qua khái niệm thế giới nghệ thuật, trong đó tác phẩm đợc xem nh một lĩnhvực tồn tại đặc thù, có không gian, thời gian riêng, có các quy luật nghệthuật đặc thù chi phối các quan hệ liên k
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do lựa chọn đề tài:
Thơ trữ tỡnh là một trong ba phương thức phản ỏnh hiện thực cư bản nhất
và thường là hỡnh thỏi vưn học đầu tiờn trong cỏc nền văn học dõn tộc Do đặc trưng của thể loại, thơ trữ tỡnh cú khả năng phản ỏnh cuộc sống, thể hiện những tõm trạng, những cảm xỳc mạnh mẽ bằng ngụn ngữ hàm sỳc, giàu hỡnh ảnh Thơ đũi hỏi sự tiếp nhận dựa trờn những tri thức cụ thể, những kinh nghiệm và bằng cả những khỏm phỏ mang tớnh trực giỏc Dạy học văn chương, đặc biệt là thể loại thơ, là một hoạt động đũi hỏi sự nỗ lực khụng ngừng của giỏo viờn và học sinh.
Thơ mới là hiện tượng nổi bật của của văn học Việt nam Trong phần đọc văn của chương trỡnh ngữ văn hiện hành, Thơ mới cú ý nghĩa và vị trớ khỏ quan trọng Song, việc dạy học tỏc phẩm Thơ mới vẫn luụn đặt ra khụng
ớt thỏch thức đối với giỏo viờn và học sinh Do vậy, việc dạy đọc hiểu – khai thỏc khỏm phỏ loại tỏc phẩm này xứng đỏng cú được sự đầu tư, tỡm hiểu kĩ lưỡng “Vội vàng” của nhà thơ Xuõn Diệu trong chương trỡnh ngữ văn lớp 11 là một trong số những tỏc phẩm đú Qua thời gian cụng tỏc giảng dạy , bồi dưỡng học sinh bản thõn tụi đỳc rỳt được kinh nghiệm định hướng học sinh tỡm hiểu tỏc phẩm theo vấn đề thi phỏp và cú hiệu quả Nờn trong sang kiến này, tụi đó lựa chọn vấn đề “ kinh nghiệm định hướng học sinh tỡm hiểu theo chuyờn đề “thế giới nghệ thuật trong bài thơ Vội vàng của Xuõn Diệu” (chương trỡnh SGK lớp 11).
1.2 Mục đớch nghiờn cứu
Trang 2Sáng kiến kinh nghiệm hớng đến mục tiờu áp dụng vào việc dạy học bồidỡng học sinh giỏi, giảng dạy chơng trình tự chọn cho đối tợng học sinh lớp
11 và ôn THPT quốc gia, đại học và Cao đẳng
1.3 Đối tượng nghiờn cứu:
Đối tợng nghiên cứu
Tìm hiểu Thế giới nghệ thuật trong bài thơ Vội vàng của Xuân
Diệu, ngời viết tập trung khảo sát tác phẩm Vội vàng rút trong tập Thơ thơ
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu Vội vàng trong tính chỉnh thể giữa nội dung và hình
thức nhng sáng kiến kinh nghiệm chỉ tập trung đi sâu vào những phơngdiện nổi bật làm thành giá trị riêng Những yếu tố mờ nhạt, ít xuất hiện
hoặc không chỉ có ở Vội vàng, chúng tôi sẽ điểm qua hoặc kết hợp bình
chú để làm rõ những yếu tố chính
Nghiên cứu Vội vàng, chúng tôi không tách rời, biệt lập mà đặt đối
tợng trong mối liên hệ với các tác phẩm khác của Xuân Diệu và các tác phẩmcủa các tác giả khác trong phong trào Thơ mới
1.4 Phương phỏp nghiờn cứu
1.4.1 Phơng pháp loại hình
1.4.2 Phơng pháp so sánh
1.4.3 Phơng pháp phân tích - tổng hợp
2 NỘI DUNG2.1 Cơ sở lí luận:
Theo lí luận văn học: “Tác phẩm văn học là một hệ thống chỉnh thể Nói đúng hơn “Chỉnh thể tác phẩm đợc nhận thức
Trang 2
Trang 3qua khái niệm thế giới nghệ thuật, trong đó tác phẩm đợc xem nh một lĩnhvực tồn tại đặc thù, có không gian, thời gian riêng, có các quy luật nghệthuật đặc thù chi phối các quan hệ liên kết của tất cả mọi yếu tố tác phẩm”.
Với cách định nghĩa nh vậy, tìm đến với thế giới nghệ thuật của Vội vàng
cũng đồng nghĩa với việc là chúng ta đang làm một cuộc hành trình đểkhám phá cái hay, cái đẹp của tác phẩm theo cách riêng của mình từ góc độthi pháp Bản thân tôi tìm đến với đề tài không nằm ngoài ngoại lệ so vớinhững độc giả khác là muốn góp thêm một phần khiêm tốn tiếng nói riêngcủa mình trong quá trình đi tìm cái đẹp của “Vội vàng”
2.2 Cơ sở thực tiễn – thực trạng :
“Vội vàng” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu trongphong trào Thơ mới đợc đa vào chơng trình sách giáo khoa Ngữ Văn 11-THPT và đợc đa vào để dạy học trong chơng trình chính khóa Tuy nhiênlâu nay trong quá trình dạy học tác phẩm trong nhà trờng, giáo viên và họcsinh ít có điều kiện để nghiên cứu và tìm hiểu thấu đáo về thế giới nghệthuật của nó bởi giới hạn thời lợng chơng trình hạn hẹp Hiện nay với việcthực hiện chơng trình, thiết nghĩ rằng sự mềm dẻo của phân phối ch-ơngtrình, giáo viên sẽ có điều kiện giúp học sinh nâng cao hiểu biết của mình
về tác phẩm trong chơng trình tự chọn và cao hơn là trong công tác bồi dỡnghọc sinh giỏi, ôn thi THPT quốc gia- Đại học – Cao đẳng Đó là lí do dẫn tớiviệc tôi lựa chọn đề tài
2.3 Cỏc giải phỏp thực hiện
2.3.1 Giới thuyết về khái niệm thế giới nghệ thuật
Khi đọc văn bản ngôn từ, chúng ta bớc vào thế giới nghệ thuật của tácphẩm tác giả, một thế giới đầy ắp xung đột, buồn vui,
Trang 4hạnh phúc, đau đớn Thế giới đó là văn bản hình tợng- văn bản nội tại của vănbản ngôn từ Gọi thế gới nghệ thuật là văn bản bởi các hình tợng có tínhchất kí hiệu, biểu tợng, bởi nó là sự thống nhất chỉnh thể của các kí hiệu
có khả năng biểu hiện một phức hợp ý nghĩa - t tởng nhất định mà ngời tacần đọc từng bộ phận, chi tiết để nhận ra Gọi bằng thế giới nghệ thuậtbởi vì đó là cấu tạo đặc biệt, có sự thống nhất không tách rời, vừa có sựphản ánh thực tại vừa có sự tởng tợng sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ củathế giới bên trong của nhà văn Thế giới này chỉ có trong tác phẩm và cótrong tởng tợng nghệ thuật.Thế giới nghệ thuật là thế giới t tởng, thế giớithẩm mĩ, thế giới tinh thần của con ngời
Thế giới nghệ thuật là một thế giới kép: thế giới đợc miêu tả và thếgiới miêu tả Thế giới đợc miêu tả bao gồm nhân vật, sự kiện, không gian,thời gian riêng, đồ vật, âm thanh, màu sắc
có ý nghĩa tợng trng riêng, không đồng nhất với thực tại.Thế giới miêu tả làthế giới của ngời kể chuyện, ngời trữ tình Hai thế giới này gắn kết khôngtách rời nh hai mặt của một tờ giấy Không có thế giới miêu tả thì không cóthế giới đợc miêu tả và ngợc lại Tuy nhiên chúng không thể liên thông Ngời
kể chuyện không thể trực tiếp tham gia vào sự kiện trong thế giới đợc miêutả nh một nhân vật
Thế giới nghệ thuật của một tác phẩm ngôn từ là hệ thống hoànchỉnh và bao gồm những giới hạn nhất định Bởi vì hệ thống đó sống theocác quy luật, nguyên tắc vốn có của nó, có không gian, thời gian, tâm lí,
đạo đức xã hội và hoàn cảnh vật chất riêng Một thế giới nghệ thuật với tcách hệ thống không chỉ đặc trng cho tác phẩm đó, mà còn đặc trngcho cả nhà văn nói chung Nghiên cứu cấu trúc của thế giới nghệ thuật vừacho ta hiểu
hình tợng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả về Trang 4
Trang 5thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà văn, cái thếgiới chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật.
Những kiến thức lí luận trên là định hớng chung nhất để độc giảkhám phá thế giới nghệ thuật của một tác phẩm Tuy nhiên, tùy vào đặc trngcủa từng thể loại văn học cụ thể mà chúng ta áp dụng kiến thức đó nh thếnào Trong giới hạn đề tài này, ng-ời viết chỉ tập trung tìm hiểu thế giới
nghệ thuật của tác phẩm thơ trữ tình Vội vàng ( Xuân Diệu) nên chủ yếu
đi sâu khám phá tác phẩm ở những phơng diện cơ bản sau: Hình tợng cái tôitrữ tình, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật và một số phơng thứcbiểu hiện
2.3.2 Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm Vội vàng Hình
tợng cái tôi trữ tình
Cái tôi phải là hình tợng trung tâm, là hạt nhân của một thế giới thơ trữtình Nó là hình ảnh phóng chiếu từ con ngời thực của tác giả theo nguyêntắc điển hình hóa Nhng có lẽ, nó là con ngời tâm linh của tác giả đợc hìnhtợng hóa, là phần khát vọng thẩm mĩ sâu kín nhất trong tác giả đợc hìnhtợng hóa Dù có cội nguồn thế nào đi nữa thì trong văn bản thơ( đặc biệt làthơ trữ tình lãng mạn), trong một thế giới thi ca, nó cũng hiện ra nh một conngời với nhân dạng, nhân cách khá rõ rệt Ngời ta có thể nhận ra nó quanhững nét tự họa, qua t thế trữ tình và giọng điệu trữ tình chủ đạo của hệthống thi phẩm Là đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ mới, đồng thời làngời đợc mệnh danh là ông hoàng của thơ tình Việt Nam, cái tôi trữ tìnhXuân Diệu hiện ra với những đặc điểm nổi bật sau:
Cái tôi tha thiết yêu đời và ý thức sâu sắc về sự sống cá thể
Trang 6Là “tù nhân của một chữ tình” (Chu Văn Sơn), cho “dù bạn với ân tìnhhay với cảnh” cái tôi trữ tình Xuân Diệu luôn hiện ra trong chân dung mộtgã tình si tha thiết yêu đời, luôn thèm khát một luyến ái vô biên.
Tình yêu ấy đợc bộc lộ qua ớc muốn hết sức kì lạ: muốn cỡng lại quyluật tự nhiên, đặc biệt hơn, đó là những thứ vốn ngắn ngủi, mong manh
để níu kéo lại tất cả những gì đẹp tơi, rực rỡ, quí giá mà thiên nhiên bantặng:
Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất ; Tôi muốn buộc gió lại Cho hơng đừng bay đi.
Nhng làm sao cỡng lại đợc những thứ vốn ngắn ngủi, mong manh đó? Cái ớcmuốn lạ lùng, thậm chí ngông cuồng đó đã hé mở cho ta một lòng yêu bồngbột vô bờ đối với cuộc đời
Vì yêu đời, khát khao luyến ái nên cái tôi ấy luôn nhìn đời với mộtcặp mắt xanh non, háo hức, đầy đam mê của một ngời tình Thế giới này
đợc thi nhân cảm nhận qua lăng kính của tình yêu nên nó hiện lên rực rỡ nhmột thiên đờng trên mặt đất:
Của ong bớm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì ; Này đây lá của cành tơ phơ phất ; Của yến anh này đây khúc tình si ;
Vẻ đẹp của thiên nhiên đợc quy chiếu về vẻ đẹp của giai nhân - ngời tìnhnhân yêu kiều, kiêu sa, đầy quyến rũ mời mọc trong mối quan hệ với gãtình si :
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa ; Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần.
Trang 6
Trang 7Cũng vì yêu đời nên cái tôi ấy đã ngậm ngùi, nuối tiếc khôn nguôi trớcdòng thời gian trôi chảy và sự ra đi của tuổi trẻ, của mùa xuân:
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua, Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa tôi cũng mất.
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.
Niềm quyến luyến, ngậm ngùi trớc bớc đi nhanh chóng của thời gian nh vậyxét đến cùng là xuất phát từ ý thức sâu xa về giá trị của sự sống cá thể.Mỗi khoảnh khắc trong đời cá thể đều vô cùng quý giá, bởi khi đã mất đi làmất đi vĩnh viễn Những cung bậc cảm xúc đó giúp mỗi chúng ta biết quýtrọng từng giây phút của đời mình và biết làm cho mỗi khoảnh khắc củamình có ý nghĩa Chúng không làm cho con ngời tuyệt vọng mà đốt lêntình yêu cuộc sống
Xuất phát từ những cơn cớ trên mà kẻ tình si Xuân Diệu đã chạy đuavới thời gian, đón đầu thời gian để sống:
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa
Mau đi thôi! Mùa cha ngả chiều hôm
lúc nào cũng thèm yêu, khát sống, lúc nào cũng khao khát tận hởng nhữnggiây phút tuổi xuân của mình, tận hởng những gì mà cuộc đời ban tặngcho mình với vòng tay ham hố của một tình nhân:
Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đa và gió lợn,
Ta muốn say cánh bớm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều ;
Trang 8Cho no nê thanh sắc của thời tơi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngơi.
Cái tôi triết nhân
Trong “Vội vàng”, nếu nh con ngời tình nhân mải yêu đơng, bận luyến
ái thì con ngời triết nhân lại quan sát, ngẫm nghĩ, đúc kết để rút ra nhữngquan niệm sống, những kinh nghiệm nhân sinh
Là triết nhân, Xuân Diệu đã say sa tranh biện với ngời xa về quanniệm thời gian, tuổi trẻ:
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua, Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhng lợng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, * Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất nhng chẳng còn tôi mãi,
Không những thế, triết nhân còn là sự lên tiếng của cái ham muốn
lập thuyết thẳm sâu trong Xuân Diệu Có thể thấy rất rõ rằng Vội vàng ở
đây không phải là một trạng thái cảm xúc nhất thời mà là một sự lựa chọn cótính lâu dài gắn liền với thái độ, quan niệm sống của tác giả Nói đúng
hơn, Vội vàng là một định nghĩa về cách sống Với Xuân Diệu, sống là
hạnh phúc Muốn hạnh phúc là phải chạy đua với thời gian, phải tranh thủsống:
Trang 8
Trang 9Chẳng bao giờ, ôi! chẳng bao giờ nữa… Mau
đi thôi! mùa cha ngả chiều hôm.
Phải Sống toàn tâm, toàn bích, sống toàn hồn; Bằng say mê và thức nhọn
giác quan để tận hiến, tận hởng những giây phút tuổi xuân của mình, tận
hởng những gì mà cuộc đời ban tặng cho mình:
Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đa và gió lợn,
Ta muốn say cánh bớm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều ; Và non nớc, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đả đầy
ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tơi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngơi.
Cái tôi triết nhân còn thể hiện rõ hơn ở chỗ: trong tác phẩm, XuânDiệu không chỉ định nghĩa về cách sống mà còn say sa tìm cách lí giải,
cắt nghĩa cho lối sống vội vàng Với thi nhân, sở dĩ phải sống vội vàng vì
cuộc đời quá đẹp, luôn kêu gọi con ngời sống và hởng thụ:
Của ong bớm này đây tuần tháng mật, Này đây hoa của đồng nội xanh rì, Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si,
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa ; Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần.
Trang 10Theo ngời thơ, mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm và đời ngời chỉ thực
sự sống có ý nghĩa nhất là lúc tuổi trẻ Nhng đời ngời ngắn ngủi, trong khithời gian trôi chảy không ngừng:
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua, Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng nhng lợng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất nhng chẳng còn tôi mãi,
Suy cho cùng, cái điệu sống vội vàng, cuống quýt của Xuân Diệu bắtnguồn sâu xa từ cảm niệm triết học về thời gian, về sự ngắn ngủi củakiếp ngời, về cái chết nh là kết cục không thể tránh khỏi mai hậu
Cái tôi nội cảm
Sự phỏt triển của Thơ mới chớnh là bước cải tạo hết sức quan trọng của thơ trữtỡnh Việt Nam Tiếp xỳc với luồng sinh khớ mới từ phương Tõy, tư duy, cảm xỳc củacỏc nhà thơ mới cú những thay đổi “Tư duy thơ hướng vào phớa trong để phõn tớchcảm giỏc, trỡnh bày cỏc trạng thỏi tỡnh cảm” Chủ trương đào sõu nội cảm, cỏc nhàthơ mới đó hữu hỡnh húa những vi diệu của đời sống tõm hồn Thơ mới bộc lộ mộtcỏch trực tiếp tất cả mọi cung bậc và sắc thỏi của tỡnh cảm: vui, buồn, hờn, giận,thiết tha, say đắm, mộng mơ, cay đắng, xút xa Có thể nói, Thơ mới là một cuộccách mạng phơi mở thế giới nội tâm con ngời, là khát vọng
bộc lộ “thành thực” cảm xỳc, được núi lờn “sự thật” của tõm hồn bằng tiếng núiriờng của mỡnh Xuân Diệu là đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ mới nêncái tôi trong thơ ông hẳn là tiếng thơ thể hiện đầy đủ nhất cho ý thức cánhân của cái tôi Thơ mới - cái tôi nội cảm Cái
tôi trong Vội vàng luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp Trang 10
Trang 11nhàng lặng lẽ, cái sôi nổi, háo hức của thế giới bên trong giữa cái ồn ào, rộnrịp của cuộc sống đời thờng Lúc thì cái tôi ấy sống trong tâm trạng thiếttha, rạo rực, đắm say khi bộc lộ ham muốn khác thờng của mình:
Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất ; Tôi muốn buộc gió lại Cho hơng đừng bay đi.
Lúc thì say sa vồ vập khi giới thiệu và cảm nhận thế xung quanh:
Của ong bớm này đây tuần tháng mật, Này đây hoa của đồng nội xanh rì, Này đây lá của cành tơ phơ phất ; Của yến anh này đây khúc tình si ;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.
Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa ; Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần;
Khi thì quyến luyến, ngậm ngùi, nuối tiếc do cảm nhận bớc đi nhanh chóngcủa thời gian:
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua,
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già, Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng nhng lợng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất nhng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Trang 12Và lúc thì vội vàng, cuống quýt tận hởng vẻ đẹp của trần thế mà cuộc
đời ban tặng cho mình:
Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đa và gió lợn,
Ta muốn say cánh bớm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều ;
Và non nớc, và cây, và cỏ rạng Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đả
đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tơi;
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngơi Điều
đáng nói là cái tôi trong thơ lãng mạn nói chung, trong
Thơ mới nói riêng không chỉ là sự tự ý thức của nhà thơ về bản thân màcòn còn là đối tợng để mô tả, lí giải (theo nguyên tắc thẩm mĩ khách thể
hóa) chính vì vậy cái tôi trữ tình trong Vội vàng hiện lên thật rõ nét nh một dòng chảy cảm xúc với nhiều cung bậc cảm xúc thật tinh tế mang đậm sắc thái cá thể hóa Tiếp xúc với Vội vàng, có nghĩa là ta đang tiếp xúc với
một con ngời và từ cái tôi ấy ta thấy cảm thông hơn, trân trọng hơn khátvọng, tâm thế sống của một con ngời, một lớp ngời (tầng lớp trí thức tiểu tsản trong xã hội Việt Nam trớc cách mạng Tháng Tám/ 1945 ) và để từ đóbiết trân trọng hơn những giây phút trong qũy thời gian của cuộc đời, biếtsống có ý nghĩa hơn
Thời gian nghệ thuật
Thời gian là hình thức tồn tai của thế giới nghê thuật Đó là thời gian docon ngời sáng tạo ra, vừa thể hiện trạng thái con ngời trong
thời gian, vừa mở ra lộ trình để ngời đọc đi vào thế giới tác Trang 12
Trang 13phẩm Có nhiều loại thời gian: thời gian vũ trụ, bốn mùa, có thời gian lịch,thời gian đồng hồ trung tính, có thời gian lịch sử, thời gian xã hội, thời giantâm lí đậm tính chủ quan Mỗi thời gian có độ đo riêng, làm cho chúngkhác biệt nhau: năm, tháng, phút, giây, mùa, thế kỉ, thời đại Trong lịch sửvăn học, mỗi thể loại văn học có những thời gian đặc trng của nó: thời gianthần thoại, thời gian vũ trụ, thời gian sử thi, thời gian cổ tích, thời gian tiểuthuyết Chẳng hạn thơ cổ điển thích dùng cặp từ sóng đôi sớm
- chiều, đêm - ngày, thu - đông, xa - nay để diễn tả sự tĩnh tại, tuầnhoàn của thời gian Ví dụ: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồsen, hạ tắm ao” (Nguyễn Bỉnh Khiêm), “Ngày nhàn mở cửa xem ChuDịch, Đêm vắng tìm mai bạn lão Bô” (Nguyễn Trãi) Sở dĩ ngời xa có cáchnhìn nh vậy là bởi họ cho rằng con ngời vốn là một bộ phận không thể táchrời của trời đất, thiên nhiên (quan niệm con ngời vũ trụ) nên chẳng phải sợsau khi chết tất cả tan biến vào h không Là một nhà Thơ mới, với cái cáinhìn của một cái tôi hiện đại, Xuân Diệu đã có một quan niệm rất riêng vềthời gian Ngay từ khi mới xuất hiện với những thi phẩm đầu tiên, ngời đọc
đã thấy Xuân Diệu bị ám ảnh bởi thời gian Và từ đó đến nay, bạn đọc đãkhám phá ra nhiều điều thú vị xung quanh “cái phong cách thời gian” của thi
sĩ Vội vàng là bài thơ tiêu biểu cho cái “phong cách thời gian” ấy.
Nh trên đã nói, trong thơ trung đại ngời ta quan niệm thời gian là tuầnhoàn Còn với Xuân Diệu, đó là thời gian tuyến tính Nó chẳng nhữngkhông trở lại, mà mỗi khoảnh khắc trôi qua là mất đi vĩnh viễn, nh con ngờivĩnh viễn mất đi một phần đời Đó là thời gian tiêu cực, hủy hoại tuổixuân:
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Trang 14Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định:
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Thớc đo thời gian của thi sĩ là tuổi trẻ Tuổi trẻ một đi không trở lại thì làmchi có sự tuần hoàn! Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thờigian, sự có mặt của con ngời thật là ngắn ngủi, hữu hạn Nghĩ về tính hạnchế của kiếp ngời, Xuân Diệu đã ngậm ngùi nuối tiếc:
Còn trời đất, nhng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng kăn hhuâng tôi tiếc cả đất trời;
Nhà thơ cũng đã có một cảm nhận đầy tính lạ hóa về thời gian:
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Là ngời say mê Bô- đơ- le - ông tổ của chủ nghĩa tợng trng Pháp, XuânDiệu đã mợn cảm quan tơng ứng của tợng trng để diễn đạt cái tinh thần lãng
mạn của mình: Thời gian đợc cảm nhận bằng khứu giác: Mùi tháng năm - thời
gian của Xuân Diệu làm bằng h-ơng Chắc có lẽ vì vậy mà thi sĩ muốnbuộc gió lại để giữ mãi tuổi xuân của cuộc đời Thời gian không chỉ đợccảm nhận bằng khứu giác mà còn đợc cảm nhận thị giác, vị giác: Một chữ
rớm gợi nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ Chữ vị liền đó, lại cho thấy cảm
giác thơ đã chuyển sang vị giác Và đây là một thứ vị hoàn toàn phi vật
chất: vị chia phôi Và không chỉ nh vậy, thi nhân còn có cách cảm nhận
thời gian tinh tế hơn ở chỗ: Với cảm quan tinh nhạy của một cái tôi lãng mạnthời đại Thơ mới, thi sĩ thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏhiện tại để trở thành quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn Trên mỗithời khắc đều đang có một cuộc ra đi nh thế, thời gian đang chia tay với
con ngời, chia tay với không gian và cả với chính thời gian Cả đất Trang 14
Trang 15trời đang diễn ra một cuộc chia tay lớn nên thi sĩ nghe thấy một lời thantriền miên, bất tận:
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt Trong
hầu hết các thi phẩm của Xuân Diệu, bạn đọc có thể
dễ dàng nhận thấy khác với quan niệm thời gian của nhiều thi nhân khác thời gian bốn mùa luân chuyển hay quan niệm thời gian ba thì quen thuộc:quá khứ - hiện tại - tơng lai thì Xuân Diệu lại chia bốn mùa trong năm thànhhai mùa: mùa xuân và mùa còn lại Mà mùa còn lại hầu nh không có, vì bốnmùa đều có thể thành xuân:
-Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé Giữa mùa hè khi trời biếc sau ma Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng.
Vậy là với Xuân Diệu chỉ tồn tại duy nhất một mùa - mùa xuân Mặt khác, ởnhững câu thơ trên ta đã biết thi sĩ đã lấy tuổi trẻ để đo đếm thời gian,tuy nhiên trong thực tế thì thời gian là một dòng chảy trôi lạnh lùng và hơn aihết Xuân Diệu là ngời rất nhạy cảm với thời gian và luôn bị ám ảnh bởi thờigian, vậy thì thi sĩ đã đo đếm dòng chảy thời gian đó bằng cách nào? Nhtrên phần giới thuyết khái niệm thời gian nghệ thuật ta đã biết thời giannghệ thuật là thời gian do con ngời sáng tạo ra mang đậm tính chủ quan
Trong Vội vàng thi sĩ đã xây cất lên cái thế giới nghệ thuật riêng của mình
bằng quan niệm thời gian khác lạ: “thời sắc” Thời gian đợc nhìn ở phía
nhan sắc, gắn với nhan sắc của sự vật: thời tơi và thời phai Thời tơi là thời gian gắn liền với nhan sắc son trẻ của mỗi sự vật Độ xuân thì chính là
thời tơi, lúc vạn vật tràn đầy âm thanh, hơng sắc:
Của ong bớm này đây tuần tháng mật;