1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay

84 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 899,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của KHCN và tác động của nó đã khiến cho việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đối với tất cả các quốc g

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.s Trần Thị Hoa Lý, người đã

tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kinh nghiệm cho em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài khóa luận

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sự cổ vũ, động viên, tạo điều kiện giúp đỡ của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian em thực hiện khóa luận trên

Do lần đầu tiên làm quen với nghiên cứu khoa học nên đề tài khóa luận của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được

sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài này được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Ngày 5 tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Đỗ Thị Nhài

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Th.s

Trần Thị Hoa Lý, tôi xin cam đoan rằng:

- Đây là kết luận nghiên cứu của riêng tôi

- Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, Ngày 5 tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Đỗ Thị Nhài

Trang 4

DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT

CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNTT : Công nghệ thông tin

CSHT : Cơ sở hạ tầng

GD - ĐT : Giáo dục - Đào tạo

GTVT : Giao thông vận tải

KTTT : Kinh tế thị trường

KHCN : Khoa học công nghệ

KNXK : Kim ngạch xuất khẩu

NK : Nhập khẩu

TCH : Toàn cầu hoá

TTLL : Thông tin liên lạc

TLSX : Tư liệu sản xuất

XK : Xuất khẩu

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài 9

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 10

5 Đóng góp của khoá luận 10

6 Kết cấu của khoá luận 10

NỘI DUNG 11

Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI 11

1.1 Kinh tế đối ngoại và cơ sở khách quan của việc hình thành, phát triển kinh tế đối ngoại 11

1.2 Tính tất yếu phải mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay 12

1.3 Vai trò của kinh tế đối ngoại 18

1.4 Những hình thức chủ yếu của kinh tế đối ngoại 20

1.5 Quan điểm của Đảng về vấn đề mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 26

Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 30

2.1 Các bước đi của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại 30

2.2 Những thành tựu 33

2.3 Những hạn chế trong quá trình mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiên nay 45

2.4 Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên 53

Trang 6

Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 58

3.1 Những phương hướng nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 58 3.2 Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 59

KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ (KHCN) trên thế giới đã tạo điều kiện cho nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ Cùng với nó là xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá gắn liền với tự do hoá thương mại, đầu tư liên kết quốc

tế, v.v Mặt khác, trên thế giới có nhiều vấn đề cần giải quyết như bùng nổ dân số, nạn nghèo đói, bệnh tật, thiên tai, bão lụt xảy ra thường xuyên, v.v Trước những biến đổi to lớn đó, các quốc gia cần phải tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Đối với Việt Nam, việc nhập khẩu các sản phẩm mà trong nước không thể cung cấp với giá tương ứng, việc thu hút đầu

tư, chuyển giao công nghệ và các ý tưởng từ những nước phát triển hơn, việc tiếp cận thị trường vốn, hàng hoá quốc tế có thể giúp chúng ta giải quyết một

số hạn chế để tăng trưởng, phát triển kinh tế nhanh Nhưng đó là những lợi ích tiềm năng chỉ có thể phát huy đầy đủ tác dụng khi nước ta có nội lực vững mạnh với những chính sách, thể chế bổ trợ Kinh nghiệm của những nước đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đến nay là phải kết hợp tốt giữa việc mở cửa tự do hoá với việc duy trì mức tiết kiệm - đầu tư cao, ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực và quản lý nhà nước tốt

Để hội nhập vào nền kinh tế thế giới nhất thiết phải mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của KHCN và tác động của nó đã khiến cho việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đối với tất cả các quốc gia, đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại Do đó, cần thiết phải mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để mở rộng và đa dạng hoá

Trang 8

thị trường, tranh thủ vốn, kinh nghiệm quản lý, KHCN tiên tiến, v.v Sự phát triển kinh tế đối ngoại trong thời gian vừa qua có ý nghĩa hết sức quan trọng, thậm chí là quyết định đối với tăng trưởng kinh tế của nước ta Nước ta đã đạt được những thành tựu cả về tăng trưởng xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư,

du lịch, v.v Việt Nam đã tham gia sâu rộng, ngày càng hiệu quả ở các tổ chức khu vực như ASEAN, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Á - Âu (ASEM), tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, v.v Những đóng góp của Việt Nam vào hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế góp phần từng bước nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế

Mở rộng kinh tế đối ngoại và tham gia hội nhập kinh tế quốc tế tạo cho ta những cơ hội, những bước đột phá lớn, song bên cạnh đó còn rất nhiều thách thức và mặt trái của nó Do vậy, chúng ta cần có cách nhìn toàn diện về vấn

đề, để có những bước đi đúng đắn đưa kinh tế nước ta phát triển, cải thiện đời sống nhân dân, tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội, đặc biệt phải gắn với giữ vững lập trường chính trị và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia

Do tính cấp thiết của vấn đề nên tôi đã chọn đề tài: "Một số giải pháp

nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài khoá luận tốt nghiệp Khoá luận góp phần tìm hiểu về thực

trạng của kinh tế đối ngoại ở Việt Nam, qua đó bước đầu đưa ra những giải pháp nhằm phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề về kinh tế đối ngoại cho tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết đề cập tới như:

- Nguyễn Huy Oánh (2003), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế đối ngoại,

thu hút ngoại lực và phát huy nội lực”, Tạp chí Cộng sản, số 3, tr.17-23

- Võ Đại Lược (3/2001), “Kinh tế đối ngoại nước ta hiện nay: Tình hình

Trang 9

và giải pháp”, Tạp chí Thời đại mới, số 1, tr.15-19

- Vũ Quang Vinh (2001), Hoạt động kinh tế đối ngoại 1986 - 2006, Nxb

Thanh niên, Hà Nội

- GS, TS Đỗ Thế Tùng (1/2003), “Tác động của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt

Nam”, Nghiên cứu Kinh tế, số 296, tr.32-37

Vấn đề kinh tế đối ngoại đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, các nhà nghiên cứu, tác giả đã khai thác vấn đề ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Song nghiên cứu về giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại thì còn ít và sơ bộ Trên cơ sở vừa tiếp thu, vừa kế thừa

những ý kiến của các nhà nghiên cứu tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Một số

giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khoá luận của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích

Qua việc tìm hiểu thực trạng những thành tựu và hạn chế của hoạt động kinh tế đối ngoại ở nước ta đề tài đã đưa ra một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

- Một số lý luận cơ bản về kinh tế đối ngoại

- Thực trạng của hoạt động kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Khoá luận tập trung nghiên cứu về một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam hiện nay

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Khoá luận lấy Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận Đồng thời, sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp hệ thống hoá; phương pháp diễn dịch, quy nạp, v.v để giải quyết các nhiệm vụ đã đặt ra

5 Đóng góp của khoá luận

5.1 Ý nghĩa lý luận

Khoá luận góp phần tìm hiểu về vấn đề kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Làm rõ một số lý luận cơ bản về kinh tế đối ngoại như khái niệm, tính tất yếu phải mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay, vai trò và tác dụng của kinh tế đối ngoại, những hình thức chủ yếu của kinh tế đối ngoại

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Thông qua việc phân tích thực trạng hoạt động kinh tế đối ngoại khoá luận chỉ ra được một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên

- Khoá luận bước đầu nêu lên một số phương hướng và giải pháp nhằm

mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay

6 Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khoá luận gồm

3 chương, 11 tiết

- Chương 1: Một số lý luận cơ bản về kinh tế đối ngoại

- Chương 2: Thực trạng của quá trình mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh

tế đối ngoại ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

1.1 Kinh tế đối ngoại và cơ sở khách quan của việc hình thành, phát triển kinh tế đối ngoại

Quan hệ kinh tế quốc tế đã xuất hiện rất sớm Lịch sử đã ghi nhận "con đường tơ lụa" - là con đường huyền thoại nối liền Trung Hoa rộng lớn với vùng Tây Á, nối liền châu Á với châu Âu; được coi là một hệ thống những con đường thương mại lớn nhất thế giới thời cổ đại (khoảng thế kỷ 2 TCN), là cầu nối giữa hai nền văn minh Đông - Tây Trong lịch sử các thương gia Trung Hoa mang vải lụa, gấm vóc, sa, nhiễu, v.v đến Ba Tư và La Mã trao đổi lấy vàng, đồng thời doanh nhân ở những vùng khác cũng tìm đường đến với Trung Hoa trao đổi hàng hoá - đó chính là thương mại quốc tế, một hình thức chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế tồn tại cho đến ngày nay Thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho các nước tham gia nhờ mỗi quốc gia có những lợi thế riêng do điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, trình độ chuyên môn hoá lao động, v.v khác nhau quy định

Sau này, các nhà kinh tế học đã khái quát lại thành lý thuyết lợi thế: lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Ađam Smith và lợi thế so sánh của David Ricardo Theo Ađam Smith: lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí sản xuất để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm, khi một nước sản xuất

ra sản phẩm có chi phí cao hơn có thể nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn Còn lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo: một nước có thể thu được lợi từ thương mại bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước khác trong việc sản xuất mọi hàng hoá Đó là cở sở lý thuyết cho sự lựa chọn thương mại quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Tuy nhiên, trước đây quan hệ kinh tế không thể phát

Trang 12

triển mạnh mẽ, nhanh chóng như ngày nay do những điều kiện cần thiết cho

mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế như phương tiện GTVT, TTLL, thị trường, v.v chưa phát triển cao

Trái lại, trong thời đại ngày nay, quan hệ kinh tế quốc tế (khi xem xét ở dưới góc độ khác gọi là quan hệ kinh tế đối ngoại) phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu, trở thành một xu thế tất yếu mà không một quốc gia nào có thể nằm ngoài nó Hiện nay, toàn cầu hoá kinh tế thế giới tạo ra nhiều thời cơ cũng như thách thức lớn với mỗi quốc gia Các quốc gia có thể phát triển nhanh hơn nếu biết nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, còn nếu không

sẽ bị tụt hậu xa hơn so với khu vực và thế giới Do vậy, các quốc gia phải mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại

Vậy, "Kinh tế đối ngoại của một quốc gia là một bộ phận của kinh tế quốc

tế, là tổng thể của các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một quốc gia nhất định với các quốc gia khác còn lại hoặc với các tổ chức kinh tế quốc tế khác, được thực hiên dưới nhiều hình thức, hình thành và phát triên trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế"

1.2.1 Hội nhập kinh tế quốc tế - xu thế tất yếu của thời đại

1.2.1.1 Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang đưa loài người vào thời đại kinh tế tri thức

Thế kỷ XXI, cuộc cách mạng KHCN hiện đại phát triển theo chiều sâu,

Trang 13

tác động sâu rộng hơn nữa đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới đặc biệt

là cách mạng về máy tính và cách mạng sinh học Những thành tựu KHCN mới đặc biệt là công nghệ gen, công nghệ sinh học, công nghệ nano, công nghệ thông tin sẽ làm cho KHCN ngày càng trở thành lực lượng sản xuất nòng cốt và trực tiếp của xã hội tạo nên động lực cho sự phát triển kinh tế thế giới CSVC kỹ thuật của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia công nghiệp phát triển đã có những thay đổi lớn về chất, nền sản xuất đạt được năng suất lao động cao chưa từng thấy, tạo ra một khối lượng của cải khổng lồ với hàm lượng tri thức cao KHCN đã góp phần tới 50 - 60% vào tăng trưởng kinh tế, trong đó 3/5 là do tăng năng suất lao động trên cơ sở những thành tựu của KHCN Sự đóng góp này làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo xu hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp; tỷ trọng của các ngành công nghệ cao - lấy công nghệ thông tin làm chính - trong các nền kinh

tế tăng lên nhanh chóng góp phần đưa nền kinh tế thế giới chuyển dần sang nền kinh tế tri thức, làm thay đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu việc làm và trí thức hoá lực lượng lao động Sự phát triển của KHCN và nền kinh tế tri thức

đã thúc đẩy nền sản xuất, thương mại thế giới phát triển Trong Báo cáo Chính trị của Đại hội IX (4/2001) Đảng ta đã đánh giá tình hình thế giới lúc này có đặc điểm: "Cuộc cách mạng KHCN, nhất là công nghệ thông tin vốn

đã rất phát triển ở thế kỷ XX, vẫn tiếp tục phát triển ở thế kỷ XXI, dần đưa loài người bước vào nền văn minh trí tuệ với 2 đặc trưng: xã hội thông tin và kinh tế tri thức" Điều này đòi hỏi phải có chính sách đầu tư đúng đắn cho KHCN, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam thì vai trò của cách mạng KHCN là nhân tố quyết định tăng trưởng và phát triển kinh tế

1.2.1.2 Xu hướng chung của thời đại ngày nay là xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa gắn với tự do hoá thương mại nền kinh tế thế giới

Đảng ta đã nhận định "TCH mà nhất là TCH kinh tế là một xu thế khách

Trang 14

quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia" Với xu hướng này đầu tư, liên kết kinh tế quốc tế gia tăng mạnh mẽ, tự do hoá thương mại tiếp tục được đẩy mạnh, đầu tư nước ngoài ngày càng được mở rộng, sự lớn mạnh của các công

ty xuyên quốc gia (TNCs), công ty đa quốc gia (MNCs) và hệ thống tài chính

- tiền tệ thế giới, đặc biệt là sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 1995 đã cuốn nền kinh tế thế giới vào dòng chảy chung Tính đến năm 2005, trên thế giới đã có 312 hiệp định mậu dịch song phương, khu vực được ký kết và được thông báo đến tổ chức WTO Nhận thức được tình hình

đó, nhiều nước kể cả các nước trước đây vẫn thực hiện chính sách bảo hộ mậu dịch nghiêm ngặt đã tiến hành cải cách kinh tế mở cửa với bên ngoài, tham gia vào quá trình TCH Nhờ đó, kinh tế các nước này liên tục tăng trưởng với tốc độ cao Trung Quốc và Ấn Độ đang nổi lên thành một trung tâm kinh tế cùng với Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, khu vực Đông Á và Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động TCH kinh tế được biểu hiện rõ nét ở chỗ:

- Một là, sự phân công lao động quốc tế và hợp tác quốc tế giữa các quốc

gia, giữa các khu vực phát triển ngày càng sâu rộng, bao quát nhiều lĩnh vực với tốc độ nhanh Ngày nay, nhiều sản phẩm do nhiều quốc gia cùng sản xuất

Ví dụ, sản xuất máy bay Boing có tới 650 công ty trên thế giới đặt ở 30 quốc gia tham gia, có nước chuyên về gia công, có nước chuyên về lắp ráp, mỗi nước chỉ tham gia sản xuất một hay một vài chi tiết của nó

- Hai là, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các nước ngày càng tăng

Sự chuyên môn hoá, hiệp tác hoá sản xuất làm cho các nước phụ thuộc nhau

về nhiều mặt: nguyên liệu, kỹ thuật, công nghệ, vốn, lao động, thị trường, v.v mỗi quốc gia đều cố gắng khai thác tốt những thế mạnh của mình

- Ba là, hình thành kết cấu hạ tầng sản xuất quốc tế, chi phí sản xuất quốc

tế và giá cả quốc tế Để mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại các quốc gia khi xây dựng kết cấu hạ tầng sản xuất như đường giao thông, sân bay, bến cảng,

Trang 15

kho bãi, hệ thống TTLL, v.v đều dựa theo tiêu chuẩn quốc tế TCH kinh tế còn biểu hiện ở sự hình thành giá cả quốc tế Sự hình thành giá cả quốc tế giúp cho các quốc gia tìm ra lợi thế của mình, tập trung vào sản xuất những sản phẩm có thế mạnh XK và mua những sản phẩm mà nước mình chưa sản xuất hay chất lượng chưa cao

Trong nền kinh tế TCH diễn ra mạnh mẽ các quốc gia trên thế giới ngày càng có xu hướng lựa chọn chiến lược kinh tế phát triển bền vững, TCH vừa tạo cơ hội vừa tạo ra những thách thức lớn, vì thế, phát triển kinh tế bền vững

sẽ là lựa chọn của nhiều quốc gia đặt ra yêu cầu cho các nước là phải sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả Muốn vậy, các quốc gia cần phải biết nắm bắt những cơ hội và bước qua những thách thức để phát triển đất nước bằng việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tham gia rộng hơn và sâu sắc hơn vào phân công lao động quốc tế

1.2.1.3 Xu hướng hoà bình ổn định, hợp tác và phát triển đang trở thành

xu thế chính của thời đại

Năm 1991, Chiến tranh lạnh kết thúc, sự sụp đổ của hệ thống XHCN trên thế giới đã chấm dứt sự đối đầu giữa hai hệ thống kinh tế xã hội Thế giới chuyển từ hai cực sang đa cực, chuyển từ xu thế đối đầu sang đối thoại, mở ra thời kỳ hội nhập kinh tế toàn cầu bằng việc ký kết các hiệp định song phương,

đa phương Các nước nhất là những nước đang phát triển mở rộng kinh tế đối ngoại, tiến hành hội nhập với nền kinh tế thế giới Xu hướng hoà bình ổn định, hợp tác và phát triển trở thành xu thế chính của thời đại Đây là một đặc trưng quan trọng vì nếu chiến tranh thế giới vẫn diễn ra, các nước vẫn đối đầu nhau thì sẽ không có sự hợp tác hội nhập giữa các nước Các quốc gia nói chung cho đến nay đã chấp nhận toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy đã tham gia vào các tổ chức IMF, WB và WTO, cùng các tổ chức kinh tế khu vực Ngoài ra, các vấn đề toàn cầu như: ô nhiễm môi trường, bùng nổ dân số,

Trang 16

bệnh tật hiểm nghèo, khủng bố, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng hoảng kinh

tế - xã hội, v.v đòi hỏi các quốc gia phải hợp tác giải quyết nhằm xây dựng một thế giới hoà bình, ổn định phát triển

Từ sau Đại hội X, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức về xu hướng của thế giới hiện nay đó là "tình hình thế giới và khu vực thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp Cách mạng KHCN và TCH diễn ra mạnh mẽ; hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn" [9, 163] Do vậy, để phát triển kinh tế đất nước chúng ta phải không ngừng mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại và tăng cường hội nhập vào nền kinh tế thế giới

1.2.2 Những tiền đề, cơ sở cho Việt Nam mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại

Đảng Cộng sản Việt Nam với bản chất cách mạng và tư duy chính trị nhạy bén đã tiến hành công cuộc đổi mới một cách toàn diện, sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực: đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới quan hệ kinh tế đối ngoại và cải cách nền hành chính quốc gia Nước ta có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đối ngoại đó là:

- Thứ nhất, Việt Nam có vị trí địa lý vô cùng thuận lợi nằm trên bán đảo

Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam Á, có một vùng biển rộng lớn giàu tiềm năng, đường bờ biển dài 3260 km, có các cảng nước sâu như cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân, cảng Cam Ranh, cảng Sài gòn, v.v là điều kiện phát triển du lịch biển, thuỷ hải sản, giao lưu buôn bán với quốc tế Việt Nam nằm trong đầu mối của tuyến giao thông quan trọng cả về đường bộ, đường biển, đường không nối Đông Bắc Á với Đông Nam Á, nối Thái Bình Dương với

Ấn Độ Dương là vị trí địa lý thuận lợi cho ta hội nhập Nước ta trở thành trạm trung chuyển của quốc tế, là cửa ngõ để đi vào châu Á Do vậy, chúng ta có thể phát triển nhiều thương cảng lớn, hàng hoá nước ta khi xuất khẩu đi các nước được thuận lợi Việt Nam lại nằm ở khu vực đang diễn ra những hoạt

Trang 17

động kinh tế sôi động của thế giới Nền kinh tế của các nước trong khu vực đứng đầu là Singapo được coi là con rồng của châu Á, sau đó là Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia có nhiều chuyển biến đáng kể và ngày càng chiếm vị trí cao hơn trong nền kinh tế toàn cầu cũng như ở châu Á - Thái Bình Dương Nước ta còn nằm gần các nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, v.v nên chúng ta có rất nhiều thuận lợi cho hợp tác kinh tế, chuyển giao công nghệ Mặc dù cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua có làm chậm bước phát triển của khu vực, nhưng kinh tế các nước đã được phục hồi và tiếp tục thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư trên thế giới Mặt khác, nước ta lại nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa Đặc điểm đó đã làm cho thiên nhiên nước ta khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ ở Tây Á, Đông Phi, Tây Phi và tác động sâu sắc tới các hoạt động kinh tế Đất nước ta có nhiều di sản, nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều khu di tích lịch sử, có truyền thống văn hoá, v.v tạo thuận lợi cho chúng ta phát triển ngành dịch vụ du lịch

- Thứ hai, Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa

dạng Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế đất nước đặc biệt là tài nguyên đất (đất phù sa, đất phèn, đất feralit, v.v ) và khoáng sản (boxit, vật liệu xây dựng, dầu khí, sắt, v.v )

- Thứ ba, Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào tính đến tháng 12/2011

tổng số dân nước ta là 87,84 triệu người, tăng 1,04% so với năm 2010, số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng 67% dân số cả nước [22] Lao động Việt Nam được đánh giá là khéo léo, thông minh, sáng tạo, tiếp thu nhanh kỹ thuật và công nghệ hiện đại được chuyển giao nhanh từ bên ngoài đó là những lợi thế để mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại Đặc biệt là khi Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến chất lượng nguồn lao động, coi phát triển con người là nhiệm vụ trung tâm, GD - ĐT là quốc sách hàng đầu

Trang 18

- Thứ tư, Việt Nam có điều kiện chính trị - xã hội ổn định, được coi là một

trong những nơi đầu tư an toàn nhất do các tổ chức quốc tế công nhận bởi nước ta có tổ chức Đảng vững mạnh, Nhà nước của dân, do dân, vì dân Trong khi một số nơi khác liên tục xảy ra những cuộc xung đột vũ trang như Trung Đông, Tây Á, châu Phi tạo tâm lý lo ngại cho các nhà đầu tư thì sự ổn định chính trị của nước ta là điểm sáng cho các nhà đầu tư quốc tế

- Thứ năm, Việt Nam có lợi thế là nước đi sau nên chúng ta có thể tranh

thủ được những thành tựu KHCN, kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển đi trước để phát triển kinh tế cũng như tránh được những sai lầm, rút ngắn khoảng cách giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới

- Thứ sáu, Việt Nam có những yếu tố thuận lợi về kinh tế Nhìn lại 25 năm

tiến hành đổi mới, nền kinh tế nước ta luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, liên tục với các chỉ số dao động bình quân từ 7,5% - 8%, GDP đầu người tăng, từ một nước thiếu lương thực chúng ta đã đi tới xuất khẩu gạo, kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, v.v

Những điều kiện thuận lợi trên có ý nghĩa quan trọng để nước ta mở rộng

và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế đất nước Nhiệm vụ quan trọng này đã được nhấn mạnh "Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất" [6, 165]

1.3 Vai trò của kinh tế đối ngoại

Kinh tế đối ngoại là một mặt hoạt động không thể thiếu đối với bất kỳ một quốc gia nào trong thời kỳ hội nhập và phân công lao động quốc tế

- Đối với các nước công nghiệp phát triển thì mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại giúp cho việc bành trướng sức mạnh kinh tế một cách nhanh chóng như tìm kiếm thị trường mới để mở rộng sản xuất hàng hoá, tìm kiếm nơi đầu tư

Trang 19

thuận lợi đem lại lợi nhuận lớn, giảm chi phí sản xuất do sử dụng nguồn tài nguyên và lao động rẻ ở các nước đang phát triển

- Đối với các nước đang phát triển thì việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại có vai trò quan trọng là có thể coi những cơ hội xuất hiện trên thế giới như là cơ hội của chính mình, có thể tìm nguồn lực cho sự phát triển của mình

từ những cái đang có trong nền kinh tế thế giới Các nước không phải vật lộn với quá trình tự tìm ra các tri thức, công nghệ mà sử dụng ngay những công nghệ tiên tiến của nhân loại để tiến hành CNH, HĐH đất nước, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng năng động, tăng trưởng với tốc độ cao Hơn nữa thị trường của các nước này quá chật hẹp không đủ đảm bảo cho phát triển nền công nghiệp với quy mô sản xuất hàng loạt Mở rộng kinh tế đối ngoại giúp các nước đang phát triển lấy thị trường thế giới làm đối tượng để sản xuất và trao đổi hàng hoá, thực hiện phân bổ nguồn lực, tham gia vào mạng lưới phân công kinh tế toàn cầu Việc mở rộng kinh tế đối ngoại còn nhằm khai thác triệt để các thế mạnh của đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện củng cố hoà bình

- Đối với Việt Nam, vai trò của kinh tế đối ngoại được thể hiện qua những mặt sau:

+ Góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nước với sản xuất và trao đổi quốc tế, nối liền thị trường trong nước với thị trường khu vực và thế giới,

mở rộng thị trường ra bên ngoài đồng thời góp phần phát triển thị trường trong nước Thị trường hàng hoá được mở rộng sẽ tạo điều kiện cho các ngành kinh tế trong nước phát triển

+ Hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI)

và vốn viện trợ chính thức từ các chính phủ và tổ chức tiền tệ quốc tế (ODA); thu hút khoa học, kỹ thuật, công nghệ; khai thác và ứng dụng những kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại vào nước ta

Trang 20

+ Mở rộng kinh tế đối ngoại giúp khai thác được nguồn lực từ bên ngoài, góp phần tích luỹ vốn phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu lên một nước công nghiệp tiên tiến, hiện đại + Mở rộng kinh tế đối ngoại tạo điều kiện khai thác và phát huy có hiệu quả các nguồn lực trong nước, kết hợp nguồn lực trong nước và nguồn lực bên ngoài, mở rộng không gian, môi trường để phát triển kinh tế Việt Nam có thể phát huy những nguồn lực sẵn có như tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực dồi dào cho các ngành kinh tế phát triển

+ Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân góp phần đưa nước ta sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển, đưa đất nước đi lên theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Kinh tế đối ngoại có vai trò vô cùng to lớn đối với phát triển của các quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng Ở nước ta để kinh tế đối ngoại đạt được những thành tựu thì cần phải vượt qua được những thử thách của toàn cầu hoá và cần giữ đúng định hướng xã hội chủ nghĩa

1.4 Những hình thức chủ yếu của kinh tế đối ngoại

1.4.1 Ngoại thương

Ngoại thương, hay còn gọi là thương mại quốc tế, là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia thông qua xuất nhập khẩu Trong hoạt động ngoại thương, xuất khẩu là việc bán hàng hoá, dịch vụ cho nước ngoài, và nhập khẩu chính là việc mua hàng hoá, dịch vụ của nước ngoài

Đây là một trong những hình thức chủ yếu và có hiệu quả nhất trong các hình thức của kinh tế đối ngoại Ngoại thương góp phần làm tăng của cải, tăng tích luỹ của mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; là

"công cụ điều tiết thừa thiếu" trong mỗi nước; nâng cao trình độ công nghệ và

Trang 21

cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của người lao động nhất là trong các ngành xuất khẩu

Ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, thuê nước ngoài gia công tái xuất khẩu Đối với nước ta, xuất khẩu là hướng ưu tiên và trọng điểm của hoạt động ngoại thương

Trong những năm gần đây, dưới tác động của cách mạng KHCN và xu hướng TCH, khu vực hoá, ngoại thương quốc tế có những đặc điểm mới:

- Tốc độ tăng trưởng của ngoại thương quốc tế tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân

- Cơ cấu mặt hàng có sự biến đổi quan trọng Sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao chiếm tỷ trọng ngày càng lớn

- Tính cạnh tranh ngày càng cao không chỉ về chất lượng sản phẩm mà về

cả dịch vụ bán hàng Phạm vi thị trường ngày càng mở rộng không chỉ hàng hoá, dịch vụ thông thường mà còn sang cả lĩnh vực tài chính, tiền tệ - lĩnh vực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế

dự trữ lao động, tạo nhiều việc làm và tận dụng công suất máy móc hiện có Hiện nay, ngành gia công Việt Nam đang có cơ hội lớn để trở thành trung tâm của các công ty đa quốc gia Các công ty này mang sản phẩm phải sử dụng

Trang 22

nhiều nhân công đến Việt Nam tìm kiếm những đơn vị gia công trực tiếp Những ngành có nhu cầu gia công cao như may mặc, da giày, v.v Nhiều hãng giày da nổi tiếng như Adidas, Coach, Prada, v.v đang dịch chuyển về Việt Nam Những tập đoàn cơ khí - điện tử như Lifan, Foxconn, v.v cũng đến Việt Nam lập công ty sản xuất Đối với nước ta, trong những năm trước mắt, tăng cường việc nhận gia công là một phương hướng đúng đắn, có ý nghĩa chiến lược để mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, ổn định tình hình kinh tế trong nước

1.4.2.2 Xây dựng những xí nghiệp chung với sự hùn vốn và công nghệ từ nước ngoài

Đây là kiểu tổ chức xí nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ và tổ chức tín dụng, v.v nó thường được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần với trách nhiệm hữu hạn tương ứng với số vốn đóng góp của các thành viên Các xí nghiệp này thường được ưu tiên xây dựng ở những ngành kinh tế quốc dân hướng vào XK hay thay thế hàng NK và trở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi hay tạo điều kiện cho nhà nước tiết kiệm ngoại tệ

1.4.2.3 Hợp tác sản xuất quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá

Do phân công lao động quốc tế tất yếu dẫn đến hợp tác sản xuất quốc tế,

nó có thể diễn ra một cách tự giác theo hiệp định hay hợp đồng giữa các bên tham gia, hoặc một cách tự phát do kết quả cạnh tranh, do đầu tư và lập các công ty xuyên quốc gia tại các nước

Chuyên môn hoá bao gồm chuyên môn hoá những ngành khác nhau và chuyên môn hoá cùng một ngành Hình thức hợp tác này làm cho cơ cấu kinh

tế ngành của các nước tham gia đan kết vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau,

1.4.3 Hợp tác khoa học - kĩ thuật

Hợp tác khoa học kỹ thuật được thực hiện dưới nhiều hình thức như trao đổi tài liệu - kỹ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao đổi kinh nghiệm,

Trang 23

chuyển giao công nghệ, phối hợp nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân, v.v

Hợp tác khoa học - kỹ thuật có tác dụng quan trọng đối với những nước lạc hậu về kỹ thuật, vốn chi cho nghiên cứu khoa học - kỹ thuật còn ít, đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật chưa nhiều, phương tiện vật chất còn thiếu thốn vì đó là một điều kiện thiết yếu để rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến, giúp các nước này có thể áp dụng được khoa học - kỹ thuật của các nước phát triển vào quá trình sản xuất của nước mình

1.4.4 Đầu tư quốc tế

Là quá trình trong đó hai hay nhiều bên (có quốc tịch khác nhau) cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt đối với các nước nhận đầu tư Một mặt, làm tăng nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý, tạo việc làm, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thị trường (KTTT) hiện đại trên thế giới Mặt khác, đối với các nước kém phát triển, nó sẽ làm tăng sự phân hoá giữa các giai cấp trong xã hội, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường, tăng tính phụ thuộc vào bên ngoài Có hai hình thức đầu tư quốc tế: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

- Đầu tư trực tiếp (FDI - Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư

mà quyền sở hữu và quyền sử dụng quản lý vốn của người đầu tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn đầu tư trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản

lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về kết quả và rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận

Đầu tư quốc tế trực tiếp được thực hiện dưới các hình thức:

+ Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng

+ Xí nghiệp liên doanh hai bên cùng góp vốn có hội đồng quản trị và ban điều hành chung

Trang 24

+ Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài

+ Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao Hình thức này cần có nguồn vốn đầu tư của bên ngoài và thường đầu tư cho các công trình kết cấu

hạ tầng

- Đầu tư gián tiếp (FII - Foreign Indirect Investment) là hoại hình đầu tư

mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là người có vốn không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, điều hành dự án mà thu lợi dưới hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay), hoặc lợi ích cổ phần (nếu là vốn cổ phần), hoặc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu cho vay ưu đãi)

Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức Chủ thể đầu tư gián tiếp có thể là chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, v.v với các hình thức như: viện trợ có hoàn lại, viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi hoặc không ưu đãi; mua cổ phiếu, chứng khoán Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển chính thức (ODA), bao gồm các khoản hỗ trợ không hoàn lại, các khoản tín dụng ưu đãi khác do các tổ chức trong hệ thống Liên hợp quốc, các chính phủ, các tổ chức kinh tế quốc dân dành cho các nước chậm phát triển

1.4.5 Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ khác như du lịch quốc tế, vận tải quốc tế, xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ

1.4.5.1 Du lịch quốc tế

Du lịch là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống văn hoá xã hội, đồng thời nó được coi là một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới Du lịch quốc tế bao gồm các hoạt động tổ chức, hướng dẫn du lịch, cung cấp các dịch vụ như ăn uống, nghỉ ngơi, tham quan, lưu niệm, v.v cho

du khách Việt Nam là một quốc gia có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều khu

di tích lịch sử nên phát triển du lịch quốc tế là một lợi thế rất lớn đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước Để tạo điều kiện phát triển nhanh và bền

Trang 25

vững ngành du lịch, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: "Phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá, lịch sử đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực

Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm"

[6, 178] Để thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế cần phải phát triển các ngành dịch vụ du lịch như nâng cấp các khách sạn, mở thêm các tours du lịch hấp dẫn, đầu tư hơn nữa cho du lịch, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi

và điều kiện tốt nhất cho khách du lịch khi đến với Việt Nam

1.4.5.2 Vận tải quốc tế

Vận tải quốc tế là hình thức chuyên chở hàng hoá và hành khách giữa hai hoặc nhiều nước, sử dụng các phương thức như: đường biển, đường sắt, đường bộ, đường hàng không, v.v trong đó vận tải đường biển có ý nghĩa quan trọng nhất Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài 3260 km không

kể các đảo, với các cảng nước sâu như Cửa Lò, Thị Vải - Vũng Tàu, Sài Gòn, Hải Phòng, v.v nên có thể phát huy thế mạnh của mình thông qua việc đẩy mạnh vận tải quốc tế

1.4.5.3 Xuất khẩu lao động ra nước ngoài và tại chỗ

Việt Nam là một quốc gia đông dân, tính tới tháng 12/2011 tổng số dân là 87,84 triệu người, mỗi năm tăng thêm gần 1 triệu người, kinh tế chưa phát triển, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm cao, v.v Việc xuất khẩu lao động mang lại nhiều lợi ích trước mắt và lâu dài như: thu được ngoại tệ cho người trực tiếp lao động và cho ngân sách nhà nước; người lao động được rèn luyện tay nghề và tác phong làm việc ở các nước phát triển sẽ vận dụng nó khi họ trở về nước; quan trọng hơn là giải quyết được việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp Vì vậy, đẩy mạnh xuất khẩu lao động thu ngoại tệ là một nhiệm vụ

Trang 26

quan trọng của kinh tế đối ngoại

1.4.5.4 Các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ khác

Ngoài các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ đã nêu trên còn có các hình thức khác như dịch vụ thu bảo hiểm, dịch vụ thông tin bưu điện, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tư vấn, v.v Trong những năm gần đây, nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động dịch vụ phát triển, nhờ vậy khu vực dịch vụ đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống dân cư, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế

1.5 Quan điểm của Đảng về vấn đề mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh

tế đối ngoại

Nhận thấy được tầm quan trọng, tính cấp thiết của quá trình hội nhập kinh

tế thế giới và vai trò của việc mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, ngay từ Đại hội VI (12/1986) và các Hội nghị Trung ương tiếp theo đã phân tích sâu sắc tình hình thế giới, đề ra chủ trương chủ yếu là đẩy lùi chính sách bao vây kinh tế, cô lập về chính trị đối với nước ta, mở rộng các quan hệ quốc tế Đảng ta nhấn mạnh phải "gắn thị trường trong nước và XK, có chính sách bảo

vệ sản xuất nội địa" và "thực hiện quan hệ kinh tế đối ngoại, sự phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế" Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 3 (khoá VI) chỉ rõ: Việt Nam sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước, các công ty nước ngoài trên cơ sở cùng có lợi và không có điều kiện chính trị ràng buộc, hạn chế đến mức thấp nhất cái giá phải trả

- Đại hội VII (6/1991) đã nêu ra tư tưởng hội nhập kinh tế quốc tế "Việt Nam muốn là bạn của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển", "gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới" và "mở rộng, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi" Cụ thể hoá đường lối Đại hội VII, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 3 (khoá VII) đã ra

Trang 27

chuyên đề chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá mà Đại hội VII nêu ra, đánh dấu bước khởi đầu của Việt Nam trong tiến trình hội nhập Như vậy, nếu như ở Đại hội VI, ta mới bắt đầu chủ trương "đẩy lùi chính sách bao vây kinh

tế và tiến tới mở rộng quan hệ quốc tế", chưa đề cập đến những khái niệm như

"đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại" thì đến Đại hội VII quan điểm đó,

xu hướng đó đã trở nên rõ ràng hơn

- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (6/1996), càng khẳng định rõ quan điểm, chủ trương của Đảng về quan hệ kinh tế đối ngoại "trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài; tích cực và chủ động thâm nhập, mở rộng thị trường quốc tế"; "trong hoàn cảnh mới, chúng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, hướng mạnh xuất khẩu"; "điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập quốc, xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta và các đối tác, chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, các diễn đàn, các tổ chức, các định chế quốc tế một cách có chọn lọc với bước đi thích hợp" Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 (khoá VIII)

đã nêu nhiệm vụ cụ thể đó là "tiến hành khẩn trương vững chắc đàm phán Hiệp định Thương mại với Mỹ, gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Có kế hoạch cụ thể để chủ động cam kết gia nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)" Có thể nói chỉ tới Đại hội VIII chủ trương về hội nhập kinh tế quốc

tế và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng ta mới được thể hiện rõ ràng và chi tiết Điều này cho thấy Đảng ta đã nhìn nhận đúng đắn vai trò của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với sự phát triển toàn diện và chiến lược tương lai của dân tộc Lần đầu tiên các thuật ngữ như "hội nhập quốc tế",

"tích cực và chủ động thâm nhập" hoặc "chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới" hay "gia nhập các tổ chức APEC, WTO" được thể hiện mạnh mẽ, tạo ra "kim chỉ nam" cho chính sách kinh tế đối ngoại nước ta thời kỳ này

Trang 28

- Chủ trương về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế tại Đại hội VIII đã được Đại hội IX (2001), phát triển và nâng cao lên một tầm mới với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển" Đồng thời Đại hội IX nhấn mạnh: "Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường" Điều đáng lưu ý ở đây là chủ trương chủ động hội nhập tại Đại hội VIII đã được phát triển thành "chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế

đa phương, song phương đã kí kết và chuẩn bị tốt các điều kiện để sớm gia nhập WTO"

Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về hội nhập kinh tế quốc tế Nghị quyết khẳng định "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ

và kiến thức quản lý để đẩy mạnh CNH, HĐH theo định hướng XHCN "

- Đại hội X (4/2006) của Đảng tiếp tục phát triển quan điểm lên một tầm cao mới, nêu cao yêu cầu "đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại", "thực hiện nhất quán đường lối độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại mở, đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ quốc tế, đưa quan hệ quốc tế song phương và đa phương đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững ", điểm mới nữa là Đại hội X đã nêu cao nhiệm vụ "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế", "hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương" vì nước ta đang đứng trên ngưỡng cửa của sự hội nhập hoàn toàn và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới với việc nỗ lực hoàn tất thủ tục để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đảng ta nhấn mạnh: cần tổ chức công việc cho thật tốt để "khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm thiểu tối đa những thách thức, rủi ro khi nước ta là

Trang 29

thành viên WTO", thực hiện hàng loạt nhiệm vụ về đổi mới thể chế kinh tế, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, phát huy vai trò chủ thể và tính năng động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hội nhập

- Gần đây nhất là Đại hội XI (1/2011) đưa ra chủ trương về hội nhập quốc

tế, mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại Đại hội đã khẳng định "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển;

đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;

là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế" Như vậy, điểm mới trong Đại hội XI là chúng ta đã chuyển từ chủ trương

"chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác" được thông qua tại Đại hội X sang "chủ động

và tích cực hội nhập quốc tế" Với chủ trương này, quan điểm của Đảng ta là nhấn mạnh hội nhập trong lĩnh vực kinh tế đồng thời mở rộng ra cả các lĩnh vực khác chính trị, quốc phòng, văn hoá - xã hội, v.v Đại hội hoàn chỉnh và

bổ sung thêm cụm từ "là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế" thể hiện sự trưởng thành trong quan hệ quốc tế của Việt Nam với sự tham gia ngày càng tích cực, chủ động, có trách nhiệm của nước ta tại các cơ chế, tổ chức, diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu

Tóm lại, những quan điểm, chủ trương của Đảng nêu trên đã chỉ ra đường lối cho nước ta thực hiện một cách có hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại, nhằm góp phần cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Các bước đi của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại

Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam trong suốt thập kỷ 1980 đã làm cho nền kinh tế nước ta kiệt quệ: lạm phát cao (năm 1986 là 775%), nhập siêu nghiêm trọng, thị trường khan hiếm hàng hoá (tháng 12 năm 1986, giá bán lẻ hàng hoá tăng 845,3%), số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, v.v Tại Đại hội Đảng lần VI (12/1986), Đảng ta chỉ ra nguyên nhân dẫn đến nền kinh tế kém phát triển đó là do tư duy kinh tế chậm đổi mới; việc đổi mới quản lý kinh tế ở cơ sở tiến hành chậm chạp, lúng túng; công tác cán bộ còn bảo thủ, trì trệ gắn với chế độ tập trung, quan liêu, bao cấp Từ thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện

"từng bước xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, bước đầu thực hiện cơ chế kế hoạch hoá kết hợp với thị trường theo phương thức hạch toán kinh doanh Thực hiện quan hệ kinh tế đối ngoại, sự phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế" Đây thực sự là bước đi đúng đắn của Đảng ta trong giai đoạn này Trong suốt quá trình tiến hành đổi mới đất nước, chúng ta đã mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế Các bước đi trong tiến trình mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của nước

ta chúng ta cần xem xét đến hai mặt

* Đối với bên ngoài:

Chúng ta đã thực hiện lần lượt các bước đi cụ thể Năm 1993, đã khai thông quan hệ với Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) IMF và WB đã hỗ trợ Việt Nam thông qua các chương trình tín dụng trung hạn - chương trình điều chỉnh cơ cấu của WB và

Trang 31

chương trình điều chỉnh cơ cấu mở rộng của IMF Đồng thời, chính các tổ chức này đã góp phần xây dựng cầu nối cho những cuộc đàm phán của Việt Nam với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Trong quan hệ với các tổ chức này, Việt Nam chấp nhận sự hỗ trợ về tài chính, nhưng không mất đi tính độc lập, tự chủ của mình

Tháng 1/1995, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập WTO, WTO tiếp nhận đơn xin gia nhập của Việt Nam và Việt Nam trở thành quan sát viên của tổ chức này Tính đến tháng 12/2005, Việt Nam đã tiến hành 10 phiên đàm phán đa phương với nhóm công tác WTO, đồng thời Việt Nam cũng tiến hành đàm phán song phương với các thành viên WTO Tính đến ngày 30/10/2005, Việt Nam đã kết thúc đàm phán với 21 đối tác Trong đó, phiên đàm phán đa phương thứ 10 về việc Việt Nam gia nhập WTO được tiến hành vào ngày 15/9/2005, là phiên rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với quá trình đàm phán của Việt Nam với các đối tác đa phương Việc đạt được thoả thuận sớm với EU, một đối tác thương mại lớn có 25 nước thành viên, đã có tác động tích cực đối với quá trình đàm phán của Việt Nam

Ngày 25/7/1995, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), đồng thời tham gia vào Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) Từ tháng 1/1996, Việt Nam bắt đầu thực hiện nghĩa vụ và

các cam kết trong Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT)

cho Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) Nội dung của nó là để thành lập một thị trường khu vực rộng lớn và mở cửa với mức thuế quan thấp (từ 0 - 5%), xoá bỏ các hàng rào thương mại cho các nước thành viên Ngoài

ra, Việt Nam còn tham gia đàm phán Hiệp định thương mại mậu dịch, tham gia chương trình hợp tác khác trong các lĩnh vực nông nghiệp, GTVT, v.v của ASEAN

Tháng 3/1996, Việt Nam tham gia Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM) với

Trang 32

tư cách là thành viên sáng lập Nội dung hợp tác chủ yếu tập trung vào làm thuận lợi hoá thương mại, đầu tư, hợp tác giữa các nhà doanh nghiệp Á - Âu

Ngày 15/6/1996, Việt Nam đã gửi đơn xin gia nhập Diễn đàn Hợp tác

Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), và đến tháng 11/1998, Việt Nam

được công nhận là thành viên chính thức của APEC Đây là một trong những bước ngoặt quan trọng khẳng định sự nhất quán trong chính sách hội nhập kinh tế của Việt Nam, đồng thời thể hiện kết quả những nỗ lực của Việt Nam hội nhập sâu rộng và toàn diện vào cộng đồng quốc tế Tham gia vào hoạt động APEC, Việt Nam có thể hợp tác với các cường quốc kinh tế như Hoa Kỳ,

EU, Nhật Bản, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Trung Quốc và ASEAN Hơn nữa, việc tham gia vào một diễn đàn kinh tế mở như APEC, các doanh nghiệp Việt Nam

có "cơ hội vàng" tiếp cận "khu vực thị trường" vô cùng lớn, giúp tăng trưởng kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh trên cơ sở phát trển khoa học công nghệ, nâng cao trình độ quản lý

Ngày 13/7/2000, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được ký kết,

mở ra thời kỳ quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Mỹ, tạo điều kiện cho hàng hoá Việt Nam xâm nhập vào thị trường Mỹ, một thị trường lớn và quan trọng bậc nhất trên thế giới

Ngày 07/11/2006 - "ngày lịch sử" - trở thành bước ngoặt lịch sử khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO Lễ gia nhập được tổ chức long trọng tại Giơnevơ (Thuỵ Sĩ) trước sự chứng kiến đông đảo của các thành viên trong tổ chức và bạn bè quốc tế Từ đây, Việt Nam bước vào sân chơi hội nhập với những cam go và vận hội mới

Ngoài ra, Việt Nam còn ký được hiệp định khung với EU và Hiệp định về thoả thuận đối xử tối huệ quốc với nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới

* Đối với trong nước:

Chúng ta đã làm được 3 việc cơ bản:

Trang 33

- Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật, văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý phù hợp cho hội nhập Ví dụ như Luật Đầu tư nước ngoài từ 1987, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty từ năm 1991, Luật Thương mại năm 1997, v.v

- Thực hiện sự chuyển đổi thể chế kinh tế, đổi mới chính sách hệ thống kinh tế vĩ mô, cố gắng cải cách kinh tế, xây dựng cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế

- Ngày 10/02/1998 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định thành lập Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế Uỷ ban này có nhiệm vụ giúp Thủ tướng chỉ đạo, điều hành các bộ, ban, ngành trong việc tham gia mở rộng quan hệ

kinh tế đối ngoại

vị thế của mình trong quan hệ quốc tế Việc đẩy mạnh quan hệ kinh tế đối ngoại, gia nhập vào các tổ chức kinh tế giúp chúng ta được đối xử công bằng hơn bởi các quy định, định chế của nó, đồng thời nâng cao chất lượng hàng hoá, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam

Chúng ta đã thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá và hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Trên cơ sở đường lối đối ngoại đó, Việt Nam chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt song phương và đa phương với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên cơ sở những

Trang 34

nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc Vì vậy, chúng ta đã đẩy lùi được chính sách bao vây, cấm vận của các nước, các thế lực thù địch, tạo được thế thuận lợi cho công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Việt Nam từ chỗ chỉ hợp tác thương mại thông thường đã tiến tới hợp tác kinh tế toàn diện, từ chỗ hợp tác song phương đã tiến tới hợp tác kinh tế đa phương Tính đến giữa năm 2007, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước, vùng lãnh thổ trên thế giới, đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87 hiệp định thương mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu

tư, 40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc

Đỉnh cao về hợp tác kinh tế song phương là việc ký Hiệp định đối tác kinh tế

Việt Nam - Nhật Bản, và hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa

Kỳ; còn về hợp tác kinh tế đa phương là việc kí hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Việt Nam cũng đầu tư ra nước ngoài tới 37 quốc gia và lãnh thổ, nhiều nhất là đầu tư vào Lào Tính đến hết năm 2007, có

265 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng số vốn đăng kí khoảng 2

tỷ USD và vốn thực hiện khoảng 800 triệu USD Đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chiếm phần lớn, tiếp theo là nông, lâm nghiệp [19, 47]

2.2.2 Hoạt động ngoại thương được đẩy mạnh, kim ngạch xuất khẩu cao, thị trường ngoài nước không ngừng được mở rộng, tiếp thu được khoa học công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến của nhiều nước

Hiện nay, hoạt động ngoại thương của Việt Nam đạt được những thành tựu quan trọng đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu ở mức cao Khi tổng kết những thành tựu đạt được trong 5 năm 2001 - 2005, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nhận định "hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế có bước tiến mới rất quan trọng: một số sản phẩm đã có sức cạnh

Trang 35

tranh trên thị trường quốc tế XK, NK có tốc độ tăng trưởng khá, tổng KNXK đạt hơn 50% GDP", cụ thể: tổng KNXK hàng hoá từ 2001 - 2005 là 130,2 tỷ USD, tăng 18,8%/năm XK dịch vụ 5 năm đạt trên 21 tỷ USD, tăng 15,7%/năm, bằng 19% tổng KNXK, và tăng từ 4265 triệu USD (năm 2005) lên 7460 triệu USD (năm 2010) Năm 2010, tổng KNXK của Việt Nam đạt 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2009, trong đó có 18 mặt hàng XK đạt trên 1 tỷ USD với tổng kim ngạch đạt 54.595 triệu USD, chiếm 76% tổng kim ngạch cả nước, đó là các mặt hàng như dệt, may, giày dép, thuỷ sản, dầu thô, điện tử, máy tính và linh kiện, gỗ, sản phẩm gỗ, gạo, cao su, than đá, dầu thô,v.v Tổng KNXK cao góp phần quan trọng vào việc giảm nhập siêu, giảm thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế

Tình hình XNK: Trong giai đoạn 2000 - 2010 XNK của Việt Nam đều tăng nhanh thể hiện qua bảng sau:

(Đơn vị tính: Tỷ USD, làm tròn)

(Nguồn: Niên giám các năm từ 2000 - 2010, Tổng cục Thống kê)

Nhìn vào bảng trên ta thấy, tình hình XNK của Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ kể từ năm 2006, điểm mốc Việt Nam gia nhập WTO

Về cơ cấu hàng XNK có sự thay đổi sản xuất hàng XK đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô, đa dạng hoá chủng loại sản phẩm hàng hoá Việt nam cũng trở thành nước XK lớn nhất, nhì thế giới về các mặt hàng như gạo, tiêu, điều, cà phê,

Trang 36

v.v Hàng hoá NK chủ yếu là tư liệu sản xuất phục vụ sản xuất trong nước và

XK như máy móc thiết bị phụ tùng, xăng dầu các loại, máy vi tính và linh kiện, chất dẻo, sắt thép, vải, v.v

Thị trường XNK có những thay đổi khá lớn: khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do Liên Xô và hệ thống các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, khủng hoảng kinh tế trong khu vực năm 1997, đồng thời cũng đã mở rộng được thị trường XK sang một số nước và khu vực Thị trường XK chính của Việt Nam là Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Ô-xtrây-li-a, chiếm 80% tổng khối lượng hàng hoá XK Hàng NK của Việt Nam cũng tập trung cao ở các thị trường chính như ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, EU,

Mỹ, Ấn Độ, những thị trường này chiếm 66% tổng KNNK

Việc đẩy mạnh mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, đã giúp cho nước ta tiếp cận với những thành quả của cuộc cách mạng KHCN đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới Nhiều công nghệ hiện đại, dây chuyền sản xuất tiên tiến được sử dụng, hàm lượng chất xám trong sản xuất - kinh doanh tăng lên, tạo nên bước phát triển mới trong các ngành sản xuất Các ngành cơ khí chế tạo, đóng tàu, v.v từng bước được nâng lên tầm cao mới, sản phẩm ngày càng tạo được uy tín trên thị trường trong và ngoài nước Việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại giúp nước ta kết hợp được nội lực và ngoại lực tạo sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế đất nước Đồng thời, thông qua các

dự án liên doanh, hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đã tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản lý sản xuất hiện đại

2.2.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu nền kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực

Kinh tế nước ta trong thời gian vừa qua đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và tương đối ổn định Nếu như giai đoạn đầu của đổi mới, GDP chỉ đạt mức tăng trưởng bình quân 4,4%/năm, thì giai đoạn 1991 - 2000, tăng trưởng

Trang 37

bình quân là 7,5%; từ năm 2000 - 2010 là 7,25% Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007 - 2008, Việt Nam vẫn là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá và là một trong số ít nước có tăng trưởng kinh tế dương trong năm 2009 Việt Nam sớm khắc phục tình trạng suy giảm kinh tế và có nhiều triển vọng tiếp tục tăng trưởng kinh tế cao trong những năm tiếp theo Bảng sau đây cho ta thấy điều đó:

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 GDP (%) 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,48 6,18 5,32 6,78 GDP (tỷ

(Nguồn: Niên giám các năm từ 2000 - 2010, Tổng cục Thống kê)

Nhìn vào bảng 2 ta thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của Việt Nam tương đối cao, cao nhất là năm 2007 đạt 8,48% Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao thứ 2, sau Trung Quốc (11,2%), vượt qua cả Singapo (7,5%) và các nước khác Còn thấp nhất là năm 2009 là 5,32%, mặc dù mức tăng trưởng này thấp hơn nhiều so với những năm trước, nhưng trong điều kiện khủng hoảng kinh tế thế giới như hiện nay thì đây vẫn được đánh giá là mức tăng trưởng tốt và cao nhất trong khu vực Đông Nam Á Sự tăng trưởng kinh tế trong những năm qua đã tạo thêm cho chúng ta tiềm lực để trang bị lại tư liệu sản xuất xã hội, NK công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý tiên tiến Tăng trưởng kinh tế cao làm cho sức mua của người dân lớn là một lợi thế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, khai thác tốt nguồn tài nguyên trong nước, giải quyết việc làm cho nhân dân, giữ vững an ninh chính trị cho đất nước

Cơ cấu nền kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH, tỷ trọng trong GDP của ngành nông - lâm - thuỷ sản đã giảm nhanh từ 38,1% năm

Trang 38

1990 xuống 27,2% năm 1995, 24,5% năm 2000, năm 2005 xuống 21%, năm

2006 là 20,4% và đến 2010 giảm xuống còn 20,6%; Tỷ trọng của ngành công nghiệp và xây dựng trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%, năm 1995

đã tăng lên 28,8%, năm 2000 là 36,7%, năm 2005 là 41%, năm 2006 là 41,5%,

và đến năm 2010 là 41,1%; Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,6%, năm 1995 là 44,0%, năm 2000 là 38,8% năm 2005 là 38%, năm 2006 là 38,1% và đến năm 2010 là 38,3%

Hầu hết các ngành của nền kinh tế đều có bước phát triển khá Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, đảm bảo an ninh lương thực và tạo nguồn hàng XK Việt Nam vẫn là một trong ba nước XK gạo lớn trên thế giới với lượng gạo XK năm 2009 là 6 triệu tấn (tương ứng 2666 triệu USD), năm

2010 phá kỷ lục đạt khoảng 6,6 triệu tấn (tương ứng 3247,9 triệu USD) Nước

ta cũng trở thành nước nuôi trồng thuỷ sản nhiều nhất trên thế giới Giá trị tăng thêm của ngành nông - lâm - ngư nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 đạt 3,35%/năm Tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt khoảng 7,73%/năm Ngành công nghiệp và xây dựng chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới nhưng đang từng bước phục hồi lại với tốc độ tăng bình quân đạt 7,8% [15, 525]

Cơ cấu ngành kinh tế cũng có sự thay đổi trong từng nhóm ngành theo hướng tích cực Trong nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp tỷ trọng ngành nông nghiệp đã giảm xuống nhường chỗ cho ngành thủy sản tăng Trong cơ cấu ngành công nghiệp tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến cũng không ngừng tăng lên Cơ cấu ngành dịch vụ cũng thay đổi theo hướng tăng nhanh

tỷ trọng của các ngành dich vụ có chất lượng cao như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, v.v

Trang 39

2.2.4 Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, giảm đói nghèo

Trong những năm qua nhờ thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, v.v tỷ lệ hộ nghèo đói giảm từ 15,5% (năm 2006) xuống còn 14,8% (năm 2007), còn 13,5% (năm 2008), 11,3% (năm 2009) và tới năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo còn có 9,45% Việt Nam được thế giới đánh giá

là thành công trong việc chống nghèo đói Chính sách trợ giúp người có công

và bảo trợ xã hội tiếp tục được hoàn thiện, đã mở rộng đối tượng thụ hưởng

và nâng mức trợ cấp Nhà nước đã thực hiện chương trình cải cách tiền lương, điều chỉnh mức tăng lương tối thiểu cho cán bộ công nhân viên chức

Trình độ và chất lượng sống của các tầng lớp dân cư Việt Nam ngày càng được nâng lên biểu hiện thông qua tiêu chí chỉ số phát triển con người (HDI) tăng Theo Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) năm

2010, chỉ số phát triển HDI của Việt Nam là 0,572, đứng thứ 113/169 trong bảng xếp hạng về chỉ số phát triển con người, cao hơn năm 2009 (đứng thứ 116/182 trên thế giới), thuộc nhóm trung bình cao Để thấy rõ cuộc sống của người dân từng bước thay đổi, ta xem xét cụ thể qua các tiêu chí sau:

+ Thu nhập GDP bình quân/người tăng

Bảng 3: GDP/người qua các năm 2000 - 2010

(Đơn vị tính: USD)

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 GDP/

người 402 416 441 492 561 642 730 843 1052 1064 1168

(Nguồn: Niên giám các năm từ 2000 - 2010, Tổng cục Thống kê)

Qua bảng số liệu ta thấy GDP bình quân/người ở nước ta không ngừng tăng qua các năm Cụ thể đã tăng từ 402 USD (năm 2000), lên 1168 USD

Trang 40

(năm 2010), tăng gần 3 lần Đời sống vật chất của nhân dân không ngừng được cải thiện Đến 2010, có 83% dân số ở nông thôn được sử dụng nước hợp

vệ sinh, 76% dân số đô thị được sử dụng nước sạch; 96,1% số hộ đã được sử dụng điện lưới Vấn đề việc làm được chú trọng, cả năm 2010 tạo được khoảng 1,6 triệu việc làm mới, đã tạo nghề cho hơn 1,7 triệu người, riêng đào tạo nghề cho nông dân là 430 nghìn người

+ Tuổi thọ trung bình: Báo cáo của UNDP cho biết, năm 2003 tuổi thọ trung bình của Việt Nam là 68,6 tuổi, năm 2004 là 69 tuổi, năm 2005 là 70,5 tuổi, và đến năm 2010 là 75 tuổi, cao hơn so với Thái Lan (69,3 tuổi), Philippines (72,3 tuổi) và tuổi thọ bình quân ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (72,8 tuổi)

+ Công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được chú trọng: tốc độ gia tăng dân số của Việt Nam đã giảm xuống còn 1,2% trong 10 năm qua, so với tốc

độ 1,7% trong thập niên trước, gần với mức trung bình của thế giới là 1,17%; giảm mạnh tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi (từ 33,4% năm 2000 xuống còn 17,5% năm 2010), tỷ lệ trẻ em bị tử vong; chế độ khám, chữa bệnh cho người nghèo, bảo hiểm y tế có bước phát triển, đã thực hiện chính sách bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ em đến 6 tuổi, cho đối tượng chính sách, người nghèo và hỗ trợ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo Hạn chế giảm đáng kể các bệnh nhiễm virút HIV/AIDS và các dịch bệnh khác; vấn đề bình đẳng giới được quan tâm hơn

+ Sự nghiệp phát triển GD - ĐT có bước phát triển Năm 2000, cả nước đạt chuẩn quốc gia về xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Năm

2009, cả nước có 90,3% người từ 15 tuổi trở lên biết chữ Đầu tư cho GD -

ĐT tăng, năm 2010 tổng Ngân sách Nhà nước chi cho GD - ĐT đạt 20% CSVC của các cơ sở GD - ĐT ở các cấp được tăng cường, năm học 2009 -

2010 cả nước có khoảng 28.593 trường phổ thông, 414 trường ĐH, CĐ với

Ngày đăng: 24/07/2020, 11:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD và ĐT (2004), Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin
Tác giả: Bộ GD và ĐT
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
2. Đoàn Nhật Dũng (11/2001), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài nhìn từ bối cảnh quốc tế và khu vực và các giải pháp của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 4, tr.15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài nhìn từ bối cảnh quốc tế và khu vực và các giải pháp của Việt Nam”, "Tạp chí Kinh tế và Phát triển
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1986
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
9. Đại học Kinh tế quốc dân (2005), Giáo trình lịch sử kinh tế, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử kinh tế
Tác giả: Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005
10. Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
11. GS. Viện sĩ Đăng Hữu (4/2000), “Kinh tế tri thức: thời cơ và thách thức đối với nước ta”, Tạp chí Cộng sản, số 8, tr. 27-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức: thời cơ và thách thức đối với nước ta”, "Tạp chí Cộng sản
12. Đặng Văn Lợi - Nguyễn Văn Hùng (2004), “Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động kinh tế đối ngoại”, Tạp chí Cộng sản, số 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động kinh tế đối ngoại”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Đặng Văn Lợi - Nguyễn Văn Hùng
Năm: 2004
13. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Liên (5/2006), “Đại hội X của Đảng về chính sách đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 5, tr.5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội X của Đảng về chính sách đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế”, "Tạp chí Thông tin đối ngoại
14. Võ Đại Lược (3/2001), “Kinh tế đối ngoại nước ta hiện nay - tình hình và giải pháp”, Tạp chí Thời đại mới, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế đối ngoại nước ta hiện nay - tình hình và giải pháp”, "Tạp chí Thời đại mới
16. Nguyễn Huy Oánh (2003), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế đối ngoại, thu hút ngoại lực và phát huy nội lực”, Tạp chí Cộng sản, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế đối ngoại, thu hút ngoại lực và phát huy nội lực”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Huy Oánh
Năm: 2003
17. Minh Quang (2006), “Việt Nam: thành viên thứ 150 của WTO”, Thời báo kinh tế, số 216, tr. 4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam: thành viên thứ 150 của WTO”, "Thời báo kinh tế
Tác giả: Minh Quang
Năm: 2006
18. Đỗ Thế Tùng (2003), “Tác động toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đến nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam”, Nghiên cứu kinh tế, số 296, tr. 32-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đến nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam”, "Nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Đỗ Thế Tùng
Năm: 2003
19. Lưu Ngọc Trịnh (2007), “Hội nhập đa tuyến: Kinh nghiệm của Việt Nam”, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, số 11, tr.45-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập đa tuyến: Kinh nghiệm của Việt Nam”, "Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới
Tác giả: Lưu Ngọc Trịnh
Năm: 2007
20. Trần Quốc Trung (2001), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam: tình hình và triển vọng”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam: tình hình và triển vọng”, "Tạp chí nghiên cứu kinh tế
Tác giả: Trần Quốc Trung
Năm: 2001
21. Vũ Quang Vinh (2001), Hoạt động kinh tế đối ngoại 1986 - 2006, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động kinh tế đối ngoại 1986 - 2006
Tác giả: Vũ Quang Vinh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w