Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp cầnphải có công tác hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu sản xuất một cách chi tiết, rõ ràng, phù hợp với điều kiện kinh tế của doanh nghiệp.. Vìvậy doanh ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÁO CÁO TỔNG HỢP
BÀI THẢO LUẬN QUẢN TRỊ SẢN XUẤT
Đề tài thảo luận: Liên hệ công tác hoạch định nhu cầu nguyên
vật liệu tại một doanh nghiệp cụ thể
Giáo viên hướng dẫn : Trịnh Thị Nhuần
Thực hiện: Nhóm 6 - Lớp: H2006CEMG2911
HÀ NỘI – 2020
Trang 2BÀI THẢO LUẬN QUẢN TRỊ SẢN XUẤT
Giáo viên hướng dẫn: Trịnh Thị Nhuần
3 Long Thị Thùy Khái niệm, đặc điểm của NVL A
4 Nguyễn Thị Thu Thủy Yêu cầu, ý nghĩa của việc quản
5 Cao Thị Phương Thúy Viết lời mở đầu, đánh giá NVL A
6 Giáp Thị Thu Trang Thực trạng hoạch định nhu cầu A
7 Phan Thị Huyền Trang Yếu tố, phương pháp HĐNC A
8 Hà Hải Trang Giới thiệu chung về Vinamilk A
9 Vũ Thị Thùy Trang
(Nhóm trưởng)
Thực trạng NVL tại doanh nghiệp, tổng hợp word A
10 Nguyễn Thị Trinh Quy trình sản xuất A
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I Giới thiệu tổng quát 2
1 Khái niệm, đặc điểm của nguyên vật liệu 2
2 Yêu cầu và ý nghĩa của quản lý nguyên vật liệu 3
3 Hoạch định nhu cầu 5
3.1 Khái niệm của hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu 5
3.2 Mục tiêu của hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu 6
3.3 Các yếu tố cơ bản của hoạch địch nhu cầu nguyên vật liệu 7
3.4 Phương pháp hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu 10
II.Thực trạng hoạch định nhu cầu tại doanh nghiệp Vinamilk 14
1 Giới thiệu chung 14
2 Thực trạng nguyên vật liệu 18
2.1 Đặc điểm 18
2.2 Phân loại và đánh giá 18
3 Quy trình sản xuất 20
4 Thực trạng hoạch định nhu cầu 24
5 Giải pháp hoàn thiện công tác hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu tại doanh nghiệp Vinamilk 29
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thị trường ngày càng mởrộng thì tính cạnh tranh của nền kinh tế cũng ngày một tăng Đối với bất kỳmột doanh nghiệp nào trong nền kinh tế, yếu tố cạnh tranh là một yếu tố mangtính quyết định đến vị trí của doanh nghiệp trong ngành đặc biệt là đối vớidoanh nghiệp sản xuất Để có thể trở thành nhà cung ứng hàng hóa mang lại lợinhuận cho doanh nghiệp, các doanh nghiệp sản xuất không chỉ đơn giản là tìmkiếm khách hàng hay tùy ý sản xuất một số lượng hàng hóa nhất định Việc xácđịnh rõ ràng nhu cầu nguyên vật liệu cần thiết cho việc sản xuất, doanh nghiệpkhông chỉ thuận lợi trong việc sản xuất mà còn giúp doanh nghiệp tránh đượctổn thất với những chi phí không cần thiết Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp cầnphải có công tác hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu sản xuất một cách chi tiết,
rõ ràng, phù hợp với điều kiện kinh tế của doanh nghiệp Để làm rõ được vaitrò và tầm quan trọng của việc hoach định nhu cầu nguyên vật liệu sản xuất,thông qua nội dung lý thuyết xoay quanh công tác hoạch định nhu cầu nguyênvật liêu sản xuất Từ đó nhóm 6 đã tìm hiểu và thảo luận về đề tài: “ Liên hệcông tác hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu tại một doanh nghiệp cụ thể” Để
là rõ hơn về đề tài này nhóm 6 đã tìm hiểu về hoạch định nhu cầu nguyên vậtliệu tại công ty sản xuất sữa Vinamilk
Trang 5I Giới thiệu tổng quát
1 Khái niệm, đặc điểm của nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là những đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạngvật hoá như: sắt thép trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo, sợi trong doanhnghiệp dệt, da trong doanh nghiệp đóng giày, vải trong doanh nghiệp maymặc… Đối tượng lao động được coi là nguyên vật liệu khi có sự tác động củabàn tay con người vào đối tượng lao động và làm thay đổi tính chất hoá lý hoặctình trạng bên ngoài Nói cách khác, lao động có ích của con người tác độngvào các đối tượng lao động tạo ra Nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu mang những đặc điểm cơ bản sau:
NVL thường tham gia vào một chu kỳ sản xuất và tiêu hao toàn bộ hoặcthay đổi hình dạng vật chất ban đầu để tạo thành hình thái của sản phẩm
NVL là một loại hàng tồn kho được doanh nghiệp dự trữ với mục đíchphục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Mỗimột loại NVL nhất định lại gắn liền với một thời hạn bảo quản nhất định Vìvậy doanh nghiệp phải dựa vào đặc điểm này của NVL để có kế hoạch trongviệc thu mua, dự trữ và bảo quản NVL cũng như việc xuất NVL vào sản xuất.Những đặc điểm của nguyên vật liệu trên xuất phát điểm quan trọng chocông tác tổ chức hạch toán NVL từ khâu tính giá, hạch toán và hạch toán chitiết Đối với từng doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh mà NVL cóvai trò cụ thể Song nhìn chung, với vị trí là một trong ba yếu tố đầu vàokhông thể thiếu của quá trình sản xuất Việc sử dụng các loại Nguyên vật liệukhác nhau vào quá trình sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm
và do đó ảnh hưởng đến chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Đốivới doanh nghiệp sản xuất thì NVL có vai trò rất quan trọng, được thể hiện ởcác điểm sau:
Trang 6NVL là một trong ba yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất trong doanhnghiệp, là một trong các yếu tố tham gia hình thành nên chi phí sản xuất kinhdoanh, chi phí Nguyên vật liệu là một bộ phận của giá thành sản phẩm Từ đódoanh nghiệp có thể xác định kết quả kinh doanh cuối kỳ của doanh nghiệp.
NVL là một loại hàng tồn kho được dự trữ để đáp ứng cho nhu cầu củaquá trình sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp NVL là thành phần thuộc về vốnlưu động Giá trị Nguyên vật liệu trong kho cuối niên độ không chỉ là giá trịđược thể hiện trên báo cáo TC nà còn là chỉ tiêu để đánh giá khả năng hoạtđộng của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu “Vòng quay vốn lưu động” Nếu quátrình thu mua, dự trữ và xuất dựng NVL được phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả
sẽ làm tăng nhanh vòng quay của vốn
2 Yêu cầu và ý nghĩa của quản lý nguyên vật liệu
Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu
Nền kinh tế quốc dân ngày càng phát triển khối lượng sản xuất côngnghiệp đòi hỏi ngày càng nhiều chủng loại nguyên vật liệu Đối với nước ta,nguyên vật liệu trong nước còn chưa đáp ứng được cho nhu cầu sản xuất, một
số loại nguyên vật liệu còn phải nhập của nước ngoài Do đó, việc quản lýnguyên vật liệu phải hết sức tiết kiệm, chống lãng phí, đúng quy trình côngnghệ nhằm tạo ra sản phẩm tốt và có hiệu quả
Đối với doanh nghiệp sản xuất việc quản lý nguyên vật liệu một cáchkhoa học và hiệu quả là sự đòi hỏi cấp bách Hiện nay, nguyên vật liệu khôngcòn là khan hiếm và không còn phải dự trữ nhiều như trước nhưng vấn đề đặt
ra là phải cung cấp đầy đủ, kịp thời để đảm bảo cho quá trình sản xuất đượcdiễn ra thường xuyên đồng thời sử dụng vốn tiết kiệm nhất không gây ứ đọngvốn kinh doanh Chính vì lý do đó nên ta có thể xem xét việc quản lý nguyênvật liệu trên các khía cạnh sau:
Trang 7• Thu mua: nguyên vật liệu là tài sản dự trữ sản xuất thường xẩy ra biếnđộng do các doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành cung ứng vật tư nhằmđáp ứng kịp thời cho sản xuất Cho nên khâu mua phải quản lý về khối lượngquản lý có hiệu quả, chống thất thoát vật liệu, việc thu mua theo đúng yêu cầu
sử dụng, giá mua hợp lý, thích hợp với chi phí thu mua để hạ thấp giá thànhsản phẩm
• Bảo quản: việc dự trữ vật liệu hiện tại kho, bãi cần được thực hiện theođúng chế độ quy định cho từng loại vật liệu phù hợp với tính chất lý, hoá củamỗi loại, mỗi quy mô tổ chức của doanh nghiệp tránh tình trạng thất thoát, lãngphí vật liệu đảm bảo an toàn là một trong các yêu cầu quản lý đối với vật liệu
• Dự trữ: xuất phát từ đặc điểm của vật liệu chỉ tham gia việc dự trữnguyên vật liệu như thế nào để đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh hiện tại làđiều kiện hết sức quan trọng Mục đích của dự trữ là đảm bảo cho nhu cầu sảnxuất kinh doanh không quá ứ đọng vốn nhưng không làm gián đoạn quá trìnhsản xuất Hơn nữa, doanh nghiệp cần phải xây dựng định mức dự trữ vật liệucần thiết, tối đa, tối thiểu cho sản xuất, xây dựng xác định mức tiêu hao vậtliệu
• Sử dụng: sử dụng tiết kiệm, hợp lý trên cơ sở xác định mức chi phí có ýnghĩa quan trọng trong việc hạ thấp, chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, tăngthu nhập tích luỹ cho doanh nghiệp Do vậy trong khâu sử dụng cần quán triệtnguyên tắc sử dụng đúng mức quy định sử dụng đúng quy trình sản xuất đảmbảo tiết kiệm chi phí trong giá thành
Do đó, công tác quản lý nguyên vật liệu là rất quan trọng nhưng trên thực
tế có những doanh nghiệp vẫn để thất thoát một lượng nguyên vật liệu khá lớn
do không quản lý tốt nguyên vật liệu ở các khâu, không xác định mức tiêu haohoặc có xu hướng thực hiện không đúng Chính vì thế cho nên luôn luôn phảicải tiến công tác quản lý nguyên vật liệu cho phù hợp với thực tế
Trang 8Ý nghĩa của việc quản lý nguyên vật liệu
• Đảm bảo nguyên vật liệu đầy đủ, đồng bộ và cung cấp kịp thời: Mộtquá trình sản xuất muốn đạt được kết quả tốt nhất, cần có sự liên tục của nguồnnguyên vật liệu Việc thiếu hụt nguyên vật liệu dù trong thời gian ngắn hay dàicũng sẽ gây ra thiệt hại đáng kể cho doanh nghiệp Ngược lại, việc đảm bảođược nguồn nguyên vật liệu ổn định sẽ góp phần làm gia tăng năng suất laođộng, gia tăng sản lượng, đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng của thị trường
• Đảm bảo sử dụng nguyên vật liệu hợp lí, tiết kiệm: Đây là cách đểdoanh nghiệp tối ưu chi phí, gia tăng được chất lượng sản phẩm với giá thànhvừa phải, từ đó sẽ thu hút được lượng khách hàng lớn Như vậy, chỉ với việcquản lý nguyên vật liệu hiệu quả, doanh thu của doanh nghiệp đã có thể tăngđáng kể, việc chiếm lĩnh thị trường và khả năng sinh lời vốn cũng được cảithiện đáng kể
• Đảm bảo công tác quản lý khác đạt hiệu quả cao: Các công tác quản lýkhác sẽ được đưa vào quy trình một cách nề nếp hơn như quản lý nguồn laođộng, quỹ lương, thiết bị, vốn…
Như vậy, công tác quản lý nguyên vật liệu có ý nghĩa rất lớn trong sự pháttriển của doanh nghiệp Nó không chỉ kiểm soát về mặt số lượng, chất lượng vàphân phối của nguyên vật liệu, mà từ đó, quản lý nguyên vật liệu còn ảnhhưởng đến năng suất lao động, số lượng và chất lượng sản phẩm, tình hình tàichính, đầu tư và khả năng nâng cao doanh thu của doanh nghiệp
3 Hoạch định nhu cầu
3.1 Khái niệm của hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu
- Hoạch định nhu cầu NVL là một nội dung cơ bản của quản trị sản xuất,được xây dựng trên cơ sở trợ giúp của kĩ thuật máy tính được phát hiện và đưavào sử dụng lần đầu tiên tại Mỹ vào những năm 70 Cách tiếp cận MRP là xácđịnh lượng dự trữ NVL, chi tiết bộ phận là nhỏ nhất, không cần dự trữ nhiềunhưng khi cần sản xuất là có ngay Điều này đòi hỏi phải lập kế hoạch hết sức
Trang 9chính xác, chặt chẽ đối với từng loại vật tư, đối với từng chi tiết và từngnguyên liệu ngoài ra sử dụng kỹ thuật máy tính đối với từng đơn đặt hànghoặc theo lịch sản xuất nguyên vật liệu dự trữ sao cho đúng thời điểm cần thiết.Nhờ sự mở rộng ứng dụng máy tính vào hoạt động quản lý sản xuất, phươngpháp MRP đã giúp cho các doanh nghiệp thực hiện được công tác lập kế hoạchhết sức chính xác, chặt chẽ và theo dõi các loại vật tư, nguyên vật liệu chínhxác, nhanh chóng và thuận tiện hơn, giảm nhẹ các công việc tính toán hàngngày và cập nhật thông tin thường xuyên đảm bảo cung cá đúng số lượng vàthời điểm cần đáp ứng Phương pháp hoạch định nhu cầu vật tư tỏ ra rất cóhiệu quả, vì vậy nó không ngừng hoàn thiện và mở rộng ứng dụng sang cáclĩnh vực khác của doanh nghiệp MRP là hệ thống hoạch định và xây dựng lịchtrình về những nhu cầu nguyên vật liệu, linh kiện cần thiết sản xuất cho từnggiai đoạn, dựa trên việc phân chia nhu cầu nguyên vật liệu thành nhu cầu độclập và nhu cầu phụ thuộc
- Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu là việc xác định nhu cầu và lịchtrình cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện cần thiết cho sản xuất Một cách cụthể hơn, hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu bao gồm việc xác định các loạinguyên liệu, linh kiện, chi tiết, cần cho sản xuất; số lượng và thời gian cầncung cấp các loại nguyên vật liệu này, và điều độ quá trình cung cấp nguyênvật liệu cho sản xuất
3.2 Mục tiêu của hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu
- Đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu, chi tiết, bộ phận sản phẩm cho hoạtđộng doanh nghiệp cả về số lượng, chất lượng, chủng loại đúng thời gian vàthời điểm cần những nguyên vật liệu, chi tiết, bộ phận sản phẩm đó
- Giảm thiểu lượng dự trữ nguyên vật liệu đến mức thấp nhất do xác địnhđược chính xác nhu cầu nguyên vật liệu theo số lượng và thời điểm cần cungứng mà không làm ảnh hưởng đến mức độ đáp ứng và phục vụ khách hàng
Trang 10- Giảm thời gian sản xuất và thời gian cung ứng nguyên vật liệu MRP xácđịnh mức dự trữ hợp lý, đúng thời điểm, giảm thời gian chờ đợi và những trởngại cho sản xuất.
- Tạo sự thỏa mãn và niềm tin tưởng cho khách hàng nhờ việc đảm bảođáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu sản phẩm của khách hàng
- Tạo điều kiện cho các bộ phận phối hợp chặt chẽ và thống nhất vớinhau, phát huy cao nhất năng lực sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp
- Tăng hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở tiết kiệmchi phí liên quan đến quá trình cung ứng nguyên vật liệu
3.3 Các yếu tố cơ bản của hoạch địch nhu cầu nguyên vật liệu
Mô hình hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu như sau:
Lịch trình sản xuất tổng thể
MRP
Hồ sơ cấu trúc
sản phẩm
Hồ sơ nguyên vật liệu
Báo cáo về dự trữ Lệnh sản xuất Lệnh mua hàng
Trang 11a Các yếu tố đầu vào cơ bản
Số lượng sản phẩm theo nhu cầu dự báo hoặc số lượng sản phẩm theo đơnđặt hàng chính là yếu tố chủ yếu để xác định nhu cầu nguyên vật liệu Nó cũng
là yếu tố được thu nhập từ lịch trình sản xuất Tại đây, lịch trình sản xuất chỉ rõnhu cầu sản phẩm cần sản xuất và thời gian phải có Đây là nhu cầu độc lập Sốlượng cần thiết được lấy ra từ những người khác nhau Như đơn đặt hàng củakhách, số liệu dự báo thời gian thường lấy là đơn vị tuần Hợp lý nhất là lấylịch trình sản xuất bằng tổng thời gian để sản xuất ra sảm phẩm cuối cùng
Đó là tổng số thời gian cần thiết trong quá trình lắp ráp sản phẩm Vấn đềđặc biệt quan trọng trong MRP là sự ổn định trong kế hoạch sản xuất ngắn hạn.Rất nhiều công ty quy định khoảng thời gian của lịch trình sản xuất trongkhoảng 8 tuần
Bảng kê vật liệu và những thay đổi trong bảng kê hình thành nên hồ sơcấu trúc sản phẩm Đây là yếu tố quan trọng, cần thiết để xác định nhu cầunguyên vật liệu về cơ cấu, chủng loại, mẫu mã, và cũng là trật tự mà theo đócác sản phẩm được làm ra
Khi xác định bảng kê vật liệu của các loại sản phẩm người ta thường thiết
kế các loại hoá đơn nguyên vật liệu Trong doanh nghiệp thường dùng 3 loạihoá đơn nguyên vật liệu là hoá đơn theo nhóm bộ phận, chi tiết sản phẩm; hoáđơn sản phẩm điển hình; hoá đơn cho những nguyên vật liệu bổ sung
Còn đối với hồ sơ dự trữ cho biết lượng dự trữ nguyên vật liệu, bộ phậnhiện có Nó dùng đê ghi chép, báo cáo tình trạng của từng loại nguyên vật liệu,chi tiết bộ phận trong từng thời gian cụ thể Hồ sơ dự trữ cho biết trong nhucầu, đơn hàng sẽ tiếp nhận và những thông tin chi tiết khác như người cungứng, độ dài thời gian cung ứng và độ lớn lô cung ứng Hồ sơ dự trự nguyên vậtliệu, bộ phận cần phải chính xác, do đó đòi hỏi công tác theo dõi, ghi chép thận
Trang 12trọng cụ thể chi tiết Những sai sót trong hồ sơ dự trữ sẽ dẫn đến những sai sótlớn trong MRP.
b Các yếu tố đầu ra cơ bản
Những yếu tố đầu ra chính là kết quả của MRP cần trả lời được các vấn
đề cơ bản sau:
• Cần đặt ra hàng hoá sản xuất những loại linh kiện phụ tùng nào?
• Số lượng bao nhiêu?
• Thời gian khi nào?
Những thông tin này được thể hiện trong các văn bản, tài liệu như lệnhphát đơn đặt hàng kế hoạch, lệnh sản xuất nếu tự gia công, báo cáo về dự trữ
Có nhiều loại tài liệu báo cáo hồ sơ nguyên vật liệu, chi tiết bộ phận dự trữ.Các báo cáo này gồm có báo cáo sơ bộ và báo cáo thứ cấp Báo cáo sơ bộ liênquan đến hoạch định và kiểm soát sản xuất và dự trữ nguyên vật liệu Còn báocáo thứ cấp liên quan đến việc kiểm soát và hoạch định kết quả thực hiện trongquá trình sản xuất
c Những yêu cầu của MRP
Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu đem lại lợi ích rất lớn trong việcgiảm mức dự trữ trong quá trình chế biến, mặt khác nó duy trì, đảm bảo đầy đủnhu cầu nguyên vật liệu đúng thời điểm Để MRP có hiệu quả cần thực hiệnnhững yêu cầu và điều kiện sau:
• Có chương trình phần mềm MRP và đủ hệ thống máy tính và để tínhtoán và lưu trữ thông tin
• Đào tạo cho đội ngũ cán bộ hiểu rõ về MRP và có khả năng ứng dụngđược nó
• Nắm vững lịch trình sản xuất và đảm bảo chính xác và liên tục cập nhật
về lịch trình sản xuất Lịch trình sản xuất cho biết thời điểm, khối lượng và
Trang 13chủng loại sản phẩm hoặc chi tiết cuối cùng cần có Số liệu này có thể lấy từcác đơn đặt hàng, dự báo hoặc yêu cầu của kho hàng để dự trữ theo mùa vụ.
• Có hệ thống bảng kê vật liệu Bảng kê vật liệu là danh sách của tất cảcác bộ phận, chi tiết, nguyên vật liệu để tạo ra một sản phẩm hoặc chi tiết cuốicùng Mỗi loại sản phẩm sẽ có bảng danh mục nguyên vật liệu riêng
• Có hệ thống hồ sơ dự trữ nguyên vật liệu hoàn chỉnh Đây là hồ sơ lưutrữ những thông tin về tình hình chi tiết, bộ phận, nguyên vật liệu như tổng nhucầu, lượng tiếp nhận theo tiến độ và dự trữ sẵn có Ngoài ra còn có nhữngthông tin về nhà cung ứng, thời gian thực hiện đơn hàng và kích cỡ lô hàng,những đơn hàng bị huỷ và những sự cố khác… Cũng giống như danh mụcnguyên vật liệu, hồ sơ dự trữ nguyên vật liệu luôn được điều chỉnh và cập nhậtchẳng hạn như những thay đổi về dự trữ sẵn có, thời gian thực hiện, thời hạnhoàn thành
• Phải đảm bảo chính xác về báo cáo hàng tồn kho Doanh nghiệp cầnđảm bảo các báo cáo tồn kho phải chính xác vì đó là yếu tố quyết định việchoạch định lượng vật liệu chính xác
• Biết thời gian cần thiết để cung ứng hoặc sản xuất nguyên vật liệu vàphân bổ thời gian cho mỗi bộ phận cấu thành Các nhà quản trị cần nắm vữngthời điểm người tiêu dùng cần sản phẩm Từ thời điểm đó nhà quản trị phải xácđịnh được thời gian chờ đợi, di chuyển, sắp xếp, chuẩn bị và thực hiện cho mỗi
bộ phận cấu thành sản phẩm Sau đó tính toán và phân bổ thời gian phát lệnhsản xuất hoặc cung ứng để kịp trả hàng đúng tiến độ
3.4 Phương pháp hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu
Xây dựng MRP bắt đầu đi từ lịch trình sản xuất đối với nhu cầu độc lập(sản phẩm cuối cùng) sau đó chuyển đổi thành nhu cầu về các bộ phận, chi tiết
và nguyên liệu cần thiết trong những giai đoạn khác nhau MRP tính số lượngchi tiết, bộ phận trong từng giai đoạn cho từng loại sản phẩm trong mối quan
hệ chặt chẽ với lượng dự trữ hiện có và xác định chính xác thời điểm cần phát
Trang 14đơn hàng hoặc lệnh sản xuất đối với từng loại chi tiết, bộ phận đó MRP tìmcách xác định mối liên hệ giữa lịch trình sản xuất, đơn đặt hàng, lượng tiếpnhận và nhu cầu sản phẩm Mối quan hệ này được phân tích trong khoảng thờigian từ khi một sản phẩm được đưa vào phân xưởng cho tới khi rời phân xưởng
đó để chuyển sang bộ phận khác Để xuất xưởng một sản phẩm trong một ngày
ấn định nào đó, cần phải sản xuất các chi tiết, bộ phận hoặc đặt mua nguyên vậtliệu, linh kiện bên ngoài trước một thời hạn nhất định Quá trình xác định MRPđược tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Phân tích cấu trúc sản phẩm
Phương pháp hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu được tiến hành dựa trênviệc phân loại nhu cầu thành nhu cầu độc lập và nhu cầu phụ thuộc Nhu cầuđộc lập là nhu cầu về sản phẩm cuối cùng và các chi tiết bộ phận khách hàngđặt Nhu cầu độc lập được xác định thông qua công tác dự báo hoặc dựa trênnhững đơn hàng Nhu cầu phụ thuộc là những nhu cầu tạo ra từ các nhu cầuđộc lập, nó được tính toán từ các quá trình phân tích sản phẩm thành các bộphận, chi tiết và nguyên vật liệu
Để tính tổng nhu cầu phụ thuộc, cần tiến hành phân tích cấu trúc của sảnphẩm Cách phân tích dùng trong MRP là sử dụng kết cấu hình cây của sảnphẩm Mỗi hạng mục trong kết cấu hình cây tương ứng với từng chi tiết bộphận cấu thành sản phẩm Sử dụng kết cấu hình cây có những đặc điểm sau:
- Cấp 0 là cấp ứng với sản phẩm cuối cùng Cứ mỗi lần phân tích thànhphần cấu tạo của bộ phận là ta lại chuyển từ cấp i sang cấp i+1
- Mối liên hệ trong sơ đồ kết cấu: Đó là những đường liên hệ giữa hai bộphận trong sơ đồ kết cấu hình cây Bộ phận trên gọi là bộ phận hợp thành và bộphận dưới là bộ phận thành phần Mối liên hệ có ghi kèm theo khoảng thờigian (chu kỳ sản xuất, mua sắm ) và hệ số nhân Số lượng các loại chi tiết vàmối liên hệ trong sơ đồ thể hiện tính phức tạp của cấu trúc sản phẩm Sản phẩmcàng phức tạp thì số chi tiết bộ phận càng nhiều và mối quan hệ giữa chúng
Trang 15càng lớn Để quản lý theo dõi và tính toán chính xác từng loại nguyên vật liệu,cần phải sử dụng máy tính để hệ thống hóa, mã hóa chúng theo sơ đồ cấu trúcthiết kế sản phẩm.
Theo nguyên tắc này tất cả các bộ phận, chi tiết đó được chuyển về cấpthấp nhất Nhờ đó tiết kiệm được thời gian và tạo ra sự dễ dàng trong tính toán
Nó cho phép chỉ cần tính nhu cầu của bộ phận, chi tiết đó một lần và xác địnhmức dự trữ đối với chi tiết, bộ phận cần sớm nhất chứ không phải với sảnphẩm cuối cùng ở cấp cao nhất
Ví dụ: Sản phẩm cánh cửa thép của Xí nghiệp thép và vật liệu xây dựng
Hà Nội được phân cấp như sau :
Cánh cửa thép
Cấp 0
Tấm đan cửa Khung cửa Thanh nan cửa
Cấp 2
sau
Mặt trước
Thanh nan dẹt
Thanh nan tròn
Cây khung 1
Cây khung 2
Khớp nối 2,4
Khớp nối 1,3 Cấp 3
Trang 16Từ nguyên tắc này, xí nghiệp có thể lên kế hoạch tổng quát với nhiềuphương án vật tư, sản xuất Khi có đơn hàg cụ thể, dựa trên các nghiệp vụ đãthực hiện, xí nghiệp dễ dàng cho ra một lịch trình sản xuất hoàn chỉnh, có thểtiết kiệm chi phí một cách tối đa
Bước 2: Xác định tổng nhu cầu và nhu cầu thực tế
Tổng nhu cầu chính là tổng số lượng dự kiến đối với một loại chi tiết hoặcNVL trong từng giai đoạn mà không tính đến dự trữ hiện có hạơc lượng sẽ tiếpnhận được Tổng nhu cầu hạng mục cấp 0 lấy ở lịch trình sản xuất Đối vớihạng mục cấp thấp hơn, tổng nhu cầu được tính trực tiếp số lượng phát đơnhàng của hạng mục cấp cao hơn ngay trước nó
Đó là nhu cầu phát sinh do nhu cầu thực tế về một bộ phận hợp thành nào
đó đòi hỏi tổng nhu cầu của các bộ phận, chi tiết bằng số lượng đặt hàng theo
kế hoạch của các bộ phận trung gian trước nó nhân với hệ số nhân nếu có.Nhu cầu thực tế là lượng nguyên vật liệu cần thiết trong từng khoảng thờigian nhất định và được xác định như sau:
Nhu cầu thực tế = Tổng nhu cầu - Dự trữ hiện có + Dự trữ bảo hiểm Trong đó:
- Dự trữ hiện có là số lượng nguyên vật liệu, chi tiết hiện có sẵn trongkho và sẽ tiếp nhận trong thời gian tới
- Dữ trữ bảo hiểm là lượng dự trữ đề phòng một số trường hợp phát sinhngoài dự kiến
Bước 3: Xác định thời gian phát lệnh sản xuất hoặc đơn hàng theonguyên tắc trừ lùi từ thời điểm sản xuất
Để cung cấp hoặc sản xuất nguyên vật liệu, chi tiết cần tốn thời gian chochờ đợi, chuẩn bị, bốc dỡ, vận chuyển, sắp xếp hoặc sản xuất Đó là thời gianphân phối hay thời gian cung cấp, sản xuất của mỗi bộ phận Do đó, từ thờiđiểm cần có sản phẩm để đáp ứng nhu cầu khách hàng sẽ phải tính ngược lại
Trang 17để xác định khoảng thời gian cần thiết cho từng chi tiết bộ phận Thời gian phảiđặt hàng hoặc tự sản xuất được tính bằng cách lấy thời điểm cần có trừ đikhoảng thời gian cung ứng hoặc sản xuất cần thiết đủ để cung cấp đúng lượnghàng yêu cầu.
II Thực trạng hoạch định nhu cầu tại doanh nghiệp Vinamilk.
1 Giới thiệu chung
Vinamilk là tên gọi tắt của công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vietnam DairyProducts Joint Stock Company) một công ty sản xuất, kinh doanh sữa và cácsản phẩm từ sữa từ nguyên liệu tự nhiên tại Việt Nam Trụ sở chính: số 10 phốTân Trào, phường Tân Phú, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh
Vinamilk thành lập ngày 20 tháng 8 năm 1976 từ 3 nhà máy cũ của chế độ
cũ để lại là Thống Nhất, Trường Thọ và Bột Dielac Đến nay Vinamilk đã trởthành công ty hàng đầu Việt Nam về chế biến và cung cấp các sản phẩm vềsữa, được xếp trong Top 10 thương hiệu mạnh Việt Nam Vinamilk khôngnhững chiếm lĩnh 75% thị phần sữa trong nước mà còn xuất khẩu các sản phẩmcủa mình ra nhiều nước trên thế giới như: Mỹ, Pháp, Canada,…
Vinanmilk hoạt động hơn 10 năm trong cơ chế bao cấp, cũng như nhiềudoanh nghiệp khác chỉ sản xuất theo kế hoạch, nhưng khi bước vào kinh tế thịtrường, Vinamilk đã nhanh chóng nắm bắt cơ hội, không ngừng đổi mới côngnghệ, đầu tư cơ sở hạ tầng, đa dạng hóa sản phẩm để chuẩn bị cho một hànhtrình mới Từ 3 nhà máy chuyên sản xuất sữa là Thống Nhất, Trường Thọ,Dielac, Vinamilk đã không ngừng xây dựng hệ thống phân phối tạo tiền đề cho
sự phát triển Với định hướng phát triển đúng, các nhà máy sữa: Hà Nội, liêndoanh Bình Định, Cần Thơ, Sài Gòn, Nghệ An lần lượt ra đời, chế biến, phânphối sữa và sản phẩm từ sữa phủ kín thị trường trong nước Không ngừng mởrộng sản xuất, xây dựng thêm nhiều nhà máy trên khắp cả nước (hiện nay thêm