Hiện có bốn thầycúng vẫn thường xuyên thực hành lễ cấp sắc cho đàn ông Dao trong vùng... - Tại tỉnh Hà Giang: Trước đây do hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang là một gọi l
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VŨ PHAN
LỄ CẤP SẮC CỦA NGƯỜI DAO
TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: NHÂN HỌC
Mã số: 62 31 03 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Phạm Quang Hoan
2 PGS TS Hà Đình Thành
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là kết quả của quá trình điều tra thực địa và thu thập tư liệu của tác giả luận án.
NGHIÊN CỨU SINH
Nguyễn Vũ Phan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án tiến sĩ Nhân học về đề tài: Lễ cấp sắc của người Dao tỉnh Tuyên Quang, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
- Học viện Khoa học xã hội và các thầy, cô, Khoa Dân tộc học và Nhân học đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án.
- Tập thể hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Quang Hoan và PGS.TS Hà Đình Thành đã tư vấn, định hướng khoa học rõ ràng cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án Tập thể hướng dẫn đã có những ý kiến tư vấn về chuyên môn và đóng góp trực tiếp vào các nội dung nghiên cứu của luận án.
- Đảng ủy, Ban Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, các đồng nghiệp nơi tôi công tác, đã tạo điều kiện và thời gian để tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận án.
- Lãnh đạo và nhân dân các địa phương trong tỉnh Tuyên Quang, hai tỉnh Hà Giang và Bắc Kạn, nơi tôi thực hiện khảo sát, thu thập tài liệu, tiến hành nghiên cứu đã nhiệt tình giúp đỡ và cộng tác giúp đỡ tôi hoàn thành luận án.
- Gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2016
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Vũ Phan
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU 11
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11
1.2 Cơ sở lý thuyết 19
1.3 Khái quát về người Dao ở Việt Nam và tỉnh Tuyên Quang 28
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2: QUY TRÌNH THỰC HÀNH CỦA LỄ CẤP SẮC 41
2.1 Những vấn đề chung 41
2.2 Các nghi thức diễn ra trong lễ cấp sắc 45
2.3 Các nghi thức diễn ra trong lễ cấp sắc của các nhóm Dao 59
2.4 Một vài so sánh lễ cấp sắc giữa hai nhóm phương ngữ………88
2.5 So sánh lễ cấp sắc ba đèn của người Dao Tiền ở tỉnh Tuyên Quang với lễ cấp sắc ba đèn của người Dao Tiền ở tỉnh Bắc Kạn 92
2.6 So sánh lễ cấp sắc ba đèn của người Dao Áo Dài ở Tuyên Quang với lễ cấp sắc ba đèn của người Dao Áo Dài ở tỉnh Hà Giang 94
Tiểu kết chương 2 96
Chương 3: CÁC GIÁ TRỊ CỦA LỄ CẤP SẮC 97
3.1 Tiền đề của sự biến đổi 97
3.2 Các khía cạnh biến đổi trong lễ cấp sắc 100
3.3 Nguyên nhân của sự biến đổi……… 104
3.4 Các giá trị của lễ cấp sắc hiện nay 104
Tiểu kết chương 3 117
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 119
4.1 Những kết quả nghiên cứu đạt được 119
4.2 Một số vấn đề bàn luận 124
4.3 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị trong lễ cấp sắc 128
Tiểu kết chương 4 146
Trang 5KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA NGHIÊN CỨU SINH 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 163
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH: Công nghiệp hóa
HĐH: Hiện đại hóa
KT-XH: Kinh tế - xã hội
PTBVVH: Phát triển bền vững văn hóaTCH: Toàn cầu hóa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bức tranh đa dạng về cơ cấu tộc người và văn hóa tộc người ở tỉnhTuyên Quang, người Dao là tộc người có nhiều nhóm địa phương nhất Đây cũnglà tộc người cho đến nay vẫn còn duy trì được nhiều nét văn hóa đặc sắc, ngay cảtrong bối cảnh không gian sinh tồn, điều kiện kinh tế - xã hội của người Dao đãvà đang có nhiều thay đổi
Một trong những sinh hoạt văn hóa đặc trưng của người Dao là lễ cấp sắc,
thường gọi là quá tăng nghĩa là "qua đèn" Đây là nghi lễ được coi là chấm dứt
thời "thơ ấu" của một chàng trai Dao Từ đây anh ta được đặt tên mới, tên cấpsắc, được thực hiện nghĩa vụ bình thường của một người đàn ông trong cộngđồng: đi xa, làm nhà, làm thầy cúng và khi chết "hồn" mới được trở về quê hương
"Dương Châu Đại Điện" Nói cách khác, chỉ khi được cấp sắc, vai trò của ngườiđàn ông Dao mới chính thức được cộng đồng, xã hội thừa nhận
Lễ cấp sắc giữ một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người Dao,là sinh hoạt mang tính bắt buộc đối với người đàn ông Dao Lễ này còn hàm chứacác giá trị văn hoá được chắt lọc, kết tinh qua nhiều thế hệ người Dao như phongtục tập quán, tín ngưỡng, văn hóa nghệ thuật , có tác động sâu sắc đến việc hìnhthành diện mạo văn hoá của cộng đồng người Dao ở Tuyên Quang, đồng thời làmột trong những thành tố văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, hợp thành, thống nhấttrong sự đa dạng của nền văn hoá các dân tộc Việt Nam
Lễ cấp sắc là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu của cộng đồngngười Dao, nên nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa họcnhư Dân tộc học/Nhân học, Văn hóa học, Tôn giáo học… Ở mỗi lĩnh vực nghiêncứu, ở mỗi thời kỳ, do điều kiện kinh tế, xã hội ảnh hưởng, chi phối, các nhàkhoa học lại có những góc nhìn, những quan niệm khác nhau về giá trị của lễ cấpsắc Có những giai đoạn do nhận thức sai lệch về việc bảo tồn văn hóa dân tộc,góp phần lễ cấp sắc bị cho là mê tín dị đoan, gây lãng phí thời gian và tiền bạcnên đã bị đối xử như một hủ tục lạc hậu cần phải loại bỏ, hoặc có làm thì cũng bịcắt gọt, biến đổi không còn giữ được bản sắc riêng và có lẽ vì thế những giá trịvăn hóa độc đáo này đã bị mai một
Trang 8Mặt khác, do chính sách mở cửa, giao lưu và hội nhập, những năm gần đây,việc khôi phục, phát triển một cách thiếu chọn lọc, thiếu sự nghiên cứu kỹ lưỡng nêncác giá trị văn hóa cổ truyền, trong đó có lễ cấp sắc có xu hướng vượt ra ngoài phạm
vi quản lý nhà nước Cấp sắc đã không được tổ chức theo đúng như những giá trị mà
nó vốn có, nhiều yếu tố ngoại lai đã xuất hiện Hiện tượng đó đã gây khó khăncho các cơ quan quản lý văn hóa trước một vấn đề cần phải giải quyết
Nghiên cứu, tìm hiểu lễ cấp sắc của người Dao ở Tuyên Quang còn khẳngđịnh những giá trị đặc sắc của nó và cung cấp những luận cứ khoa học, giúp cáccấp chính quyền địa phương tìm ra các giải pháp bảo tồn, lựa chọn kế thừa mộtcách phù hợp, đúng đắn các giá trị văn hoá dân tộc truyền thống, đồng thời loạibỏ những yếu tố không còn phù hợp để hướng tới mục tiêu xây dựng đời sốngvăn hoá tinh thần lành mạnh ở cơ sở, thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xãhội ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang, góp phần xây dựng vàphát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnhđẩy mạnh công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) và hội nhập hiện nay
Truyền thống văn hoá của người Dao đã có từ lâu đời, trở thành một bộ phậnkhông thể tách rời của văn hoá các dân tộc ở Việt Nam Những giá trị văn hoá đượclưu truyền từ đời này sang đời khác, trải qua những thăng trầm biến động của lịchsử, được chắt lọc, bổ sung trở thành bản sắc văn hoá rất riêng của người Dao Việcnhận diện đầy đủ và nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về lễ cấp sắc của ngườiDao ở Tuyên Quang sẽ góp phần khẳng định tính đa dạng và phong phú của nền vănhoá Việt Nam, "đa dạng trong thống nhất" và "thống nhất trong đa dạng"
Với mục đích đó, tác giả chọn Lễ cấp sắc của người Dao tỉnh Tuyên
Quang làm luận án tiến sĩ Nhân học.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần xác định những đặc điểm cơbản của lễ cấp sắc của người Dao ở Tuyên Quang Trên cơ sở đó, khẳng địnhnhững giá trị văn hoá, làm rõ tác động về mặt xã hội của lễ cấp sắc trong bối cảnh hội nhập, giao lưu văn hóa hiện nay của người Dao ở Tuyên Quang
Trang 9- Cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị đặc sắccủa lễ cấp sắc, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của lễ cấp sắc của người Dao ở Tuyên Quang trong xu thế hội nhập và phát triển.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp và hệ thống hoá các tư liệu về lễ cấp sắc của người Dao ở tỉnh Tuyên Quang
- Phân tích mối quan hệ của lễ cấp sắc với đời sống của người Dao, lễ cấp sắc với môi trường tự nhiên, xã hội và môi trường văn hóa
- Xác định những giá trị của lễ cấp sắc trong đời sống hiện nay, những biếnđổi của lễ cấp sắc trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá của người Dao vớicác tộc người cư trú trong vùng
- Chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong lễ cấp sắc giữa các nhóm Daoở tỉnh Tuyên Quang
- So sánh lễ cấp sắc ba đèn của người Dao Tiền ở Tuyên Quang với lễ cấpsắc ba đèn của người Dao Tiền ở Bắc Kạn; So sánh lễ cấp sắc ba đèn của ngườiDao Áo Dài ở Tuyên Quang với lễ cấp sắc ba đèn của người Dao Áo Dài ở Hà Giang
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị trong lễ cấp sắc của người Dao tỉnh Tuyên Quang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là lễ cấp sắc của người Dao ở tỉnh TuyênQuang, trong đó đi sâu tìm hiểu loại hình lễ cấp sắc của một số nhóm Dao, diễn biếnvà những biến đổi của lễ cấp sắc ở một số địa phương trong tỉnh Tuyên Quang
- Luận án cũng chú ý đến các loại hình lễ cấp sắc của người Dao ở một sốtỉnh lân cận như: Hà Giang; Bắc Kạn để so sánh, tìm ra những nét đặc trưngnhất trong lễ cấp sắc của người Dao và những giá trị của nó phục vụ việc xâydựng đời sống văn hoá mới ở nông thôn miền núi hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án là lễ cấp sắc của người Dao ởTuyên Quang, trong đó chú trọng nghiên cứu bối cảnh không gian, diễn biến và
Trang 10những biến đổi của lễ cấp sắc trong truyền thống và hiện đại để thấy rõ các giá trịvăn hoá, xã hội cũng như sự ảnh hưởng của lễ cấp sắc trong đời sống cộng đồngngười Dao nói riêng, trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung.
Ngoài ra, luận án còn đề cập phần nào tới lễ cấp sắc của người Dao ở mộtsố vùng thuộc các tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn để có sự so sánh, làm rõ những điểmtương đồng và khác biệt trong lễ cấp sắc của người Dao
Về thời gian nghiên cứu, tác gỉa giới hạn nội dung nghiên cứu lễ cấp sắccủa người Dao ở Tuyên Quang trong giai đoạn trước Đổi mới và từ thời kỳ Đổimới(năm 1986) đến nay Đó là khoảng thời gian mà văn hóa truyền thống tộcngười, trong đó có lễ cấp sắc của người Dao ở Tuyên Quang một mặt vẫn lưu giữđược những yếu tố truyền thống, nhưng mặt khác cũng xuất hiện sự biến đổi dobị tác động của một số nhân tố khách quan và chủ quan, nhất là quá trình biến đổisâu sắc về kinh tế - xã hội, văn hóa ở vùng đồng bào Dao mang lại
3.3 Địa bàn nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu chính của luận án là tỉnh Tuyên Quang, nơi có nhiềunhóm Dao cư trú đông nhất trong cả nước và lễ cấp sắc của người Dao ở TuyênQuang vẫn duy trì được khá nhiều nét nguyên bản, đặc sắc đến ngày nay Đó làcác huyện có người Dao cư trú tập trung nhất, bao gồm các huyện: Na Hang,Lâm Bình, Yên Sơn, Hàm Yên và Sơn Dương Cụ thể:
- Tại huyện Na Hang: Tác giả luận án nghiên cứu tập trung vào hai xã: Sơn
Phú và Hồng Thái Địa bàn này chủ yếu nghiên cứu lễ cấp sắc của hai nhóm DaoĐỏ và Dao Tiền
Huyện Na Hang có số dân là: 59.951 người Trong đó người Dao có 15.419người, đa số thuộc nhóm Dao Đỏ và Dao Tiền Nhóm Dao Đỏ sống chủ yếu ở xãSơn Phú; còn nhóm Dao Tiền chủ yếu sinh sống ở xã Hồng Thái Người Dao ở
Na Hang sống bằng nghề nông nghiệp Chủ yếu canh tác lúa nước, ngoài ra cònlàm nương rẫy, trồng rừng Do cư trú ở nơi cách thành phố Tuyên Quang hơn
160 km nên người Dao ở xã Sơn Phú và xã Hồng Thái còn giữ được hầu hếtphong tục, tập quán, những sinh hoạt văn hóa, trong đó có lễ cấp sắc một cáchnguyên bản, ít bị biến đổi
Trang 11Xã Sơn Phú được coi là nơi đầu tiên người Dao Đỏ đến sinh sống ở NaHang Hiện dân số người Dao Đỏ có 1960 người, chiếm 82% dân số xã Lễ cấpsắc của người Dao Đỏ ở đây vẫn được duy trì thường xuyên, kể cả những năm bịhiểu lầm, coi là mê tín dị đoan và bị cấm đoán Hiện có trên 50% số đàn ông Daođã được cấp sắc.
Xã Hồng Thái cũng được coi là nơi đầu tiên người Dao Tiền đến sinh sốngở Na Hang Dân số là người Dao Tiền có 1.070 người, chiếm 80 % dân số của cảxã Số đàn ông Dao Tiền ở Hồng Thái đã được cấp sắc là khoảng 62% Xã hiệncó ba thầy cúng có thể làm lễ cấp sắc cho đàn ông Dao
- Tại huyện Lâm Bình: Tác giả luận án tiến hành nghiên cứu tại xã Thổ
Bình, nơi tập trung sinh sống của nhóm Dao Đỏ Số dân người Dao Đỏ tại đây là:1.053 người, chiếm trên 40 % dân số của xã Người Dao ở đây 100% làm ruộngnước, trong đó có trên 40 % đàn ông Dao đã được cấp sắc Lễ cấp sắc tại ThổBình vẫn được duy trì và có những nét riêng khác với lễ cấp sắc của nhóm DaoĐỏ ở nơi khác
- Tại huyện Yên Sơn: Tác giả luận án tập trung nghiên cứu ở xã Trung
Minh, nơi có nhiều người thuộc nhóm Dao Cóoc Mùn sinh sống Trung Minhđược cho là địa danh có người Dao đến sinh sống sớm nhất trên địa bàn tỉnhTuyên Quang Toàn xã hiện có 1.497 người Dao Coóc Mùn, trong đó có gần 60%đàn ông đã được cấp sắc Lễ cấp sắc của nhóm Dao Cóoc Mùn được cho là cónhiều điểm khác biệt so với các nhóm khác về đối tượng thụ lễ Hiện có bốn thầycúng vẫn thường xuyên thực hành lễ cấp sắc cho đàn ông Dao trong vùng
- Tại huyện Hàm Yên: Tác giả luận án nghiên cứu ở xã Yên Thuận, vì nơi đây
được gọi là "thủ phủ" của người Dao Áo Dài của Tuyên Quang Hiện toàn xã có2.284 người Dao Áo Dài, trong đó có trên 50% đàn ông Dao đã được cấp sắc Lễ
cấp sắc của nhóm Dao Áo Dài ở Yên Thuận có nhiều nét đặc trưng riêng tương đối nguyên bản, có nhiều chi tiết cổ xưa
- Tại huyện Sơn Dương: Tác giả luận án tập trung nghiên cứu lễ cấp sắc của
nhóm Dao Quần Chẹt ở khu vực phía Nam của huyện gồm các xã Hợp Hòa, ThanhPhát Số người Dao Quần Chẹt ở xã Hợp Hòa hiện có 793 người, trong đó có 35 %đàn ông đã qua lễ cấp sắc Lễ cấp sắc của nhóm Dao Quần Chẹt bao chứa nhiều chi
Trang 12tiết phong phú và được thể hiện thông qua các hoạt động gần với văn nghệ dân gian.
Đó cũng là nét đặc sắc của nhóm Dao này
Tại Sơn Dương, tác giả luận án còn khảo cứu thêm lễ cấp sắc của nhómDao Thanh Y, hiện có mặt tại xã Minh Thanh Lễ cấp sắc cho đàn ông DaoThanh Y tuy không phong phú như lễ cấp sắc của các nhóm Dao khác, nhưng cóthể tìm thấy trong đó những yếu tố khác biệt để so sánh
- Tại tỉnh Hà Giang: Trước đây do hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang là
một (gọi là tỉnh Hà Tuyên) nên khi tách ra, Hà Giang cũng có những nhóm Daogiống như ở Tuyên Quang Tuy nhiên trong quá trình chia tách, các nhóm Dao bịphân tán, sống xen kẽ với các dân tộc khác, nên lễ cấp sắc cũng đã có những biếnđổi Việc khảo sát tìm hiểu lễ cấp sắc của người Dao ở Hà Giang sẽ giúp cho tácgiả có cái nhìn so sánh và bổ sung vào luận án những tư liệu phong phú hơn TạiHà Giang, tác giả luận án nghiên cứu nhóm Dao Áo Dài ở thôn Nặm Đăm, xãQuản Bạ, huyện Quản Bạ Hiện nay thôn Nặm Đăm có 49 hộ Dao Áo Dài với
240 nhân khẩu Trên địa bàn hiện có khoảng ba thầy cúng là người Dao thuộc cácnhóm Dao Đỏ và Dao Áo Dài Cấp sắc vẫn được coi là nghi lễ bắt buộc đối vớimọi đàn ông Dao trong vùng
Tại tỉnh Bắc Kạn: Tác giả luận án nghiên cứu nhóm Dao Tiền khu vực hồ
Ba Bể Theo thống kê của huyện Ba Bể hiện có 10.963 người Dao Tiền sinh sốngtại đây [84] Người Dao Tiền chủ yếu làm ruộng nước Một số làm nghề rừng.Một bộ phận nhỏ tham gia các hoạt động phục vụ du lịch lòng hồ Tuy nhiên theotruyền thống, người đàn ông Dao vẫn được cấp sắc Do môi trường sống chi phối,
lễ cấp sắc của người Dao Tiền có những biến đổi rất đáng quan tâm Những sinhhoạt văn hóa, tín ngưỡng của các nhóm Dao tại khu vực lòng hồ Ba Bể có nhữngđặc trưng gắn với sông nước vùng lòng hồ và tất nhiên có sự ảnh hưởng tới việcthực hành lễ cấp sắc Đó cũng là những chi tiết thuận lợi trong việc so sánh củaluận án
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận của luận án
Tác giả luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩ duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để nhận diện,
Trang 13nghiên cứu lễ cấp sắc của người Dao ở Tuyên Quang từ những chiều cạnh khácnhau, trong sự vận động, biến đổi từ truyền thống đến hiện nay, dưới tác độngcủa các yếu tố khách quan và chủ quan Tác giả cũng rất chú trọng vận dụngnhững quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa dân tộc, vềvai trò của văn hóa trong phát triển cũng như việc bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa tộc người theo tinh thần Nghị quyết Trung ương năm, khóa VIII Về xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và
Nghị quyết Trung ương chín, khóa XI Về xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Đây là phương pháp chủ đạo đã được
tác giả luận án tiến hành nghiên cứu lễ cấp sắc tại các xã Sơn Phú, Hồng Tháithuộc huyện Na Hang, nơi có hai nhóm: Dao Đỏ và Dao Tiền sinh sống Tạihuyện Yên Sơn, tác giả nghiên cứu lễ cấp sắc tại xã Lang Quán, nơi có nhómDao Quần Trắng sinh sống Tại huyện Lâm Bình, tác giả nghiên cứu lễ cấp sắccủa nhóm Dao Đỏ ở xã Thổ Bình và một số xã như: xã Minh Hương, huyện HàmYên, nơi có nhóm Dao Tiền sinh sống; các xã Kháng Nhật, Hợp Hòa, Thiện Kếthuộc huyện Sơn Dương, nơi có nhóm Dao Quần Chẹt; xã Bình Yên, huyện SơnDương, nơi có nhóm Dao Thanh Y
Ngoài tỉnh Tuyên Quang, tác giả đã tiến hành nghiên cứu lễ cấp sắc củangười Dao tại thôn Nặm Đăm, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang; huyện Ba Bể, tỉnhBắc Kạn
Tại các điểm nghiên cứu, tác giả luận án đã tiến hành quan sát tham dự,cùng ở, cùng ăn, cùng tham gia vào những sinh hoạt với người Dao trong mộtthời gian, vào những thời điểm khác nhau Bằng cách này, tác giả có điều kiệntiếp xúc trực tiếp và hiểu văn hóa của các nhóm Dao một cách sâu sát hơn, đặcbiệt là có cơ hội được quan sát và tham dự một số lễ cấp sắc
Trong mỗi đợt điền dã, tác giả luận án đã tiến hành phỏng vấn sâu, phỏngvấn hồi cố với các đối tượng khác nhau bằng những câu hỏi mở đã được chuẩn bịtrước nhằm thu thập thông tin liên quan đến lễ cấp sắc Đối tượng phỏng vấn sâutrước hết là các thầy cúng, những người am hiểu về phong tục tập quán của
Trang 14người Dao; những người đàn ông đã trực tiếp thực hành nghi lễ của cấp sắc;những cán bộ quản lý văn hóa tại địa phương và những người tham gia tổ chức lễcấp sắc.
Một số cuộc thảo luận nhóm cũng đã được tổ chức tại các bản người Daonhằm thu thập các thông tin đảm bảo tính khách quan và đa chiều về lễ cấp sắc,những vấn đề đặt ra liên quan đến cách thức bảo tồn và phát huy các giá trị của lễcấp sắc trong điều kiện hiện nay Các nhóm thảo luận được lựa chọn theo giớitính, nhóm tuổi, nhóm đối tượng thầy cúng, chủ hộ gia đình,…
Trong thời gian điền dã, nghiên cứu tại cộng đồng, tác giả luận án cũng đãquay phim, chụp ảnh các lễ cấp sắc, lựa chọn các hình ảnh đẹp, tiêu biểu, phùhợp để minh họa cho nội dung của luận án
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để so sánh giữa lễ
cấp sắc của các nhóm Dao ở Tuyên Quang và so sánh giữa lễ cấp sắc ba đèn củangười Dao ở Tuyên Quang với lễ cấp sắc ba đèn của người Dao ở Bắc Kạn và Hà
- Phương pháp chuyên gia: Tác giả luận án đã gặp gỡ, trao đổi, xin ý kiến
về các nội dung nghiên cứu của luận án với các chuyên gia nghiên cứu về lễ cấpsắc của người Dao, đặc biệt đi sâu tìm hiểu về bản chất của lễ cấp sắc cũng nhưvai trò của nó trong đời sống tinh thần của người Dao trước kia và hiện nay
- Phương pháp thu thập, hệ thống hóa và phân tích nguồn tư liệu có sẵn:
Tác giả luận án đã kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu về tộc người Daoở Việt Nam nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng, sử dụng tư liệu về lễ cấpsắc của người Dao từ các cơ quan nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đi trước ởTrung ương và tỉnh Tuyên Quang cũng như ở một số địa phương khác
Với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu trên, có thể thấy rằng, luận ánsử dụng chủ yếu nguồn tư liệu đã thu thập được trong quá trình điền dã tại các địabàn sinh sống của người Dao, cùng với kế thừa một phần luận văn thạc sỹ của tácgiả đã hoàn thành năm 2001 Ngoài ra, tác giả luận án còn sử dụng các nguồn tài liệubao gồm các văn bản về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, của chínhquyền địa phương về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Mộtsố kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà sưu tầm, nghiên
Trang 15cứu văn hóa đã công bố cũng được tác giả luận án kế thừa Đặc biệt qua các đợtkhảo sát điền dã tại cơ sở, tác giả luận án đã thu thập, đánh giá, phân tích các tưliệu từ các thầy cúng, các nghệ nhân là người Dao, trong đó có thêm phần thamkhảo các sách cổ qua phần trình bày, giới thiệu của họ.
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Trên cơ sở khảo sát, tập hợp, phân loại và trình bày về lễ cấp sắc của cácnhóm Dao ở Tuyên Quang, luận án cung cấp cho ngành Nhân học những tư liệumới, cập nhật về nét văn hóa đặc trưng riêng, đồng thời cũng là điểm khác biệtcủa người Dao với các tộc người khác ở Việt Nam
- Luận án đã phân tích làm rõ các giá trị văn hoá trong lễ cấp sắc của ngườiDao, từ đó xác định nét văn hoá chung và riêng, rút ra một số nhận xét khẳngđịnh diện mạo và bản sắc văn hoá của người Dao, góp phần bổ sung tư liệu làm
cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện về văn hóa của người Daoở Tuyên Quang nói riêng, trên phạm vi cả nước nói chung
- Từ góc độ tiếp cận Nhân học/Dân tộc học, luận án tiếp tục bổ sung nhữnggiá trị đặc trưng cơ bản của lễ cấp sắc của người Dao trong mối quan hệ văn hoátộc người, cộng đồng và xác định rõ những biến đổi trong quá trình tiếp biến vănhóa, rút ra những giá trị của lễ cấp sắc và đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn vàphát huy các giá trị văn hóa độc đáo của lễ cấp sắc trong bối cảnh xây dựng nềnvăn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Tuyên Quang
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Từ kết quả nghiên cứu đạt được, luận án đã đề xuất một số quan điểm vàgiải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn, phù hợp, khả thi nhằm góp phần bảotồn và phát huy các giá trị của lễ cấp sắc của người Dao trong bối cảnh hiện nay
- Luận án cung cấp cơ sở khoa học cho việc tham khảo trong hoạch định vàcụ thể hóa chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống qua lễcấp sắc của người Dao, góp phần phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xãhội (KT-XH), văn hóa một cách bền vững
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương:
Trang 16Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, địa bàn và tộc
người nghiên cứu
Chương 2: Quy trình thực hành của lễ cấp sắc
Chương 3: Các giá trị trong lễ cấp sắc của người Dao
Chương 4: Kết quả và bàn luận
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, ĐỊA
BÀN VÀ TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam
1.1.1.1 Các nghiên cứu về nguồn gốc, lịch sử tộc người
Từ trước đến nay, hầu hết các nghiên cứu về người Dao đều cho rằng,người Dao đến Việt Nam từ Quảng Đông và Quảng Tây, Trung Quốc Dựa trênthư tịch và sử sách…thì người Dao và người Hmông có xuất xứ từ một cộinguồn Các nhà nghiên cứu đặt chung trong hệ ngôn ngữ Mông - Dao Cho tớinay, chưa có tài liệu nào xác định chính xác người Dao di cư tới Việt Nam vàothời điểm nào, phần lớn cho rằng, ít nhất từ thế kỷ thứ XI, rõ rệt hơn là từ thế kỷXIII, người Dao đã có mặt tại Việt Nam [33;38;134;135]
Theo một số nhà nghiên cứu người Pháp, trong đó có Auguste Bonifacy đã
có những công trình nghiên cứu về người Dao rất nổi tiếng như: Một cuộc công
cán ở vùng người Mán từ tháng mười 1901 đến cuối tháng giêng 1902 [6],Giản chí về người Mán Cao Lan [7], Giản chí về người Mán Quần Cộc [8]
Auguste Bonifacy đã giới thiệu khá chi tiết về những sinh hoạt văn hóa, đời sốngcủa người Dao như: kiến trúc nhà ở, trang phục, đời sống xã hội, tôn giáo tínngưỡng, tri thức dân gian, văn học nghệ thuật Hạn chế của Auguste Bonifacy làluôn mang tư tưởng của chủ nghĩa thực dân nên việc đánh giá những giá trị vănhóa của người Dao chưa chính xác Ông cho rằng, người Dao là một dân tộc lạchậu, phải được khai hóa văn minh, thậm chí ông còn nhầm lẫn giữa người CaoLan với người Dao
Nhà nghiên cứu nổi tiếng Maurice Abadie đã xuất bản công trình Les
Mans du Haut- Tonkin (Người Dao ở vùng cao Bắc Kỳ) vào năm 1922 [1] Sự
mô tả chi tiết về các nhóm dân tộc cho thấy những nghiên cứu của ông rấtnghiêm túc và có giá trị Tuy nhiên, công trình của Maurice Abadie cũng chỉdừng lại ở việc nhận diện những đặc điểm văn hóa có tính chất tổng quát và ông
Trang 18cũng có những nhầm lẫn khi cho rằng, người Dao cùng nhóm với dân tộc PàThẻn và Cao Lan.
Một số nhà nghiên cứu dân tộc học Xô Viết trước đây đã đề cập tới ngườiDao ở Việt Nam, trong đó đáng chú ý là các tác giả A.I Lexkinen; N.N.Tsebocxrov;J.A Tsebocxrova Tuy nhiên, họ cũng chỉ đề cập đến vấn đề nhân chủng và miêu tảkhá sơ lược về một số phong tục tập quán và trang phục của một số nhóm Dao Tiêu
biểu là công trình Chủng tộc, Dân tộc, Văn hóa của hai nhà nghiên cứu N.N.
Tsebocxrov và J.A Tsebocxrova xuất bản năm 1971 [111]
Trong Hội thảo Quốc tế lần thứ VII về người Dao, tổ chức tại thành phốThái Nguyên năm 1995 [53], các nhà nghiên cứu quốc tế đã có những tham luận khá
sâu sắc về người Dao như: Ý nghĩa đặc điểm và nội dung văn hóa truyền thống dân
tộc Dao của Lý Thanh Nghị (Trung Quốc); Mấy vấn đề người Dao di cư vào Việt Nam của Trương Hữu Tuấn (Trung Quốc); "Khái quát về di sản văn hóa Dao và hiện đại hóa ở Việt Nam của Jacques Lemoine (Pháp) Đây là những tham luận cung cấp
những tư liệu quý về vấn đề di cư của người Dao đến các nước Đông Nam Á, trongđó có Việt Nam và những vấn đề đặt ra cho văn hóa người Dao trong bối cảnh hiệnđại hóa ở Việt Nam Mặc dù vậy, các tác giả cũng chỉ dừng lại ở một số nhận địnhcó tính chất khái quát về nguồn gốc của người Dao và phỏng đoán con đường di cưcủa họ tới Việt Nam là chính, còn những vấn đề về phong tục, tập quán, thành phầncác nhóm Dao ở Việt Nam lại chưa được đi sâu phân tích một cách chi tiết, thấuđáo và chưa làm rõ được những giá trị văn hóa độc đáo của người Dao trong quátrình biến đổi, giao thoa tiếp biến văn hóa
Ở giai đoạn phong kiến, có các công trình nghiên cứu đề cập đến người
Dao như: Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (1777), Hưng Hóa phong thổ lục của Hoàng Chính Bình (1778), Hưng Hóa ký lược của Phạm Thận Duật (1856), Đại
Nam nhất thống chí hay Phong thổ ký Tuyên Quang Trong các công trình này,
người Dao được coi là những nhóm Mán: Mán Sơn Đầu, Mán Đại Bản, MánQuần Đen, Mán Quần Trắng… Nhìn chung, những công trình này chỉ có giá trịvề mặt lịch sử, còn nội dung rất mờ nhạt, sơ lược Các tác giả đã không miêu tảcụ thể về những phong tục, tập quán của người Dao, lại càng không có nhữngđánh giá xác đáng hoặc bày tỏ quan điểm về nếp sống, lối sống của người Dao
Trang 19Cách mạng Tháng Tám thành công mang lại sự hồi sinh và phát triển củacác ngành nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, trong đó có lĩnh vực nghiên cứu vềdân tộc Ngành Dân tộc học ra đời đáp ứng nhiệm vụ cung cấp các luận cứ khoahọc cho vấn đề dân tộc ở nước ta, giúp Đảng và Nhà nước có những chính sáchphù hợp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa vùng đồng bào dântộc Nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc, trong đó đề cập đến người Dao ra
đời như: Nguồn gốc lịch sử và sự di cư của người Mán ở Việt Nam của Mạc Đường (1959), Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam của Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu, Mai Văn Trí, Ngọc Anh, Mạc Như Đường (1959); Qua nghiên cứu bình
Hoàng Khoán Điệp, thử bàn về gốc tích người Dao (Mán) của Trần Quốc Vượng
(1963), Về vấn đề xác minh tên gọi và phân loại các ngành Dao ở Tuyên Quang của Phan Hữu Dật, Hoàng Hoa Toàn (1968), Người Dao ở Việt Nam của Bế Viết Đẳng, Nông Trung, Nguyễn Khắc Tụng, Nguyễn Nam Tiến (1971), Các dân tộc
ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện Dân tộc học (1978)….
Nhiều nhà nghiên cứu đầy nhiệt huyết khác cũng đã có những công trìnhnghiên cứu về người Dao, tiêu biểu như: Bàn Tài Đoàn, Đoàn Thiện Thuật, MaiNgọc Chừ, Hà Văn Viễn, Hà Văn Phụng, Nguyễn Đình Khoa, Nguyễn NgọcThanh, Vương Xuân Tình Gần đây, có thêm những công trình nghiên cứu về
người Dao rất có giá trị như:" Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam" của Nông Quốc Tuấn (2003), "Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà Giang" do Phạm Quang Hoan và Hùng Đình Quý đồng chủ biên (1999), "Những bài ca giáo
lý: Sách cổ người Dao" do Trần Hữu Sơn chủ biên (2009)
Về tên gọi, theo Bàn Thị Tư thì chỉ nên căn cứ vào ý thức tự giác của cộng
đồng Người Dao đã tự gọi mình là "Yêu Miền", "Lào Miền", "Xì Pêu Miền", thì đó là
tên chính thức của họ Không nên gán cho họ những cái tên khác, có khi lại mang
hàm ý miệt thị họ "Yêu Miền","Lào Miền","Xì Pêu Miền", dịch ra tiếng Kinh đều có
nghĩa là Dao [119, tr 41-45]
Về sự có mặt của người Dao ở Việt Nam thì tư liệu sớm nhất được tìm
thấy trong truyện thơ lịch sử về người Dao: Truyện Đặng Hành và Bàn Đại Hộ,
do Triệu Hữu Lý sưu tầm và dịch [61]
Trang 20Theo Ngô Đức Thịnh, nguồn gốc của người Dao được mô tả khá kỹ trong
truyện thơ Đặng Hành và Bàn Đại Hộ Theo đó, tất cả các nhóm Dao đều có chung
nguồn gốc từ Bàn Hồ Bàn Hồ là một con "Long Khuyển" mình dài ba thước, lôngđen vằn vàng mượt như nhung từ trên trời giáng xuống trần được Bình Hoàng yêuquý nuôi trong cung Chiến tranh nổ ra giữa Bình Hoàng và Cao Vương Bàn Hồnhận lời đi giết Cao Vương Bình Hoàng đồng ý và hứa gả cung nữ cho Bàn Hồ nếuBàn Hồ giết được Cao Vương Sau bảy ngày bảy đêm bơi qua biển, Bàn Hồ đếnđược nơi Cao Vương ở Thấy con chó đẹp, Cao Vương cho là điềm lành và giữ lạinuôi trong cung Một hôm nhân Cao Vương say rượu, Bàn Hồ cắn chết Cao Vươngvà đem đầu về báo công với Bình Hoàng Bình Hoàng giữ lời hứa gả cung nữ choBàn Hồ Bàn Hồ đem cung nữ về sống ở núi Cối Kê (Triết Giang - Trung Quốc) Vợchồng Bàn Hồ sinh được sáu con trai, sáu con gái Bình Hoàng ban sắc cho con cháuBàn Vương thành 12 họ Riêng con cả mang họ cha con cháu Bàn Vương ngày
càng sinh sôi nảy nở khiến nhà vua phải cấp " Quá sơn bảng văn" để người Dao
phân tán đi các nơi kiếm ăn một bộ phận người Dao đã di cư xuống phía Nam tớicác nước Đông Dương, trong đó có Việt Nam [97, tr 120-125]
Sau Cách mạng tháng Tám đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứukhá toàn diện về người Dao Các tác giả đã cung cấp nhiều tư liệu quý hiếm vềđời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của các nhóm Dao có mặt ở Việt Nam Điều đóđã giúp tác giả luận án có nguồn tư liệu phong phú để thực hiện đề tài của riêngmình, tìm hiểu chi tiết một sinh hoạt văn hóa có tính chất hạt nhân của ngườiDao Đó là Lễ cấp sắc của người Dao ở Tuyên Quang
1.1.1.2 Những nghiên cứu về văn hóa của người Dao ở Việt Nam
Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ VII về “ Sự phát triển văn hóa xã hội của
người Dao: Hiện tại và tương lai” tổ chức tại thành phố Thái Nguyên năm 1995
[53], nhiều nhà khoa học trong nước đã trình bày những tham luận có giá trị,phản ánh toàn diện nỗ lực của giới nghiên cứu khoa học về vấn đề người Dao.Trong đó đề cập tới tất cả các lĩnh vực: nguồn gốc lịch sử, quá trình thiên di, đờisống kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán, lối sống, văn hóa, tri thức dân gian của người Dao Các tác giả đã cho thấy một cái nhìn tổng thể về người Dao ở
Trang 21Việt Nam, đề cập đến nhiều lĩnh vực trong đời sống người Dao như: phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, trang phục, lối canh tác
Các công trình nghiên cứu Người Dao ở Việt Nam (1971), Văn hóa truyền
thống người Dao ở Hà Giang (1999) và một số công trình có trong tập Kỷ yếu Hội
thảo Quốc tế lần thứ VII về Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và
tương lai (1995) như: Kinh tế, xã hội người Dao Việt Nam thời kỳ 1970 - 1995 của
Trịnh Bá Bảo, Tình hình kinh tế và đời sống của người Dao hiện nay (Nguyễn
Khánh Quắc và Từ Quang Hiển), đều đề cập tới đời sống văn hóa của người Daotrong truyền thống và biến đổi Các công trình này đã có những lý giải sâu sắc vềvăn hóa của người Dao với nhiều phong tục tập quán đa dạng, phong phú
Về nhà ở, có công trình nghiên cứu Nhà ở của người Dao, xưa và nay của
tác giả Nguyễn Khắc Tụng (1996), đã mô tả khá chi tiết nhà ở của người Dao vớinhững nét riêng Họ có đủ ba loại hình nhà ở: nhà đất, nhà nửa sàn nửa đất và nhàsàn Việc bài trí trong ngôi nhà của người Dao tương đối thống nhất, có sự phùhợp với cảnh quan, môi trường [116]
Về trang phục của người Dao, ngoài cuốn Người Dao ở Việt Nam (1991),
một số công trình nghiên cứu khác cũng đã mô tả khá đầy đủ về các loại trang phục
của người Dao như: Thử phân loại trang phục của người Dao Quần Chẹt ở một xã
thuộc tỉnh Tuyên Quang của Chu Thái Sơn và Nguyễn Chí Huyền [80]; Trang phục
cổ truyền người Dao ở Việt Nam [21], Trang phục cổ truyền của người Dao Thanh
Y ở Quảng Ninh, Trang phục cổ truyền của nhóm Dao Áo Dài [23,24] của Nguyễn
Anh Cường… Ở cuốn Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế lần thứ VII về Sự phát triển văn hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai [53] có bài viết Nữ phục Dao ở Việt
Nam- phong cách và cá tính của tác giả Lê Ngọc Thắng mô tả khá chi tiết bộ nữ
phục của người Dao, và gần đây có cuốn Trang phục cổ truyền của người Dao ở
Việt Nam của Nông Quốc Tuấn (2003) [113], ngoài những mô tả về đời sống văn
hóa phong phú của người Dao, tác giả đã trình bày khá đầy đủ về các loại hình trangphục của các nhóm Dao ở Việt Nam Nhìn chung, trang phục của người Dao, nhất làtrang phục của phụ nữ khá cầu kỳ, thêu các hoa văn tinh tế, đa số dùng trang sứcbằng bạc được chạm khắc tinh xảo Một số nhóm Dao có thể được phân biệt quatrang phục (Dao Quần Chẹt, Dao Đỏ, Dao Tiền, Quần Trắng, Dao Áo Dài )
Trang 22Tìm hiểu về văn hóa tinh thần của người Dao, nhiều tác giả đều có chungnhận xét rằng tín ngưỡng, tâm linh của người Dao khá phức tạp, có sự ảnh hưởng
của Tam giáo, nhất là Đạo giáo Bắt đầu từ quan niệm thế giới có các tầng: Tầng
Trời ( Ngọc Hoàng và các vị thần linh); Tầng đất, nơi sinh sống của con người
cùng với đủ các loại "ma"; Tầng âm phủ là nơi đày đọa con người khi chết.
Người Dao coi mọi vật đều có tâm linh, có quyền năng chi phối hành động củacon người Chính vì thế, mọi hành động của con người phải "được phép" của
"ma" hay thần linh, ai làm điều thiện đều được thần linh ban phúc, ai làm điều ác
sẽ bị "ma" hành hạ, khi chết còn bị đày đọa khổ sở Từ quan niệm đó, mọi sinhhoạt của người Dao đều bị ràng buộc bởi các nghi lễ, tục lệ rất phức tạp Việccúng bái, thờ phụng của người Dao vì thế rất phổ biến
Về văn hóa dân gian của người Dao, nhiều công trình đã đề cập khá phong
phú đến các loại hình như: hát (páo dung); múa (là); diễn xướng trong cúng bái,
hệ thống tranh thờ hoặc các kinh nghiệm về đoán định thời tiết, chữa bệnh, về cácđiềm lành, gở khi tổ chức các sinh hoạt về kho tàng tục ngữ, ca dao của ngườiDao [47;52;61;62;63;112]
Tuy nhiên, cùng với sự ra đời còn non trẻ của ngành nghiên cứu dân tộc học,các công trình cũng có những hạn chế nhất định Sự phân tích, đánh giá hay nhậnđịnh một cách khoa học về những giá trị văn hóa của các công trình chưa nhiều, chủyếu là mô tả trong trạng thái ít biến đổi, nhiều nhận định, đánh giá còn có những ýkiến khác nhau, vì vậy, chưa cung cấp được nhiều những luận cứ khoa học để phụcvụ cho việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa độc đáo quý hiếm của ngườiDao ở nước ta nói chung, người Dao tỉnh Tuyên Quang nói riêng
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về lễ cấp sắc của người Dao
Lễ cấp sắc của người Dao được đề cập từ rất sớm trong một số nghiên cứucủa các tác giả người Pháp như: Auguste Bonifacy [6;7;8] , Maurice Abadie[6;7;8;1] Các tác giả không đi sâu nghiên cứu mà chỉ mô tả lễ cấp sắc như mộthiện tượng hành nghề Saman giáo Dưới con mắt của các nhà nghiên cứu ngườiPháp, cấp sắc giống như một hủ tục lạc hậu của người bản địa
Năm 1971, nhóm tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung,
Nguyễn Nam Tiến viết cuốn "Người Dao ở Việt Nam" [33] Đây là một công trình
Trang 23nghiên cứu khá toàn diện về người Dao vào thời điểm đó Các tác giả đã khắchọa được diện mạo văn hóa phong phú của các nhóm Dao ở Việt Nam, trong đó
lễ cấp sắc cũng được đề cập đến Tuy nhiên, do hạn chế về mặt lịch sử, lễ cấp sắccủa người Dao cũng chỉ được đề cập đến như là một nét sinh hoạt tín ngưỡng.Các tác giả không đi sâu phân tích những giá trị văn hóa độc đáo chứa đựng trong
lễ cấp sắc, cũng không đưa ra ý kiến nhận xét khẳng định tính tích cực của lễ này
Năm 1996, nhà nghiên cứu Lê Sỹ Giáo có bài viết Tục cấp sắc của người
Dao và tính giáo dục của lễ thức, đăng trên Tạp chí Dân tộc và Thời đại [39, tr.1-3].
Tác giả đã khảo tả, giới thiệu tương đối đầy đủ về lễ cấp sắc của người Dao Nhưng
ở phần đánh giá, tác giả chỉ dừng lại ở việc khẳng định tính giáo dục của nó màkhông đi sâu phân tích và khẳng định những giá trị tích cực khác có trong lễ cấp sắc
Một số tác giả như: Nguyễn Quốc Lộc (1966), Xuân Mai [63], Lê HồngLý [60], Nguyễn Tuấn Việt (1998), đã có những bài viết về lễ cấp sắc của ngườiDao, nhưng chỉ mô tả là chính, chưa có sự đi sâu phân tích một cách toàn diện,chi tiết về lễ cấp sắc
Một số tác giả khác lại đi sâu tìm hiểu về lễ cấp sắc của một nhóm Dao cụ
thể như: Lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang ở Lạng Sơn của Phan Ngọc Khuê [52]; Lễ cấp sắc của người Dao Tuyển ở Bảo Yên của Nguyễn Tuấn Việt [132];
Tục cấp sắc của người Dao Quần Chẹt ở Bắc Thái của Đỗ Đức Lợi [58]… Các
nghiên cứu đã cho thấy sự đa dạng, phong phú của lễ cấp sắc , tuy nhiên lạichưa đề cập sâu tới sự biến đổi của lễ cấp sắc, nhất là chưa tìm ra được những nétriêng của lễ cấp sắc ở từng nhóm Dao, hay cách thức duy trì nó trong bối cảnhđổi mới hiện nay
Trong cuốn Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà Giang, do Phạm
Quang Hoan và Hùng Đình Quý đồng chủ biên [43], đã mô tả khá chi tiết lễ cấp
sắc của người Dao Các tác giả cho rằng, về nguồn gốc lễ cấp sắc có lẽ xuất phát
từ những hiện tượng sinh hoạt xã hội là nhu cầu thử thách để chuyển tiếp từ trẻ
em sang người lớn, sau này mới được nhuộm màu sắc tôn giáo Đàn ông Dao nếu chưa trải qua lễ cấp sắc thì dù đã già nhưng vẫn coi là trẻ con, còn người đã qua lễ cấp sắc thì dù còn trẻ tuổi vẫn coi là người lớn, được ngồi với các già làng để bàn bạc những công việc hệ trọng của làng hoặc tham gia cúng bái hay
Trang 24giúp việc cho các thầy cúng thực hiện những nghi lễ tín ngưỡng [43, tr.246] Các
tác giả đã cho rằng, lễ cấp sắc có tính giáo dục và tính văn nghệ Tính giáo dụcthể hiện ở ngay quan niệm của người Dao về lễ cấp sắc Đó là việc trở thànhngười lớn có tâm, có đức, có uy tín trong cộng đồng và phải có trách nhiệm giữgìn, tu dưỡng để không làm ảnh hưởng tới truyền thống tốt đẹp của cộng đồng.Tính giáo dục được thể hiện rất rõ trong các lời răn, lời giáo huấn của thầy cúngkhi làm lễ Phải biết kính trọng, biết ơn tổ tiên, sống phải làm việc thiện, tránhđiều ác, trọng nghĩa khinh tài Tính văn nghệ thể hiện bằng các điệu múa, bằnglối diễn xướng dân gian, không kiêng người đến xem mà người xem còn có thểtham gia ở những tiểu tiết, ở những thời điểm thích hợp Tuy nhiên, phạm vinghiên cứu về lễ cấp sắc trong công trình của các tác giả chỉ chiếm một phần rấtnhỏ, giới hạn ở góc độ khái quát, chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu một cách toàndiện về lễ cấp sắc, nhất là chưa có điều kiện so sánh sự tương đồng và đểm khácbiệt của lễ cấp sắc giữa các nhóm Dao với nhau, hay so sánh lễ cấp sắc của ngườiDao với lễ cấp sắc của một số dân tộc khác ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta
Các công trình: Lễ cấp sắc của người Dao ở Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập hiện nay [86] và trong luận án Các nghi lễ chủ yếu trong đời người của nhóm Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn [84] của Lý Hành Sơn đã cung cấp cho người đọc một
cách khá toàn diện về lễ cấp sắc và khẳng định tính tích cực của nó trong đời sốngtộc người Dao Sau khi phân tích các yếu tố diễn ra trong lễ cấp sắc, tác giả đã có
những nhận định xác đáng: Lễ cấp sắc của người Dao không đơn thuần là nghi lễ
tín ngưỡng tôn giáo mà còn chứa đựng các thành tố văn hóa đặc trưng của tộc người Lễ cấp sắc chứa đựng nhiều thành tố văn hóa Dao, có vai trò kết nối và kế thừa các di sản văn hóa Dao từ thế hệ trước sang thế hệ sau và đặc biệt, tác giả đã
đi sâu phân tích làm rõ tính giáo dục trong lễ cấp sắc với các dẫn chứng cụ thể sinhđộng Các công trình này đã đề xuất một số kiến nghị về bảo tồn và phát huy lễ cấpsắc trong bối cảnh hiện nay Tuy nhiên, việc so sánh lễ cấp sắc giữa các nhóm Daocũng chưa được đề cập tới một cách thỏa đáng, hoặc việc so sánh lễ cấp sắc củangười Dao với các dân tộc khác cũng còn có những hạn chế
Cấp sắc là một sinh hoạt văn hóa đặc trưng của người Dao, hình thành trongquá trình phát triển của dân tộc Dao Trước hết là sự đề cao con người, chủ thể của
Trang 25cuộc sống, đặc biệt là vai trò của người đàn ông Dao trong cộng đồng Lễ cấp sắcchứa đựng trong đó những yếu tố về địa lý, địa bàn cư trú, phong tục tập quán,văn hóa nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng Nó biểu hiện rõ nét đời sống tâm linhcủa đồng bào Dao trong sinh hoạt văn hóa truyền thống, điều đó được thể hiệnkhá cụ thể ở sự kính trọng thần thánh, tổ tiên, kính trọng thầy cúng, cũng như ởnội dung bài cúng, các điệu múa, trang phục, nhạc cụ, và ở quan niệm về thế giớitự nhiên Đặc biệt, những điều răn dạy của thần thánh, tổ tiên mang tính nhân vănsâu sắc, thể hiện đạo lý cuộc sống, thế ứng xử của người Dao đối với môi trườngtự nhiên và xã hội, và phù hợp với truyền thống đạo đức của cộng đồng: kính già,yêu trẻ, tự trau dồi đạo đức để vươn lên, sẵn sàng xả thân vì đồng loại.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Tuyên Quang là địa bàn cư trú có đôngngười Dao và có nhiều nhóm Dao nhất Tại đây, còn lưu giữ được khá nhiều nhữngphong tục, tập quán, những sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng cổ truyền chưa bị lai tạpnhiều Tuy nhiên, trên thực tế chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về lễ
cấp sắc của người Dao ở tỉnh Tuyên Quang… Luận án: Lễ cấp sắc của người Dao
tỉnh Tuyên Quang của tác giả luận án sẽ là sự bổ sung cần thiết cho sự thiếu hụt đó.
Từ cái riêng, cụ thể về lễ cấp sắc của người Dao ở tỉnh Tuyên Quang, tác giả luận án
hy vọng sẽ có được những khái quát bổ sung chính xác hơn, đầy đủ hơn về lĩnh vựcnhân học của cộng đồng dân tộc Dao ở Việt Nam
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
- Bản sắc văn hóa tộc người: Khái niệm này được hiểu là những thành tố,
những giá trị văn hóa cơ bản nhất để phân biệt giữa tộc người này với tộc ngườikhác, các nhóm khác Bản sắc văn hóa tộc người là tổng thể các giá trị đặc trưngnhất, bản chất nhất trong văn hóa tộc người được hình thành, tồn tại và phát triểntrong quá trình lịch sử lâu dài, tạo nên những giá trị có tính chất nền tảng bềnvững, được duy trì lâu bền, thậm chí ngay cả khi hoàn cảnh sống của tộc ngườiđã có những thay đổi mạnh mẽ Đó là những yếu tố tạo nên những nét riêng, đặcthù của văn hóa tộc người Bản sắc văn hóa tộc người được ví như tấm giấythông hành hay tấm hộ chiếu để nhận diện tộc người
Trang 26- Biến đổi văn hóa: Theo Từ điển tiếng Việt [120] biến đổi có nghĩa là
thay đổi hoặc làm cho thay đổi thành khác trước Như vậy, có thể hiểu biến đổivăn hóa là sự thay đổi văn hóa khác với trước
- Thích ứng văn hóa: Từ điển tiếng Việt [120] định nghĩa, thích ứng là có
những thay đổi cho phù hợp với điều kiện mới, yêu cầu mới Như vậy, thích ứngvăn hóa được hiểu là có những thay đổi về văn hóa cho phù hợp với hoàn cảnhmới, điều kiện mới
- Lễ: Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, "lễ" là các nghi thức đặc thù bày tỏ
kính ý của con người trước đối tượng được thờ tự là thần linh, được thể hiện bằngcác hành vi cúng, tế, cầu phúc phản ánh những khát khao của con người trước
những nhu cầu cả về vật chất lẫn tinh thần và có thể hiểu, trong cuộc sống, lễ như
là những phép ứng xử giữa người với người và giữa con người với môi trường thiên nhiên, hoặc nghi lễ (rituals) - tức lễ, được định nghĩa như sự đáp ứng của văn hoá và xã hội trước đòi hỏi của một hoàn cảnh phát sinh trong những điều kiện nhất định, được thực hiện dưới những thực hành xã hội mang tính thủ tục (procédure), và có ý nghĩa biểu tượng [100, tr.632-634].
Theo đó, nội hàm của lễ quy định các chi tiết về thái độ ứng xử của conngười với thần linh và thông qua ứng xử đó để nhằm củng cố các mối quan hệ
giữa con người với con người, con người với xã hội Lễ là tập hợp các hành vi
phù hợp với trạng thái tinh thần của con người để tạo ra một trạng thái khác đápứng những khát khao của chính họ Lễ luôn được diễn ra trong một "thời gian
thiêng" và ở một "không gian thiêng".
- Lễ cấp sắc: Khái niệm này được các nhà nghiên cứu ở Việt Nam sử
dụng để chỉ một cuộc lễ trưởng thành của người đàn ông Dao Cấp sắc thực chấtlà một "lễ" của người Dao nhằm thực hành một loạt các hành vi giúp người đượcthụ lễ đạt được những tiêu chuẩn bắt buộc mà cộng đồng người Dao quy định.Nói cách khác, đó là thời điểm đánh dấu sự trưởng thành của người đàn ông Dao,thời điểm mà anh ta chính thức được cộng đồng thừa nhận Ở vùng Tây Bắc, cấp
sắc còn có thể gọi là lập tính, lập tịch, lập tịnh hay cấp tính Người Dao Thanh Phán ở tỉnh Quảng Ninh gọi lễ cấp sắc là Chẩu đàng.
Trang 27Ở Trung Quốc, các nhà nghiên cứu thường gọi lễ cấp sắc là "lễ độ giới", ởNhật Bản gọi là Kwa tang (gọi theo tiếng của người Dao), ở Pháp gọi là "lễ gia nhập Đạo giáo" [84].
Ở Việt Nam, người Dao thường gọi cấp sắc là quá tăng, nghĩa là "qua đèn".
Cách gọi này là để chỉ một nghi lễ rất quan trọng trong lễ cấp sắc Đó là thời điểm cácthầy cúng đặt các ngọn đèn lên các vị trí trên cơ thể của người thụ lễ với ý nghĩa: soisáng tâm hồn người thụ lễ, tẩy uế những điều xấu xa trước khi nhận tên mới và những
điều giáo huấn từ các đấng thần linh, tiên tổ Theo quan niệm của người Dao ởViệt Nam và tỉnh Tuyên Quang nói riêng, người đàn ông trải qua lễ cấp sắc thìđược thầy cúng đặt tên âm và cấp cho một bản sắc ghi bằng chữ nôm Dao, trongđó chứa đựng các nội dung như lai lịch của người thụ lễ, các điều khuyên răn
Người Dao quan niệm, lập tịch, lập tính có nghĩa là làm cho người thụ lễ cấp sắc
trong sạch, không có tội lỗi
Lễ cấp sắc, về bản chất được coi là lễ thành đinh nguyên thủy, tức là thờiđiểm người đàn ông Dao trẻ tuổi phải vượt qua những thử thách để trở thành ngườilớn Tuy nhiên, trải qua thời gian, lễ cấp sắc đã có những biến đổi, nhưng nó vẫn cònbao hàm trong đó sự công nhận một người đàn ông Dao đã có đủ điều kiện để trởthành một thầy cúng, biết chữa bệnh bằng phép thuật, biết giao tiếp với cõi âm
Cấp sắc là thuật ngữ chỉ hành vi: người thụ lễ được cấp 2 đạo sắc (lànhững tờ giấy bản có khổ rộng 80 cm x 30 cm) Trên đạo sắc có ghi chữ Hán(viết theo lối Nôm Dao) của các thầy cúng, nội dung: Lai lịch của người được cấpsắc; lý do cấp sắc; những điều giáo huấn cho người thụ lễ; họ tên các thầy cúngvà ấn tín do thầy cúng đóng vào đạo sắc
Lễ cấp sắc thuộc các nhóm Dao ở phương ngữ I (Miền) có nhiều thứ bậc.
Sự quy định thứ bậc dựa trên số lượng đèn đặt lên người được thụ lễ Từ trước tớinay, chỉ thấy có 3 thứ bậc: cấp sắc 3 đèn; 7 đèn; 12 đèn
Cấp sắc 3 đèn (Phàm thoi tăng) là chỉ những người được cấp sắc ở bậc
thấp nhất Những người đàn ông qua lễ 3 đèn thường chỉ được coi là ngườitrưởng thành, có quyền đi xa, làm nhà có thể thực hành cúng bái, nhưng chỉtrong phạm vi gia đình chứ chưa thể làm được thầy cúng của dòng họ
Trang 28Cấp sắc 7 đèn (Chiất phing tăng) là những người được cấp sắc đã có thể
hành nghề thầy cúng của dòng họ hoặc trong phạm vi một vùng
Cấp sắc 12 đèn (Tẩu slai) là bậc cao nhất, đòi hỏi phải là thầy cúng cao tay,
giỏi phép thuật, có uy tín khắp vùng Đặc biệt phải trải qua những thử thách rất nguyhiểm mới được công nhận ở bậc này (Thí dụ: phải đi lên đàn cúng có 12 bậc, ở mỗibậc người ta đặt 2 lưỡi dao chéo nhau, trên lưỡi dao chỉ phủ một tờ giấy dó)
Còn lễ cấp sắc của các nhóm Dao thuộc phương ngữ II (Mùn), chỉ có hai bậc
chính là Tam Nguyên và Tam Thanh, trong đó mỗi bậc lại có ba tiểu bậc khác nhau
Lễ cấp sắc có từ bao giờ? Cho đến nay, chưa có tài liệu nào nói đến,nhưng xét về bản chất của nó, lễ cấp sắc phải có từ rất xa xưa và nhuốm đậmmàu Saman giáo, với những thực hành của một tín ngưỡng sơ khai nguyên thủy,tồn tại trong suốt quá trình phát triển của người Dao
1.2.2 Cách tiếp cận
Đề tài luận án tiếp cận từ góc độ Nhân học, hướng nghiên cứu của tác giảluận án là tập trung vào các yếu tố văn hóa truyền thống của người Dao trong lễcấp sắc Bên cạnh đó, tác giả luận án cũng xem xét lễ cấp sắc của người Daotrong mối quan hệ giữa truyền thống và biến đổi, cũng như xem xét các yếu tốtrong lễ cấp sắc dưới góc độ đồng đại và lịch đại
Với quan điểm chủ thể văn hóa là chủ thể phát triển, tác giả luận án đặcbiệt quan tâm đến ý kiến của người Dao thông qua các ý kiến của người dân, củacác thầy cúng, các nghệ nhân về các vấn đề liên quan đến tổ chức lễ cấp sắc vàcác quan điểm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của lễ cấp sắc trong bối cảnhcông nghiệp hóa, hiện đại hoá và hội nhập hiện nay
1.2.3 Lý thuyết nghiên cứu
Đề tài tiếp cận các lý thuyết chủ yếu sau:
- Lý thuyết về phân loại văn hóa
Tổ chức UNESCO chia văn hoá thành văn hóa vật thể và văn hóa phi vậtthể Văn hóa vật thể như đình, chùa, miếu, nhà cửa, trang phục, ẩm thực Vănhóa phi vật thể là các biểu hiện tượng trưng của văn hóa - những yếu tố tinh thầntrong hiện vật văn hóa như âm nhạc, múa, ngôn ngữ, huyền thoại, nghi lễ, bíquyết của nghệ nhân trong chế tác nghề thủ công [30, tr.105]
Trang 29Trong cuốn Văn hóa Việt Nam đa tộc người [123, tr.34], nhà nghiên cứu
Đặng Nghiêm Vạn đã nêu ra một số cách phân loại văn hóa như phân loại thànhhai bộ phận văn hóa ngôn ngữ và văn hóa phi ngôn ngữ Hoặc phân chia văn hóathành văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức đời sống tập thể, văn hóa tổ chức đờisống cá nhân, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử với môitrường xã hội [95, tr.16-17]
Ngoài những cách phân chia trên, trong công trình nghiên cứu “Văn hóa làgì?”, N.N Tsebocxrov và J.A Tsebcxrova cho rằng, các nhà dân tộc học thườngchia văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Cái thứ nhất gồm cácvật tồn tại thực tế trong không gian ở một khoảng thời gian nào đó mà trên đãtrình bày Còn văn hóa tinh thần là một dạng thông tin, tồn tại trong ký ức sinhđộng tập thể của bất kỳ quần thể người nào, được truyền lại từ thế hệ này qua thếhệ khác bằng con đường kể chuyện hoặc phô diễn, và biểu hiện dưới những dạngnhất định của hành vi Văn hóa tinh thần bao gồm tất cả những thói quen laođộng được ghi lại trong các tế bào của bộ óc, bao gồm các tri thức tích cực, cácphong tục và tập quán có liên quan đến đời sống gia đình, xã hội, kinh tế, các tiêuchuẩn pháp lý, các loại nghệ thuật sáng tác khác nhau; các tín ngưỡng tôn giáo vàthờ cúng [111, tr 88]
Dân tộc học còn có cách phân chia thành ba thành tố cơ bản là: văn hóavật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội Đây có thể được coi là cách phânloại truyền thống trong Dân tộc học và được hầu hết các nhà dân tộc học ở ViệtNam tán đồng Phan Hữu Dật trong cuốn giáo trình “Cơ sở dân tộc học” chorằng, văn hóa vật chất là những gì do bàn tay con người làm ra như công cụ sảnxuất, áo quần Văn hóa tinh thần bao gồm những gì do hoạt động trí óc của conngười tạo nên như tín ngưỡng, văn học, hội họa, điêu khắc, âm nhạc Còn vănhóa xã hội thì bao gồm những hình thái của đời sống xã hội và gia đình của con
người [25, tr.14] Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn "Văn hóa Việt Nam đa tộc người" cũng đồng tình với quan điểm trên khi cho rằng: “Đối với các nhà dân tộc học,
cách phân loại hệ thống văn hóa thường được chia làm ba bộ phận chính: văn hóavật chất bao gồm các hình thức sản xuất hay hình thức kinh tế, cung cách ăn, ở,mặc, đi lại, trao đổi; văn hóa xã hội bao gồm các lĩnh vực hôn nhân, gia
Trang 30đình, tổ chức xã hội trong đó lưu ý đến vấn đề sở hữu, quan hệ sản xuất; văn hóatinh thần bao gồm các lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng, tri thức cộng đồng, văn họcnghệ thuật, vui chơi, giải trí ” [123, tr.32].
Lý thuyết về phân loại văn hóa được vận dụng vào đề tài luận án để phânchia các thành tố trong văn hóa cũng như giới hạn phạm vi của văn hóa tộc ngườiDao Luận án đã lựa chọn cách phân loại truyền thống trong Dân tộc học với ba dạngthức cơ bản: Văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội Lễ cấp sắc củangười Dao ở tỉnh Tuyên Quang được tác giả xếp vào văn hóa tinh thần Tuy nhiên,việc phân chia các thành tố trong văn hóa tộc người chỉ mang tính tương đối Bởi vì,văn hoá là một thể thống nhất hoàn chỉnh; giữa các thành tố văn hoá có mối quan hệchặt chẽ, khó có thể tách rời; ranh giới giữa văn hoá vật chất và văn hoá tinh thầnhay giữa văn hoá vật thể và phi vật thể chỉ có tính chất quy ước, trong vật chất cótinh thần và trong tinh thần có vật chất, yếu tố này chứa đựng yếu tố kia
- Lý thuyết về biến đổi văn hóa
Xã hội loài người là quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Giữa các nền vănhóa khó có được một ranh giới tuyệt đối Một nền văn hóa lại càng không thể làmột khối thuần nhất bất biến Nó phải có sự tự điều chỉnh, tự chuyển hóa trongnội tại nhằm thỏa mãn cái nhu cầu tồn tại vốn có Với con người, chủ nhân củamỗi nền văn hóa, sự khát khao vươn đến những cái mới, cái tiến bộ cũng chính làsự sống Con người, và chỉ có con người mới sáng tạo ra văn hóa
"Trong quá trình vận động và phát triển, văn hoá có những biến đổi nhất định hay nói một cách khác, đó là sự ứng biến (thích ứng và biến đổi) của văn hoá tộc người, thể hiện bản lĩnh văn hoá của tộc người đó trong môi trường cộng sinh Điều này thể hiện rõ sự chấp nhập hay “không chối từ” về văn hoá trong việc hấp thụ các yếu tố ngoại sinh Trên cái nhìn lịch sử, bản sắc và truyền thống không phải là yếu tố nhất thành bất biến Sự vận động của mỗi nền văn hoá trong không gian và trong thời gian luôn có sự vận động của các yếu tố bất biến và khả biến, giữa cái cố hữu và cái cách tân Cái khả biến phát triển đến mức độ nào đó sẽ làm thay đổi chính thực thể văn hoá như quy luật lượng đổi, chất đổi"
[25]
Biến đổi văn hóa là một quá trình diễn ra ở tất cả các xã hội và là mộtlĩnh vực nghiên cứu cơ bản của Nhân học Và đương nhiên, sự biển đổi văn hóa
Trang 31là quy luật tất yếu, nhưng trong quá trình biến đổi, để thích ứng với môi trườngmới, vẫn cần giữ gìn những giá trị tinh hoa của văn hóa tộc người Những giá trịđó là biểu trưng của chủ thể văn hóa và góp phần vào sự phát triển của chính tộcngười ấy Từng thời kỳ, từng giai đoạn, những biến đổi văn hóa mang tốc độ, sắcthái khác nhau, tuy nhiên vẫn có một mặt bằng văn hoá chung cho mỗi tộc người,cộng đồng cụ thể Biến đổi văn hoá đôi khi là động lực cho sự phát triển Trongquá trình biến đổi, các yếu tố truyền thống vốn là điểm mạnh trong văn hoá đếnmột thời kỳ nào đó trở nên không còn hoặc phai nhạt dần Đồng thời chủ thể vănhoá có thể tiếp nhận những yếu tố mới hoặc yếu tố ngoại sinh Các yếu tố mớingày càng được khẳng định và có tính phù hợp với thực tế cuộc sống và sẽ đượccộng đồng chấp nhận.
Khi nghiên cứu về biến đổi văn hóa, các nhà nghiên cứu nhân học đã lýgiải dưới nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau như Tiến hóa luận, Chức năngluận, Truyền bá văn hóa, Thuyết hệ thống thế giới, Tiếp biến văn hóa, Thuyếtsinh thái văn hóa,… Để lý giải sự biến đổi trong lễ cấp sắc của người Dao ở
Tuyên Quang, tác giả luận án thiên về cách tiếp cận Tiếp biến văn hóa.
Khái niệm Tiếp biến văn hóa được trường phái Nhân học Anglo Saxonđưa vào Mỹ cuối thế kỷ XIX để chỉ sự tiếp xúc, sự thay đổi hay biến đổi của mộtsố loại hình văn hóa của cả hai nền văn hóa đó [100, tr.12] Theo các nhà nhânhọc Mỹ và các nước phương Tây, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa là quá trình mộtnền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng từ một nền văn hóa khác bằng cách vay mượnnhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy Vì thế sự giao lưu, tiếp biến văn hóacũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi của những đặctính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện liên tục [128, tr.107].Tiếp biến văn hóa bao gồm các quá trình khác nhau, gồm khuyếch tán vănhoá, thích nghi văn hoá mang tính ứng phó, các loại hình thái tổ chức xã hội vàvăn hóa khác nhau sau tiếp xúc và giải văn hóa hay phân giải văn hóa Một loạtcác điều chỉnh phát sinh, gồm việc có được sự tự trị đáng kể của văn hóa hayđiển hình hơn, là sự đồng hóa của nhóm tiếp xúc yếu hơn bởi nhóm tiếp xúcmạnh hơn và sự hỗn dung văn hóa, nhờ đó hai văn hóa có thể trao đổi đủ các yếutố để sau đó tạo ra một văn hóa riêng [100, tr.12]
Trang 32Biến đổi là tất yếu của mọi sự vật, hiện tượng, trong đó có văn hóa tộc người.Giao lưu văn hoá vừa là kết quả của sự trao đổi, vừa là chính bản thân của sự traođổi Có hiểu như vậy mới thấy được giá trị và tầm quan trọng của giao lưu vănhoá trong quá trình vận động và phát triển của xã hội Quá trình này luôn đặt chomỗi tộc người phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếutố ngoại sinh Các yếu tố nội sinh và ngoại sinh đôi khi chuyển hoá lẫn nhau vàcó sự tương tác giữa các giai đoạn phát triển của nó với những trạng thái khácbiệt: yếu tố ngoại sinh lấn át nội sinh và đôi khi nó được thừa nhận như là yếu tốnội sinh Nhìn ở phương diện thái độ của tộc người chủ thể, sự tiếp nhận các yếutố ngoại sinh cũng có hai dạng: hoặc là tự nguyện hoặc bị áp lực buộc phải chấpnhận Mức độ tiếp nhận cũng có khác nhau, có thể tiếp nhận đơn thuần hoặc tiếpnhận sáng tạo Quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh đòi hỏi vớichính tộc người chủ thể là nội lực của nó, hay nói cách khác là bản sắc và truyềnthống văn hoá của tộc người tiếp nhận.
Ngày nay, dưới tác động của quá trình phát triển, toàn cầu hóa và hội nhậpđang diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lưu, biến đổi của các tộc người, của các nềnvăn hóa là không tránh khỏi Do đó, về mặt phương pháp luận, khi nghiên cứuvăn hóa tộc người, chúng ta không thể chỉ xem xét đối tượng một cách biệt lập,hoặc trong trạng thái tĩnh (tức là nguyên vẹn truyền thống) mà phải đặt chúngtrong trạng thái động (tức trong quá trình biến đổi)
Sự giao lưu và tiếp biến văn hóa là nhân tố kích thích và hình thành, nảy nởcác hiện tượng văn hóa mới Một cộng đồng phát triển hay tiêu vong văn hóa tùythuộc vào những yếu tố nội sinh – truyền thống của chính cộng đồng ấy tronggiao tiếp Khi yếu tố nội sinh đủ mạnh, nó tự lựa chọn và bản địa hóa những yếutố văn hóa mới tiếp thu được từ cộng đồng khác làm phong phú thêm văn hóacủa cộng đồng mình [70; 118]
- Lý thuyết về phát triển bền vững văn hóa
Từ góc độ lý thuyết, Harry Spalling cho rằng, trung tâm của khái niệm bềnvững về văn hóa là việc hiểu biết quá trình thay đổi Văn hóa là sự cởi mở và thayđổi vốn là thuộc tính của đời sống Sự thay đổi của văn hóa thường là kết quả củaviệc truyền bá những tư tưởng, kỹ thuật mới, hoặc là từ sự thay đổi về kinh tế, sinh
Trang 33thái Văn hóa giống như các hệ thống khác, thường hướng tới việc thiết lập quytắc và sự cân bằng, nhưng cũng luôn đối diện với các mâu thuẫn và xung đột Bởithế, sự thay đổi sẽ giúp giải quyết vấn đề này Theo Harry Spalling, sự phát triểnbền vững về văn hóa có nghĩa là mọi người có sự lựa chọn tập thể để duy trì nềnvăn hóa của họ, và lựa chọn ấy là để xác định bản chất, ý nghĩa của việc thay đổivăn hóa Để hướng tới phát triển văn hóa bền vững, cần xác định rõ năm nguyêntắc then chốt là: Đa dạng văn hóa, biến đổi văn hóa, tính tổng thể của văn hóa,chủ quyền văn hóa, tương đối văn hóa.
Văn hóa là một phức thể, có sự tương tác giữa con người và môi trường, và
do vậy, nó còn là kết quả bền vững của kinh tế và môi trường Tất cả các mô hìnhphát triển đều là kết quả của quá trình thay đổi về văn hóa, vì phát triển là sự nhậnthức, xác định và thực hiện bởi nhãn quan văn hóa Chức phận của những người làmcông tác phát triển là phải nhận thức rằng quan điềm văn hóa ghi dấu vào mô hìnhphát triển của họ, và sự thay đổi văn hóa luôn gắn kết với mô hình đó Những ngườilà công tác phát triển có thể phấn đấu cho sự phát triển bền vững văn hóa bằng cáchgắn kết sự bền vững của văn hóa vào mục tiêu và các quá trình phát triển Vì quátrình phát triển là xác định sự bền vững của văn hóa, nên cần tìm ra cơ chế thích hợpcủa tác động giữa các nền văn hóa Các cơ chế ấy cần dựa trên cơ sở bình đẳng vềvăn hóa và quyền của mỗi nền văn hóa trong xác định sự thay đổi của nó Ảnhhưởng văn hóa cần phải theo mô hình tương hỗ Điều đó bao hàm việc tự nguyện đặtnền văn hóa của mình vào quá trình thay đổi cùng với các nền văn hóa khác Cácnguyên tắc then chốt hướng tới phát triển bền vững văn hóa cần được hướng dẫn đểlựa chọn trong tiếp cận phát triển Việc triển khai những nguyên tắc này có thể dẫntới các thay đổi cơ bản của phát triển để đảm bảo thay đổi văn hóa bền vững, hoặcloại trừ những tiếp cận thay đổi không phù hợp
Harry Spalling cũng cảnh báo, áp lực hay nghịch lý trong các nguyên tắc củaphát triển bền vững về văn hóa là một thách thức với những người thực hiện pháttriển Làm thế nào để vừa đảm bảo giữ gìn các giá trị văn hóa, lại vừa thay đổi vănhóa? Liệu có thể một mặt tôn trọng chủ quyền văn hóa, và mặt khác lại cam kết sựbình đẳng và công bằng? Chắc chắn sẽ có thách thức trong quyết định thay đổinhững giá trị văn hóa cụ thể để đạt được mục đích phát triển Phải nhận biết
Trang 34được các thuộc tính và giá trị văn hóa cần thay đổi và những thuộc tính, giá trị đượcgiữ gìn Quá trình đó cần phải có sự tham dự của các chủ thể văn hóa, và tất nhiên,quyết định cuối cùng là phải của chính chủ thể văn hóa Những quan điểm cơ bảnnêu trên của thuyết phát triển bền vững văn hóa có ý nghĩa về phương pháp luậntrong tiếp cận của luận án Cụ thể là văn hóa tộc người có mối quan hệ tương tác vớiphát triển và hội nhập Và quan trọng hơn, coi phát triển bền vững về văn hóa là tôntrọng sự lựa chọn biến đổi của chủ thể văn hóa Tuy nhiên, chấp nhận và lựa chọn sựbiến đổi của chủ thể văn hóa cũng phụ thuộc vào sự nhận thức và điều kiện kinh tế-xã hội của họ Những quan điểm cơ bản này của thuyết phát triển bền vững văn hóa(PTBVVH) luôn định hướng cho đề tài luận án trong cách nhìn nhận đánh giá sựbiến đổi văn hóa vật chất của người Dao trong bối cảnh hiện nay và trong tương lai,đồng thời cũng là cơ sở đưa ra những kiến nghị về giải pháp để đảm bảo PTBVVHvà phát huy các giá trị của văn hóa cho phát triển.
1.3 Khái quát về người Dao ở Việt Nam và tỉnh Tuyên Quang
1.3.1 Một số đặc điểm về dân số và địa bàn cư trú của người Dao ở Việt Nam
Đến năm 2009, người Dao ở Việt Nam có 751.067 người [108] Phạm vi
cư trú rộng và xen kẽ với các dân tộc khác Người Dao chủ yếu cư trú ở các tỉnhmiền núi phía Bắc như: Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Giang, Thái Nguyên, QuảngNinh, Cao Bằng, Bắc Giang, Lạng Sơn, Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La, LaiChâu còn lại sống rải rác ở một số tỉnh khác Trong đó, người Dao sống đôngnhất ở hai tỉnh: Tuyên Quang (90.618 người) và Hà Giang (109.708 người)
Những nhóm Dao vào Việt Nam được gọi tên là: Dao Đỏ (Đại Bản), DaoTiền (Tiểu bản), Dao Quần Trắng, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Thanh Y,Dao Áo Dài…
Về phân loại người Dao ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu thường chia làm
bảy nhóm Trong sách Các dân tộc thiểu số Việt Nam [57], các nhóm Dao gồm:
Mán Tiền; Mán Đỏ; Mán Sơn Đầu (Lô Gang); Mán Cóoc Ngáng (Sừng); MánQuần Trắng; Mán Làn Tẻn; Mán Thanh Y
Cuốn Người Dao ở Việt Nam [33] cũng chia thành bảy nhóm Dao: Dao Đỏ
(Cóoc Ngáng, Dao Sừng, Dao Dụ Láy, Quý Lâm, Đại Bản); Dao Quần Chẹt (Sơn
Trang 35Đầu, Tam Đảo, Nga Hoàng hay Dụ Kèm); Dao Lô Gang (Thanh Phán, Đội Ván,Cóoc Mùn); Dao Quần Trắng; Dao Thanh Y; Dao Làn Tẻn.
Việc phân loại người Dao ở Việt Nam, theo Bàn Thị Tư [119] thì chỉ nêndựa vào tiêu chuẩn ngôn ngữ là chính Người Dao chỉ có 2 ngành: Ngành thứnhất gồm các nhóm: Dao Đại Bản, Dao Tiểu Bản, Dao Quần Chẹt Ngành thứ haigồm các nhóm: Dao Thanh Y, Dao Quần Trắng, Dao Áo Dài
Theo cuốn "Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà Giang" [43] thì cho
đến nay người ta cũng chưa xác định rõ các tiêu chí cơ bản để phân loại cácnhóm Dao Theo các tác giả, các nhóm Dao ở Việt Nam thuộc về hai phương
ngữ Phương ngữ thứ nhất, từ người gọi là Miền, gồm hai nhóm lớn là "Đại bản"
và "Tiểu bản" Nhóm "Đại bản" bao gồm: Dao Đỏ (Hùng Thầu Đào, CoócNgáng, Quí Lâm); Dao Quần Chẹt (Sơn Đầu, Tam Đảo, Nga Hoàng); Dao ThanhPhán (Coóc Mùn, Đội Ván, Lô Gang, Dụ Kiùn, Dao Thêu); còn nhóm "Tiểu bản"chỉ có Dao Tiền (Dao Đeo tiền)
Phương ngữ thứ hai, từ người gọi là Mùn hay Mần cũng có hai nhóm lớn:
Dao Quần Trắng (Khố bạch Dao) và Dao Làn Tiẻn (Lam đĩnh Dao) Dao QuầnTrắng chỉ có một nhóm goi là Dao Họ, còn Dao Làn Tiẻn có hai nhóm nhỏ làDao Thanh Y và Dao Áo Dài
Theo khảo sát của tác giả luận án, tên gọi các nhóm Dao còn có thể dựa vàonhững đặc điểm sử dụng trang phục, thí dụ: Dựa vào màu sắc có Dao Đỏ, Dao QuầnTrắng; dựa vào kích cỡ có Dao Quần Chẹt, Dao Áo Dài; dựa vào cách đội khăn: DaoCóoc Ngáng, Dao Cóoc Mùn hoặc cách trang trí trang sức: Dao Đeo Tiền
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một nhà nghiên cứu nào, dưới góc độ vănhóa, ngôn ngữ hay nhân chủng có thể thống kê, phân loại chính xác có baonhiêu nhóm Dao đang tồn tại
1.3.2 Khái quát về người Dao ở tỉnh Tuyên Quang
- Đặc điểm địa lý tự nhiên, dân số và sự phân bố: Tuyên Quang là mảnh
đất có lịch sử văn hóa lâu đời Các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở Tuyên Quangnhững di vật của người nguyên thủy thuộc thời kỳ đồ đá mới như: rìu đá, mũi tên,mũi dáo, trống đồng, khuôn đúc tiền Qua các hiện vật tìm thấy có thể thấy
Trang 36rằng: cách đây hàng vạn năm, các bộ lạc người cổ đại đã từng cư trú dọc triềnsông Lô, sông Gâm [106].
Dân số Tuyên Quang trên 74 vạn người Tuyên Quang có 22 dân tộc anh
em cùng sinh sống; Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 49,2%; dân tộc Tày: 23,8%;dân tộc Dao: 12,8% còn lại là các dân tộc khác
Trong cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Tuyên Quang, người Dao có số dân đứngthứ ba sau người Kinh và người Tày Người Dao ở Tuyên Quang hiện có 21.548 hộvới 97.899 nhân khẩu [106] Ở Tuyên Quang, hiện được cho là có nhiều nhóm Daonhất Tại các vùng người Dao sinh sống, tác giả luận án đã ghi chép theo cách tự gọicủa họ và thống kê được chín nhóm tên gồm: Dao Đại Bản (Dao Đỏ), Dao Tiểu Bản(Dao Tiền), Dao Coóc Mùn (tự nhận ở thôn Minh Lợi, xã Trung Minh, Yên Sơn),Dao Lô Gang (Ô Gang), Dao Quần Chẹt, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao ÁoDài Dao Coóc Ngáng (tự nhận ở xã Trung Sơn, huyện Yên Sơn) Tuy nhiên, việcgọi tên các nhóm Dao ở Tuyên Quang cần có sự nghiên cứu, khảo sát và so sánh vớicác vùng khác mới có cơ sở khẳng định rõ được
Địa bàn cư trú của người Dao ở Tuyên Quang cũng có nét riêng Mỗi nhómDao thường cư trú ở một vùng nhất định Nhìn chung, người Dao Đỏ, Dao Tiền,Dao Áo Dài thường ở vùng cao nhất Vùng thấp là các nhóm Dao: Quần Trắng,Quần Chẹt; Coóc Mùn còn lại ở vùng giữa Nhóm Dao Đỏ tập trung ở xã ThổBình (huyện Lâm Bình) và xã Sinh Long, Sơn Phú (huyện Na Hang); nhóm DaoTiền ở Hồng Thái (Na Hang), Yên Nguyên, Kim Bình (Chiêm Hóa); nhóm Dao
Áo Dài ở Yên Phú, Yên Lâm, Yên Thuận (Hàm Yên); nhóm Dao Quần Trắng ởLang Quán, Thắng Quân (Yên Sơn); nhóm Dao Thanh Y ở Tân Tiến, Lực Hành,Xuân Vân (Yên Sơn); nhóm Dao Quần Chẹt ở Kháng Nhật, Hợp Hòa (SơnDương); nhóm Dao Cóoc Mùn ở Trung Yên, Tân Tiến (Sơn Dương); nhóm DaoCóoc Ngáng ở Trung Sơn, Trung Minh (Yên Sơn)
Bảng 1 Phân bố dân số dân tộc Dao ở Tuyên Quang đến 2009
Trang 37H Hàm Yên 2.160 19.467 23.206 28.296
Nguồn: Theo Địa chí Tuyên Quang [106]
- Một số đặc điểm về kinh tế:
Trước Cách mạng Tháng Tám, người Dao chủ yếu sống du canh du cư,phá rừng làm nương Việc tưới tiêu phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết Phần lớncác gia đình du canh du cư luôn ở trong tình trạng đói nghèo, lạc hậu Rừng bị tànphá nặng nề Việc làm lúa nước hoặc chăn nuôi chưa phát triển Các nghề thủcông nghiệp chỉ dừng lại ở mức tự cung tự cấp [106]
Người Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao Quần Trắng biết dệt vải, thêu thùa.Một số nhóm giỏi về đan lát các đồ dùng bằng tre, nứa Nghề rèn chủ yếu rèncuốc, lưỡi cày, dao, sửa chữa nông cụ phục vụ mùa màng Trước đây, người Daocòn rèn súng kíp phục vụ cho việc săn bắn Một số người Dao có nghề chạm bạcgia truyền Sản phẩm chủ yếu là các đồ trang sức của phụ nữ như vòng tay, vòngcổ, khuyên tai Nghề làm giấy cũng được ưa chuộng Giấy của người Dao rấtbền, dai, dùng vào việc viết sớ, cấp sắc, vẽ tranh thờ [26;35;127]
Nói chung, nghề thủ công của người Dao chưa phát triển, sản phẩm chưa trởthành hàng hóa mà chủ yếu là sản xuất theo kiểu tự cung tự cập, đáp ứng nhu cầu sinhhoạt hàng ngày Ở một số vùng, đồng bào Dao đã bước đầu hình thành nền sản xuấthàng hóa Đời sống kinh tế, văn hóa được quan tâm, cải thiện rất nhiều so với trước đây
Nền kinh tế của Tuyên Quang chủ yếu là nông lâm nghiệp, nông dânchiếm 89,79 % Công nghiệp hiện chưa phát triển, chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ: 19,63% Chủ yếu là sản xuất đường, xi măng, bột ba rít [106, tr 147]
Đồng bào Dao ở Tuyên Quang chủ yếu làm nghề nông Trồng trọt và chănnuôi tương đối phát triển Theo chính sách định canh, định cư của Đảng và Nhànước, người Dao ở Tuyên Quang hầu hết đã chuyển sang làm lúa nước Hiện nayđồng bào còn trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như cam sành ở huyện HàmYên, cây mía cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đường và cây chè (của ngườiDao Quần Trắng ở xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn) cho năng suất cao đang đượcchế biến thành hàng hóa xuất khẩu
Trang 38Ngoài những cây trồng có giá trị kinh tế cao, chăn nuôi của người Daocũng đang được đồng bào chú trọng Nuôi cá trên ruộng là một tập quán lâu đờicủa người Dao Sản phẩm cá ruộng ướp chua là món ăn rất ngon Do chính sáchkhoán rừng, nhiều gia đình người Dao đã biết tận dụng tán rừng để nuôi trâu, bò,
dê, lợn với số lượng lớn bán cho các thương gia ở miền xuôi
Có thể nói, dưới tác động của các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước,đời sống kinh tế của người Dao ở Tuyên Quang đang có những thay đổi Hiện ởTuyên Quang không có hộ đói Tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm, nhiều gia đìnhngười Dao đã có cuộc sống khá giả, đầy đủ tiện nghi, con em người Dao đượcđến trường học hành, nhiều cán bộ tại địa phương là người Dao đang giữ nhữngtrọng trách cốt cán, có uy tín ở các cấp, các ngành
- Một số đặc điểm về văn hóa vật chất:
Nhà ở của người Dao có ba loại hình, phổ biến là loại hình nhà đất Các
nhóm Dao ở nhà đất thường là Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Thanh Y, Dao Quần Chẹt.Nhà thường kết cấu thành ba hoặc năm gian với các vì kèo trốn cột cái hoặc haicột ở hai bên cột cái Nhà được ngăn thành hai phần: phần bên phải ba gian dànhcho đàn ông, hai gian bên trái dành cho phụ nữ Gian kề với gian giữa cũng chínhlà bếp, có chạn bát ở vách hậu Bếp lò ở trái nhà dùng cho việc nấu cám lợn hoặcthức ăn cho gia súc
Nhà nửa sàn nửa đất là loại hình nhà của các nhóm Dao Quần Chẹt, Dao
Lô Gang Kiểu nhà này thường dựa vào thế đất nên không san nền Phần sàndùng phơi phóng, đan lát Cửa vào nhà ở đầu hồi, các gian trên phần đất được bốtrí như loại nhà nền đất
Nhà của các nhóm Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao Áo Dài lại là nhàsàn, thường là loại hình nhà năm gian rộng rãi, vững chãi, chân cột được kê đá tảng
Do sống xen kẽ với các dân tộc khác, hiện nay nhà ở của người Dao cũngcó những biến đổi về kiểu dáng Tuy nhiên, dù ở loại hình nào, cách bố trí cơ bảntrong nhà của người Dao cũng không thay đổi: gian giữa luôn là nơi đặt bàn thờcủa tổ tiên dòng họ, hai bên về phía sau là nơi nghỉ ngơi của người phụ nữ, phíatrước dành cho đàn ông Chái nhà luôn gắn liền với bếp bếp là nơi linh thiêng,không được làm ô uế [43;44]
Trang 39Về trang phục, nhìn chung trang phục của đàn ông Dao đơn giản Áo cổ thấp,
xẻ trước ngực Có một nẹp lai từ cổ áo xuống giáp gấu Nẹp to từ 8 đến 10 cm đượcthêu cầu kỳ Trên nẹp đính khuy bằng bạc, đồng hoặc tết bằng vải Tay áo có viềnthêu bằng chỉ đỏ Quần của người đàn ông Dao vải thô, nhuộm chàm, cắt theo kiểuchân què Khăn đội đầu kiểu "đầu rìu" gồm bốn hoặc chỉ một khăn dài vấn thànhnhiều vòng Đàn ông nhóm Dao Tiền, Dao Quần Trắng thường đội mũ nồi
Trang phục thầy cúng gồm áo và mũ Áo thầy cúng là loại áo dài của phụnữ Giải thích về điều này, các thầy cúng cho rằng, trước đây việc cúng bái làcông việc của phụ nữ, nhưng do hàng tháng có những ngày phụ nữ "không sạchsẽ" nên không còn thiêng, do đó việc cúng bái mới chuyển sang cho người đànông, và có lẽ do thần linh đã quen với hình ảnh người phụ nữ, vì thế trang phụcvẫn phải dùng trang phục nữ Cách mặc trang phục của từng nhóm Dao có khácnhau: Thầy cúng Dao Cóoc Mùn, Dao Quần Chẹt mặc tới ba lần áo, còn thầycúng các nhóm Dao Đeo Tiền, Dao Đỏ chỉ mặc có hai lớp Thân áo trước củathầy cúng được thêu nhiều hình ảnh các con vật như rồng, chim, cá, hổ, rùa bằngchỉ ngũ sắc, thân áo sau thêu các vị thần, áo có thắt lưng bằng các dây vải viềncác loại chỉ Ở các thầy cúng người Dao Cóóc Mùn, trang phục còn có thêm xàcạp; đầu các xà cạp thêu hình chữ thập tượng trưng cho bốn phương: Đông, Tây,
Nam, Bắc Mũ của thầy cúng được các nhóm người Dao gọi là lập phèng (mũ Phật) hoặc lập Mụa (mũ Thánh).
Trang phục nữ: Tùy từng nhóm Dao mà trang phục có kiểu dáng và màu
sắc khác nhau Phụ nữ Dao mặc áo dài tới ống chân Khi mặc hai vạt bắt chéo
vào nhau, rồi dùng một đai dài buộc ngoài Đai được thêu rất công phu Màu chủđạo là đỏ pha trắng Áo của phụ nữ Dao trang trí bằng nhiều hình thêu phongphú Vạt áo, gấu áo và cả thân áo có các hoa văn phổ biến là đường kỷ hà, câythông, hình chim, thú, hình người với sự cách điệu cao Phía sau lưng cũng cócác hoa văn trang trí, ở giữa hai bả vai hoặc giữa lưng của một số nhóm (QuầnChẹt, Cóoc Mùn, Quần Trắng…) có "cái ấn của Bàn Vương"
Phụ nữ Dao vấn khăn nhiều vòng thành một vành khăn rộng Với các cô dâutrong ngày cưới thì khăn được phủ ngoài một khung gạc to che kín mặt Khăn bằng
nỉ đỏ hoặc bằng vải đỏ được thêu rất công phu, diêm dúa Quần của phụ nữ Dao vải
Trang 40thô chàm, cắt theo kiểu "chân què", cạp "lá tọa" Ống quần hẹp và thêu nhiềuhình vuông trằng pha đỏ, gấu viền bằng chỉ đỏ Yếm của phụ nữ Dao còn là nơiđể gài các đồ trang sức như: sao bạc tám cánh, các hình chim, thú hoặc nhữngquả nhạc nhỏ bằng bạc Ngoài ra, còn có rất nhiều dây tua bằng len màu, vải đỏhoặc bằng bạc Trang sức của phụ nữ Dao còn có các loại vòng cổ, vòng tay,vòng tai, nhẫn chủ yếu bằng bạc Đồ trang sức được chạm khắc rất công phu.
Người Dao ở Hà Giang và Tuyên Quang có nhiều nét tương đồng, chính vì
thế trong cuốn: Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà Giang [43] có nhiều tư liệu
trùng hợp với người Dao ở Tuyên Quang Thí dụ, về ăn uống, các tác giả đều cónhận xét, lương thực của người Dao là gạo, sắn, ngô Bữa ăn chính thường là cơm,hàng ngày nấu ăn hai bữa chính Gạo tẻ trước đây trồng trên nương, nên ăn dẻo vàthơm, hiện nay đồng bào làm lúa nước nên nguồn giống cũng đã có thay đổi, các loạilúa có năng suất cao đã được gieo trồng Gạo nếp là sản phẩm thường được dùngcho các dịp lễ, tết, nên đồng bào vẫn giữ thói quen trồng trên những vạt đồi thấp, gạovẫn giữ được độ dẻo, thơm Ngoài các loại lúa, đồng bào Dao còn trồng nhiều loạihoa màu như: bí, đậu, sắn, ngô đây cũng là nguồn lương thực dự trữ dồi dào và lànguồn thức ăn để nuôi các loại gia súc Thức ăn của đồng bào Dao chủ yếu là cácloại rau, bí nương, rau dớn, các loại khoai, củ , thịt lợn, gà Người Dao
thích ăn thịt luộc chấm với muối dầm ớt xả, hạt dổi Đồng bào có món thịt ướpchua rất ngon để được lâu ngày và có khách quý mới đem ra đãi Đặc biệt có móncanh đắng được chế biến từ mật của các con vật Loại canh đắng này được ví nhưlà vị thuốc tránh đau bụng trước khi vào bữa ăn Một số vùng lại nấu canh bằngloại rau gọi là cây đắng Nhìn chung, người Dao rất thích ăn cá bắt dưới các khesuối hoặc nuôi tại ruộng lúa nước Cá được nướng hoặc có thể ướp chua để ăndần [43] Vào các dịp lễ tết, người Dao thường làm các loại bánh nếp, bánh ngô,bánh sắn, bánh tro, bánh bột nếp có hình thù các loại thú, chim
Người Dao rất thích uống rượu Rượu ngô là loại rượu nổi tiếng, được nấubằng thứ men lá rất đặc trưng, thứ men được làm từ hơn 20 loại thảo dược Cáchthức nấu cũng rất cầu kỳ, ngô dùng nấu rượu là loại ngô trồng trên nương, hạtvàng được chọn lựa kỹ càng rồi đem đồ xôi Sau khi để nguội, người ta dàn mỏngvà rắc men lá lên, rồi đem ủ Sau một thời gian thì đem chưng cất, ống chưng cất