Nhận thấy rằng việc xác định nhu cầu cũng như các nhân tố ảnh hưởng đếncầu sử dụng mạng xã hội trong học tập là hết sức cấp thiết, chính vì vậy, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh
Trang 1Báo cáo khóa luận tốt nghiệp này là thành quả của sự cố gắng, nỗ lực và rèn luyện của tôi trong quá trình học tập tại Khoa Du Lịch – Đại học Huế.
Để hoàn thành được bài báo cáo khóa luận này, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của quý Giảng viên trong Khoa Du Lịch – Đại học Huế.
Đầu tiên tôi xin phép được gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu nhà trường cùng quý Thầy Cô giáo của Khoa Du Lịch – Đại học Huế đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, thực hành tại trường, luôn sẵn lòng truyền đạt kiến thức cũng như các kinh nghiệm quý báu và cung cấp tài liệu cần thiết cho đề tài.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến giảng viên Ths Võ Ngọc Trường Sơn – Thầy đã quan tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hết lòng giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài khóa luận này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ trong cả thời gian thực tập và hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Do năng lực của bản thân và thời gian thực hiện còn nhiều hạn chế nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót trong khóa luận tốt
Trang 2nghiệp này, kính mong Qúy Thầy Cô góp ý để bài khóa luận được hoàn tiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Huế, ngày 01 tháng 05
năm 2020 Sinh viên thực hiện
Đào Thị Mỹ Kiều
LỜI CAM ĐOAN
Tơi tên là Đào Thị Mỹ Kiều, Sinh viên Khĩa 50 ngành Quản trị kinh doanhKhoa Du Lịch - Đại Học Huế Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứucủa riêng tơi dưới sự hướng dẫn của Ths Võ Ngọc trường Sơn
Kết quả nghiên cứu của tơi là trung thực, các tài liệu tham khảo trongnghiên cứu được trích dẫn nguồn rõ ràng, minh bạch, đề tài khơng trùng thànhvới bất kì đề tài nghiên cứu khoa học nào
Huế, ngày 01 tháng 05 năm 2020.
Sinh viên thực hiện
Đào Thị Mỹ Kiều
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ viii
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Câu hỏi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Khung nghiên cứu 7
7 Kết cấu khóa luận 8
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 9
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU SỬ DỤNG MẠNG XÃ
HỘI TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA DU LỊCH 9
1.1 Cơ sở lý luận về nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên .9
1.1.1 Lý luận về mạng xã hội 9
1.1.2 Tính hấp dẫn và lợi ích của mạng xã hội 10
1.1.3 Giới thiệu một số trang mạng xã hội có khả năng phục vụ hoạt động học tập 12
1.1.4 Lý luận về nhu cầu 14
1.1.5 Khái niệm Sinh viên 22
1.1.6 Nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên 27
1.2 Cơ sở thực tiễn 30
1.2.1 Tình hình sử dụng mạng xã hội ngoài nước 30
1.2.2 Tình hình sử dụng mạng xã hội trong nước 32
1.2.3 Tình hình sử dụng mạng xã hội của đối tượng thanh, thiếu niên Việt Nam 34
1.3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 36
1.4 Đề xuất mô hình nghiên cứu 39
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập 40
1.5.1 Thái độ học tập 40
1.5.2 Tính linh hoạt 41
1.5.3 Tính tương tác 42
1.5.4 Kỹ năng công nghệ thông tin 42
1.5.5 Sự tin tưởng vào chất lượng giảng dạy 44
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 47 CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI
VÀ PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA
Trang 52.1 Tổng quan về Khoa Du Lịch – Đại học Huế 48
2.1.1 Giới thiệu chung về Khoa Du lịch 48
2.1.2 Thực trạng hoạt động đào tạo của Khoa Du Lịch 50
2.1.3 Thống kê số lượng sinh viên năm học 2019 – 2020 52
2.1.4 Thống kê kết quả học tập năm học 2018 - 2019 55
2.1.5 Cơ hội việc làm của sinh viên sau khi ra trường 56
2.2 Đánh giá nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên Khoa Du lịch – Đại học Huế 58
2.2.1 Thông tin mẫu điều tra 58
2.2.2 Tình hình sử dụng mạng xã hội của sinh viên Khoa Du Lịch 59
2.2.2.1 Mức độ truy cập các trang mạng xã hội 59
2.2.2.2 Mục đích sử dụng mạng xã hội 60
2.2.2.3 Thời gian sinh viên sử dụng mạng xã hội cho các hoạt động và để học tập mỗi ngày 61
2.2.2.4 Thời điểm sinh viên thường sử dụng mạng xã hội 61
2.2.3 Đánh giá nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên Khoa Du Lịch 63
2.2.3.1 Kiểm tra độ tin cậy thang đo nghiên cứu 64
2.2.3.2 Phân tích nhân tố khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên Khoa Du Lịch – Đại học Huế 67
2.2.3.3 Kiểm định Independen T - TEST về các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên 72
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 87
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG & THÚC ĐẨY NHU CẦU SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA DU LỊCH - ĐẠI HỌC HUẾ 89
3.1 Định hướng 89
3.2 Giải pháp đáp ứng & thúc đẩy nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên 91
Trang 63.2.1 Nhóm giải pháp đáp ứng thực trạng sử dụng mạng xã hội của
sinh viên 91
3.2.2 Nhóm giải pháp đáp ứng các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên 93
3.2.2.1 Giải pháp về Thái độ học tập 93
3.2.2.2 Giải pháp về Tính linh hoạt 94
3.2.2.3 Giải pháp về Tính tương tác 96
3.2.2.4 Giải pháp về Kỹ năng CNTT cho sinh viên 97
3.2.2.5 Giải pháp về Sự tin tưởng vào CLGD 98
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 102
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
1 Kết luận 103
1.1 Về đóng góp và nghiên cứu của đề tài 103
1.2 Về hạn chế của đề tài 103
2 Kiến nghị 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Tỷ lệ phần trăm sinh viên và số phiếu chia theo Khóa 6
Bảng 2: Tỷ lệ phần trăm sinh viên và số phiếu chia theo Lớp 6
Bảng 1.1: Diễn giải biến trong mô hình 45
Bảng 2.1: Thống kê kết quả học tập của sinh viên Khóa 51 (2018 – 2019) 55
Bảng 2.2 : Thống kê kết quả học tập của sinh viên Khóa 50 (2018 – 2019) 55
Bảng 2.3: Thông tin mẫu điều tra 58
Bảng 2.4: Đánh giá độ tin cậy của thang đo nghiên cứu 65
Bảng 2.5: Kiểm định KMO và Barlett’s Test các nhân tố ảnh hưởng 68
Bảng 2.6: Elgenvalues và phương sai trích phân tích nhân tố 69
Bảng 2.7: Hệ số tải nhân tố sau khi xoay nhân tố 70
Bảng 2.8: Mô hình hiệu chỉnh sau khi phân tích EFA 71
Bảng 2.9: Kiểm định Independent T - TEST ảnh hưởng của các đặc điểm cá nhân đến các nhận định đối với nhân tố Thái độ học tập 73
Bảng 2.10: Kiểm định Independent T - TEST ảnh hưởng của các đặc điểm cá nhân đến các nhận định đối với nhân tố Tính linh hoạt 75
Bảng 2.11: Kiểm định Independent T - TEST ảnh hưởng của các đặc điểm cá nhân đến các nhận định đối với nhân tố Tính Tương Tác 77
Bảng 2.12: Kiểm định Independent T - TEST ảnh hưởng của các đặc điểm cá nhân đến các nhận định đối với nhân tố Kỹ năng CNTT 78
Trang 9Bảng 2.13: Kiểm định Independent T - TEST ảnh hưởng của các đặc điểm
cá nhân đến các nhận định đối với nhân tố Sự tin tưởng vào chất
lượng đào tạo 80
Bảng 2.14: GTTB của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu 81
Bảng 2.15: Kết quả mô hình nghiên cứu sau khi xử lý số liệu 88
Bảng 3.1: So sánh ưu & nhược điểm của các giải pháp chính 100
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
Trang 10PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, với sự phát triển không ngừng của công nghệthông tin, Internet đang từng bước khẳng định tầm quan trọng, trong đó xuất hiệnngày một nhiều các trang mạng xã hội tạo điều kiện để cá nhân, tổ chức có nhiều cơhội chia sẻ những thông tin của mình Trong hầu hết chúng ta thì các mạng xã hộinhư Facebook, ZaLo, Youtbe đã nhanh chóng trở thành một phần quan trọngkhông thể thiếu của nhiều người đặc biệt là đối với những thế hệ trẻ, mạng xã hộilại càng có một vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn đối với con người
Năm 2019, dân số Việt Nam đạt mốc xấp xỉ 97 triệu dân, với tỷ lệ dân thànhthị là 36% Cùng trong năm nay, có 64 triệu người sử dụng Internet, tăng đến 28%
so với năm 2017 Theo số liệu thống kê internet Việt Nam 2019, người dùng ViệtNam dành trung bình tới 6 giờ 42 phút mỗi ngày để tham gia các hoạt động liênquan tới mạng Internet Báo cáo cũng đề cập thêm, người dùng Việt Nam dùngtrung bình 2 giờ 32 phút để dùng mạng xã hội, 2 giờ 31 phút để xem các streamhoặc các video trực tuyến và dùng 1 giờ 11 phút để nghe nhạc
94% là tỷ lệ người dùng Internet ở Việt Nam sử dụng Internet hàng ngày Và6% là số người sử dụng Internet ít nhất một lần trong tuần Nhìn vào số liệu thống
kê ta có thể thấy, người dùng Internet ở Việt Nam không tách rời các hoạt động liênquan đến Internet Năm 2019, mạng xã hội vẫn vẫn tiếp tục phát triển với 62 triệungười dùng (chiếm 64% dân số Việt Nam, tăng đến 7% so với năm 2018) Số tàikhoản sử dụng mạng xã hội trên di động cũng tăng thêm 16% so với năm 2018.Mang sức ảnh hưởng to lớn, mạng xã hội đang là công cụ truyền thông phổ biến củahầu hết tất cả các doanh nghiệp Việt Nam
Sự xuất hiện của mạng xã hội với những tính năng, với nguồn thông tin phongphú đa dạng, đã thật sự đi vào đời sống của mọi người đặc biết là giới trẻ, với nhữngchức năng đa dạng kéo theo sự gia tăng ngày càng đông đảo của các thành viên,Internet ở một khía cạnh nào đó đã làm thay đổi thói quen, tư duy, lối sống, văn hóa
Trang 11của một bộ phận người dùng hiện nay, và nhóm chịu ảnh hưởng nhất có lẽ là đốitượng sinh viên vì đây là nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận những tiến bộ khoahọc một cách nhanh nhạy nhất
Tận dụng những lợi thế của mạng xã hội, tần xuất sử dụng mạng xã hội củasinh viên và khả năng tiếp nhận nhanh nhạy của sinh viên trong việc sử dụng mạng
xã hội thường ngày vào việc giảng dạy cũng như học để nâng cao hiệu quả giảngdạy và kết quả học tập là vấn đề đang được xã hội quan tâm thúc đẩy Nhưng hoạtđộng này có thu hút được sự đồng tình của sinh viên không, hay mong muốn củasinh viên như thế nào đối việc sử dụng mạng xã hội trong học tập là vấn đề nan giải
và cần phải làm rõ bởi hoạt động này là dành cho sinh viên, nó đem lại kết quả nhưthế nào phụ thuộc phần lớn vào sinh viên _ đối tượng chủ yếu sử dụng mạng xã hộitrong học tập
Nhận thấy rằng việc xác định nhu cầu cũng như các nhân tố ảnh hưởng đếncầu sử dụng mạng xã hội trong học tập là hết sức cấp thiết, chính vì vậy, tác giả
tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên Khoa Du Lịch” nhằm xác định được nhu cầu cơ bản của sinh
viên ở Khoa Du Lịch về việc sử dụng mạng xã hội trong học tập, cũng như đánhgiá các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu học tập, từ đó đề ra những giải pháp hữuhiệu đáp ứng ngày càng toàn diện về nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tậpcủa sinh viên
Trang 12- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nhu cầu sử dụngmạng xã hội trong học tập của sinh viên.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong họctập của sinh viên Khoa Du Lịch Đại Học Huế
- Đề xuất các giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong họctập của sinh viên Khoa Du Lịch Đại Học Huế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng mạng
xã hội trong học tập của sinh viên Khoa Du Lịch Đại Học Huế
- Đối tượng điều tra: Để có thông tin đa diện và sát thực về vấn đề
nghiên cứu tôi tiến hành khảo sát sinh viên khóa 52 và khóa 53 Khoa Du LịchĐại Học Huế
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Địa bàn tập trung nghiên cứu và lấy số liệu khảo sát tạiKhoa Du Lịch Đại Học Huế;
+ Về thời gian: Các thông tin, số liệu thứ cấp chủ yếu trong khoảng thời gian
từ năm 2016 đến năm 2019 và đề xuất giải pháp cho các năm tiếp theo Các số liệu
sơ cấp thu thập trong thời gian từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 5 năm 2020
4 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Các nhân tố nghiên cứu nào tác động đến nhu cầu sử dụng mạng xã hộitrong học tập của sinh viên Khoa Du Lịch?
(2) Thực trạng sử dụng mạng xã hội của sinh viên ở Khoa Du Lịch nhưthế nào?
(3) Cần có những giải pháp nào để thúc đẩy và đáp ứng nhu cầu sử dụngmạng xã hội trong học tập của sinh viên Khoa Du Lịch?
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành thông qua 2 phương pháp chính:
5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Trang 13Trong nghiên cứu này phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương phápphân tích tài liệu được sử dụng nhằm tổng lược các tài liệu nghiên cứu về nhucầu sử dụng mạng xã hội đến trong học tập của sinh viên, làm cơ sở cho việcthiết kế bảng hỏi.
5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Dữ liệu thứ cấp: số liệu về tổng số sinh viên khóa 52, khóa 53; các hình thứcđào tạo hiện tại của Khoa Du Lịch,… được Khoa Du Lịch Đại Học Huế cung cấp,website,…; dữ liệu từ các nghiên cứu, các tài liệu tham khảo được nhắc đến
+ Dữ liệu sơ cấp: được thu thập thông qua bảng hỏi phỏng vấn sinh viên Khóa
52, 53 của Khoa Du Lịch - Đại Học Huế Dựa theo nghiên cứu của Hair và cộng sự(1998) về tham khảo kích thước mẫu dự kiến, thì kích thước mẫu tối thiểu phải gấp
5 lần số lượng biến quan sát Với số lượng biến quan sát là 15 biến quan sát được sửdụng trong nghiên cứu này, xác định mẫu tối thiểu phải đạt 65 bảng hỏi, nhưng đểtránh không đủ số lượng khảo sát vì những khảo sát không đạt, tác giả sẽ tiến hànhkhảo sát 150 bảng hỏi
- Phương pháp phân tích số liệu:
Các số liệu được cung cấp bởi nguồn thông tin sơ cấp sẽ được mã hóa và xử lýbằng phần mềm SPSS 20 Phương pháp phân tích thống kê mô tả với các kiểm địnhthống kê cơ bản sẽ được sử dụng như là phương pháp chủ đạo để phân tích số liệu
sơ cấp
- Kiểm tra độ tin cậy của thang đo:
Để đảm bảo độ tin cậy của thang đo, tiến hành kiểm định hệ số Cronbach’salpha của 5 nhóm nhân tố tác động đến nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tậpcủa sinh viên Hệ số Cronbach’s alpha > 0,05 sẽ cho biết mức độ tương quan giữacác biến trong cùng một nhóm Đồng thời trong kiểm định này, dựa vào hệ số tươngquan biến – tổng để loại đi các biến quan sát không đóng góp cho sự mô tả kháiniệm đo (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)
- Phân tích nhân tố khám phá
Trang 14Phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến nhucầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên Để thức hiện phương pháp nàycần kiểm tra các điều kiện tiến hành EFA: kiểm tra hệ số KMO (Kaser – Mayer –olkin) kiểm định Barlett Phân tích nhân tố khám phá được thực hiện bằng phươngpháp phân tích yếu tố chính và phép xoay Varimax Sau khi xác định được các nhân
tố tiềm ẩn tiến hành kiểm định hệ số Cronbach’s alpha nhằm đảm bảo độ tin cậy củathang đo mới
5.3 Xác định quy mô và phương pháp chọn Mẫu
Xác định quy mô mẫu:
Quy mô mẫu của nghiên cứu được xác định theo công thức của Linus Yamane(1967 – 1968):
Vì hạn chế về nguồn lực nên tác giả chỉ tập trung khảo sát sinh viên khóa 52
và 53 và để tăng độ chính xác cao hơn tác giả quyết định số lượng bảng hỏi được sửdụng để phát cho sinh viên khóa 52 và khóa 53 của Khoa Du Lịch – Đại học Huế là
130 và 20 bảng hỏi để phòng trừ trường hợp những bảng hỏi không đạt yêu cầu.Như vậy tổng số phiếu khảo sát sẽ được phát ra là 150 phiếu
Trang 15Với phương pháp chọn ngẫu nhiên phân tầng: Chia tập hợp chính thànhnhiều tầng (tập hợp con) dựa trên các đặc điểm chung chẳng hạn giới tính, lứatuổi, quê quán,…
Với phương pháp chọn ngẫu nhiên (Simple random sampling): Từ tập hợpchính (population), chọn ngẫu nhiên một số lượng nhỏ hơn cho mẫu qui định.Việc chọn ngẫu nhiên có thể tiến hành theo phương thức bốc thăm hoặc nhờ vàophần mềm chọn ngẫu nhiên của máy tính
- Như vậy với đề tài này, đầu tiên tác giả sẽ dựa vào tập hợp chính là tổng sốsinh viên của cả hai khóa và phân thành 2 tập hợn con tương ứng là khóa 52 và khóa
53 Bên cạnh đó, để giảm bớt sự chênh lệch trong kết quả khảo sát, tác giả sẽ tính ra
tỷ lệ phần trăm trên 150 phiếu khảo sát phù hợp với số sinh viên của mỗi khóa.(Bảng 1)
Bảng 1: Tỷ lệ phần trăm sinh viên và số phiếu chia theo Khóa
Bảng 2: Tỷ lệ phần trăm sinh viên và số phiếu chia theo Lớp
Khóa 52
Trang 166 Khung nghiên cứu
Sơ đồ 1: Khung nghiên cứu của đề tài
Trang 17Nguồn: Tác giả
7 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, các nội dung nghiên cứuchính của
đề tài được thể hiện phần nội dung nghiên cứu với 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nhu cầu sử dụng mạng xã hội tronghọc tập của sinh viên
Chương 2: Đánh giá thực trạng sử dụng mạng xã hội và phân tích các nhân tốảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên Khoa DuLịch - Đại Học Huế
Trang 18Chương 3: Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm thúc đẩy việc học tập thông quamạng xã hội phù hợp với nhu cầu của sinh viên.
Trang 19PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Khái niệm mạng xã hội:
Có rất nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực đã định nghĩa “mạng xã hội”dưới nhiều góc nhìn và cách diễn giải cũng khác nhau, nhưng hiện nay chúng tachưa có được một khái niệm chung về “mạng xã hội”
Theo từ điển bách khoa mở Wikipedia, “mạng xã hội, hay gọi là mạng xãhội ảo, (tiếng Anh: Social network) là dịch vụ kết nói các thành viên cùng sởthích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệtkhông gian và thời gian Cũng theo Wikipedia, mạng xã hội có những tính năngnhư chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận Mạng đổimới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếucủa mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới Các dịch vụ này cónhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví
dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ mail hoặc sreen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh,sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán…”
e-Theo định nghĩa của Fitcher (1957), “mạng lưới xã hội (social network) baogồm nhiều mối quan hệ đôi.Mỗi người trong mạng lưới có liên hệ với ít nhất 2người khác nhưng không ai có liên hệ với tất cả các thành viên khác” Dựa trênđịnh nghĩa đó, Barry Wellman đã định nghĩa: “Khi mạng máy tính kết nối con
Trang 20người, nó là một mạng xã hội” (Trích từ sách mạng xã hội Với Giới Trẻ ThànhPhố Hồ Chí Minh của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu).
Trong văn bản qui phạm Pháp luật của Việt Nam (chinhphu.vn): mạng xãhội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người sử dụng khảnăng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trườngInternet, bao gồm dịch vụ tạo nhật ký (blog), diễn đàn (forum), trò chuyện trựctuyến (chat) và các hình thức tương tự khác (Khoản 14 Điều 3 Chương I Nghịđịnh 97/2008/NĐ-CP)
Theo Nguyễn Minh Hoà (2010), mạng xã hội ảo, đặc điểm và khuynhhướng của bài viết đã nêu lên những quan niệm truyền thống về mạng xã hội: đó
là cách liên kết các cá nhân và cộng đồng lại dưới một kiểu nào đó để thể hiệnmột vài chức năng xã hội và mạng xã hội ảo – một xu hướng mới của xã hộicông nghệ thông tin
Trong tạp chí khoa học Tác động của mạng xã hội Facebook đối với sinhviên hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa (2016) đã có nhận định, mạng
xã hội là một sự liên kết giữa các cá nhân với cá nhân và giữa các cá nhân vớicộng đồng được biểu hiện dưới nhiều hình thức để thực hiện chức năng xã hội Sau khi tổng hợp các khía cạnh liên quan tác giả đưa ra khái niệm mạng xã
hội như sau: mạng xã hội là một dịch vụ, một mạng liên kết các cá nhân, các
thành viên, các nhóm người có cùng sở thích với nhau, như thích giao tiếp, trò chuyện, trao đổi thông tin, cập nhật tin tức và sử dụng các ứng dụng để phục vụ cho công việc và học tập mà không phân biệt thời gian và không gian qua các tính năng như kết bạn, chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ tập tin, blog nhờ sự hỗ trợ của internet Thông qua mạng xã hội con người có thể thực hiện nhiều mục đích khách nhau như giải trí; kết nối, giữ liên lạc các mối quan hệ; chia sẽ, tiếp nhận thông tin; kinh doanh; học tập.
1.1.2 Tính hấp dẫn và lợi ích của mạng xã hội
Trang 21Ta có thể hiểu tính hấp dẫn của mạng xã hội được hiểu là sự thu hút, lôicuốn của các trang mạng xã hội với các chức năng, giao diện và tính ưu việt của
nó có thể đáp ứng, thỏa mãn được các nhu cầu của chính bản thân người sử dụng
Và để lý giải vì sao mạng xã hội ảo lại mang tính hấp dẫn, tạo ra được hứng thúcho người sử dụng nó và giới trẻ đặc biệt là sinh viên, ta có thể điểm qua một vàilợi ích chính của mạng xã hội cụ thể như sau:
Có độ tương tác cao: Có thể kết nối với mọi người trên thế giới, có thể nói
chuyện với từng người, hoặc theo nhóm
Thể hiện trạng thái: trong mạng xã hội ảo, con người tồn tại, giao thiệp với
nhau thông qua việc chia sẻ cảm xúc, ý nghĩ, quan niệm một cách tương đối tự
do, không bị ràng buộc về không gian và thời gian mặc dù vẫn phải tuân thủ luật
lệ của thế giới thực và những quy tắc ứng xử nhân văn mạng xã hội nhanh chóngtrở thành một hiện tượng vì nó đáp ứng nhu cầu được lên tiếng, được bày tỏ vàchia sẻ của người sử dụng
Trò chuyện: Thông qua mạng xã hội qua messenger chat, mọi cá nhân có
thể trao đổi thông tin với bạn bè, người thân một cách nhanh chóng, trực tiếp dùkhoảng cách thực tế của họ có thể xa hoặc gần
Gửi thư điện tử, xem phim ảnh trên internet, điện thoại: Đây là những tính
năng đặc biệt, nó là sự tổng hợp của các tính năng , tạo nên sự thuận tiện trong quátrình sử dụng, giúp cho người dùng có khả năng tích hợp các công việc với nhau
Chia sẻ tập tin: Việc chia sẻ tập tin bao gồm các hình thức như chia sẻ file
word, excel, Giúp người sử dụng có nhu cầu chia sẻ dù thời gian lên mạng ít haynhiều Và mạng xã hội với khả năng kết nối mạnh mẽ đã trở thành lựa chọn của
họ để thỏa mãn nhu cầu của mình
Giải trí: Sự cuốn hút của mạng xã hội còn có các ứng dụng giải trí và tính
cộng đồng Có nhiều ứng dụng rất phong phú ví dụ như games, tham gia cáccuộc thi mang tính giải trí và học thuật
Trang 22Tìm kiếm thông tin bạn bè, đối tác: mạng xã hội tạo thêm cơ hội cho người
dùng sử dụng để tìm kiếm thông về bạn bè, đối tác: dựa theo groups (ví dụ nhưtên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mailhoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sáchbáo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán
Phục vụ hiệu quả cho việc học tập: Với mạng xã hội sinh viên có thể truy
cập tìm kiếm tài liệu một nhanh chóng và hiệu quả nhất, đỡ tốn thời gian choviệc tìm kiếm trong các thư viện và các hiệu sách, tìm hiểu các kiến thức từ nhiềunguồn khác nhau…
Ngoài ra với những tính năng đa dạng của mạng xã hội, việc sử dụng mạng
xã hội đã mang lại rất nhiều tác dụng trên nhiều lĩnh vực khác như: Trong lĩnhvực kinh doanh, trong kết nối cộng đồng, còn có tác dụng rất lớn trong việc làmcác công tác xã hội, thông qua mạng xã hội nhà nước ta cũng có thể quảng báhình ảnh của đất nước ra thế giới
1.1.3 Giới thiệu một số trang mạng xã hội có khả năng phục vụ hoạt động học tập
Trong bối cảnh của sự phát triển về công nghệ thông tin như hiện nay, córất nhiều mạng xã hội với những tính năng đa dạng phong phú phục vụ các nhucầu của con người như giải trí, tìm việc, chia sẻ sở thích, kết nối mọi người….Trên thế giới có hàng trăm mạng xã hội khác nhau, với MySpace và Facebooknổi tiếng nhất trong thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu; Orkut và Hi5 tại Nam Mỹ;Friendster tại Châu Á và các đảo quốc Thái Bình Dương mạng xã hội khác gặthái được thành công đáng kể theo vùng miền như Bebo tại Anh Quốc, CyWorldtại Hàn Quốc, Mixi tại Nhật Bản và tại Việt Nam xuất hiện rất nhiều các mạng xãhội như: Zing Me, YuMe, Tamtay, Facebook,…Nhưng đối với đề tài này, đánhgiá nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên, tác giả xin trìnhbày một số mạng xã hội có khả năng phục vụ học tập như sau:
- Facebook:
Trang 23Được thành lập vào năm 2003 và không thể phủ nhận rằng đây là một trangmạng phát triển nhất hiện nay, người dùng có thể truy cập, đăng ký tài khoản và
sử dụng mà không phải trả phí Facebook là một mạng xã hội được thành lập bởiMark Zuckerberg với những người bạn học tại trường Đại học Harvard là sinhviên Eduardo Saverin, Dustin Moskovitz và Chris Hughes Thành viên đượcquyền sử dụng trang Facebook ban đầu được giới hạn bởi những người sáng lậpcho sinh viên Harvard, nhưng sau đó đã được mở rộng đến các trường đại họckhác trong khu vực như đại học Boston, Ivy League, và Đại học Stanford Về sauFacebook dần dần được nâng cấp để hỗ trợ cho tất cả các sinh viên tại các trườngđại học trước khi trở thành một trang mở dành cho học sinh trung học, và cuốicùng là cho bất cứ ai ở độ tuổi 13 trở lên Người dùng có thể tham gia các mạnglưới được tổ chức theo thành phố, nơi làm việc, trường học và khu vực để liênkết và giao tiếp với người khác Bằng những tính năng của Facebook, ngườidùng có thể tạo các trang, các nhóm theo mục đích của bản thân, như chia sẻ, traođổi, thảo luận thông tin…
Theo Arrington, Michael nhóm tác giả bài báo "The Age Of Facebook”(2010) sự lớn mạnh và vượt trội của Facebook so với các mạng xã hội khác đã cótrước đây, tác giả đã nêu quan điểm: “Có thể một ngày nào đó, có thể là từ thập
kỉ này sẽ có một công ty khác, một số công nghệ mới sẽ lớn mạnh, và sẽ giúp cáccông ty khác đe dọa đế chế tồn tại của Facebook Nhưng từ giờ cho đến khi đó sẽrất ít cơ hội để có thể làm được điều đấy Đế chế thống trị của Facebook mới chỉ
là bắt đầu”
- Youtube:
Được thành lập vào ngày 14 tháng 2, 2005; đây là trang mạng xã hội vớitính năng chuyên biệt nhằm mục đích đăng tải, chia sẻ các video và thảo luận.Nội dung được đăng trên Youtube bao gồm các video clip, đoạn chương trìnhtruyền hình, video âm nhạc, phim tài liệu ngắn và tài liệu, bản ghi âm, đoạn giớithiệu phim và các nội dung khác như viết blog bằng video, video sáng tạo ngắn
và video giáo dục Phần lớn nội dung trên YouTube được các cá nhân tải lên
Trang 24Người dùng không đăng ký vẫn có thể xem được hầu hết video ở trang, cònngười dùng đăng ký được phép tải lên số lượng video vô hạn Bên cạnh đó, chủ
sở hữu video có thể vô hiệu hóa khả năng nhúng video, xếp hạng và nhận xét.Tính đến tháng 8 năm 2019, trang web này được Alexa Internet, một công typhân tích lưu lượng truy cập web, xếp hạng là trang web phổ biến thứ hai trêntoàn cầu
- Zalo:
Zalo là ứng dụng nhắn tin và gọi điện miễn phí hoạt động trên nền tảng diđộng và máy tính, được sử dụng tại các nước Việt Nam, Hoa Kỳ, Myanmar, NhậtBản, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Ả Rập Xê Út, Angola, Sri Lanka, Cộng hòaSéc, Nga Tháng 12/2012, Zalo chính thức ra mắt, đi theo mô hình mobile-first
và nhanh chóng thu hút được một lượng lớn người dùng Việt Nam nhờ việc sảnphẩm hoạt động tốt, ổn định trên hạ tầng mạng Việt Nam
Tháng 02/2013 Zalo được bình chọn vào top những ứng dụng di động sángtạo nhất châu Á trên Techinasia Các ứng dụng của Zalo như: Nhắn tin miễn phí(có thể chia sẻ biểu tượng cảm xúc, hình ảnh và video), gọi điện miễn phí (gọithoại và gọi video), chia sẻ trạng thái (viết, đọc, đăng và bình luận trạng thái,nhưng chỉ xem được bình luận của bạn bè chung), chia sẻ tập tin, video và lưutrữ thêm nhiều thông tin tại mục Truyền file, kết bạn (thông qua liên kết với danh
bạ trên điện thoại và Facebook, quét mã QR trực tiếp hoặc mục Tìm quanh đây;lấy vị trí thiết bị của bạn làm tâm điểm rồi truy quét những người dùng Zalo kháctrong bán kính lên đến hơn 2km) Những ứng dụng này tạo điều kiện thuận lợikhi sử dụng Zalo với mục đích học tập, sinh viên có thể tạo một group (nhóm)học tập để nhắn tin, gọi cho nhau khi cần trao đổi về bài học, hay chia sẻ các tệptin với nhau, đặc biệt sinh viên có thể thoái mái bình luận các vấn đề của mìnhđối với những nội dung được đăng lên mà không phải lo ngại gì, bởi tại trangmạng xã hội Zalo chỉ những người có lưu danh bạ số điện thoại với nhau mớixem được bình luận của nhau
Trang 25Khái niệm nhu cầu:
Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa họcnghiên cứu sinh học và xã hội Đó là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng chomọi sinh vật Sự hiện diện của nhu cầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xãhội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đóvới môi trường xung quanh Nhưng cho tới nay vẫn chưa có một định nghĩa chungnhất cho khái niệm nhu cầu Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trìnhnghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt
Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là “tính chấtcủa cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phânbiệt nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu nhất, hay còn gọi là nhu cầu tuyệtđối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.”(Theo D W Chapman, 1981)
Với tư cách là một hiện tượng tâm lý, nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đờisống tâm lý con người nói chung và đến hành vi nói riêng Nhu cầu được nhiềungành khoa học nghiên cứu trên các khía cạnh tiếp cận khác nhau Khi bàn vềnhu cầu trong tâm lý học có nhiều quan niệm khác nhau: S Freud (1856 – 1939)cũng đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của conngười” Nhu cầu là sức mạnh gây ra hành vi làm thỏa mãn nhu cầu Các nhà tâm
lý cho rằng nhu cầu là có phân cấp, một khi nhu cầu sinh lý được thỏa mãn thìngười ta sẽ tìm kiếm để thỏa mãn những nhu cầu cao hơn
Theo C Mac – Ph.Ăngghen (1995) , nhu cầu của con người không phải làbất biến mà nó biến đổi và phát triển thường xuyên Nhu cầu này được thoả mãn,kích thích, bị dập tắt, đồng thời xuất hiện nhu cầu mới với những kích thích mới.Trong mỗi con người đều tồn tại một hệ thống nhu cầu, nhu cầu nào lớn hơn thì sẽchi phối các nhu cầu khác và đòi con người phải đáp ứng nhu cầu đó, ông khẳngđịnh: “Bản thân các nhu cầu đầu tiên đã được thoả mãn Hoạt động và công cụ đểthoả mãn đã có được đưa tới những nhu cầu mới, và sự nảy sinh ra những nhu cầu
Trang 26mới này là hành vi lịch sử đầu tiên” Nhưng muốn sống trước hết người ta phải cóthức ăn, nước uống, nhà ở, quần áo, và một số thứ khác nữa và như vậy hành vilịch sử đầu tiên là sản xuất ra tư liệu thỏa mãn nhu cầu ấy [tr.40]
Dưới góc độ tâm lý cá nhân vấn đề nhu cầu được tiếp cận với tư cách mộtcấu trúc tâm lý quy định xu hướng nhân cách, khẳng định một cách hệ thống rằng
“Nhu cầu- nguồn gốc bên trong tạo nên tính tích cực của con người” Xuất phát
từ quan điểm cho rằng, nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của mỗi người trongnhững điều kiện nhất định đảm bảo cho sự sống và phát triển của con người.A.G.Covaliov (1971)viết: “Một nhu cầu đã được phản ánh sẽ trở thành một trạngthái chủ quan, mọi thái độ của cá nhân; nó có xu hướng điều chỉnh hành vi vàhoạt động, xác định đúng suy nghĩ, tình cảm và ý chí của người đó” và do đó cóthể nói “trong nhu cầu có sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan” [tr.129]A.N.Leonchiep (1989) đã đưa ra định nghĩa về nhu cầu như sau: “Nhu cầu
là một trạng thái tâm lý của con người cần một cái gì đó cho cơ thể nói riêng, conngười nói chung, sống và hoạt động Nhu cầu của con người luôn luôn có đốitượng, đối tượng của nhu cầu có thể là vật chất hoặc tinh thần, chứa đựng nhữngkhả năng thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu có vai trò định hướng, đồng thời là độnglực bên trong kích thích hoạt động của con người.” Ông phê phán việc tách nhucầu ra khỏi hoạt động, vì như vậy sẽ coi nhu cầu là điểm xuất phát của hoạt động.Mối liên hệ giữa hoạt động với nhu cầu được ông mô tả bằng sơ đồ: Hoạt động –Nhu cầu – Hoạt động Luận điểm này đáp ứng được quan điểm Macxit về nhucầu khi nhu cầu của con người được sản xuất ra Ông còn cho rằng: nhu cầu củacon người không chỉ được sản xuất ra mà còn được cải biến ngay trong quá trìnhsản xuất và tiêu thụ và đó là mấu chốt để hiểu được bản chất của các nhu cầu củacon người
A.N Leonchiev (1987) cho rằng: cũng như những đặc điểm tâm lý kháccủa con người, nhu cầu cũng có nguồn gốc trong hoạt động thực tiễn Theo ông,nhu cầu thực sự bao giờ cũng có tính đối tượng: nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu
Trang 27cầu, ông cho rằng: đối tượng tồn tại một khách quan và không xuất hiện khi chủthể mới chỉ có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi Chỉ khi chủ thể thực sự hoạt độngthì đối tượng thoả mãn nhu cầu mới xuất hiện và lộ diện ra Nhờ có sự lộ diện ấy
mà nhu cầu mới có tính đối tượng của nó [tr.228] Như vậy, dựa vào quan điểmcủa A.N.Leonchiev, muốn xuất hiện nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập
ở SV cần tổ chức các hoạt động học tập qua mạng xã hội đa dạng từ đó SV mớitìm được đối tượng thỏa mãn nhu cầu này của mình
Theo từ điển của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (2001), “Nhu cầu là điều cầnthiết để đảm bảo tồn tại và phát triển Nhu cầu được thỏa mãn thì dễ chịu, khôngđược thỏa mãn thì khó chịu, căng thẳng, ấm ức” [ tr 266]
Theo từ điển tâm lý học của tác giả Vũ Dũng (2005), “Nhu cầu là trạng tháicủa cá nhân xuất phát từ chỗ nhận thấy cần những đối tượng cần thiết cho sự tồntại và phát triển của mình, là nguồn gốc tích cực của cá nhân” [ tr 190] “ Mỗingười đều có một hệ thống nhu cầu, khi nhu cầu được thỏa mãn thì nhu cầu kháctrở nên bức thiết hơn Do đó, sau khi thỏa mãn những nhu cầu vật chất tối thiểuthì nhu cầu tinh thần sẽ phát triển và trở thành một động lực thúc đẩy sự hoạtđộng của con người, thúc đẩy sự phát triển của xã hội”
Theo Phạm Minh Hạc, tác giả Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đivào công nghiệp hóa hiện đại hóa, NXB Chính trị Quốc gia (2001) thì “Để tồn tại
và phát triển cá nhân phải đòi hỏi ở môi trường xung quanh những cái cần thiết(không thể thiếu) cho mình Sự đòi hỏi ấy là nhu cầu của cá nhân Nói đến nhucầu là nói đến sự đòi hỏi của cá nhân về một cái gì đó ở ngoài nó, cái đó có thể làmột sự vật, một hiện tượng hoặc những cái khác Trong ý nghĩa đó, nhu cầu biểu
lộ sự gắn bó của cá nhân với thế giới xung quanh, sự phụ thuộc của cá nhân vàothế giới đó”
Tác giả Nguyễn Văn Lũy (2005) khi nghiên cứu vấn đề “Nhu cầu và cấutrúc động cơ hóa hành vi ứng xử ” cũng chỉ ra rằng: Nhu cầu là đòi hỏi tất yếu
mà cá thể cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Nhu cầu điều khiển từ bên
Trang 28trong chủ thể thực hiện hành vi, tạo quá trình tâm lý, nâng cao tính nhạy cảm vàcường độ hoạt động, đưa cơ thể vào trạng thái trương lực hưng phấn Nhu cầukích thích hành vi ứng xử vào việc tìm kiếm cái gì đó mà chủ thể đòi hỏi, giữ chotính tích cực của cơ thể tồn tại song song với trạng thái thiếu thốn nào đó Từ đó,tác giả khẳng định: Nhu cầu là thành phần quan trọng nhất của cấu trúc động cơhóa – Kích thích, hoạt động quy định phương hướng và tính tích cực của hành viứng xử.
Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu nhu cầu là một hiện tượng tâm lý củacon người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất vàtinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống,những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau Nếu không
có nhu cầu hay nhu cầu không được đáp ứng thì nó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động
xã hội của con người nói chung và đến sự phát triển con người nói riêng
Đặc điểm của nhu cầu:
Theo GS.TS Nguyễn Quang Uẩn (2002), nhu cầu có 4 đặc điểm sau:
- Nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tượng: Đối tượng của nhu cầu là tất cảnhững yếu tố vật chất và tinh thần trong thế giới hiện thực có thể thỏa mãn đượcyêu cầu để tồn tại và phát triển Khi nào nhu cầu gặp đối tượng có khả năng đápứng được sự thỏa mãn thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con ngườihoạt động nhằm hướng đến đối tượng Đối tượng của nhu cầu càng được xácđịnh cụ thể, rõ ràng thì ý nghĩa của nó đối với đời sống cá nhân và xã hội càngđược nhận thức sâu sắc và nhanh chóng được nảy sinh, củng cố và phát triển
- Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn quyđịnh: Mỗi cá nhân đều được đặt trong một điều kiện sống nhất định, rộng hơn làđiều kiện kinh tế - xã hội lịch sử cụ thể Điều kiện sinh hoạt vật chất là cơ sở tạonên mặt nội dung của nhu cầu Vì thế, xem xét mặt nội dung của nhu cầu có thểcho ta thấy được những điều kiện sống bên ngoài của cá nhân đó
Trang 29- Nhu cầu của con người có tính chu kì: Khi một nhu cầu được thỏa mãn thìđồng nghĩa với sự triệt tiêu của nhu cầu đó, nó sẽ xuất hiện trở lại khi nào nhữngđiều kiện gây nên những nhu cầu ấy diễn ra Mặt khác, tính chu kì còn thể hiện ởchỗ khi một nhu cầu này được thỏa mãn thì sẽ xuất hiện nhu cầu khác cao hơn.Nhờ vậy, con người tích cực hoạt động để thỏa mãn liên tiếp các nhu cầu, nhâncách của con người ngày càng hoàn thiện.
- Nhu cầu của con người khác xa về chất so với nhu cầu của con vật Nhucầu của con người mang bản chất xã hội: Ở con người cũng tồn tại những nhucầu mang tính bản năng, nhưng đã được xã hội hóa, được chế ước bởi xã hội.Một trong những sự khác biệt về chất giữa nhu cầu của con vật và nhu cầu củacon người là sự khác biệt về điều kiện và phương thức thỏa mãn Ở con người,những yếu tố này ngày càng được nâng lên trình độ cao hơn, tốt hơn, văn minhhơn nhờ vào khả năng lao động sáng tạo Còn ở con vật, điều kiện và phươngthức thỏa mãn về bản chất vẫn là thuần túy bản năng, nếu có sự thay đổi nhấtđịnh nào đó cũng do con người sáng tạo ra
Dựa vào đây có thể thấy được nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên
có những đặc điểm như sau: Nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinhviên cần có đối tượng đáp ứng để tạo động lực thúc đẩy hành động, các điều kiện
để thực hiện nhu cầu này phải phù hợp và thõa mãn với điều kiện của sinh viên –chủ thể của nhu cầu Ngoài ra, nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập củasinh viên có thể bị triệt tiêu hoặc nâng cao bất cứ lúc nào nếu như nó đã được đápứng hay xuất hiện những điều kiện cao hơn
Phân loại nhu cầu
Có nhiều tác giả khác nhau đưa ra các cách phân loại nhu cầu khác nhau :
- Theo Erich Fromm, nhà phân tâm học mới, đưa ra những nhu cầu:
+ Nhu cầu quan hệ người – người
+ Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người
Trang 30+ Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo.+ Nhu cầu về sự bền vững và hài hoà
+ Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu
- Theo Abraham Maslow (1908-1970) trong lý thuyết thang bậc nhu cầu, ôngsắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự, trong đó, các nhu cầu
ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải đượcthỏa mãn trước Hệ thống TB nhu cầu của A.Maslow thường được thể hiện dướidạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới
Nguồn ảnh: Internet
+ Nhu cầu cơ bản, thể lý (basic needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhucầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lý(physiological needs), bao gồmcác nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục,các nhu cầu làm cho con người thoải mái,…đây là những nhu cầu cơ bản nhất vàmạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy nhu cầu nàyđược xếp vào bậc thấp nhất, bậc cơ bản nhất Maslow cho rằng, những nhu cầu ởmức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa
Trang 31mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hànhđộng khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được.
+ Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Khi con người đãđược đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không còn điều khiển suynghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ cần gì tiếp theo? Khi đó các nhu cầu về antoàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt Nhu cầu an toàn và an ninh thường đượckhẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sốngtrong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở,…Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là donhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần Cácchế độ bảo hiểm xã hội,các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệmcũng chính là sự thể hiện đáp ứng nhu cầu an toàn này
+ Nhu cầu về xã hội (social needs):Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầumong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó(belonging needs) hoặcnhu cầu về tình cảm, tình thương (needs of love) Nhu cầu này thể hiện qua quátrình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham giamột cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làmviệc nhóm…
+ Nhu cầu về được quý trọng (self esteem needs): Nhu cầu này còn đượcgọi là nhu cầu tự do vì nó thể hiện hai cấp độ nhu cầu được người khác quý mến,
nể trọng thông qua những thành quả của bản thân và nhu cầu cảm nhận, quýtrọng chính bản thân, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân.Chúng ta thường thấy trong công việc hoặc cuộc sống, khi một người được khích
lệ, tưởng thưởng về thành quả lao động của mình, họ sẵn sàng làm việc hăng sayhơn, hiệu quả hơn Nhu cầu này được xếp sau nhu cầu “thuộc về một tổ chức”,nhu cầu xã hội phía trên Sau khi đã gia nhập một tổ chức, một đội nhóm, chúng
ta luôn muốn được mọi người trong nhóm nể trọng, quý mến, đồng thời chúng tacũng phấn đấu để cảm thấy mình có “vị trí” trong nhóm đó
Trang 32+ Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): Theo Maslow mô tảnhu cầu này như sau: nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình,được làm những cái mà mình “sinh ra để làm”.Nói một cách đơn giản hơn, đâychính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳngđịnh mình, để làm việc và đạt các thành quả cao trong xã hội
- Tác giả Steven Reiss trong cuốn sách “The Normal Personality- A newway of thinking about people” (Nhân cách bình thường – Một cách nghĩ khác vềcon người) đã chia thành 16 loại nhu cầu:
(1) Nhu cầu chấp nhận: muốn tránh không bị phê bình và chối bỏ
(2) Nhu cầu tò mò: khát khao về mặt nhận thức
(3.) Nhu cầu ăn uống: khát khao với thức ăn
(4) Nhu cầu gia đình: nuôi dạy con cái
(5) Nhu cầu tự trọng: hành xử theo đạo đức
(6) Nhu cầu công bằng: khát khao về sự công bằng xã hội
(7) Nhu cầu độc lập
(8) Nhu cầu trật tự
(9) Nhu cầu vận động cơ thể
(10) Nhu cầu quyền lực, khát khao ảnh hưởng đến mọi người
(11) Nhu cầu tình dục
(12) Nhu cầu tiết kiệm, tích lũy
(13) Nhu cầu kết nối xã hội, bạn bè
(14) Nhu cầu địa vị xã hội, khát khao danh tiếng
(15) Nhu cầu bình an nội tâm
(16) Nhu cầu trả thù
Trang 33Như vậy, trong đề tài này dựa theo tháp nhu cầu của A.H Maslow thì cóthể nhận định rằng nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của SV thuộcnhóm nhu cầu xã hội Đây là mong muốn được tham gia vào một cộng đồng, mộttập thể nhất định để được trao đổi, thảo luận, học tập.
1.1.5 Khái niệm Sinh viên
Khái niệm Sinh viên
Theo quy chế công tác học sinh sinh viên trong các trường đào tạo: Sinhviên là những người đang học trong hệ đại học và cao đẳng
Trong cuốn tâm lý học sư phạm của Phạm Minh Hạc (2005): Sinh viên cónguồn gốc tiếng La tinh “Students” là những người làm việc nhiệt tình, người tìmhiểu và khai thác tri thức
Trong từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2000): “ Thuật ngữ này được dùng
để chỉ những người đang theo học ở bậc Đại học Theo chúng tôi, sinh viên lànhững người trưởng thành về thể chất, xã hội và tâm lý, đó là những người ở độtuổi khoảng 18 – 25 và đang theo học tại các trường Cao đẳng, Đại học” [tr860]Theo Vũ Hào Quang (2001) Sinh viên là những người đang theo học tại cáctrường Đại học và Cao đẳng (kể cả chính quy và tại chức, cũng như các hệ đàotạo khác (chuyên tu, từ xa)
Như vậy ta có thể hiểu rằng: Sinh viên là những người ở độ tuổi khoảng từ
18 – 25, là những người trưởng thành về cả thể chất, xã hội và tâm lý, đang theo học tại các trường cao đẳng, đại học để tìm hiểu và khai thác tri thức.
Đặc điểm lứa tuổi Sinh viên
Đặc điểm về thể chất
Đây là giai đoạn phát triển ổn định, đồng đều hệ xương, hệ thần kinh, não
bộ, các giác quan, cơ bắp tạo ra vẻ đẹp hoàn mĩ ở người sinh viên Các tố chất vềthể lực như: sức nhanh, sức bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh nhờ sựphát triển ổn định của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng của các hoocmôn nam và nữ… Tất cả những sự phát triển đó tạo điều kiện cho những thành
Trang 34công rực rỡ trong hoạt động trí óc như hoạt động học tập, hoạt động xã hội củasinh viên
Một số đặc điểm tâm lý sinh viên
- Sự phát triển xúc cảm- tình cảm của sinh viên
Trong Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm của tác giảNguyễn Thị Tứ (2012) có nhắc đến B G Ananhev và một số nhà tâm lý học khácvới những nhận định như sau: tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhấtcủa những loại tình cảm cao cấp như tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, tìnhcảm trí tuệ….những tình cảm này có biểu hiện rất phong phú trong đời sống củasinh viên Đa phần sinh viên đều biểu lộ sự chăm chỉ, say mê khi lựa chọn đúngngành nghề mà mình yêu thích Để thỏa mãn tình cảm trí tuệ, giảng đường và thưviện không phải là nơi duy nhất sinh viên có thể học tập, mà nhu cầu về nơi họctập của sinh viên còn đa dạng hơn như học qua báo chí, các nhà sách, qua cáctrang mạng xã hội, các phương tiện truyền thông…
- Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ của sinh viên:
Cũng trong Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm của tácgiả Nguyễn Thị Tứ (2012) có đề cập rằng, sự phát triển về tự đánh giá của sinhviên là rất mạnh, phong phú và sâu sắc Sự tự ý thức ở sinh viên cũng phát triểncao với sự hiểu biết về thái độ, hành vi của bản thân, chủ động hướng hoạt độngcủa mình phù hợp với những yêu cầu của tập thể,cộng đồng Họ là những người
có tri thức, nhạy bén với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia và quốc
tế Vì thế nhu cầu học tập, trao đổi thông tin và liên lạc bằng điện thoại di động làrất cần thiết đồi với lứa tuổi này Chính đặc điểm này đã chi phối đời sống họctập, giải trí của sinh viên và là động lực thúc đẩy họ sử dụng mạng xã hội ngàymột nhiều [tr49]
- Về tình cảm trí tuệ:
Hầu hết sinh viên biểu lộ sự chăm chỉ, say mê của mình đối với các chuyên
Trang 35lớp người đầy nhiệt huyết, nhiều ước mơ và hoài bão Trong hoạt động học tập,sinh viên thể hiện tính độc lập, tích cực, chủ động và sáng tạo cao.
Qua đó, có thể nói sinh viên là lứa tuổi phát triển một cách toàn diện về thểchất cũng như tinh thần, tư tưởng Nhân cách của sinh viên cũng phát triển phongphú và ngày càng hoàn thiện
Những đặc điểm đặc trưng nhất của sinh viên
- Tự ý thức: đây là một tầng phát triển cao của ý thức, không chỉ giúp sinhviên có hiểu biết để có thể chủ động về hành vi, cử chỉ, xác định được nhu cầucủa mình mà từ đó có thể chủ động đề ra hướng hoạt động của mình, đi theonhững yêu cầu, đòi hỏi phù hợp của bản thân, của tập thể, của cộng đồng xã hội.Qua một số nghiên cứu tự ý thức, tự đánh giá ở sinh viên cho thấy rằng sựphát triển của những phẩm chất nhân cách có liên quan đến kế hoạch sống cũngnhư trình độ học lực hay các nhu cầu của sinh viên Thực tế đã chứng minhthường những người có trình độ học vấn thì thường những người đó có phẩmchất nhân cách và ngược lại Và những sinh viên có kết quả học tập cao thườngchủ động trong việc tự đánh giá, kiểm tra hành động để hướng tới những tri thứckhoa học nhằm tự hoàn thiện bản thân Ví dụ như sinh viên chủ động học tập quamạng xã hội một cách để nâng cao kiến thức của mình
Trong thực tế những sinh viên có kết quả học tập thấp thường bị độngtrong lớp học và việc tự đánh giá mình đối với họ là rất khó khăn Vì vậy cầngiúp những sinh viên này thay đổi sự tự đánh giá ở mức lạc quan, tự tin hơn, chủđộng hơn trong học tập là điều rất cần thiết Chính điều này sẽ làm thay đổi thái
độ đối với bản thân sinh viên Qua đó mà lòng tự tin, tính tự trọng phát triển theochiều hướng tốt, tạo điều kiện để vươn lên trong học tập và phấn đấu
- Đặc điểm về tự đánh giá, tự ý thức, tự giáo dục ở sinh viên
Đặc điểm tự đánh giá ở sinh viên mang tính chất toàn diện và sâu sắc Biểuhiện cụ thể của tự đánh giá, không chỉ đánh giá hình bên ngoài, hình thức mà còn
đi sâu vào các phẩm chất, các giá trị của nhân cách Tự đánh giá giúp cá nhân
Trang 36không chỉ hiểu rõ bàn thân Tôi là ai? mà còn biết Tôi là người thế nào? Tôi cónhững phẩm chất gì Hơn thế họ còn có khả năng đi sâu lý giải câu hỏi: Tại saotôi là người như thế? Vì vậy, tự đánh giá của sinh viên vừa có ý nghĩa tự ý thức,
tự giáo dục (Theo Nguyễn Thị Tứ, 2012)
Tự đánh giá bản thân được đánh giá là một trong những phẩm chất quantrọng của mỗi cá nhân, đây được xem như một trình độ phát triển cao của nhâncách Tự đánh giá giúp cá nhân có thể định hướng, điều chỉnh hoạt động, hành vicủa chủ thể nhằm đạt mục đích Tự đánh giá còn giúp con người không chỉ biếtngười mà còn "biết mình" Tự đánh giá ở tuổi sinh viên là một hoạt động nhậnthức, trong đó đối tượng nhận thức chính là bản thân chủ thể, là quá trình chủ thểthu thập, xử lý thông tin về chính mình, chỉ ra được mức độ nhân cách tồn tại ởbản thân, từ đó có thái độ hành vi, hoạt động phù hợp nhằm tự điều chỉnh, tự giáodục để hoàn thiện và phát triển (Theo Hoàng Oanh và cộng sự, 2007)
Tóm lại, những phẩm chất nhân cách: tự đánh giá, lòng tự trọng, tự tin, sự
tự ý thức đều phát triển mạnh mẽ ở tuổi sinh viên Chính những phẩm chất nhâncách bậc cao này có ý nghĩa rất lớn đối với việc tự giáo dục, tự hoàn thiện bảnthân theo hướng tích cực của những trí thức tương lai
- Sự phát triển về định hướng giá trị ở sinh viên
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về định hướng giá trị Song có thể nêunhững nét cơ bản sau đây về khái niệm định hướng giá trị Định hướng giá trịđúng giúp sinh viên điều khiển, điều chỉnh hành vi, lối sống của chủ thể nhằmvươn tới những giá trị tốt đẹp Như vậy muốn thành công khi làm bất cứ việc gìcần vạch ra kế hoạch rõ ràng
Ví dụ: những giá trị về chân, thiện, mĩ đã định hướng cho sự phấn đấu củaloài người trong bao nhiêu thế kỷ Giá trị hòa bình, độc lập dân tộc, tự do, chủnghĩa xã hội đã là những định hướng giá trị cho bao thế hệ thanh niên ViệtNam
Trang 37Định hướng giá trị có nhiều tầng bậc, phạm vi khác nhau Có những giá trị
là định hướng cho một quốc gia, một thế hệ, cũng có những định hướng giá trị cóphạm vi hẹp chỉ trong một nhóm nào đó Định hướng giá trị có tính bền vữngtương đối là một khái niệm động, không phải bất biến nên có thể thay đổi tùytheo hoàn cảnh, điều kiện kinh tế chính trị, xã hội
Cũng theo Nguyễn Thị Tứ (2012), Định hướng giá trị phát triển là khi cácbạn nhận thức được việc mình làm và tự chịu trách nhiệm về những hành vi đó,khi họ phải đứng trước việc chọn nghề, chọn các chuyên ngành khác nhau trongviệc thi vào các trường ĐH - CĐ Định hướng giá trị của sinh viên liên quan mậtthiết với xu hướng nhân cách và kế hoạch đường đời của họ.Với sinh viên, nhữngước mơ, hoài bão, những lý tưởng của tuổi thanh xuân dần dần được hiện thực,được điều chỉnh trong quá trình học tập ở trường ĐH [tr53]
Qua đây ta nhận thấy, nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên cũngphần nào thể hiện định hướng giá trị của sinh viên, nhiều sinh viên khi ngồi trênghế giảng đường ĐH đã biết sắp xếp thời gian lên kế hoạch mục tiêu cho riêngmình, từ đó từng bước thực hiện những kế hoạch đã đặt ra.Với sự phát triển khoahọc công nghệ như hiện nay, nhờ mạng xã hội sinh viên có thể dễ kiếm tìm việclàm nhằm thỏa mãn những yêu cầu học tập ngày càng cao và tạo điều kiện thuậnlợi cho việc hành nghề sau này
- Hoạt động nhận thức, học tập của sinh viên
Theo quan điểm của Tâm lý học hoạt động (A.N Leeonchiev,1987): hoạtđộng là sự tác động qua lại giữa con người và thế giới Trong đó con người làmbiến đổi thế giới, tạo ra sản phẩm cả về phía khách thể và chủ thể Đồng thời thếgiới tác động trở lại chủ thể làm cho con người có nhận thức mới, năng lực mới.Như vậy con người có rất nhiều hoạt động trong cuộc sống như: hoạt động laođộng, hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, hoạt động nghiên cứu khoa học…Ởmỗi lứa tuổi khác nhau sẽ có một hoạt động chủ đạo chi phối các hoạt động khác
Trang 38Ở lứa tuổi sinh viên hoạt động học tập, hoạt động xã hội và môi trườngsống của sinh viên có những nét đặc trưng và đòi hỏi khác về chất so với các lứatuổi trước đó Để hoạt động học tập có kết quả, khi mới bước vào giảng đườngĐại học, trong thời gian đầu sinh viên phải thay đổi cách sống để thích nghi vớinhững hoạt động xã hội cũng như hoạt động xã hội và sinh hoạt trong đời sốngtập thể của sinh viên hay áp dụng những phương thức học tập mới để bắt kịp vớimôi trường mới này.
Lên đến Đại học với cách học và tiếp thu kiến thức hoàn toàn một cách tựgiác, vì vậy đòi hỏi tìm tòi kiến thức sâu, tìm hiểu những môn học, những chuyênngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu để nắm được đối tượng, nhiệm vụ,phương pháp, quy luật của các khoa học đó, với mục đích trở thành nhữngchuyên gia về ngành nghề mà mình đã chọn Hoạt động nhận thức của họ mộtmặt phải kế thừa một cách có hệ thống những thành tựu đã có, mặt khác lại phảitiệm cận với những thành tựu của khoa học đương đại và có tính cập nhật, thời
sự Chính vì vậy, nét đặc trưng cho hoạt động học tập của sinh viên là sự căngthẳng nhiều về trí tuệ, sự phối hợp của nhiều thao tác tư duy như phân tích, sosánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa (A.N Leeonchiev,1987)
Theo Nguyễn Quang Uẩn (2013), Hoạt động học tập của sinh viên diễn ramột cách có kế hoạch, có mục đích, nội dung, chương trình, phương thức,phương pháp đào tạo theo thời gian một cách chặt chẽ nhưng đồng thời khôngquá bị khép kín, quá câu nệ mà lại có tính chất mở rộng khả năng theo năng lực,
sở trường để họ có thể phát huy được tối đa năng lực nhận thức của mình trongnhiều lĩnh vực
Phương tiện hoạt động nhận thức của sinh viên được mở rộng và phong phúvới các thư viện, phòng đọc, phòng thực nghiệm, phòng bộ môn với những thiết
bị khoa học cần thiết của từng ngành đào tạo hay qua các trang mạng xã hội Do
đó phạm vi hoạt động nhận thức của sinh viên đa dạng: vừa rèn luyện kỹ xảo vừaphát huy kỹ thuật nghề nghiệp của mình Bởi bên cạnh khoảng thời gian để vui
Trang 39chơi bên bạn bè như tham gia các hoạt động tập thể của lớp, giải trí, làm thêm thìhoạt động chủ đạo của sinh viên là học tập
Như vậy, ta thấy sử dụng mạng xã hội trong học tập là một hình thức rấtphù hợp với sự chủ động, tự giác trong việc tìm hiểu sâu về bài học, nâng caokiến thức của sinh viên Khi sử dụng mạng xã hội trong học tập, sinh viênkhông chỉ được mở rộng được nguồn thông tin mà còn rèn luyện được các kỹnăng năng khác
1.1.6 Nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên
Nhu cầu sử dụng mạng xã hội
Như đã làm rõ ở trên nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là sựđòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồntại và phát triển
Mạng xã hội là một dịch vụ, một mạng liên kết các cá nhân, các thành viên,các nhóm người có cùng sở thích với nhau, như thích giao tiếp, trò chuyện, traođổi thông tin, cập nhật tin tức và sử dụng các ứng dụng để phục vụ cho công việc
và học tập mà không phân biệt thời gian và không gian qua các tính năng như kếtbạn, chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ tập tin, blog nhờ sự hỗ trợ củainternet Thông qua mạng xã hội con người có thể thực hiện nhiều mục đíchkhách nhau như giải trí; kết nối, giữ liên lạc các mối quan hệ; chia sẽ, tiếp nhậnthông tin; kinh doanh; học tập
Từ hai khái niệm trên ta có thể hiểu rằng, nhu cầu sử dụng mạng xã hội là
mong muốn, nguyện vọng được sử dụng một dịch vụ, một trang mạng để trò chuyện, tương tác với những người dùng khác hay chia sẻ, cập nhật thông tin, phục vụ học tập, công việc hoặc thõa mãn nhiều mục đích khác của con người để tồn tài và phát triển.
Nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên:
Mạng xã hội có thể giúp sinh viên vừa hòa nhập với cộng đồng vừa nângcao trình độ học vấn Nguồn thông tin lớn của các mạng xã hội có thể thỏa mãn
Trang 40mọi nhu cầu tìm kiếm trí thức một các đơn giản và ít tốn kém nhất Sinh viên cóthể học tập mọi nơi mọi lúc; có thể tìm kiếm địa chỉ của trường, lớp hoặc mộttrung tâm giáo dục phù hợp để học tập Thông qua các group, các fanpage, sinhviên có thể kết nối với giảng viên, với những sinh viên khác, cũng như là nhữngngười có cùng mối quan tâm về một môn học, một đề tài nào đó để cùng chia sẻ,nghiên cứu thảo luận mà không bị giới hạn về không gian, thời gian tương tácnhư các lớp học trong thực tế Các trường đại học có thể sử dụng mạng xã hội ảonhư một cổng thông tin để trao đổi, cộng tác với sinh viên của mình, tổ chức cáchoạt động ngoại khóa, hướng nghiệp giúp sinh viên thích ứng và cảm thấy hàilòng với cuộc sống sinh viên.
Nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập là một khái niệm khá mới mẻ
và dường như chưa có định nghĩa chung cho khái niệm này Do đó, tác giả xindựa trên nền tảng các khái niệm về nhu cầu, về mạng xã hội,về học tập đề xuấtđịnh nghĩa về Nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập như sau:
Nhu cầu sử dụng mạng xã hội trong học tập của sinh viên là mong muốn được áp dụng các tính năng của các trang mạng xã hội như tạo nhóm, trò chuyện, bình luận, chia sẽ, tìm kiếm để tiếp thu cái mới hoặc bổ sung, trau dồi các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, làm tăng tính sáng tạo của sinh viên Thông qua các trang mạng xã hội, sinh viên có thể nhận được bài giảng, tài liệu môn học, các chia sẻ kinh nghiệm và lời khuyên từ giảng viên của họ hay các hoạt động khác (liên quan đến học tập) để nâng cao hiệu quả học tập, hướng tới một kết quả tốt
Nhu cầu học tập trên mạng xã hội là đòi hỏi của người học đối với sự lĩnhhội nội dung kiến thức, phương pháp học tập, nhằm làm giàu vốn kinh nghiệm,phát triển và hoàn thiện nhân cách của bản thân; là trạng thái thiếu hụt về kiếnthức, kỹ năng, kỹ xảo mới được phản ánh trong não người học Nhu cầu học tậptrên mạng xã hội là thành phần cơ bản của động cơ học tập, là nguồn gốc giúpsinh viên phát huy tính tích cực và óc sáng tạo