Riêng đối với việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua các tác phẩmvăn học viết về đề tài gia đình là nhằm mục đích ngoài việc hình thành cho họcsinh các kĩ năng được sử dụng trong cu
Trang 12.3.3 Xác định các bước giáo dục kĩ năng sống trong bài dạy 8
sưởi ấm cho tâm hồn mỗi người và “Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chỗ nương thân chống lại những tai ương của số phận” Vì vậy, gia đình có một
vai trò, ý nghĩa vô cùng to lớn đối với cuộc đời mỗi con người
Ngay từ khi còn nằm trong nôi, qua lời ru ngọt ngào của mẹ, mỗi đứa trẻ
đã được nghe những lời dạy bảo yêu thương “Công cha như núi Thái Sơn,
Trang 2Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Lớn hơn một chút, bài học làm người đầu tiên giáo dục con cháu cũng là bài học về cách ứng xử “kính trên, nhường dưới”, “chị ngã, em nâng”, “môi hở, răng lạnh”, “lá lành đùm lá rách”, “bầu
ơi thương lấy bí cùng” Những lời dạy ấy đã thấm sâu vào tâm hồn mỗi con
người Việt Nam, góp phần hình thành bản sắc văn hóa dân tộc, đó là lòng nhânhậu, thủy chung, sống có nghĩa có tình; sự chia sẻ đoàn kết gắn bó từ trong giađình đến cộng đồng, làng, nước Mái ấm gia đình là yếu tố quan trọng giúp conngười có thêm ý chí và nghị lực vượt qua khó khăn thử thách, đi tới những thànhcông
Gia đình có ý nghĩa quan trọng như vậy, thế nhưng hiện nay, trong bốicảnh hội nhập xu thế toàn cầu hóa, bên cạnh những tác động tích cực, ảnh hưởngmặt trái của nền kinh tế thị trường cùng sự phát triển mạnh mẽ của công nghệthông tin, báo chí, Internet đã nảy sinh nhiều vấn đề nhức nhối, đặt ra nhữngthử thách đối với nền tảng gia đình Việt Nam Đó là sự mai một phần nào giá trịtruyền thống của gia đình Việt Nam Nhiều người trong lớp trẻ đã chạy theo lốisống ích kỉ, thực dụng, đề cao giá trị vật chất, xem nhẹ giá trị tinh thần, khôngcoi trọng tình cảm gia đình - ngọn lửa để duy trì hạnh phúc Đứng trước thực tế
như vậy tôi mạnh dạnh chia sẻ: “Kinh nghiệm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua các tác phẩm văn học viết về đề tài gia đình trong môn Ngữ văn 9”.
3 Đối tượng nghiên cứu.
Kinh nghiệm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 9 qua các tác phẩmvăn học viết về đề tài gia đình trong môn Ngữ văn
4 Phương pháp nghiên cứu.
Để nguyên cứu đề tài này, tôi sử dụng hệ thống các phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Tổng hợp, phân loại, thực nghiệm
- So sánh đối chiếu
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề.
Trang 3Như chúng ta biết, Ngữ văn là một môn học có những khả năng đặc biệttrong việc giáo dục các kĩ năng sống cho học sinh Chính vì thế, mục tiêu giáo dụccủa môn Ngữ văn ở trường THCS được xác định là trang bị cho học sinh nhữngkiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, hệ thống về văn học và tiếng Việt; hình thành
và phát triển các năng lực ngữ văn, bao gồm: năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lựctiếp nhận văn học, năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tự học và năng lực thựchành ứng dụng Mặt khác, môn Ngữ văn còn bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếngViệt, đặc biệt các tác phẩm văn học còn bồi dưỡng cho học sinh tình yêu văn học,văn hóa; tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước; lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập,
tự cường; lí tưởng xã hội chủ nghĩa; tinh thần dân chủ, nhân văn
Đặc biệt, trong những năm gần đây, nội dung giáo dục kĩ năng sống đãđược nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đưa vàogiảng dạy cho học sinh trong các trường phổ thông dưới nhiều hình thức khácnhau Mục đích của việc đưa giáo dục kĩ năng sống làm nhằm chuyển hướng từchủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em
học sinh Cụ thể là: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học
để cùng chung sống Tức là nhằm giúp học sinh có hiểu biết và được rèn luyện
những hành vi có khả năng thích ứng với cuộc sống cũng như khả năng ứng phólinh hoạt, tích cực với những thử thách trong cuộc sống hàng ngày
Từ mục tiêu và nội dung môn Ngữ văn ta thấy đã chứa đựng những yếu tố của giáo dục kĩ năng sống Trên cơ sở đó, mục tiêu giáo dục kĩ năng sống được xác định như sau:
* Về kiến thức.
Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng nhưnhững giá trị tốt đẹp của nhân loại; góp phần củng cố, mở rộng và bổ sung, khắcsâu kiến thức đã học về quyền và trách nhiệm của bản thân, gia đình nhà trường
và xã hội về nghề nghiệp
Nhận thức được sự cần thiết của kĩ năng sống giúp cho bản thân sống tựtin và lành mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự pháttriển thể chất và tinh thần của bản thân và người khác
Nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho các kĩ năng sống
Trang 4Hình thành và thay đổi hành vi, nhất là những hành vi liên quan đến lốisống lành mạnh có trách nhiệm với bản thân, bè bạn, gia đình và cộng đồng.
Có ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường
và xã hội; có ý thức nghề nghiệp
Riêng đối với việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua các tác phẩmvăn học viết về đề tài gia đình là nhằm mục đích ngoài việc hình thành cho họcsinh các kĩ năng được sử dụng trong cuộc sống mà còn giúp học sinh có đượcnhững nhìn nhận, đánh giá, hiểu biết về gia đình, biết quý trọng, bảo vệ tình cảmgia đình Từ đó giáo dục các em về tình yêu quê hương đất nước, tinh thần vịtha, tấm lòng nhân đạo, yêu thương giữa con người với con người
- Kỹ năng giải quyết vấn đề: Giải quyết vấn đề là một kỹ năng rất cầnthiết trong học tập, làm việc và cuộc sống… Hàng ngày, chúng ta phải đối mặtvới rất nhiều vấn đề từ đơn giản tới phức tạp Nếu có kỹ năng giải quyết vấn đềtốt, cuộc sống sẽ thực sự hạnh phúc và vui vẻ trong mọi tình huống
- Kỹ năng ứng phó với các tệ nạn xã hội: Việc trang bị kiến thức về kỹnăng sống cho trẻ khi ứng phó với các tệ nạn xã hội, thường được áp dụng ngay
từ khi trẻ còn ngồi trên ghế nhà trường, nhằm giúp trẻ lường trước được các tìnhhuống và có thể ứng phó một cách đơn giản Chính vì vậy, nên rèn luyện kỹnăng cho trẻ ngay từ những bước đi đầu tiên để trẻ có một vốn kiến thức và dễdàng hơn khi ứng phó với những tình huống bất lợi xảy ra với bản thân trongtương lai
- Kỹ năng chung sống ( tập thể): Kỹ năng sống là cách ứng xử tích cực,cần thiết để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và hiệu quả Giáo dục kỹ năngsống có tác dụng nâng cao nhận thức, trang bị thái độ sống và hành vi tích cực,lành mạnh cho thanh thiếu niên Vì vậy, giáo dục kỹ năng sống là một hình thứccan thiệp sớm, có tác dụng tích cực trong việc ngăn ngừa những hành vi lệch lạccủa trẻ em, thanh niên
- Kỹ năng sống là cách ứng xử tích cực, cần thiết để có cuộc sống antoàn, khỏe mạnh và hiệu quả Theo tổ chức y tế thế giới (WHO 2003), đó là kỹnăng mang tính tâm lí xã hội, là các khả năng thích ứng và là hành vi tích cựccho phép các cá nhân giải quyết có hiệu quả nhu cầu và thách thức trong cuộcsống hàng ngày
- Kỹ năng sống cần thiết cho mọi người, đặc biệt là trẻ vị thành niên vàthanh niên Nó giúp cho những người trẻ tuổi thể hiện kiến thức, thái độ và các
Trang 5giá trị, hành vi lành mạnh nhằm giảm thiểu các nguy cơ có hại cho sức khỏe vàcải thiện cuộc sống của mình, chẳng hạn, biết đặt mục tiêu cho cuộc sống, thểhiện sự kiên định trước những cám dỗ không có lợi cho sức khỏe như sử dụng
ma túy
- Từ thực trạng trên nên kết quả của việc giáo dục kỹ năng sống cho họcsinh qua các tác phẩm văn học viết về đề tài gia đình năm học 2014- 2015 quabài kiểm tra đạt như sau:
Điểm giỏi Điểm khá Điểm Điểm yếu Điểm yếu
trung bìnhTổng (9->10 (7->8,75 (3->4,75 (dưới 3
Tỉ lệ học sinh TB và yếu khá cao trên: 60%
2 3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Xác định nội dung, các kĩ năng sống cơ bản và mục tiêu của việc giáo dục kĩ năng sống trong từng đơn vị bài dạy.
* Về nội dung giáo dục trong bài dạy.
Trong chương trình Ngữ văn lớp 9 có nhiều tác phẩm viết về đề tài gia
đình như: Bếp lửa (Bằng Việt), Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng), Khúc hát
ru những em bé lớn trên lưng mẹ (Nguyễn Khoa Điềm), Con cò (Chế Lan Viên), Nói với con (Y Phương), Mây và sóng (Ta-go)
Để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, trước tiên giáo viên cần phải xácđịnh nội dung giáo dục học sinh là gì? Vì cùng viết về đề tài gia đình nhưng mỗitác phẩm lại khai thác ở nhiều khía cạnh tình cảm, mỗi tình cảm lại bộc lộ, thểhiện ở những cảnh ngộ, tình huống khác nhau Cụ thể các nội dung như sau:
Tình bà cháu (Bếp lửa - Bằng Việt), Tình mẹ và ý nghĩa lời ru (Con cò - Chế Lan Viên, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm), Tình cha con (Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng), Tình mẫu tử (Mây và sóng - Ta-go) Xác định được vấn đề này thì giáo viên mới khai thác đúng hướng và
giúp học sinh thấy được những nét chung và nét riêng trong cách thể hiện tìnhcảm gia đình ở các tác phẩm văn học Qua đó học sinh dần thấu hiểu những giátrị về tình cảm gia đình trong mỗi hoàn cảnh khác biệt
Ví dụ, bài thơ Bếp lửa (Bằng Việt), tình cảm gia đình ở đây là tình bà cháu
được thể hiện trong hoàn cảnh cháu đã trưởng thành và ở xa bà Hay truyện ngắn
Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng), cũng viết về đề tài gia đình nhưng cụ thể là
tình cha con sâu nặng và cao đẹp Tình cảm này lại bộc lộ trong hoàn cảnh éo le
Trang 6của chiến tranh Trong bài Mây và sóng (Ta-go), lại có cách khai thác tình cảm
gia đình trong tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt, tình yêu đó được thể hiện qua sự
tưởng tượng của em bé và trò chơi sáng tạo của em Còn bài Nói với con (Y
Phương) khai thác tình cảm gia đình qua lời day của người cha nói với con vềcội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người, về sức sống bền bỉ, mạnh mẽ của quêhương mình
Mặt khác, khi giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, giáo viên cần xác địnhđâu là nội dung chính, đâu là nội dung mở rộng, bởi một tác phẩm văn học khiviết về một đề tài nhưng không nhất thiết chỉ bó hẹp ở trong đề tài đó mà còn
mở ra nhiều thông điệp, nhiếu ý nghĩa, giá trị khác nhau
Ví dụ 1: Tiết 71, 72: Chiếc lược ngà
- Nội dung chính là tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo lecủa chiến tranh
- Nội dung mở rộng là nỗi đau chiến tranh và sức mạnh bất diệt của tình cảm con người trong hoàn cảnh éo le đó
Ví dụ 2: Tiết 126: Mây và sóng.
- Nội dung chính là ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt
- Nội dung mở rộng là sức mạnh của tình mẫu tử - chỗ dựa vững chắc đối vớicuộc đời mỗi con người, sức mạnh của tình yêu đó là cội nguồn của sự sáng tạo,đặc biệt là cội nguồn hạnh phúc của con người
* Về các kĩ năng sống cơ bản và mục tiêu của việc giáo dục kĩ năng sống trong bài dạy.
Để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua bài dạy thì gắn liền với việc xácđịnh nội dung, giáo viên cần phải xác định các kĩ năng sống cho học sinh qua bàidạy đó Mặt khác cũng cần xác định mục đích cụ thể của việc giáo dục là gì?
Bản thân tôi khi giáo dục kĩ năng sống cho các em qua các tác phẩm vănhọc viết về đề tài gia đình đã xác định hai mục tiêu Thứ nhất là mục tiêu chung,thông qua việc giáo dục các kĩ năng sống, các em sẽ dần dần hình thành đượccho mình những kĩ năng có thể áp dụng trong cuộc sống Thứ hai là mục tiêuriêng, thông qua việc truyền đạt nội dung các tác phẩm viết về đề tài gia đình,các em sẽ có được những kĩ năng để nhận thức giá trị của tình cảm gia đình, qua
đó sẽ có những hành vi, thái độ trân trọng, yêu quý những gì gắn bó thân thuộcnhất với mình đó là ông bà, cha mẹ, anh chị em và mở rộng ra là tình yêu quêhương, đất nước
Ví dụ 1 : Tiết 122: Nói với con.
* Nội dung cần truyền đạt cho học sinh là: Cảm nhận được tình cảm gia đình ấm cúng, tình yêu quê hương thắm thiết, niềm tự hào về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ của “người đồng mình” và mong mỏi của một người cha với con qua cách diễn tả độc đáo của nhà thơ Y Phương.
* Các kĩ năng sống cơ bản được giáo dục trong bài như sau:
- Tự nhận thức: cội nguồn sâu sắc của cuộc sống chính là gia đình, quê
hương, dân tộc
Trang 7- Làm chủ bản thân: đặt mục tiêu về cách sống của bản thân qua lời tâm
tình của người cha
- Suy nghĩ sáng tạo: đánh giá, bình luận về những lời tâm tư của người
cha, về vẻ đẹp của những hình ảnh thơ trong bài thơ
* Mục tiêu: hình thành những kĩ năng sống cho học sinh như kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tự làm chủ, kĩ năng tư duy sáng tạo Đồng thời giáo dục các
em về tình yêu, lòng tự hào về cội nguồn chính là gia đình, quê hương, dân tộc.Xác định cho mình mục đích, lí tưởng sống và hành động đúng đắn, cao đẹp
Ví dụ 2 : Tiết 126: Mây và sóng.
* Nội dung cần truyền đạt cho học sinh là: Cảm nhận được một cách thấm thía tình mẹ con thiêng liêng qua lời thủ thỉ chân tình của em bé với mẹ về những cuộc đối thoại tưởng tượng giữa em bé với những người sống trên “mây
và sóng”
* Các kĩ năng sống cơ bản được giáo dục trong bài như sau:
- Tự nhận thức: giá trị của tình mẫu tử, tình cảm gia đình trong cuộc sống của con người.
- Làm chủ bản thân: tự xác định được tình yêu thương vô bờ bến của gia đình,
từ đó rút ra bài học về tình yêu thương, trách nhiệm của con cái Nhất là trong xãhội ngày nay, con cái thường ít quan tâm đến cha mẹ vì nhu cầu của cá nhân
- Suy nghĩ sáng tạo: đánh giá, bình luận về sức mạnh của tình mẫu tử trong
cuộc sống của con người khi đối mặt với những khó khăn, thử thách; cội nguồncủa sự sáng tạo, của hạnh phúc; về các hình ảnh thơ
* Mục tiêu: hình thành những kĩ năng sống cho học sinh như kĩ năng tự
nhận thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tư duy sáng tạo.Đồng thời giáo dục các em về tình yêu, sự trân trọng tình mẫu tử, tình cảm giađình đối với cuộc sống con người
Nói tóm lại, việc xác định nội dung, các kĩ năng sống và mục tiêu của việc giáo dục là bước đầu tiên quan trọng nhất mà mỗi giáo viên dạy cần phải nắm chắc
2.3.2 Xác định phương pháp - kĩ thuật dạy học tích cực trong quá trình giáo dục.
* Phương pháp - kĩ thuật dạy học phù hợp với kĩ năng sống được giáo dục.
Phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học rất phong phú và đa dạng Điềuquan trọng nhất là phải lựa chọn làm sao cho hiệu quả và sử dụng linh hoạt Bảnthân tôi trong quá trình dạy học thấy việc lựa chọn phương pháp - kĩ thuật dạy họcphụ thuộc nhiều vào mức độ nội dung truyền đạt, các kĩ năng sống cần giáo dục vàcác bước tiến hành giáo dục Đặc biệt việc áp dụng các phương pháp - kĩ thuật phảithật sự phù hợp với các kĩ năng sống được giáo dục thì mới đạt hiệu quả
Ví dụ : Tiết 122: Nói với con
Các kĩ năng sống cơ bản được giáo dục Phương pháp - Kĩ thuật dạy học
- Tự nhận thức được cội nguồn sâu sắc - Thảo luận nhóm: trao đổi về những củacuộc sống chính là gia đình, quê tâm tư chân thành, tha thiết của người
hương, dân tộc cha khi theo dõi những bước đi của con
- Làm chủ bản thân, đặt mục tiêu về mình, về những giá trị sâu sắc trong
Trang 8cách sống của bản thân qua lời tâm tình cuộc sống và con đường phấn đấu của
- Suy nghĩ sáng tạo: đánh giá, bình luận - Động não: suy nghĩ, nêu những cảm
về những lời tâm tư của người cha, về vẻ nhận, ấn tượng sâu đậm của bản thân vềđẹp của những hình ảnh thơ trong bài thơ giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ
Trong quá trình dạy học tôi đã xác định một vài trường hợp cụ thể như sau:
- Kĩ năng giao tiếp, thể hiện sự tự tin, lắng nghe tích cực / phương pháp - kĩ thuật trình bày 1 phút, thảo luận nhóm, hỏi và trả lời
- Kĩ năng nhận thức, xác định giá trị / phương pháp - kĩ thuật giải quyết vấn
đề, động não, thảo luận nhóm
- Kĩ năng hợp tác, tìm kiếm sự hỗ trợ / Phương pháp thảo luận nhóm, cặp đôi chia sẻ.
* Phương pháp – kĩ thuật dạy học phù hợp với các bước của bài dạy và được triển khai theo một tiến trình hợp lí
- Để triển khai một bài giáo dục kĩ năng sống thì gồm có 4 bước: khám phá, kết nối, thực hành – luyện tập, vận dụng Mỗi bước sẽ có một vai trò mục tiêu và mức độ
khó dễ và thời gian khác nhau Vì vậy dựa vào mức độ của từng bước mà giáo viên có thể áp dụng các phương pháp – kĩ thuật sao cho phù hợp Ví dụ như sau:
- Ở bước khám phá: đây là bước nhằm kiểm tra kiến thức cũ, hiểu biết bướcđầu của học sinh đối với kiến thức trong bài mới, nên mức độ dễ và thời gian ít.Mặt khác ở bước này học sinh đã được hướng dẫn chuẩn bị ở nhà nên tôi thường
áp dụng các phương pháp - kĩ thuật đòi hỏi thời gian ngắn, học sinh tư duy
nhanh như phương pháp – kĩ thuật động não, trình bày 1 phút, hỏi và trả lời
Ví dụ : Tiết 112: Con cò Để giải quyết những vấn đề sau:
- Hãy đọc các câu ca dao viết về hình ảnh con cò
- Hình ảnh con cò thường tượng trưng cho đối tượng nào trong xã hội xưa?
- Hãy trình bày ngắn gọn những cảm nhận chung của em về hình ảnh con còtrong ca dao Việt Nam
Tôi đã sử dụng phương pháp – kĩ thuật hỏi và trả lời, động não, phát biểu, trình bày một phút để học sinh nêu những hiểu biết và cảm nhận chung về hình
ảnh con cò trong ca dao Việt Nam
Kết quả: hình thành cho học sinh kĩ năng tự nhận thức vấn đề, giao tiếp, sự tự tin.
- Ở bước vận dụng: Đây là bước cuối cùng trong một bài dạy giáo viên cóthể triển khai ở trên lớp và ở nhà Ở trên lớp, bước này tôi thường dùng để củng
cố nội dung bài học Nếu triển khai ở nhà thì giao bài tập cụ thể cho học sinh
Ví dụ : Tiết 75, 76: Chiếc lược ngà
- Để củng cố nội dung bài học: Hãy nêu cảm nhận chung của em về nhân vật ông Sáu, bé Thu trong tác phẩm
+ Giáo viên có thể sử dụng phương pháp – kĩ thuật hỏi và trả lời, thảo luận nhanh, trình bày 1 phút để học sinh trình bày những cảm nhận chung về nhân vật + Kết quả: hình thành kĩ năng giao tiếp, sự tự tin, xác định đánh giá giá trị.
Trang 9- Bài tập về nhà: Vết sẹo trên khuôn mặt ông Sáu gợi cho em những suy nghĩ gì về nỗi đau chiến tranh gây ra? Hãy viết bài văn ngắn trình bày những suy nghĩ của em về vấn đề này.
+ Để hoàn thành bài tập, học sinh vận dụng phương pháp – kĩ thuật động não, làm việc cá nhân, viết sáng tạo để nêu những suy nghĩ, quan điểm của mình
về nỗi đau mà chiến tranh gây ra đối với cuộc của con người
+ Kết quả: hình thành kĩ năng suy nghĩ sáng tạo, thể hiện sự cảm thông, tự nhận thức, phê phán, ra quyết định, đối với nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho con người.
b Sử dụng phương pháp - kĩ thuật cũng cần phải triển khai theo một tiếntrình hợp lí Tiến trình đó phụ thuộc phần nhiều vào năng lực hướng dẫn, tổ chứccủa giáo viên và sự hiểu biết, tư duy của học sinh Khi sử dụng các phương pháp
- kĩ thuật, thông thường giáo viên triển khai theo tiến trình sau: Nêu vấn đề (tức
là giao nhiệm vụ); Hướng dẫn khích lệ học sinh làm việc; Đưa ra các câu hỏi gợi
ý nếu cần; Học sinh trình bày ý kiến (kết quả); Nhận xét, phân loại ý kiến; Giáoviên tổng kết vấn đề
Ví dụ : Tiết 126: Mây và sóng Để giải quyết vấn đề: Ngoài ca ngợi tình mẫu tử bài thơ còn gợi cho ta suy ngẫm thêm điều gì nữa? Giáo viên có thể sử
dụng cùng một lúc nhiều phương pháp - kĩ thuật như động não, thảo luận nhóm,
“khăn trải bàn”… Ở vấn đề này tôi đã triển khai như sau:
- Giáo viên chia nhóm (4 học sinh) và phát giấy A0 cho mỗi nhóm
- Giáo viên nêu vấn đề để các nhóm làm nhiệm vụ
-Học sinh chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh chia thành 4.
- Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và nêu các ý kiến của mình vào phần cạnh
“khăn trải bàn” trước mặt mình Sau đó thảo luận nhóm, tìm ra ý tưởng chung vàviết vào phần chính giữa “khăn trải bàn”
- Học sinh trình bày kết quả của nhóm lên bảng
- Giáo viên nhận xét, bổ sung , tổng hợp ý kiến của học sinh và rút ra kết luận => Học sinh đã đi đến những kết luận sau:
- Trong cuộc sống con người thường phải đối mặt với những cám dỗ, tình mẫu tử là điểm tựa vững chắc để vượt qua những cám dỗ đó
- Tình yêu là cội nguồn của sự sáng tạo (yêu mẹ em bé đã sáng tạo trò chơi)
- Hạnh phúc của con người không phải do ai ban tặng, cũng không hề xa xôi, bí ẩn mà rất gần gũi và do chính con người tạo ra
Kết quả: Thông qua phương pháp – kĩ thuật này giúp học sinh có được những kĩ năng tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ Từ đó tăng cường kĩ năng tự
nhận thức của bản thân về tình mẫu tử, về lối sống: biết trân trọng và gìn giữ tình cảm gia đình.
Nói tóm lại, phương pháp, kĩ thuật dạy học là yếu tố quan trọng của quá trìnhdạy học Yếu tố này quyết định trực tiếp đến kết quả của quá trình giáo dục kĩ năngsống cho học sinh ở mỗi giáo viên Nên khi chuẩn bị bài dạy giáo viên cần phải giacông cẩn thận, tỉ mỉ và phải tiến hành thật sự linh hoạt, tự nhiên thì mới đạt kết quả
2 3.3 Xác định các bước giáo dục kĩ năng sống trong bài dạy.
Trang 10Cũng giống một bài dạy học thông thường, một bài giáo giáo dục kĩ năngsống thường được thực hiện theo 4 bước Cụ thể là khám phá, kết nối, thực hành-luyện tập, vận dụng Mỗi bước có một vai trò nhất định trong việc giáo dục kĩ năngsống cho học sinh Bản thân tôi trong quá trình dạy học đã tiến hành như sau:
a Bước khám phá.
* Mục đích của bước này là kích thích học sinh tự tìm hiểu xem các em đã biết gì
về những khái niệm, kĩ năng, kiến thức đã được học Giúp giáo viên đánh giá, xác định thực trạng (kiến thức, kĩ năng ) của học sinh trước khi giới thiệu vấn đề mới.
* Để đạt được mục đích của bước này tôi thường tiến hành như sau:
- Chia thành các bước nhỏ:
+ Chuẩn bị ở nhà: Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới thông qua hệ thốngcâu hỏi có liên quan đến bài học mới tiếp theo
+ Kiểm tra bài cũ: Tôi sẽ kiểm tra kiến thức của học sinh đã chuẩn bị ở nhà
Từ đó sẽ nắm được những hiểu biết ban đầu của các em về vấn đề đang đượchướng tới (Kiểm tra theo hướng tích hợp)
+ Đặt vấn đề: giáo viên nhận xét, khái quát vấn đề và giới thiệu vào bài họcmới hoặc nêu nội dung và mục tiêu của giờ học sẽ được triển khai
- Xác đinh phương pháp – kĩ thuật động não, trình bày 1 phút, hỏi và trả lời
- Xác định mục tiêu: bước đầu định hướng cho học sinh hình thành những kĩ
năng như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ.
- Kiểm tra bài cũ: Sử dụng kĩ thuật hỏi và trả lời, động não, trình bày 1 phút
để học sinh kể tên những tác phẩm đã được học viết về tình cảm gia đình vàtrình bày những cảm nhận chung về tình cảm đó
+ Hãy liệt kê các tác phẩm văn học em đã được học viết về tình cảm gia đình Em có những cảm nhận gì về tình cảm đó? (Học sinh kể tên các tác phẩn
và trình bày những cảm nhận chung của mình)
- Đặt vấn đề: Giáo viên đặt vấn đề và giới thiệu vào bài mới
Kết quả: giáo viên sẽ định hướng cho học sinh những kĩ năng như sau:
- Kĩ năng tự nhận thức, xác định giá trị: học sinh nhận thức được giá trị tình
cảm gia đình đối với mỗi người; nhận thức được vấn đề giáo viên sẽ đặt ra trongbài mới sẽ là vấn đề liên quan ở phần kiểm tra bài cũ
- Kĩ năng thể hiện sự tự tin, giao tiếp: học trình bày các vấn đề mình biết
trước lớp, trước thầy cô
* Qua bước khám phá này, bước đầu tôi định hướng giúp học sinh tự hình
thành các kĩ năng sống cơ bản sau: Kĩ năng thể hiện sự tự tin, Kĩ năng tự nhận thức, Kĩ năng giao tiếp, Kĩ năng ứng xử
Trang 11b Bước kết nối.
* Mục đích của bước này là giới thiệu thông tin, kiến thức và kĩ năng mới
thông qua việc tạo cầu nối liên kết giữa cái đã biết và chưa biết Cầu nối này sẽ
kết nối kinh nghiệm hiện có của học sinh với bài học mới
* Trên thực tế bước kết nối này được thực hiện thông qua các hoạt động,nhiệm vụ chính của mỗi tiết học Lúc này mục tiêu lớn nhất là truyền đạt nhữngđơn vị kiến thức vào bài học Tùy vào nội dung của mỗi bài mà giáo viên cócách giáo dục kĩ năng sống với các phương pháp - kĩ thuật dạy học khác nhau
Ở bước này, với đặc trưng của tiết dạy Văn phần truyền đạt kiến thức chohọc sinh thường chia làm 2 phần lớn (Tìm hiểu chung, Phân tích) Trong mỗiphần lớn có rất nhiều các nội dung nhỏ Vì vậy việc sử dụng các phương pháp -
kĩ thuật dạy học phải thật sự linh hoạt Ví dụ:
- Ở phần: Tìm hiểu chung
Mục đích của phần này giúp học sinh nắm được những nét chính về tác giả,tác phẩm (hoàn cảnh sáng tác, đọc, tóm tắt nếu có, tìm hiểu chú thích, bố cục, hệthống nhân vật, phương thức biểu đạt ) Ngay phần này giáo viên có thể giáodục các kĩ năng sống cho học sinh
Ví dụ: Tiết 75, 76: Chiếc lược ngà Giáo viên sử dụng kĩ thuật làm việc cá
nhân, kĩ thuật hỏi và trả lời vào những vấn đề sau:
+ Nêu những nét chính về tác giả Nguyễn Quang Sáng
+ Tác phẩm được sáng tác năm nào? Hoàn cảnh đất nước ta thời bấy giờ?+ Hãy tóm tắt nội dung chính của tác phẩm
Kết quả: Học sinh nắm được những nét chính về tác giả, hoàn cảnh sáng tác
của tác phẩm và hoàn cảnh chung của lịch sử nước ta năm 1966, nắm được nội
dung chính của truyện thông qua việc tóm tắt tác phẩm Qua đó hình thành kĩ năng giao tiếp, thể hiện sự tự tin cho học sinh.
- Giáo viên sử dụng kĩ thuật thảo luận chung, suy nghĩ, phát biểu vào vấn
đề sau: + Cho biết tác phẩm viết về đề tài gì?
+ Hãy xác định tình huống truyện và cho biết tình huống nào bộc lộ tình cảmcủa từng nhân vật nhất?
+ Hãy nêu phương thức biểu đạt chính Em có suy nghĩ gì về việc sử dụng ngôi kể và người kể chuyện trong tác phẩm?
Kết quả: Bước đầu học sinh xác định được đề tài chính của tác phẩm là tình
cảm gia đình, xác định được những tình huống truyện quan trọng trong việc bộc
lộ tình cảm của nhân vật, thấy được tác dụng của ngôi kể và vai trò của người kể
chuyện trong việc thể hiện nội dung tác phẩm Qua đó hình thành kĩ năng nhận thức, tìm kiếm sự hỗ trợ, suy nghĩ sáng tạo cho học sinh.
- Ở phần Phân tích
Mục đích ở phần này là cung cấp kiến thức chính và trọng tâm nhất cho học sinh.
Cụ thể là phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Giáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp - kĩ thuật dạy học và hình thành nhiều kĩ năng sống cho học sinh.
Trang 12Ví dụ: Tiết 126: Mây và sóng Khi phân tích nội dung 3 Trò chơi của em
bé Tôi đã sử dụng kĩ thuật động não, thảo luận nhóm, tranh luận để học sinh
giải quyết vấn đề sau: Ý nghĩa trong trò chơi của em bé với mẹ.
- Giáo viên đưa câu hỏi gợi ý:
+ Khước từ lời gọi mời của mây và sóng em bé đã nghĩ ra trò chơi giữa em
và mẹ Hãy kể và tả lại trò chơi ấy Từ đó em có nhận xét gì về trò chơi của em?+ Trong đó những từ ngữ nào thể hiện được tình yêu giữa mẹ và em?
+ Vì sao em bé lại ví mình là mây, sóng còn mẹ là trăng và bến bờ? Các hình ảnh thiên nhiên đó gợi cho em điều gì?
+ Đặc biệt từ các hình ảnh thiên nhiên và câu cuối: “Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào?” mang ý nghĩa gì?
- GV sử dụng kĩ thuật trình bày 1 phút yêu cầu học sinh nêu cảm nhận
chung về trò chơi của em bé Và cho biết bài thơ ca ngợi điều gì?
Kết quả thảo luận:
+ Trò chơi của em bé và mẹ: con: mây – mẹ: trăng; con: sóng – mẹ: bến bờ
=> Rất hấp dẫn: có mẹ và em, có cả mây và sóng, trăng và bến bờ
- Từ ngữ:
+ Ôm: sự trìu mến, yêu thương
+ Lăn, lăn : sự thích thú, niềm sung sướng vô bờ của trẻ thơ khi được ùa vào lòng mẹ
- Hình ảnh thiên nhiên:
+ Trăng: sự dịu hiền của mẹ; Bờ: sự bao dung, tấm lòng rộng mở của người mẹ.
+ Mây và sóng: em bé thích vui chơi, nô đùa, chạy nhảy
=> Trò chơi của em hoà quyện với thiên nhiên và thấm đẫm tình mẹ con.( Mẹ là thế giới để con khám phá, niềm hạnh phúc ấy không có bến bờ vànếu có, nó cũng bí ẩn như bến bờ đại dương Em bé giống như con sóng ngụplặn trong tiếng cười, trong niềm vui bất tận)
=> Tình mẫu tử đã nâng lên kích cỡ vũ trụ và có mặt ở khắp mọi nơi, không
gì có thể chia cắt => Ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt
Kết quả: Học sinh nắm được sự sáng tạo của em bé, cảm nhận được tình
yêu của em dành cho mẹ và mẹ dành cho em Tình yêu đó không biên giới vàmãi vĩnh hằng trong trên thế gian Qua đó hình thành cho học sinh những kĩ
năng như kĩ năng giao tiếp, tìm kiếm sự hỗ trợ, suy nghĩ sáng tạo, tự nhận thức
về giá trị và niềm hạnh phúc vô bờ của tình yêu.
- Nhờ bước kết nối này tôi vừa giúp các em hình thành, xâu chuỗi kiếnthức về nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa của tác phẩm Vừa có thể lồng ghép cácbài học về kĩ năng sống giúp các em hiểu được từ nội dung, nghệ thuật, ý nghĩacủa mỗi tác phẩm đã dạy cho em bài học gì trong cách ứng xử của cuộc sống
Trang 13Khác với phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn có bài tập cụ thể ở phầnThực hành – Luyện tập thì ở phân môn Văn phần Thực hành – Luyện tập thườngkhông có bài tập cụ thể, do đó giáo viên thường phải chuẩn bị thêm hệ thống câuhỏi luyện tập trong bài dạy của mình nhằm mục đích củng cố, khắc ghi và mởrộng thêm kiến thức cho học sinh.
* Ở bước này, học sinh có thể làm việc theo nhóm, cặp hoặc cá nhân đểhoàn thành nhiệm vụ Tuỳ vào yêu cầu của mỗi bài tập mà giáo viên đưa raphương pháp dạy học tích cực sao cho phù hợp với đối tượng học sinh Bài tập
dễ thì nâng cao vai trò hoạt động của cá nhân; bài tập khó, khái quát thì yêu cầuhọc sinh hoạt động theo nhóm/ tổ Hoạt động này vừa huy động được tinh thần
tập thể vừa giúp mỗi thành viên hình thành các kĩ năng sống như: Kĩ năng hoạt động nhóm, kĩ năng đảm nhận trách nhiệm, kĩ năng kiên định.
Cũng từ mục đích và quá trình thực hiện trên có thể triển khai ở bướcThực hành - Luyện tập này một số phương pháp - kĩ thuật dạy học tích cực như
sau: Trình bày 1 phút, thảo luận nhóm, tranh luận, hoàn tất một nhiệm vụ, suy nghĩ, cặp đôi chia sẻ
Ví dụ: Tiết 75, 76: Chiếc lược ngà Sau khi học xong tác phẩm, tôi đã dùng kĩ thuật động não, suy nghĩ, trình bày một phút để tìm hiểu vấn đề sau: Suy
nghĩ của em về ý nghĩa hình ảnh chiếc lược ngà trong tác phẩm.
Từ việc trình bày của mình, học sinh sẽ cảm nhận được tình cảm cha conông Sáu, sức mạnh của tình cha con thể hiện thông qua chiếc lược ngà Thông điệp
mà tác phẩm đưa đến cho người đọc là chiến tranh có thể huy diệt tất cả nhưngkhông thể huy diệt được tình cảm của con người – cụ thể là tình cảm gia đình Từ
đó giáo dục các em sự trân trọng tình cảm gia đình, phê phán lên án chiến tranh
* Như vậy, qua bước thực hành - luyện tập giáo viên đã áp dụng được nhiềuphuơng pháp - kĩ thuật dạy học tích cực Từ đó học sinh vừa có thể thực hành -luyện tập để củng cố, khắc sâu các đơn vị kiến thức đã học, vừa có thể tự rènluyện, tự nhận thức ra một số kĩ năng sống cơ bản mà trước đây ít khi được đưavào phần này Nhờ đó giúp học sinh liên hệ giải quyết những vấn đề còn tồn tạicủa bản thân, của cuộc sống
d Bước vận dụng.
* Với đặc trưng của bài dạy Văn thì bước này thường không có trong sáchgiáo khoa Thế nhưng để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thì giáo viên cầnhướng dẫn học sinh thêm phần này Thật ra ở bước này giáo viên thường làm hai
nhiệm cụ: Củng cố và giao nhiệm vụ làm bài tập ở nhà cho học sinh với mục
đích tạo cơ hội cho học sinh tích hợp mở rộng và vận dụng kiến thức, kĩ năng cóđược vào các tình huống, bối cảnh mới
Có nghĩa là sau khi hình thành kiến thức, kĩ năng mới học sinh được Thựchành - Luyện tập trên lớp để khắc sâu kiến thức, kĩ năng ấy Từ đó học sinh đượcgiáo viên hướng dẫn tự vận dụng để giải quyết các vấn đề xảy ra trong cuộcsống và có thể tích hợp với các tiết học Tập làm văn, Tiếng Việt Hình thành,xâu chuỗi kiến thức, kĩ năng theo một hệ thống Rèn luyện cho học sinh kĩ năng
tự giải quyết vấn đề, kĩ năng tự trình bày vấn đề