1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam tại 43 tỉnh thành (SAVI) năm 2003 - Bộ Y tế _phần 1 chương 1

6 748 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều Tra Quốc Gia Về Vị Thành Niên Và Thanh Niên Việt Nam Tại 43 Tỉnh Thành (SAVI) Năm 2003
Trường học Bộ Y tế
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2003
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc điều tra quốc gia vị thành niên và thanh niên việt nam năm 2003 được Bộ Y Tế và Tổng Cục Thống Kê thực hiện vơi sự giúp đỡ về kỹ thuật và tài chính của Tổ Chức Y Tế Thế Giới ( WHO) và Q

Trang 1

Chương 1

Giới thiệu khái quát

Cuộc điều tra quốc gia về

Vị thành niên và Thanh

niên Việt Nam (SAVY)

Đây là báo cáo của cuộc Điều tra Quốc gia về Vị

thành niên và Thanh niên Việt Nam (SAVY), đánh

dấu một bước ngoặt trong công tác phát triển đối

với vị thành niên và thanh niên ở Việt Nam Kết

quả cuộc điều tra chọn mẫu quốc gia lần đầu tiên

này nhằm cung cấp thông tin cho các sáng kiến

chương trình trong tương lai để thúc đẩy sự phát

triển của thanh thiếu niên trên cả nước, không chỉ

trong lĩnh vực sức khỏe mà các lĩnh vực khác như

giáo dục, việc làm, văn hóa thông tin và vai trò

của gia đình

Theo kết quả điều tra SAVY, đa số thanh thiếu

niên Việt Nam chăm chỉ, siêng năng, có mối quan

hệ mật thiết với gia đình, lạc quan về tương lai và

nhìn chung hài lòng với công việc hiện tại của họ

Thanh thiếu niên phấn khởi về việc học hành và

trường lớp đồng thời cảm thấy được đối xử công

bằng Rất ít cá nhân tham gia vào các hành vi có

hại hoặc không phù hợp với thuần phong mỹ tục

Đa số không ủng hộ quan hệ tình dục sớm, mà có

thái độ cam kết mang tính bền vững, yêu và tiến

tới hôn nhân trước khi có quan hệ tình dục Tuy

nhiên có những khác biệt về giới, trong đó nam

thường tham gia vào các hành vi có hại cho sức

khỏe như hút thuốc, uống rượu, quan hệ tình dục không an toàn, đua xe hoặc các hành vi bạo lực Một số ít nhưng khá quan trọng có nguy cơ bỏ học sớm do tình trạng khó khăn về kinh tế và những sức ép khác của quá trình phát triển Môi trường gia đình có một vai trò quan trọng trong việc định hình các hành vi và lối sống của thanh thiếu niên, mang lại cho họ những cơ hội và đáp ứng nhu cầu của họ như: cải thiện hoàn cảnh kinh tế, sự hài hòa gia đình, sự cởi mở trao đổi những vấn đề như dậy thì, tình bạn, tình yêu và HIV/AIDS Cha mẹ cũng có thể là những mẫu hình tích cực hoặc tiêu cực đối với giới trẻ

Những kiến nghị đề xuất của báo cáo này bao gồm các chiến lược xây dựng môi trường thân thiện mang tính hỗ trợ cho thanh thiếu niên, đồng thời củng cố những hành vi tích cực về mặt sức khỏe và xã hội của họ, thúc đẩy nghị lực và tính tích cực lạc quan hướng về tương lai SAVY là kết quả của một quá trình phối hợp với sự tham gia của nhiều cơ quan, ban ngành, sự đóng góp đáng kể của hàng ngàn thanh thiếu niên trên toàn quốc Kết quả SAVY được thể hiện trong báo cáo này cần được xem như là sự khởi đầu hơn là sự kết thúc Nó khởi đầu một quá trình còn đang tiếp diễn nhằm theo dõi hoàn cảnh kinh tế, xã hội của thanh thiếu niên đang được cải thiện theo thời gian

SAVY là một công trình nghiên cứu cấp quốc gia đầu tiên về thanh thiếu niên được tiến hành ở Việt Nam nhằm cung cấp thông tin để xây dựng những chương trình giúp thanh thiếu niên trên toàn quốc phát triển một cách toàn diện

Phần I

Giới thiệu và Phương pháp

Trang 2

1.1 Giới thiệu khái quát về Việt

Nam

Việt Nam có diện tích tự nhiên là 331.000 km2 với

3/4 là đồi núi và cao nguyên Hơn 40% dân số cả

nước sống ở Châu thổ Đồng bằng sông Hồng và

sông Cửu Long

Việt Nam là quốc gia gồm hơn 54 dân tộc, trong

đó đa số là người Kinh (chiếm 86%), có 4 dân tộc

có trên 1 triệu dân là Tày, Thái, Mường, Kh’me

(Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 1999) Tiếng

Việt là ngôn ngữ chính thức Năm 2003 dân số Việt

Nam là 80,6 triệu người, thuộc nhóm 14 nước đông

dân nhất trên thế giới Đa số dân số sống ở khu

vực nông thôn và làm nông nghiệp (hơn 75%) Tốc

độ tăng dân số bình quân hàng năm từ 1989-1999

là 1,64%/năm

Các tôn giáo chính1: Phật giáo (7,1 triệu tín đồ),

tiếp đó là Công giáo (5,1 triệu tín đồ), Hòa hảo

(1,2 triệu tín đồ), Cao đài (0,9 triệu tín đồ), Tin

lành (0,4 triệu tín đồ) Người Việt Nam chịu nhiều

ảnh hưởng của Khổng giáo và Lão giáo

Bước vào thập niên 90, Việt Nam đã có những

bước chuyển biến tích cực và toàn diện về kinh

tế-xã hội, kết quả của những thành công trong công

cuộc đổi mới được tiến hành từ năm 1986 Tốc độ

tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt

7-7,2% giai đoạn 2000-2003 Từ năm 1990 đến 1999,

GDP tăng lên gấp đôi2, hiện nay đã đạt hơn 400

USD

Mặc dù đã có những thành tựu đáng kể về kinh tế

và xóa đói giảm nghèo nhưng Việt Nam hiện tại

vẫn là một nước nghèo Tỷ lệ hộ nghèo đến nay

vẫn ở mức cao (28,8% năm 2002) Quan điểm của

Việt Nam là không tách rời giữa phát triển kinh tế

với công bằng xã hội Công cuộc xóa đói giảm

nghèo được coi trọng, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn quốc tế liên tục giảm nhanh Từ một nước có tới 58% hộ nghèo năm 1993, giảm xuống còn 37,4% năm 1998 và ở mức 28,8% năm 2002 Những chỉ số xã hội và sức khỏe của Việt Nam có thể so sánh được với nhiều nước có điều kiện kinh tế khá hơn Chỉ số phát triển con người HDI là 0,688, tỷ lệ biết chữ ở người lớn năm 2002 là 94,3%3, tuổi thọ bình quân là 68,8 năm 2003

Do đặc điểm địa lý nằm trải dài từ Bắc xuống Nam, địa hình đồi núi gãy khúc nên việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng tốn kém, hiệu quả thấp Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu tạo nên sự bất bình đẳng về kinh tế và xã hội giữa các vùng, đặc biệt là giữa dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh Nhận thức được điều này, trong nhiều năm qua Nhà nước Việt Nam đang thực hiện nhiều chương trình mục tiêu nhằm ưu tiên cho phát triển kinh tế-xã hội miền núi như chương trình 135, 143, v.v

Tuy nhiên, cùng với những thành tựu không thể phủ nhận trong một thập niên qua về phát triển kinh tế - xã hội, chính sách hội nhập, mở cửa cũng làm gia tăng và phát sinh những thách thức mới, các vấn đề xã hội như ma túy, mại dâm, vấn đề lây nhiễm HIV/AIDS, tình trạng di dân, tai nạn giao thông, bạo lực trong gia đình và tình trạng gia đình tan vỡ, tính cá nhân hóa ngày càng tăng trong thị trường cạnh tranh…

1.2 Thanh thiếu niên Việt Nam

Sự phát triển của thanh thiếu niên luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, thanh thiếu niên ở độ tuổi 14-25 là nhóm đông nhất (chiếm 24,5% dân số - theo số liệu Tổng điều tra dân số 1999) Vì thanh thiếu niên có tiềm năng to lớn quyết định sự lớn mạnh và thịnh vượng của đất nước nên việc nắm được những vấn đề cốt lõi trong sự phát triển của họ là hết sức quan trọng Mặc dù vị thành niên và thanh niên trên toàn thế giới đều trải qua quá trình phát triển với những đặc điểm chung, nhưng ở mỗi quốc gia, giai đoạn này mang một số đặc trưng văn hóa nhất định Tại Việt Nam, vị thành niên là một hiện tương tương đối mới mẻ đang nhận được nhiều sự quan tâm do đây là độ tuổi thường gắn liền với sự phát triển trí

Trang 3

tuệ, khả năng và tính tự chủ, người ta thường quan

niệm thanh niên và vị thành niên vẫn cần được

người lớn định hướng, uốn nắn để theo dõi hành

vi của họ

Tuy vậy, quan niệm về vị thành niên ở Việt Nam

cũng đang dần thay đổi Thanh thiếu niên ngày

càng khẳng định vai trò và bản sắc của mình cùng

với quá trình đổi mới về kinh tế xã hội không

ngừng ở Việt Nam cũng như xu hướng toàn cầu

hóa Tuổi vị thành niên là một hiện tượng xã hội

đang phát triển cùng với xu thế kinh tế thời đại:

giới trẻ đang hòa mình vào thời đại mà xu thế

người ta đi du lịch ngày càng nhiều, tính lưu động

của dân cư cao, mức sống được nâng lên, một xã

hội mà việc giáo dục ngày càng được đánh giá cao

và cơ hội việc làm trở nên khó khăn hơn Tất cả

những sự vận động này đã và đang định hình môi

trường phát triển của thanh thiếu niên

1.3 Điều tra về vị thành niên và

thanh niên Việt Nam (SAVY)

Cuộc Điều tra SAVY được tiến hành nhằm mục

đích:

z Cung cấp thông tin để làm cơ sở cho các sáng

kiến trong tương lai để thúc đẩy sự phát triển

lành mạnh của thanh thiếu niên trên cả nước

z Làm cơ sở cho quá trình phát triển chính sách

và chương trình để hỗ trợ thanh thiếu niên

z Cung cấp dữ liệu nền về thanh thiếu niên để

xác định xu hướng phát triển trong những

năm sắp tới

Cuộc điều tra SAVY là một quá trình phối hợp giữa

nhiều cơ quan, tổ chức và thanh thiếu niên để xây

dựng cơ sở dữ liệu và thông tin về vị thành niên

và thanh niên đồng thời góp phần vận động nâng

cao sự hỗ trợ cho thanh thiếu niên Đây là kết quả

của một quá trình đầu tư thích đáng và cộng tác

chặt chẽ giữa chính phủ Việt Nam thông qua Bộ Y

tế, Tổng cục Thống kê với các tổ chức Liên hợp

quốc gồm Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ

Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), đồng thời có sự

hỗ trợ của các bộ ngành như: Bộ Giáo dục và Đào

tạo, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ

Chí Minh và Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt

Nam Trung tâm Đông-Tây Honolulu, Hawaii phụ

trách hỗ trợ kỹ thuật để đảm bảo chất lượng về

phương pháp nghiên cứu Trước cuộc điều tra này

cũng đã có nhiều thông tin về thanh thiếu niên Việt Nam qua các nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, những thông tin đó chưa đủ tính đại diện để có thể xây dựng những chương trình dựa trên một cơ sở dữ liệu toàn diện Các chương trình can thiệp và dịch vụ cho vị thành niên và thanh niên phần lớn vẫn chưa được thực hiện đầy đủ và đồng đều do thiếu những căn cứ khoa học xác đáng Nghị quyết 4 của Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VII về công tác thanh niên trong thời kỳ mới đã khẳng định: “Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”

Trong Chiến lược Phát triển Thanh niên Việt Nam đến năm 2010 4, Chính phủ cũng đã xác định: Việc làm, phòng chống HIV/AIDS và ma túy là những vấn đề mà thanh niên phải đối mặt Kết quả SAVY cho thấy thanh thiếu niên cũng quan tâm đến nhiều vấn đề khác SAVY cung cấp thông tin cơ bản để giúp hiểu được cuộc sống và các hoạt động của giới trẻ như việc học hành, cuộc sống lao động, nhận thức và hiểu biết về HIV/AIDS, vấn đề tiếp xúc và sử dụng ma túy, sức khỏe, tai nạn thương tích và bạo lực, tiếp cận phương tiện thông tin đại chúng, thái độ và hành vi, quan hệ với bạn bè, gia đình và hoài bão về tương lai

1.4 Xác định đối tượng vị thành niên và thanh niên nghiên cứu

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), “vị thành niên” được định nghĩa là thời kỳ trong độ tuổi 10-19,

“thanh niên” là nhóm tuổi từ 15-24 và khái niệm

“thanh thiếu niên” ở đây được hiểu kết hợp trong độ tuổi 10-245 Tuy nhiên đối tượng của điều tra

Trang 4

này là vị thành niên và thanh niên trong độ tuổi

14-25 vì những lý do sau: Đây là nhóm có thể đại

diện trung thực nhất cho thanh thiếu niên Việt

Nam hiện nay Đây cũng là nhóm tuổi phù hợp

nhất để có thể tiến hành điều tra (vì vị thành niên

tuổi 14 trở lên có thể được xem là tương đối lớn

để trả lời một số câu hỏi nhạy cảm được thiết kế

trong phiếu hỏi mà không phải có sự có mặt của

cha mẹ như thiết kế của điều tra này) Trong báo

cáo này, thuật ngữ thanh thiếu niên được dùng để

chỉ nhóm tuổi 14-25

Mặc dù nếu tìm hiểu về suy nghĩ và trải nghiệm

của nhóm tuổi 10-13 cũng sẽ mang lại một số giá

trị nhất định, nhưng đối với SAVY việc điều tra

nhóm tuổi 14-25 là phù hợp để tìm hiểu lứa tuổi vị

thành niên theo thực tế ở Việt Nam Ví dụ theo kết

quả SAVY, độ tuổi dậy thì trung bình ở nữ là 14,4,

so với ở Hoa Kỳ là 12,56 Tương tự, sự phát triển

về xã hội và tình cảm của thanh thiếu niên Việt

Nam cũng tương đối chậm hơn so với các nước

phương Tây: chỉ có 33% nam thanh niên thành thị

độ tuổi 22-25 cho biết có quan hệ tình dục thì tỷ

lệ này là hơn 90% nam thanh niên độ tuổi 20-24 ở

Anh7

Thanh thiếu niên trong cuộc điều tra bao gồm các

lứa tuổi khác nhau nên kết quả của SAVY được

phân tích và trình bày theo 3 nhóm tuổi (14-17,

18-21, và 22-25) để dễ dàng so sánh các thay đổi về

mặt sinh lý và xã hội đặc thù ở các lứa tuổi này

Ví dụ hầu hết thanh thiếu niên đã trải qua quá

trình dậy thì ở độ tuổi 14-17, và tuổi trung bình bắt

đầu hút thuốc, uống rượu ở thanh thiếu niên là

dưới 17 tuổi Tuy nhiên, tuổi trung bình quan hệ

tình dục lần đầu tiên xấp xỉ 20 tuổi Lập gia đình

chủ yếu ở nhóm tuổi 22-25 Nếu cuộc điều tra

SAVY không nghiên cứu nhóm tuổi 22-25 thì khó

có thể có được nhiều thông tin về hôn nhân và gia

đình của giới trẻ Việt Nam

1.5 Mô hình yếu tố nguy cơ và yếu tố

bảo vệ

Vị thành niên thường được xem là lứa tuổi đang

kiếm tìm lời giải đáp cho câu hỏi “Tôi là ai? ”8

Trên chặng đường xác định bản sắc cho riêng

mình và quá độ thành người trưởng thành, vị thành

niên phải nỗ lực xây dựng và củng cố một hệ

thống giá trị, trở nên độc lập hơn và trải qua hàng

loạt những thay đổi về thể chất, tinh thần và xã

hội9 Đây cũng là giai đoạn mà thanh thiếu niên thường tò mò và thử những hành vi tương đối nguy hại Tuy hầu hết vị thành niên bước qua giai đoạn chuyển đổi mà không gặp trở ngại khó khăn

gì, nhưng cũng có một số thanh thiếu niên tham dự vào những hành vi và hoạt động gây tổn hại đến sức khỏe Nhiều chương trình trên thế giới đang nỗ lực phòng ngừa những hành vi nguy hiểm của giới trẻ bằng cách vận dụng mô hình yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ Mô hình đó là giảm những yếu tố được biết là có tác động tiềm tàng làm tăng các hành vi “có vấn đề” (các yếu tố nguy cơ), đồng thời nhấn mạnh vào các yếu tố giúp thúc đẩy sự vững vàng, nghị lực, khả năng của tuổi trẻ đối phó với các giai đoạn khó khăn của mình (các yếu tố bảo vệ)10

Nghiên cứu thanh thiếu niên trong khung cảnh gia đình là một lăng kính hữu ích nhằm đánh giá giá trị của mô hình yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ SAVY đã cho thấy hầu hết thanh thiếu niên dù đang ở trong tình trạng khó khăn, vẫn gắn bó với gia đình, sẵn sàng nỗ lực làm việc cho gia đình, tôn trọng gia đình và ước mong có một gia đình của riêng mình Tất cả những điều này chính là những yếu tố bảo vệ chủ đạo, sẽ nâng cao tính tự chủ, củng cố lòng tự trọng, sự vững vàng và nghị lực của thanh thiếu niên Bên cạnh đó, có một số

vị thành niên không có quan hệ gắn bó với gia đình, đó là một nguy cơ tiềm tàng cho sức khỏe thể chất và tinh thần của họ

Báo cáo này phân tích kết quả SAVY trên mô hình yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ Kết quả SAVY cho thấy thanh thiếu niên Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức như tai nạn giao thông, thuốc lá, rượu, bia, hoạt động tình dục không an toàn, bạo lực giữa các cá nhân và các vấn đề sức khỏe tâm thần Đồng thời SAVY cũng xác định được những tác động mang tính bảo vệ có thể giảm thiểu nguy cơ mà thanh thiếu niên phải đối mặt, chẳng hạn như hỗ trợ tích cực từ bạn bè, gia đình và cộng đồng Để áp dụng mô hình này vào việc lập chương trình và xây dựng chính sách, cần phải tập trung vào các chiến lược dự phòng để giảm thiểu những yếu tố nguy cơ và khuyến khích phát triển các yếu tố bảo vệ đã được chứng minh Cần lưu ý có một số nhóm thanh thiếu niên sống trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương, như các nhóm sống trong hoàn cảnh nghèo, chưa bao giờ đến trường hoặc bỏ học, nhóm các dân tộc thiểu số và

Trang 5

có thể là nhóm ở vùng sâu vùng xa Các nghiên

cứu khác có tập trung vào trẻ em đường phố, trẻ

em bị xâm hại và lạm dụng, trẻ hành nghề mại

dâm và nhóm thanh thiếu niên nghiện ma túy và

các chất kích thích Tuy nhiên, cuộc điều tra SAVY

chưa bao gồm các nhóm này

1.6 Điểm qua những vấn đề ưu tiên

Số liệu SAVY nhấn mạnh một số lĩnh vực cần can

thiệp nhằm tăng cường những yếu tố mang tính

bảo vệ đồng thời góp phần cải thiện cuộc sống

của giới trẻ:

z Thúc đẩy các hành vi tích cực của thanh

thiếu niên: Những kết quả tương đối tích cực

trong điều tra SAVY cho thấy cần ghi nhận

một cách đầy đủ đồng thời triển khai các

chiến lược nhằm duy trì và thúc đẩy những

hành vi, thái độ tích cực, hợp lý và an toàn

Tập trung củng cố hành vi không hút thuốc ở

phụ nữ, khuyến khích tính chung thủy trong

hôn nhân gia đình, tiếp tục tạo điều kiện để

thắt chặt mối quan hệ gia đình và giúp cho

giới trẻ có tiếng nói và được lắng nghe

Những phương thức vẫn được vận dụng từ

trước đến nay nói chung chưa thực sự hấp

dẫn Tuy nhiên, với thế mạnh của các yếu tố

bảo vệ (giáo dục, gia đình và tình bạn), thì

cách tiếp cận tăng cường các yếu tố này cần

phải là lĩnh vực ưu tiên trong tương lai

z Đói nghèo và việc làm: Tập trung vào việc

tăng các cơ hội việc làm và nghề nghiệp cho

thanh niên ngay tại địa phương có thể góp

phần giảm số hộ nghèo, giảm nhu cầu di dân

và các nguy cơ liên quan đến việc rời bỏ quê

hương đối với nam thanh niên và gia đình

của họ Ước tính mỗi năm cần 1,4 triệu việc

làm mới để đáp ứng nhu cầu lao động của

người dân và tốc độ tăng trưởng dân số trẻ

Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn

đang là mối quan tâm hàng đầu của giới trẻ

z Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số: SAVY

cho thấy thanh niên dân tộc thiểu số, đặc biệt

là nữ thanh thiếu niên còn nhiều thiệt thòi

đối với các vấn đề từ học hành và hướng

nghiệp đến việc tiếp cận với các nguồn thông

tin nhất là về sức khỏe sinh sản và HIV/AIDS

z HIV/AIDS: Trên thế giới 50% trường hợp

nhiễm mới là thanh thiếu niên và 40% người

nhiễm HIV/AIDS trong độ tuổi 15 - 2411 Ở

Việt Nam, 62% trường hợp nhiễm mới là ở thanh niên độ tuổi 20-29 Kết quả SAVY cho thấy thanh thiếu niên có những ý kiến khác nhau xoay quanh các chủ đề liên quan đến sự lây lan của HIV/AIDS, bao gồm: tình dục trước hôn nhân, sử dụng bao cao su và đối xử đúng mực với người nhiễm HIV/AIDS Cũng cần ghi nhận rằng những định kiến xã hội thường hạn chế thảo luận công khai những vấn đề nhạy cảm và tế nhị này Tuy vậy, thanh thiếu niên cũng cần được tạo cơ hội để tự tìm hiểu các phương án an toàn và những lựa chọn có ý thức trách nhiệm cho tương lai của mình Cách hữu hiệu để ngăn chặn sự lây lan của đại dịch HIV/AIDS11 chính là phải tập trung các nỗ lực phòng chống cho những đối tượng thanh thiếu niên có nguy cơ cao nhất như thanh thiếu niên sử dụng ma túy, mại dâm

z Giới: Vấn đề giới có vẻ như là yếu tố làm

giảm, trung hòa một số nguy cơ ở thanh thiếu niên: So với các bạn nam, thanh thiếu niên nữ rất ít khi vướng vào các chất gây nghiện và có xu hướng tâm sự với gia đình nhiều hơn Tuy vậy, nữ lại kém lạc quan hơn nam về bản thân và tương lai Thúc đẩy bình đẳng giới ở trường học có thể giúp nữ thanh thiếu niên tiếp cận với cơ hội công bằng về việc làm, thu nhập và tài chính; tăng cường cơ hội học hành cho nữ thanh thiếu niên và tiếp cận với các dịch vụ thông qua chương trình giáo dục kỹ năng sống và các dịch vụ y tế thân thiện sẽ nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản; kiến thức này thực sự hữu ích góp phần giảm tử vong bà mẹ, thúc đẩy vai trò của nữ giới trong kế hoạch hóa gia đình

1.7 Cấu trúc báo cáo SAVY

Báo cáo này là báo cáo đầu tiên của nhiều báo cáo kết quả SAVY Các thông tin mô tả được trình bày

ở Phần II - Kết quả điều tra, tập trung vào các vấn đề có liên quan đến vị thành niên và thanh niên Mỗi chủ đề được trình bày bằng các số liệu thu thập và phân tích theo nhóm tuổi, giới, thành thị, nông thôn, dân tộc với các nội dung phù hợp có phân tích theo nhóm đã lập gia đình và chưa lập gia đình Nhìn chung ở các chương, số liệu được trình bày cùng với phần thảo luận và phân tích ngắn Khi không có khác biệt đáng kể giữa các nhóm, báo cáo cũng sẽ không nêu rõ từng nhóm

Trang 6

Ở một số phần, có lưu ý thiếu thông tin về giới

hoặc nhóm tuổi Phần phân tích theo nhóm dân tộc

thiểu số tính chung các dân tộc (tỷ lệ thanh thiếu

niên dân tộc thiểu số chiếm 15% trên toàn mẫu

điều tra) Mặc dù việc phân tích chung các nhóm

dân tộc thiểu số như vậy chưa phản ánh hết sự

khác biệt giữa các nhóm, tuy nhiên việc phân tích

chi tiết hơn là không khả thi trong điều tra này, và

có thể có các nhóm quá ít số quan sát nên khó

phân tích Trong quá trình phân tích, có phát hiện

các mối liên hệ giữa các vấn đề Sau các chương

phân tích theo từng chủ đề là một chương ngắn tìm

hiểu mối tương quan giữa các yếu tố nguy cơ và

việc gia tăng các hành vi nguy cơ, cũng như tác

động của các yếu tố mang tính bảo vệ đối với việc

làm giảm các hành vi nguy cơ Báo cáo này có đưa

ra một số lập luận giải thích cho các kết quả nhưng

có thể cũng còn các cách giải thích có giá trị khác,

vì vậy thông tin trong báo cáo này hoàn toàn mở

để tranh luận và xem xét kỹ lưỡng thêm

Tiếp theo báo cáo này là 10 báo cáo chuyên đề

liên quan đến sự phát triển của thanh thiếu niên

(HIV/AIDS, sức khỏe sinh sản, giới, việc làm, gia

đình và văn hóa, giáo dục, lạm dụng chất gây

nghiện, tai nạn thương tích, bạo lực, dịch vụ chăm

sóc sức khỏe ), nhằm tìm hiểu sâu những vấn đề

đằng sau các con số và để có thêm phân tích về

chính sách, thống kê sâu rộng hơn Các báo cáo

này sẽ cho phép xây dựng những chính sách và

chương trình dựa trên cơ sở thông tin đầy đủ Hơn

nữa, kết quả SAVY giúp xây dựng một cơ sở dữ liệu cho Việt Nam qua đó xác định được các xu hướng và mô hình can thiệp trong những năm tới, đồng thời cung cấp thông tin, đẩy mạnh các chính sách và chương trình trong tương lai

1 Số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 Báo cáo toàn văn, Nhà xuất bản Thống kê 2001.

2 Tính theo tỷ giá qui đổi trực tiếp từ tiền Việt ra đô-la Mỹ thì GDP bình quân đầu người năm 1990 khoảng 102 USD và năm 1999 là 374 USD.

3 Số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2002 (VHLSS 2002) Nhà xuất bản thống kê 2004.

4 Chiến lược Phát triển Thanh niên Việt Nam đến năm 2010

do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 2003.

5 Tổ chức Y tế Thế giới (1998): “Thập niên thứ hai của cuộc đời: Nâng cao sức khỏe và sự phát triển của vị thành niên”, Bộ Sức khỏe trẻ em và Vị thành niên”

6 Anderson, S.E., Dallal, G.E., & Must, A (2003) Ảnh hưởng của trọng lượng, dân tộc vào độ tuổi trung bình có kinh lần đầu: Kết quả của 2 khảo sát đại diện quốc gia ở nữ, nghiên cứu trong khoảng thời gian cách nhau 25 năm Tạp chí chuyên đề Nhi khoa, 111(4): 844-850

7 Singh, S., Wulf, D., Samara, R., & Cuca, Y.P (2000) Khác biệt giới về thời điểm quan hệ tình dục đầu tiên: Số liệu ở

14 nước Quan điểm quốc tế về Kế hoạch hoá Gia đình, 26(1): 21-28 & 43.

8 Steinberg, L (2002) Preface In L Steinberg, Tạp chí Vị thành niên (số 6) New York: McGraw Hill, pp xiv-xviii.

9 UNICEF (2002) Vị thành niên: Giai đoạn quan trọng của cuộc đời New York.

10 Blum, R.W.M Phát triển thanh niên lành mạnh - mô hình xúc tiến tăng cường sức khỏe thanh niên Tạp chí Sức khỏe

vị thành niên, (1998) 22: 368-375

11 Uỷ ban quốc gia phòng chống HIV, ma túy mại dâm (2004) Chiến lược Quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn tới 2020 Hà Nội 2004.

Ngày đăng: 29/10/2012, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm