng các nước phương Đông nói chung Những thành tựu mà Nhật Bản đạt được tác động vào trí óc của những người Việt Nam yêu nước cũng các dân tộc khác Họ thực sự coi Nhật Bản là tấm gương noi theo Các sĩ phu yêu nước, tiến bộ lúc bấy giờ thực sự đã bị thu hút mạnh

mẽ bởi những thành tựu mà Nhật Bản đã đạt được

Trang 39

35

Các nhà tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX đã coi Nhật Bản như một tấm gương trong việc duy tân, đổi mới đất nước để duy trì độc lập, cố gắng đưa đất nước phát triển ngang hàng với phương Tây Các phong trào yêu nước cũng từ đây bùng nổ và phát triển Các phong trào Đông Du, Duy Tân, Đông kinh nghĩa thục… đã tạo nên sự thay đổi trong Việt Nam nói chung và lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX nói riêng

Như vậy, dưới ảnh hưởng của Duy tân Nhật Bản mà bắt đầu từ cải cách Minh Trị “nhiều nhân vật ưu tú của các phong trào dân tộc, dân chủ của nhiều nước Châu Áđã có những hoạt động thực tế riêng ở từng đất nước hoặc hoạt động chung trên đất nước Nhật Bản vào giai đoạn cuối thế

kỷ XIX, đầu thế kỷ XX” [26, tr.275]

* Tư tưởng cải cách, duy tân và cách mạng ở Trung Quốc

Trung Quốc cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX rơi vào khủng hoảng trầm trọng, chế độ phong kiến bảo thủ, trì trệ, đời sống người dân hết sức bần cùng Lúc này, luồng gió cải cách, duy tân Nhật Bản dần ảnh hưởng đến tầng lớp sĩ phu yêu nước tiến bộ Họ nhận thức được rằng, muốn thoát khỏi khủng hoảng cẩn phải tiến hành cải cách

Mở đầu cho công cuộc cải cách ở Trung Quốc chính là phong trào Biến pháp duy tân 1898 Lúc này, các nhà tư tưởng duy tân Trung Quốc nhận thức được rằng, hệ tư tưởng nho giáo đã thực sự lỗi thời, không thể đảm nhận nhiệm vụ lịch sử và thay vào đó là ý thức hệ tư sản Họ coi đây là vũ khí lý luận dẫn đường cho phong trào cải cách và cách mạng dân chủ lúc bấy giờ

Đại diện tiêu biểu cho phong trào duy tân giai đoạn này là những nhà tư tưởng tiến bộ: Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Đàm Tự Đồng… Nhưng tư tưởng duy tân ở Trung Quốc giai đoạn cuối thế kỷ XIX chia làm 2 phái: phái cách mạng và phái cải lương

Trang 40

36

Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu là hai đại diện tiêu biểu nhất của phái cải lương Họ đề ra chủ trương duy trì và cải tiến chế độ phong kiến nhà Thanh Thông qua “Biến pháp duy tân” (1898) mà Lương Khải Siêu đề xướng, vua Quang Tự lúc bấy giờ đã cho thi hành một loạt cải cách trên tất cả các lĩnh vực của xã hội Trong đó, một số nội dung tiêu biểu có thể kể đến như: thay đổi hệ thống pháp luật; sửa đổi chế độ khoa cử, khuyến khích nghiên cứu, phát minh mới… Nhưng biến pháp duy tân chỉ duy trì được một thời gian ngắn rồi thất bại do vấp phải sự phản đối của phe thủ cựu trong triều đình Mãn Thanh

Sau khi biến pháp thất bại, Lương Khải Siêu có sự chuyển biến về mặt

tư tưởng Trong thời gian ở Nhật Bản, ông tuyên truyền tư tưởng bình đẳng,

tự do, dân chủ Ông ủng hộ giai cấp tư sản Trung Quốc thực hiện cách mạng dân chủ giống như các nước phương Tây Nhưng sau đó, khi trực tiếp nhìn thấy những mặt trái của chế độ dân chủ phương Tây, ông nhận thấy mô hình

đó không phù hợp với xã hội Trung Hoa Lúc này những thành tựu từ công cuộc cải cách ở Nhật Bản càng hấp dẫn ông Ông ủng hộ chế độ quân chủ chuyên chế, cũng từ đây ông phản đối con đường bạo lực cách mạng mà Tôn Trung Sơn khởi xướng

Nhìn chung, trong lĩnh vực tư tưởng, Lương Khải Siêu không ngừng

có sự chuyển biến Ông sẵn sàng thử nghiệm, học tập những cái gì tiến bộ để đưa đất nước thoát khỏi ngoại bang, đưa Trung Quốc trở thành cường quốc

Tôn Trung Sơn là đại diện tiêu biểu cho các nhà tư tưởng phái cách mạng đầu thế kỷ XX Được tiếp xúc với văn hóa phương Tây từ nhỏ, nên

tư tưởng của Tôn Trung Sơn chịu ảnh hưởng rõ rệt của tư tưởng dân chủ tư sản Ông thành lập các các tổ chức cách mạng trong và ngoài nước Năm

1905 Trung Quốc đồng minh hội ra đời với cương lĩnh “Tam dân chủ nghĩa”: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc Với cương

Ngày đăng: 25/07/2020, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm