1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng tiếp cận đổi mới trong hoạt động thiết kế đồ họa nhằm đẩy nhanh kết quả vào thực tế (nghiên cứu trường hợp trường trung cấp nghề tổng hợp hà nội)

88 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- ĐẶNG TRANG NGÂN ÁP DỤNG TIẾP CẬN ĐỔI MỚI TRONG HOẠT ĐỘNG THIẾT KẾ ĐỒ HỌA NHẰM ĐẨY NHANH KẾT QUẢ VÀO THỰC TẾ NGHIÊ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐẶNG TRANG NGÂN

ÁP DỤNG TIẾP CẬN ĐỔI MỚI TRONG HOẠT ĐỘNG THIẾT KẾ ĐỒ HỌA NHẰM ĐẨY NHANH KẾT QUẢ VÀO THỰC TẾ (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG TRUNG CẤP

NGHỀ TỔNG HỢP HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐẶNG TRANG NGÂN

ÁP DỤNG TIẾP CẬN ĐỔI MỚI TRONG HOẠT ĐỘNG THIẾT KẾ ĐỒ HỌA NHẰM ĐẨY NHANH KẾT QUẢ VÀO THỰC TẾ (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG TRUNG CẤP

NGHỀ TỔNG HỢP HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Học

Hà Nội, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong bài luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi

rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2019

Tác giả luận văn

Đặng Trang Ngân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài luận văn này của mình, ngoài sự đóng góp của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ cũng như tạo điều kiện tốt nhất từ các cá nhân, tập thể

Tôi xin cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Văn Học - người thầy tôi vô cùng biết ơn

đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban giám hiệu Trường Trung cấp nghề Tổng hợp Hà Nội, Phòng Tổ chức hành chính, Phòng Đào tạo, các phòng ban giáo viên chuyên môn đã tạo điều kiện cho tôi cả về thời gian cũng như cung cấp các thông tin, số liệu chính xác, cụ thể giúp cho luận văn của tôi hoàn thiện hơn

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại học Khoa học

xã hội và Nhân văn, Phòng sau đại học, Khoa khoa học Quản lý, đặc biệt là các thầy cô giáo giảng dạy lớp Quản lý Khoa học và công nghệ K19 đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Xin chân thành cảm ơn các anh chị em đồng nghiệp, bạn bè cũng như các bạn học viên lớp Quản lý Khoa học và công nghệ K19 đã cùng tôi hoàn thành tốt khóa học này

Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng trong khuôn khổ thời gian và điều kiện

có hạn, Luận văn không tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tác giả mong muốn nhận được sự góp ý và bổ sung để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn./

Tác giả luận văn

Đặng Trang Ngân

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Hình 1: Quá trình đổi mới như là một quá trình biến đổi 17

Hình 2: Mô hình đổi mới thế hệ thứ nhất (G1) 18

Hình 3: Mô hình đổi mới thế hệ thứ hai (G2) 18

Hình 4: Mô hình đổi mới thế hệ thứ ba (3G) 19

Hình 5 Mô hình đổi mới theo chuỗi liên kết Kline &Rosenberg 20

Hình 6: Mô hình đổi mới 4G 21

Hình 7: Mô hình đổi mới 5G ……… 22

Bảng 1: Các môn học và modul chuyên môn nghề Thiết kế đồ họa của trường Trung cấp nghề Tổng hợp HN 43 Bảng 2: Số liệu các công trình nghiên cứu khoa học trường Trung cấp nghề Tổng hợp HN 45

Hình 9: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Trường TCN Tổng hợp Hà Nội 62

Trang 7

MỤC LỤC

1 Tên đề tài 1

2 Lý do nghiên cứu 1

3 Lịch sử nghiên cứu 2

4 Mục tiêu nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Câu hỏi nghiên cứu 5

7 Giả thuyết nghiên cứu 5

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 6

9 Cấu trúc dự kiến của luận văn 7

PHẦN NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG TIẾP CẬN ĐỔI MỚI TRONG HOẠT ĐỘNG TKĐH NHẰM ĐẨY NHANH KẾT QUẢ VÀO THỰC TẾ 8

1.1 Một số khái niệm công cụ 8

1.1.1 Khoa học và công nghệ 8

1.1.2 Đổi mới 10

1.1.3 Chính sách đổi mới 12

1.1.4 TKĐH 14

1.2 Tiếp cận đổi mới và tác động thúc đẩy hoạt động TKĐH 16

1.2.1 Tiếp cận đổi mới 16

1.2.2 Tác động của tiếp cận đổi mới đối với hoạt động TKĐH 23

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về thực hiện hoạt động TKĐH 28

1.3.1 Kinh nghiệm thành công trong vận dụng các yếu tố đổi mới vào thiết kế đồ hoạ đương đại Nhật Bản 29

1.3.2 Kinh nghiệm thành công trong vận dụng các yếu tố mỹ thuật truyền thống vào TKĐH Trung Quốc 30

Trang 8

1.3.3 Kinh nghiệm trong hoạt động thiết kế theo phong cách Việt 32

Tiểu kết chương I 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TKĐH NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TIẾP CẬN ĐỔI MỚI 36

2.1 Kết quả khảo sát thực tế về quá trình TKĐH trên thị trường và một số trường đào tạo nghề TKĐH trên địa bàn thành phố Hà Nội 36

2.2 Hiện trạng thực hiện hoạt động TKĐH tại trường TCN Tổng hợp HN 39

2.3 Nguyên nhân của việc cần áp dụng tiếp cận đổi mới trong hoạt động TKĐH để đẩy nhanh kết quả vào thực tế 46

Tiểu kết chương II 54

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐƯA NHANH KẾT QUẢ TKĐH VÀO THỰC TẾ THEO TIẾP CẬN ĐỔI MỚI 55

3.1 Cơ sở đề xuất 54

3.2 Một số giải pháp 60

3.2.1 Vận dụng tiếp cận đổi mới 61

3.2.2 Xác định và kích cầu về sản phẩm TKĐH 66

3.2.3 Nâng cao năng lực TKĐH của trường 70

Tiểu kết chương 3 73

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 81

Trang 9

Về phần mình, các doanh nghiệp còn chưa nhận thức đúng về vai trò,

vị trí của TKĐH, chưa đủ am hiểu để xét duyệt các mẫu thiết kế, chưa xây dựng được các nghiên cứu thị trường đủ độ tin cậy làm cơ sở cho việc lượng giá mẫu thiết kế và đặc biệt chưa thấy được vai trò quan trọng của đồ họa trong tiếp thị nói chung và tiếp thị sản phẩm nói riêng

TKĐH ngày nay không đơn thuần là khâu làm đẹp, thay đổi giá trị sản phẩm, mà còn là giải pháp cho các vấn đề văn hóa, xã hội, góp phần nâng cao

Trang 10

chất lượng cuộc sống Một số lĩnh vực không thể không áp dụng kết quả TKĐH đó là truyền hình, phim hoạt hình và các kỹ xảo điện ảnh

Tuy nhiên, hiện nay trong hoạt động TKĐH các NTK thường luôn bị động trong nghiên cứu thiết kế và tạo ra sản phẩm nhằm đáp ứng nhanh nhu cầu của thị trường/thị hiếu của khách hàng Họ thiết kế theo yêu cầu đơn lẻ của khách hàng mà không hề có nguồn dự trữ để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thị trường Trong thực tế hoạt động KH&CN nói chung và hoạt động TKĐH nói riêng, luôn cần có sự đi trước một bước so vơi nhu cầu nhằm tạo ra dự trữ công nghệ Có như vậy mới duy trì được quá trình đổi mới sản phẩm trong sản xuất và đời sống

Bên cạnh đó, việc cần đáp ứng nhanh nhu cầu của thị trường đòi hỏi không thuần túy kỹ năng của NTK mà còn cần các công nghệ thiết kế tự động – một yếu tố quan trọng thúc đẩy đổi mới sản phẩm, làm tăng hàm lượng

“thâm dụng tri thức- knowledge intensive” của sản phẩm Tiếp cận đổi mới về

bản chất là một quá trình thâm dụng tri thức vào sản phẩm, làm cho sản phẩm

có sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Những phân tích trên đây cùng với kinh nghiệm nghề nghiệp nhiều

năm trong công tác giảng dạy nghề TKĐH, đã chọn đề tài “Áp dụng tiếp cận đổi mới trong hoạt động Thiết kế đồ họa nhằm đầy nhanh kết quả vào thực tế (Nghiên cứu trường hợp trường Trung cấp nghề Tổng hợp

Hà Nội)”

3 Lịch sử nghiên cứu

1 Đào Thanh Trường và cộng sự (2017) “Chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới của Việt nam trong xu thế hội nhập quốc tế: Thực trạng và giải pháp

Tác giả và các cộng sự đã đưa ra khung chính sách KH&CN và đổi mới trên cơ sở phân tích tổng quan về thực tế đổi mới của các phân hệ Đào tạo,

Trang 11

Sản xuất và Nghiên cứu trên cơ sở lý luận về đổi mới, hệ thống đổi mới Đây

là những kiến thức cơ bản và dữ liệu quan trọng để học viên có thể vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài, mặc dù lĩnh vực học viên chọn chỉ là một khâu trong quá trình nghiên cứu – sản xuất – tiêu thụ

2 Trần văn Đức (2016) – Luận văn thạc sĩ về “Áp dụng lý thuyết đổi mới thúc đẩy hoạt động NC&TK của trung tâm nghiên cứu trong lĩnh vực truyền hình VTC”

Tác giả đã vận dụng lý thuyết đổi mới để đưa ra giải pháp thúc đẩy hoạt động của Trung tâm nghiên cứu thuộc tổng công ty VTC nhằm phục vụ cho mục tiêu số hóa trong phát thanh và truyền hình của đài truyền hình VTC Tác giả xem kết quả nghiên cứu như là một công cụ để đổi mới sản phẩm tuyền hình số hóa với nghĩa là truyền hình số hóa được thâm dụng tri thức khoa học

3 Hoàng Văn Tuyên (2006) “Nghiên cứu quá trình phát triển chính sách đổi mới – kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho Việt nam”

Tác giả đã tổng quan chính sách đổi mới với tư cách tập hợp có hệ thống các chính sách của một số nước phát triển, đưa ra mô hình gợi suy cho Việt nam trong hình thành chính sách sách đổi mới Đây là các lý luận cơ sở giúp học viên lựa chọn một số giải pháp chính trong tập hợp hệ thống chính sách thúc đẩy hoạt động TKĐH của trường trung cấp nghề tổng hợp Hà nội

4 Lê Mai (2017) – Luận văn thạc sĩ về “Đổi mới chương trình đào tạo nghề theo mô hình đổi mới quốc gia” (Nghiên cứu trường hợp trường trung cấp nghề nấu ăn, du lịch và khác sạn Hà nội)

Tác giả đã vận dụng tiếp cận chính sách đổi mới trong đó xem hệ thống các nhà hành, khách sạn là doanh nghiệp - trung tâm của hệ thống đổi mới là đối tượng mà việc đổi mới chương trình đào tạo của trường phải hướng tới để phục vụ Học viên cho rằng có thể học hỏi các tiếp cận này để giải quyết các

Trang 12

vấn đề về thúc đẩy hoạt động TKĐH hướng tới nhu cầu khách hàng về không gian và thời gian (thể loại đồ họa và thời gian xuất hiện nhu cầu mới)

Tiến sĩ Nguyễn Văn Học (2018) –Tập bài giảng về quản lý đổi mới

4 Mục tiêu nghiên cứu

4.1 Mục tiêu tổng quát:

Áp dụng tiếp cận đổi mới trong hoạt động TKĐH nhằm đẩy nhanh kết quả vào thực tế

4.2 Mục tiêu cụ thể - nhiệm vụ nghiên cứu:

- Làm rõ lý luận cơ sở về đổi mới và tiếp cận đổi mới, tác động của tiếp

cận đổi mới đến thúc đẩy hoạt động TKĐH và đẩy nhanh áp dụng vào thực tế;

- Phân tích hiện trạng đào tạo nghề và tại một số trường đào tạo nghề

TKĐH trên địa bàn thành phố Hà Nội và trường hợp nghiên cứu - Trường trung cấp nghề tổng hợp Hà Nội

- Đề xuất giải pháp áp dụng tiếp cận đổi mới trong hoạt động TKĐH

nhằm đẩy nhanh kết quả vào thực tế

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động TKĐH trường Trung cấp nghề Tổng hợp Hà Nội và một số trường dạy nghề TKĐH trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 13

* Phạm vị thời gian

Các thông tin và dữ liệu được thu thập từ năm 2012 trở lại đây trừ một

số tài liệu kinh điển

6 Câu hỏi nghiên cứu

6.1 Câu hỏi chủ đạo

Áp dụng tiếp cận đổi mới trong hoạt động TKĐH như thế nào nhằm đưa nhanh kết quả vào thực tế?

7 Giả thuyết nghiên cứu

7.1 Giả thuyết chủ đạo

- Trường dạy nghề tổng hợp Hà nội cần tiếp cận theo hướng lấy người dùng sản phẩm TKĐH làm trung tâm phục vụ, tăng cường năng lực TKĐH theo hướng tự động hóa và nhân lực chuyên môn cao, nghiên cứu xu thế luôn biến động của thị trường về sản phẩm đồ họa nhằm tạo ra các dự trữ đáp ứng kịp thời các nhu cầu này

7.2 Giả thuyết phụ

- Áp dụng tiếp cận đổi mới sẽ giải quyết đồng thời việc lựa chọn đối tượng phục vụ, thời gian đáp ứng nhu cầu của các đối tượng phục vụ, nâng cao hàm lượng khoa học trong kết quả TKĐH, tạo ra các dự trữ công nghệ/ sản phẩm TKĐH, đáp ứng kịp thời nhu cầu đổi mới của thực tế sản xuất và đời sống;

- Hoạt động TKĐH hiện nay ở các trường dạy nghề tổng hợp chủ yếu đáp ứng các đơn hàng nhỏ lẻ, thiếu định hướng theo sự biến động của thị trường, thiếu dự trữ công nghệ/ sản phẩm đồ họa đề đáp ứng nhanh nhu cầu thị trường, hàm lượng khoa học thấp;

Trang 14

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết

8.1 Tiếp cận nghiên cứu:

Học viên chủ yếu sử dụng tiếp cận hệ thống để xem xét hoạt động TKĐH cũng như việc đề xuất các giải pháp áp dụng tiếp cận đổi mới trong hoạt động này nhằm đưa nhanh kết quả hoạt động vào thực tế Ngoài ra, học viên sẽ vận dụng tiếp cận quan sát và tiếp cận lịch sử trong khảo sát và phân tích hiện trạng hoạt động đào tạo và thực hiện họa động TKĐH tại trường Trung cấp dạy nghề tổng hợp Hà nội

Để thực hiện luận văn này, tác giả ứng dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

8.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phân tích các tài liệu về quản lý khoa học và công nghệ, các chính sách về khoa học công nghệ, quản lý đổi mới nghề TKĐH trong và ngoài nước, qua sách báo, internet;

- Phân tích các tài liệu về hoạt động Nghiên cứu khoa học tại trường Trung cấp nghề tổng hợp Hà Nội giai đoạn từ 2012-2017 qua các nguồn tài liệu lưu trữ và thông tin sơ cấp;

- Phân tích các tài liệu về nghiên cứu khoa học của các cơ sở đào tạo nghề TKĐH trên địa bàn thành phố Hà Nội

Phương pháp phỏng vấn sâu

- Để thu thập thông tin định tính, tác giả đã thực hiện phỏng vấn sâu, ẩn danh qua bảng hỏi một số đối tượng là cán bộ quản lý trường, doanh nghiệp

có liên quan, các giảng viên giáo viên, chủ nhiệm đề tài/dự án Những NTK

có thâm niên trong lĩnh vực TKĐH trên thị trường Các chuyên gia về nghề TKĐH và thường xuyên tham gia thẩm định quá trình đổi mới nghề TKĐH tại Việt Nam

Trang 15

9 Cấu trúc dự kiến của luận văn

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về áp dụng tiếp cận đổi mới trong hoạt động TKĐH

nhằm đẩy nhanh kết quả vào thực tế

Chương 2: Thực trạng hoạt động TKĐH nhìn từ góc độ tiếp cận đổi mới Chương 3: Giải pháp đưa nhanh kết quả TKĐH vào thực tế theo tiếp cận đổi

mới

Kết luận và khuyến nghị

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG TIẾP CẬN ĐỔI MỚI TRONG HOẠT ĐỘNG TKĐH NHẰM ĐẨY NHANH KẾT QUẢ VÀO

THỰC TẾ 1.1 Một số khái niệm công cụ

1.1.1 Khoa học và công nghệ

1.1.1.1 Khái niệm về khoa học

Khái niệm khoa học được định nghĩa theo một số cách tiếp cận sau đây (Theo Vũ Cao Đàm, 2007, tr.59):

- Khoa học là một hệ thống tri thức: tức là hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội,

tư duy Hệ thống tri thức ở đây là hệ thống tri thức khoa học, được xem như một sản phẩm trí tuệ được tích lũy trong hoạt động tìm tòi, sáng tạo thông qua các phương pháp của người nghiên cứu để đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng;

- Khoa học là một hình thái ý thức xã hội: Theo cách tiếp cận này thì khoa học là phương diện tinh thần xã hội mang đối tượng và hình thức phản ánh với chức năng xã hội riêng biệt với các hình thái ý thức xã hội khác;

- Khoa học là một thiết chế xã hội: Với tư cách là một thiết chế xã hội, khoa học thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội và thực hiện chức năng của một thiết chế xã hội Khoa học được coi là chuẩn mực trong các hoạt động, trong các lĩnh vực;

- Khoa học là một hoạt động xã hội: tức là khoa học đã trở thành một nghề nghiệp mang những đặc trưng riêng của nó như việc đi tìm tòi, sáng tạo, đồng thời cũng chấp nhận gặp nhiều rủi ro

1.1.1.2 Công nghệ

Có nhiều cách hiểu khác nhau về công nghệ tuỳ theo góc độ và mục đích nghiên cứu là khác nhau

Trang 17

Theo quan niệm cũ: Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo làm thay đổi tính chất, hình dạng, trạng thái, của nguyên vật liệu và bán thành phẩm để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh

Theo quan niệm mới: Công nghệ dùng để chỉ hoạt động trong mọi lĩnh vực có áp dụng kiến thức là kết quả của NCKH ứng dụng nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người

Theo phương diện KH&CN luận thì “Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép,…) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo

ra các loại sản phẩm và dịch vụ” (Trịnh Ngọc Thạch, 2009)

Qua khái niệm về công nghệ ở trên ta thấy Trước đây cách hiểu truyền thống về công nghệ đồng nhất kỹ thuật với thiết bị không lưu ý với thực tế vận hành, tay nghề của công nhân, năng lực tổ chức quản lý hoạt động sản xuất, do vậy hiện nay thuật ngữ (công nghệ) thường được dùng thay cho thuật ngữ (kỹ thuật) việc hiểu nội dung công nghệ như vậy đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi công nghệ thực sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước cũng như quốc tế

Khác với khoa học các giải pháp kĩ thuật của công nghệ đóng góp trực tiếp vào sản xuất và đời sống nên nó được sự bảo hộ của nhà nước dưới hình thức sở hữu công nghiệp và do đó nó là thứ hàng để mua bán

1.1.1.3 Hoạt động KH&CN trong công cuộc đổi mới

Theo luật Khoa học và công nghệ (2000), hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch

vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ Trong đó, nghiên cứu khoa học là một mảng quan trọng được định

Trang 18

nghĩa là: là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của

tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng

Hoạt động KH&CN bao gồm:

 Nghiên cứu và triển khai (R &D)

 Chuyển giao tri thức, bao gồm chuyển giao công nghệ

D Triển khai (Technological Experimental Development)

T Chuyển giao tri thức (Bao hồm CGCN)

TD Phát triển công nghệ trong sản xuất (Technology

Development) STS Dịch vụ khoa học và công nghệ

1.1.2 Đổi mới

Khái niệm đổi mới (Innovation) làm xuất hiện cách tiếp cận mới đối với các hoạt động NC&TK Theo đó, các hoạt động NC&TK, nhân lực NC&TK, tổ chức NC&TK không còn được quan niệm là đối tượng riêng biệt và duy nhất cho quản lý và chính sách NC&TK.Thay vào đó là hoạt động đổi mới và hệ thống đổi mới

Thuật ngữ đổi mới đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX khi nhà kinh tế học Schumpeter (1911) đã phân biệt giữa việc hình thành một ý tưởng cho sản phẩm hoặc qui trình (phát minh/sáng chế) và việc ứng dụng ý tưởng

Trang 19

đó đến quá trình kinh tế (đổi mới) Có thể thấy, điểm xuất phát của cách tiếp cận mới là nằm trong sự phân biệt giữa đổi mới (Innovation) và phát minh (Invention) Nếu như phát minh là kết quả của các hoạt động R&D, là việc đưa ra và thực hiện một ý tưởng mới, phát hiện ra cái có thể về mặt kỹ thuật, hoặc khoa học thì đổi mới lại là cả một quá trình: "Chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới/hoàn thiện để đưa ra thị trường, thành một quy trình được đưa vào hoạt động hoặc được hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa

ra một cách tiếp cận mới trong các dịch vụ xã hội" Nói theo Arthur J Carty:

"Đổi mới là một quá trình năng động, bao gồm trong đó các hoạt động phát minh khoa học, nghiên cứu ứng dụng, triển khai, đào tạo, đầu tư, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm." Và như tác giả Smail-Ait-El-Hadj đã viết: "Đổi mới là chỗ gặp nhau giữa cái có thể về mặt kỹ thuật với cái có thể về mặt kinh tế - xã hội (KT-XH)"

Đến năm 1939 Schumpeter mở rộng khái niệm đổi mới như là tập hợp các chức năng mới trong sản xuất, bao gồm cả tạo ra hàng hoá mới, hình thái

tổ chức mới (như sáp nhập), mở ra những thị trường mới, sự kết hợp các nhân

tố theo một cách mới hoặc tiến hành một sự kết hợp mới Lundvall (1992), Elam (1992) cũng có những quan điểm tương tự

Edquist (1997) đưa ra khái niệm đổi mới như là việc đưa ra nền kinh

tế tri thức mới hoặc sự kết hợp mới của những tri thức đang có Điều này

có nghĩa là đổi mới được xem xét chủ yếu như là kết quả của qui trình học hỏi có tương tác Mặc dầu trong nền kinh tế sự tương tác những phần tri thức khác nhau được thực hiện theo các cách mới để tạo ra tri thức mới, hoặc đôi khi là các qui trình, sản phẩm mới Những tương tác như vậy không chỉ diễn ra trong mối liên quan đến NC&PT mà còn liên quan đến những hoạt động kinh tế thường nhật như việc mua bán, sản xuất và marketing Sự tương tác xuất hiện trong các doanh nghiệp (giữa các cá nhân hoặc phòng ban khác nhau), giữa các doanh nghiệp với người tiêu

Trang 20

dùng, giữa các doanh nghiệp khác nhau hoặc giữa doanh nghiệp với các tổ chức khác thậm chí cả cơ quan công quyền

Tóm lại, mặc dù có những cách định nghĩa khác nhau, khái niệm về đổi mới bao gồm việc đưa ra được sản phẩm/qui trình mới mang lại lợi ích trên thị trường Với cách hiểu như vậy thì định nghĩa của OECD (2005) có thể xem là khá đầy đủ (NISTPASS, 2005): Đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ bao gồm các sản phẩm và qui trình mới về công nghệ được thực hiện và cải tiến công nghệ đáng kể trong sản phẩm và qui trình Một đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ được thực hiện nếu nó đưa được ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong qui trình sản xuất (đổi mới qui trình) Đổi mới sản phẩm và qui trình công nghệ bao gồm một loạt các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại

Tổng hợp lại: Đổi mới là kết quả cuối cùng của hoạt động đổi mới dưới dạng sản phẩm mới, sản phẩm hoàn thiện, quá trình công nghệ mới hoặc được hoàn thiện dịch vụ mới

Hoạt động đổi mới là hoạt động tạo ra, sử dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học nhằm sản xuất sản phẩm và dịch vụ mới thâm dụng tri thức, có sức cạnh tranh trên thị trường đảm bảo phát triển bền vững

Quá trình đổi mới là quá trình có liên quan tới việc tạo ra, nắm vững và phổ cập các đổi mới Đây có thể là quá trình tuyến tính hoặc phi tuyến theo

mô hình công nghệ đẩy hoặc thị trường kéo hoặc cả hai

1.1.3 Chính sách đổi mới

Chính sách đổi mới là tập hợp có hệ thống các chính sách kinh tế-tài chính, chính sách KH&CN, chính sách giáo dục đào tạo, chính sách công nghiệp, chính sách thương mại v.v…nhằm khuyến khích hoạt động đổi mới Nói như vậy có nghĩa là mục tiêu của chính sách đổi mới là tạo ra các công cụ khuyến khích/ trừng phạt, đối tượng là hoạt động đổi mới trong đó tổ chức (doanh nghiệp) – nhà đổi mới là trung tâm

Trang 21

Đồng thời, tính hệ thống được hiểu với nghĩa đầy đủ của từ này Một chính sách không có hệ thống thì không thể là chính sách đổi mới, thậm chí gây đến hiểu như kiểu chính sách “vừa nhấn ga vừa đạp phanh” Có thể nói Hệ thống đổi mới quốc gia là “phần cứng” thì chính sách đổi mới là “phần mềm” vận hành phần cứng đó

Để chính sách đổi mới được thực hiện cần có các đảm bảo hành

chính-tổ chức, kinh tế - tài chính, đảm bảo thông tin, sở hữu trí tuệ và hệ thống pháp luật theo thông lệ quốc tế

1.1.4 Thiết kế đồ họa

Khái niệm TKĐH không cố định mà luôn được thay đổi trong tiến trình phát triển bởi chính phương thức sản xuất, cách tiêu dùng và sự tưởng tượng đến tương lai Ở giai đoạn đầu (thập niên 80 của thế kỷ XX trở về trước), TKĐH xuất hiện, phát triển và phổ cập bởi khả năng đa bản của công nghệ ấn loát, với nhiều thể loại như: áp phích, tranh cổ động chính trị, tranh minh họa, trình bày sách báo, ấn phẩm văn hóa, hệ thống ký hiệu, biểu trưng, biểu tượng, thiết kế quảng cáo sản phẩm và thương hiệu (logo, biển bảng, bao bì, tem nhãn…)

TKĐH (Graphic design) được hiểu là một trong những chuyên ngành của thiết kế, nhằm đưa cái đẹp phổ cập vào hầu hết những sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng phục vụ mọi nhu cầu da dạng của con người Trong đó danh từ

“thiết kế” để chỉ những bản vẽ được hiển thị trên một mặt phẳng (đa chất liệu), và động từ “thiết kế” bao hàm ý nghĩa kiến thiết, sáng tạo

Sau thập niên 80 của thế kỷ XX, TKĐH đã vượt ra ngoài phạm vi vốn

có, không chỉ bó hẹp ở lĩnh vực ấn loát, trang trí bề mặt, làm đẹp cho sản phẩm công nghiệp, mà ngày càng được mở rộng vai trò truyền thông hình ảnh Những giải pháp sáng tạo của các họa sĩ TKĐH hiện đại được thực hiện không bị giới hạn bởi bất cứ phương tiện truyền thông thị giác nào (phim ảnh,

vô tuyến truyền hình, các giao diện điện tử…)

Trang 22

TKĐH nay được hiểu theo nghĩa: là việc lập kế hoạch cho một quy trình, đưa ra ý tưởng, phương pháp, giải pháp sáng tạo cho vấn đề truyền thông thị giác, thông qua việc sử dụng văn bản, tổ chức không gian, hình ảnh, màu sắc Nó bao gồm tổng hợp cả quá trình thiết kế, mà sau quá trình đó, các sản phẩm thiết kế và thông tin liên lạc được tạo ra Luận văn giới hạn khái niệm thuật ngữ này ở mảng TKĐH in ấn, bao bì, quảng cáo trên mặt phẳng theo hướng tiếp cận sự đổi mới theo cách hiểu đúng về tên gọi của nó (dịch theo tiếng Anh) và theo thói quen sử dụng cụm danh từ này ở Việt Nam

Tuy nhiên, ở trên thế giới, do công nghệ thông tin, truyền thông hiện đại ngày càng được mở rộng, danh từ “TKĐH” trở nên hạn hẹp với chính khái niệm và chức năng của nó Người ta tìm đến một tên gọi mới, sát nghĩa hơn cụm từ này: Thiết kế truyền thông thị giác (Visual Communication design) Nhưng rồi, sự truyền thông này còn có thêm cả

âm thanh, không chỉ là thị giác, cho nên chữ “thị giác” (visual) được lược

đi, gọi ngắn hơn là Thiết kế truyền thông (Communication design) Lĩnh vực TKĐH trên thế giới ngày nay có thể coi là một tập hợp con của truyền thông hình ảnh và thiết kế truyền thông

Nhưng đôi khi, hai thuật ngữ này được sử dụng thay thế cho TKĐH, bởi chức năng và kỹ năng có sự liên quan chồng chéo nhau, hoặc đôi khi, lại được tách bạch ra làm ba công việc khác nhau, nhưng cùng thực hiện nhiệm

vụ truyền thông Người ta cho rằng, Thiết kế truyền thông là cách gọi khác của TKĐH Ở nhiều trường đại học trên thế giới hiện nay, người ta đã sử dụng tên chuyên ngành đào tạo là Communication design thay thế cho Graphic design

Hiện nay được chia nhỏ thành nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, song tựu trung lại, có thể chia làm ba mảng chính, gồm:

- Thiết kế Ấn loát (sách, báo, lịch, tem thư…)

- Thiết kế Bao bì (các loại bao bì, tem nhãn sản phẩm hàng hóa…)

Trang 23

- Thiết kế Quảng cáo (Tạp chí/magazin, catalogue, porter, biển bảng/bill board, quảng cáo truyền hình, quảng cáo mạng/ internet, website…)

TKĐH không phải là một thứ nhận thức nghệ thuật bằng hình tượng,

mà là một dạng sáng tạo vật chất, nhằm phục vụ nhu cầu của con người và làm cho cuộc sống có ý nghĩa TKĐH có một số vai trò như sau:

- Vai trò thúc đẩy phát triển nền kinh tế hàng hóa Trong xã hội hiện đại, khi các công ty SX ra hàng hóa ngày một nhiều, nhu cầu được sử dụng

SP tốt, đẹp, mới lạ hơn của người tiêu dùng ngày một tăng, thì TKĐH đóng vai trò không nhỏ trong sự cạnh tranh ấy, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường Ở nhiều nước trên TG, ngôn ngữ truyền thông thị giác của TKĐH thường được sử dụng mạnh mẽ với quy mô lớn trong các chiến dịch phát triển kinh tế quốc gia

- Vai trò tạo dựng một môi trường văn hóa, giáo dục thẩm mỹ và nhận thức xã hội Các NTK đóng một vai trò quan trọng như những tác nhân mới của sự thay đổi thế giới, bằng cách sử dụng sáng tạo và tư duy thiết kế trong thể hiện khả năng của họ đối với nhận thức xã hội TKĐH đóng vai trò kết nối cộng đồng và cá nhân, tiếp thu giá trị của BSVH, cấu trúc XH, nền kinh tế, phát triển VH và môi trường

- Vai trò tạo dựng bản sắc và thương hiệu dân tộc Giá trị thẩm mỹ và tính độc đáo của TKĐH mang BSDT, thương hiệu QG là một trong những yếu tố quan trọng làm nên “diện mạo văn hóa”, hình ảnh, vị thế cá nhân của một con người, nói rộng hơn là của một cộng đồng người, một dân tộc

Các yếu tố TKĐH được NTK kết hợp bao gồm:

- Chữ (cách điệu, sáng tạo, chọn lựa kiểu chữ, bố trí, sắp xếp chữ, văn bản, trang…) để sản xuất ra một kết quả cuối cùng;

- Hình ảnh và các yếu tố đồ họa khác (điểm, nét, hình khối, màu sắc, chất liệu…) có thể được tạo ra bằng mọi công cụ và phương tiện, để cho ra sản phẩm sáng tạo mang ý tưởng và những thông điệp

Trang 24

Nguyên tắc TKĐH: TKĐH tuân thủ các nguyên tắc chung của mọi loại

hình nghệ thuật thị giác, trên cơ sở vận dụng các nguyên lý, quy luật thị giác của con người như: cân bằng, nhịp điệu, tương phản, tỷ lệ, điểm nhấn, trình

tự, tính thống nhất, âm - dương, động - tĩnh…

Quy trình TKĐH: Quy trình thiết kế sẽ bắt đầu từ ý tưởng thiết kế, bản

vẽ đồ họa thiết kế, lập trình hai chiều, ba chiều trên máy tính, đưa ra sản phẩm mẫu sản xuất thử Sau bốn bước này mới chuyển sang giai đoạn sản xuất hay

không Tất cả quy trình thiết kế đều hướng đến việc đạt được mục tiêu, mục

đích cụ thể cho trước

Mục đích này có thể tập trung đến tính công năng hơn, hoặc tính thẩm

mỹ hơn, nhưng thường là cả hai, tùy từng yêu cầu của sản phẩm cụ thể

Chẳng hạn, thiết kế hệ thống ký hiệu, tín hiệu giao thông, thì tính công năng (dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhận biết…) được đề cao, còn thiết kế bao bì một sản phẩm hàng hóa, thì hình thức, vẻ bên ngoài, được chú trọng hơn Vấn đề thẩm

mỹ và biểu đạt có thể tham dự một phần trong quy trình thiết kế, song nó không thể hiện năng lực thiết kế, cũng không phải là phần quan trọng nhất của

quy trình đó trong một số trường hợp

1.2 Tiếp cận đổi mới và tác động thúc đẩy hoạt động TKĐH

1.2.1 Tiếp cận đổi mới

Quá trình đổi mới được xem là quá trình chuyển đổi đầu vào (tài nguyên, thông tin, v.v.) thành đầu ra (sản phẩm mới, công nghệ mới, v.v.) Cách tiếp cận này dựa trên giả định rằng quá trình đổi mới luôn song hành với hoạt động sáng tạo khó xác định và khó tổ chức Quá trình đổi mới ở đây được mô tả bằng mô hình hộp đen (Hình 1)

Trang 25

Hình 1- Quá trình đổi mới nhƣ là một quá trình biến đổi

Nguồn: Tập bài giảng quản lý đổi mới, Nguyễn Văn Học (2013),

Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn

Có nhiều cách phân loại tiếp cận đổi mới: i) theo phương thức tổ chức thực hiện đổi mới, ii) theo bối cảnh đổi mới và iii) theo mô hình thâm dụng tri thức vào sản phẩm Theo i) ta có tiếp cận top down, tiếp cận bottom up, theo ii) ta có tiếp cận môi trường, theo iii) ta có các mô hình thâm dụng tri thức vào sản phẩm

Tiếp cận đổi mới trong luận văn này được hiểu là quá trình thâm dụng tri thức vào sản phẩm bằng các hoạt động sáng tạo Hiển nhiên, muốn hoạt động sáng tạo hay nói rộng ra, muốn quá trình này thành công không thể không áp dụng các giải pháp có tính hệ thống Hệ thống giải pháp ấy người

ta thường gọi dưới cái tên là chính sách đổi mới

học Và vì vậy người ta hay gán cái tên khoa học đẩy cho nó (technology push, science push) Hình 2 cho thấy quá trình đổi mới ở thế hệ đầu tiên

Trang 26

Hình 2 Mô hình đổi mới thế hệ thứ nhất (G1)

Nguồn: Rothwell (1994) 1.2.1.2 Thế hệ thứ hai (G2)

Vào giữa những năm 1960 đến đầu những năm 1970, các công ty Mỹ cạnh tranh mạnh mẽ, năng suất tăng mạnh Trong thời gian đó các sản phẩm được phát triển do nhu cầu của thị trường đối với các công nghệ đương thời Thị trường như là nguồn ý tưởng cho các nghiên cứu trái ngược với thế hệ G1 (Rothwell, 1994) và được biểu thị trên Hình 3 Người ta còn gọi mô hình này

là mô hình thị trường kéo (market pull)

Hình 3: Mô hình đổi mới thế hệ thứ hai (G2)

Nguồn: Rothwell (1994) 1.2.1.3 Thế hệ thức ba (3G)

Vào những năm 70 của thế kỷ XX, các mô hình 1G, 2G tuyến tính bắt đầu chỉ được coi là trường hợp đặc biệt của một quá trình tổng quát hơn kết hợp giữa khoa học, công nghệ và thị trường Các nghiên cứu của các tác giả như R Rothwell, C Freeman, A Horsley, A Jervis, D Townsend, D Movery và N Rosenberg đã cho thấy tầm quan trọng của các yếu tố thị trường và công nghệ để đổi mới thành công Điều đó dẫn đến sự xuất hiện của các mô hình phi tuyến tính mới của quá trình đổi mới Nhà kinh tế học người Anh Roy Rothwell sau khi phân tích kinh nghiệm thế giới và các mô hình G1

và G2, đã xác định thêm ba mô hình (thế hệ) của quá trình đổi mới tương ứng với các giai đoạn phát triển khác nhau của các nền kinh tế của các nước phát

Trang 27

triển: mô hình kết hợp (3G), mô hình tích hợp (4G) 5G) Mô hình đổi mới 3G theo Rothwell, vẫn có trình tự trước sau như G1, G2, nhưng có phản hồi (Hình 4)

Hình 4: Mô hình đổi mới thế hệ thứ ba (3G)

Nguồn Rothwell (1994)

Ngày nay, không ai có thể phủ nhận rằng lĩnh vực R & D và các nhu cầu mới được trình bày trong mô hình thứ ba của R Rothwell là nguồn chính cho các ý tưởng sáng tạo Một mô hình khác được xem như là quá trình đổi mới thế hệ 3G là mô hình liên kết chuỗi Klein-Rosenberg Mô hình chuỗi này chia quá trình đổi mới thành năm giai đoạn (Hình 5) Trong giai đoạn đầu tiên, nhu cầu về một thị trường tiềm năng được xác định Giai đoạn thứ hai bắt đầu với việc phát kiến hoặc tạo ra một mô hình phân tích về một quy trình hoặc sản phẩm mới dự kiến sẽ đáp ứng nhu cầu mới nổi Giai đoạn thứ

ba là thiết kế chi tiết và thử nghiệm, hoặc phát triển đổi mới thực tế Trong giai đoạn thứ tư, dự án mới nổi được thiết kế lại và cuối cùng chuyển sang sản xuất lô số 0 Giai đoạn thứ năm là giới thiệu sự đổi mới cho thị trường, bắt đầu các hoạt động tiếp thị và phân phối

Trang 28

Hình 5 Mô hình đổi mới theo chuỗi liên kết Kline &Rosenberg

Nguồn Kline &Rosenberg (1986)

Trang 29

Hình 6: Mô hình đổi mới 4G

Nguồn: Rothwell (1994)

Theo Rothwell, mô hình thế hệ thứ tư phù hợp với thông lệ quốc tế Hình 6 mô tả quy trình phát triển sản phẩm mới của Nissan (một ví dụ về quy trình đổi mới tích hợp) Tuy nhiên, cần lưu ý rằng ví dụ về mô hình 4G này tập trung vào các đặc điểm chính bên trong của quy trình: tính chất song song

và tích hợp của nó Trong thực tế, có một mạng lưới các tương tác xung quanh, được thể hiện trong thế hệ thứ ba của quá trình (Hình 4).Các tính năng quan trọng nhất của mô hình thứ tư là tích hợp R & D với sản xuất (ví dụ: hệ thống thiết kế hỗ trợ máy tính tích hợp và hệ thống sản xuất linh hoạt), hợp tác chặt chẽ hơn với các nhà cung cấp và khách hàng hàng đầu, hợp tác theo chiều ngang (tạo liên doanh, liên minh chiến lược), cũng như tạo ra các nhóm làm việc đa chức năng bao gồm: công nghệ, thiết kế, tiếp thị, kinh tế, v.v

1.2.1.5 Mô hình 5G

Mô hình thế hệ 5G theo Rothwell là sự kết hợp lý tưởng mô hình tích hợp (4G) với sự tích hợp mang tính chiến lược chặt chẽ mạnh giữa các công ty tương tác Mô hình này phản ánh quá trình IT hóa đổi mới, được đặc trưng bởi sự gia tăng sử dụng các hệ thống chuyên gia, mô hình hóa

mô phỏng, các hệ thống sản xuất tích hợp linh hoạt và thiết kế tự động

Trang 30

Quá trình đổi mới trong mô hình thứ năm của R Rothwell không chỉ liên chức năng, mà còn có tính chất mạng đa tổ chức Một trong những nỗ lực trực quan hóa thế hệ thứ năm của quá trình đổi mới - mô hình phi tuyến tính của nó được trình bày trên hình 7 Hình 7 phản ánh sự tương tác giữa các tổ chức chính (bản thân công ty, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng), mà kết quả chung là đổi mới Quá trình đổi mới hiện đại

là một quá trình phát triển do sự tương tác của ba hệ thống: nhà đổi mới, tổ chức (doanh nghiệp) và môi trường bên ngoài

Hệ thống "nhà đổi mới" bao gồm tất cả các nhân lực và yếu tố sản xuất

có liên quan trực tiếp đến nghiên cứu và triển khai và phát triển công nghệ mới Mặt khác, hệ thống này là một phần của một hệ thống lớn hơn - một tổ chức (doanh nghiệp) nơi những người tham gia quá trình đổi mới làm việc

Và cuối cùng, tổ chức này về phần mình lại là một phần của một hệ thống lớn hơn - tập hợp các yếu tố môi trường: xã hội, công nghệ, kinh tế chính trị (STEP) Do đó, chúng ta có thể giả định rằng mô hình mà chúng ta đã trình bày trên 7, là nguyên mẫu của mô hình Rothwell thứ năm về sự tương tác của các tổ chức bên ngoài và bên trong trong quá trình đổi mới

Hình 7: Mô hình đổi mới 5G

Nguồn Brixova (2018)

Trang 31

1.2.2 Tác động của tiếp cận đổi mới đối với hoạt động TKĐH

1.2.2.1 Các lĩnh vực hoạt động TKĐH

TKĐH, phương thức sử dụng các tác phẩm trực quan để giải quyết các vấn đề và truyền đạt ý tưởng thông qua kiểu chữ, hình ảnh, màu sắc và hình thức trình bày Tại mỗi lĩnh vực đòi hỏi các kỹ năng chuyên môn khác nhau

để tạo ra sản phẩm TKĐH phù hợp Nhiều NTK chuyên về một loại hình duy nhất, nhưng cũng có những người khác hoạt động trên đa dạng lĩnh vực hoặc các nhóm thể loại tương tự, có liên quan với nhau

Sự thay đổi liên tục của nền kinh kế, kéo theo việc các NTK phải thích ứng và học hỏi không ngừng đổi mới để đa dạng hóa phong cách cũng như đáp ứng thị hiếu và yêu cầu ngày càng khắt khe hơn của thị trường

Từ những yêu cầu của thị trường, TKĐH được hoạt động bởi một số lĩnh vực chủ đạo như sau:

- Thiết kế nhận dạng thương hiệu: Đây là lĩnh vực thể hiện bản sắc, bộ

mặt, cá tính và thông điệp vô hình của doanh nghiệp muốn truyền tải đến khách hang, đối tác của họ

NTK bộ nhận dạng chuyên nghiệp cộng tác với các bên liên quan về quản lý hình ảnh thương hiệu để tạo dựng biểu tượng lựa chọn kiểu chữ, bảng màu, và thư viện hình ảnh thể hiện cá tính của thương hiệu Ngoài các thẻ tiêu chuẩn, các văn phòng phẩm của Công ty, NTK thường phát triển một bộ hướng dẫn thương hiệu trực quan mô tả các phương pháp hay nhất và cung cấp các dẫn chứng về thương hiệu hình ảnh được áp dụng trên nhiều phương tiện khác nhau Những nguyên tắc này giúp đảm bảo tính nhất quán về thương hiệu, để hình ảnh cũng như các biểu tượng thương hiệu luôn đồng bộ trong suốt quá trình sử dụng

Các Nhà TKĐH nhận dạng thương hiệu phải có kiến thức chung về tất

cả các lĩnh vực TKĐH để tạo ra các yếu tố thiết kế phù hợp trên tất các các phương tiện trực quan Họ cũng cần kỹ năng giao tiếp, hiểu biết về những khái niệm và sang tạo tuyệt vời, đam mê nghiên cứu tìm hiểu bản chất thực sự

Trang 32

của doanh nghiệp, tổ chức, đối thủ cạnh tranh của họ và liên tục cập nhật những xu hướng mới

- Tiếp thị và thiết kế quảng cáo: TKĐH tạo ra các hình ảnh mang nội

dung trực quan hấp dẫn hơn, giúp các tổ chức quảng bá và giao tiếp hiệu quả hơn trong việc tiếp thị và quảng cáo sản phẩm tới khách hàng mục tiêu

Một số sản phẩm thiết kế thường thấy trong các chiến dịch quảng cáo, tiếp thị của các doanh nghiệp như:

+ Bưu thiếp, tờ rơi

+ Mẫu quảng cáo trên báo, tạp chí

+ Poster, banner, billboard quảng cáo ngoài trời

+ Infographic

+ Brochure (Các loại in ấn và cả kỹ thuật số)

+ Decal trang trí

+ Mẫu quảng cáo hiển thị trên các màn hình thương mại

+ Mẫu E-mail tiếp thị

+ Bản trình chiếu Power Point trong các sự kiện

+ Mẫu quảng cáo truyền thông trên các mạng xã hội

+ Hình ảnh cho Website Diễn đàn, Blog,…

NTK hoạt động trong lĩnh vực quảng cáo, tiếp thị cần có kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề và quản lý thời gian

- IU Designer Thiết kế giao diện người dùng: Là cách người dùng

tương tác với một thiết bị thông qua ứng dụng

Giao diện người dùng bao gồm tất cả những thứ mà người dùng tương tác với màn hình, bàn phìm và chuột Trong lĩnh vực TKĐH, Thiết kế giao diện người dùng tập trung vào trải nghiệm hình ảnh của người dùng và thiết

kế các yếu tố đồ họa trên màn hình như nút, menu, dự đoán hành vi tương tác

và hơn thế nữa Đó là công việc của một NTK giao diện người dùng để cân bằng sự hấp dẫn yếu tố mỹ thuật và chức năng kỹ thuật

Trang 33

Thiết kế giao diện người dùng chuyên về ứng dụng dành cho máy tính

để bàn; cho thiết bị di động; web và trò chơi Bên cạnh việc thành thạo đồ họa, NTK cần kiến thức về các ngôn ngữ lập trình

- Thiết kế ấn phẩm xuất bản: Sách, báo, tạp chí là phương tiện truyền

thống trong việc tiếp cận khách hang Tuy nhiên, gần đây đã có sự gia tăng đáng kể của các ấn phẩm online

Các nhà TKĐH chuyên về các ấn phẩm làm việc với các biên tập viên

và nhà xuất bản để tạo bố cục với kiểu chữ được lựa chọn cẩn thận và tác phẩm nghệ thuật đi kèm, bao gồm nhiếp ảnh, đồ họa và hình ảnh minh họa Các NTK ấn phẩm có thể làm việc như dịch giả tự do, là thành viên của cơ quan sáng tạo hoặc trong nhà như một phần của công ty xuất bản

- Thiết kế bao bì: Hầu hết các sản phẩm đều yêu cầu một số hình thức

đóng gói để bảo vệ hoặc chứa đựng sản phẩm bên trong Bên cạnh đó, bao bì cũng chính là một hình thức giao tiếp trực tiếp với người dùng, điều này làm cho nó trở thành một công cụ tiếp thị cực kỳ có giá trị Mỗi sản phẩm là cơ hội để chúng ta kể về thương hiệu của sản phẩm đó

1.2.2.2 Đẩy nhanh kết quả TKĐH vào thực tế qua các mô hình tác động

Đổi mới không phải là yếu tố bất biến trong lĩnh vực TKĐH Nó luôn biến động bởi sự tác động của các sự kiện lịch sử thực tế và đời sống thường ngày, nhất là khi phương thức sản xuất thay đổi Thế kỷ XX là quãng thời gian Việt Nam bước vào giai đoạn hiện đại, khi nền design “phong kiến” chấm dứt và được thay thế bởi những sản phẩm TKĐH của nền sản xuất mới

có tính chất tiền tư bản và tư bản sơ khai đầu thế kỷ XX

Cũng trong thời gian đó, tinh thần dân tộc trong những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm có ảnh hưởng toàn diện, không chỉ dưới góc độ quân sự mà còn dưới góc độ văn hóa, kinh tế, nên những thiết kế mang tinh thần dân tộc luôn được chú trọng trong một trăm năm của thế kỷ XX

Trang 34

Như vậy việc đẩy nhanh kết quả TKĐH vào thực tế qua các mô hình tác động có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động Thiết kế độ họa được nhìn từ góc độ tiếp cận đổi mới trong tương lai

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Học (Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN) trong mô hình Công nghệ đẩy-thị trường kéo, mô hình này khoa

học là cơ sở, tri thức, tiền đề của đổi mới, hoạt động NC&TK là nhân tố thúc đẩy đổi mới Tuy nhiên, nếu đổi mới chỉ dựa vào NC&TK mà không xuất phát từ nhu cầu thị trường, sản phẩm có thể không có thị trường

Đến thập kỷ 1970, một số nghiên cứu mới cho thấy thị trường có ảnh

hưởng đến đổi mới và xuất hiện mô hình tuyến tính thị trường kéo (xem phần

nửa dưới của hình 1 gồm các bước: Nhu cầu thị trường tư ng khả năng doanh nghiệp Giải pháp nguyên lý NC&TK Giải pháp CN Sản xuất, tiêu thụ áp dụng phổ dụng sản phẩm)

Trong mô hình này nhu cầu thị trường là căn cứ cho các ý tưởng đổi mới thông qua quá trình tiếp xúc với khách hàng Nhu cầu này sẽ tạo cơ hội cho sản phẩm mới, quy trình mới và qua đó thúc đẩy hoạt động NC&TK Tuy nhiên, đầu tư cho các dự án theo nhu cầu thị trường không phải lúc nào cũng thành công và ở mô hình này sẽ khó định hướng các nghiên cứu tạo dự trữ khoa học và đi trước các đối thủ cạnh tranh

Các mô hình tuyến tính có những hạn chế như đã phân tích và chỉ tập trung vào vai trò của những tác nhân kích thích đổi mới đầu tiên Quá trình đổi mới diễn ra tuần tự kiểu tuyến tính, một chiều và không có các phản hồi

từ các khâu cuối của chu trình đổi mới, trong khi phản hồi là một bộ phận không thể thiếu của các quá trình phát triển liên tục và đổi mới Ví dụ ở mô hình khoa học đẩy, thiếu phản hồi từ các hoạt động phát triển đang được tiến hành, từ doanh số hoặc người sử dụng Mặt khác trong thực tế thường khó tách bạch các giai đoạn của chu trình đổi mới và việc bắt đầu tiến hành từ giai đoạn nào còn phụ thuộc vào các yếu tố như nhu cầu và năng lực của chủ thể đổi mới tại từng thời điểm cụ thể

Trang 35

Để khắc phục các hạn chế trên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra mô hình bằng cách kết hợp các mô hình tuyến tính với nhau và nhấn mạnh đổi mới là kết quả tương tác giữa các yếu tố NC&TK, cơ hội thị trường và năng lực doanh nghiệp Đó là mô hình phi tuyến hay còn gọi lại mô hình thị trường kéo công nghệ đẩy Theo OECD, hoạt động NC&TK là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện tiên quyết cho đổi mới Nhiều hoạt động NC&TK sẽ hình thành từ quá trình đổi mới Khi xuất hiện vấn đề nào trong quá trình đổi mới, doanh nghiệp sẽ cần đến cơ sở tri thức tương ứng và NC&TK có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu cụ thể đó

Trên thực tế, những ý tưởng đổi mới có thể xuất hiện từ rất nhiều nguồn và ở bất kỳ một giai đoạn nào trong các hoạt động NC&TK, sản xuất, tiếp thị, phổ biến công nghệ mới Thực tế này đã làm cơ sở cho mô hình đổi mới mang tính liên kết và hệ thống trong đó doanh nghiệp là trung tâm

Bản chất của mô hình này là sự liên kết toàn hệ thống, lấy doanh nghiệp làm chủ thể chính và trung tâm liên kết các yếu tố của hệ thống đổi mới Trong hệ thống này doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố như:

các nguồn cung cấp ý tư ng đổi mới gồm khách hàng, bạn hàng và đồng minh, trường đại học, các patent; các đối thủ cạnh tranh; các điều kiện đổi mới gồm cơ sở hạ tầng KH&CN, tài sản, thiết bị Trong quá trình đổi mới,

doanh nghiệp thường xuyên sử dụng các thông tin sáng chế, hợp tác với các

tổ chức NC&TK, các trường đại học để thực thi các ý tưởng đổi mới - tạo ra các sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường đem lại phồn vinh cho nền kinh tế nói chung và cho doanh nghiệp nói riêng Đồng thời các đối tượng trên hướng vào phục vụ doanh nghiệp để tồn tại và phát triển Các hoạt động NC&TK được gắn kết với nhu cầu đổi mới sản phẩm doanh nghiệp và thông qua doanh nghiệp

Mô hình phi tuyến thể hiện tính chất và quan hệ phức tạp giữa các yếu

tố và các tác nhân tham gia vào chuỗi đổi mới trong khuôn khổ của các liên

Trang 36

kết theo kiểu mạng lưới Các hoạt động NC&TK là một trong số nhiều thành

tố tham gia vào mạng lưới liên kết tạo thành hệ thống

Mô hình trên phù hợp với quan điểm về hệ thống đổi mới quốc gia được các nhà nghiên cứu trong nước đưa ra trong thời gian gần đây Nó là tiền đề cần thiết để hình thành hệ thống đổi mới tầm micro, mezo và macro Đơn giản là vì nếu thiếu một hệ thống điều hòa phối hợp theo quan điểm của chính sách đổi mới thì mô hình trên sẽ không bao giờ trở thành hệ thống Theo đó, vai trò của các cơ quan điều tiết nhà nước phải chuyển từ chỉ huy

sang vai trò hỗ trợ (suporting) đứng bên cạnh các tác nhân tạo hệ; doanh

nghiệp được nhìn nhận như là yếu tố trung tâm của hệ thống đổi mới và các yếu tố khác của hệ thống phải phục vụ cho hoạt động của trung tâm này Các thành phần tạo hệ khác như tổ chức NC&TK, đào tạo, tài chính, dịch vụ thông tin, tư vấn và các dịch vụ đều phải hoạt động nhất quán phục vụ cho hoạt động đổi mới tại doanh nghiệp nhằm sản xuất ra các sản phẩm, quy trình và dịch vụ mới được thị trường và xã hội chấp nhận Nhu cầu đổi mới này sẽ là yếu tố quyết định các hình thức tổ chức cơ sở hạ tầng KH&CN, các chính sách KH&CN, thương mại, công nghiệp và các chính sách hỗ trợ đi kèm khác Chính vì lẽ đó, mà quá trình thâm dụng tri thức vào sản phẩm TKĐH đóng vai trò hết sức quan trọng Nhằm sử dụng một cách nhuần nhuyễn giữa mô hình công nghệ đẩy-thị trường kéo Làm tăng hàm lượng khoa học cho các thiết kế, những thiết kế sẽ nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của thị trường bằng công nghệ tự động

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về thực hiện hoạt động TKĐH

Do điều kiện lịch sử và xã hội mà số lượng mẫu TKĐH thành công trong vận dụng tiếp cận sự đổi mới, giữ được dấu ấn trong cộng đồng người Việt Nam và bạn bè quốc tế thực sự không nhiều Tuy nhiên, những vấn đề lý luận về bản sắc dân tộc, tính truyền thống trong lĩnh vực design nói chung và thiết kế đồ hoạ/graphic design nói riêng đều có những điểm chung nhất định

Trang 37

Để nhận diện rõ hơn những nét khái quát về vấn đề này, chuyên mục điểm qua kinh nghiệm thành công từ hai quốc gia có nền tảng văn hoá khá gần gũi với người Việt là Nhật Bản, Trung Quốc và một số design của Việt Nam ở các lĩnh vực khác thiết kế đồ hoạ như kiến trúc – kiến trúc nhà thờ Phát Diệm, thời trang – áo dài dân tộc, tạo dáng công nghiệp – tạo dáng cốc bia hơi Hà Nội) như một sự so sánh có tính đối chiếu

1.3.1 Kinh nghiệm thành công trong vận dụng các yếu tố đổi mới vào Thiết

kế đồ hoạ đương đại Nhật Bản

Trong lịch sử design thế giới, Nhật Bản là một quốc gia rất chú trọng việc bảo tồn và phát huy sức mạnh nội lực dựa trên nền tảng văn hoá, nghệ thuật truyền thống dân tộc của mình Luôn thể hiện sự mới mẻ, năng động của một đất nước, một xã hội hiện đại với khoa học kỹ thuật phát triển, song, bất

kỳ điểm đặc trưng nào của nền nghệ thuật dân tộc, đều có thể được các NTK Nhật Bản vận dụng sáng tạo vào những sản phẩm thiết kế hiện đại Trước hết,

là ở cách thức họ khai thác các yếu tố thuộc về hình thức, như: hệ hoa văn, hình tượng, biểu tượng, màu sắc, cấu trúc, chất liệu, cách thức trang trí truyền thống

Tính truyền thống, dân tộc ở đây, có thể là hình ảnh của một cô gái Nhật Bản với cách vấn tóc truyền thống như trong mẫu bao bì sản phẩm mì hộp ăn liền Chicken Playvoor, hình dáng và màu sắc trang trí những con búp

bê truyền thống có trên bao bì hộp đựng trà xanh Matcha của hãng Kokesk Tea Cũng có thể là màu sắc, cách sắp đặt, bài trí sản phẩm của hãng trà Ô Long, hay những chất liệu và kỹ thuật đóng gói rất độc đáo, thường thấy trên nhiều mẫu bao bì hàng hóa Nhật Bản Bên cạnh việc sử dụng hệ biểu tượng, hoa văn truyền thống như: các vật dụng truyền thống, núi Phú Sĩ, Kimono, cá chép, tranh khắc, chữ, chùa, hoa anh đào , những NTK đồ họa Nhật Bản cũng sáng tạo ra vô số hình ảnh, hệ biểu tượng mới, đại điện cho một đất nước Nhật Bản giàu truyền thống, nhưng cũng rất hiện đại, đầy sự trẻ trung, năng động trong giới tiêu dùng trẻ Đó là phong cách vẽ, hay các nhân vật

Trang 38

trong tranh hoạt hình Manga, mèo máy Doremon, hình tượng mèo Kitty của hãng Hello Kitty Ikko Tanaka là một trong những NTK đồ họa hiện đại Nhật Bản tiêu biểu trong việc chọn lựa, tạo dựng phong cách cá nhân theo khuynh hướng dân tộc Phong cách, tư duy thiết kế của ông có tầm ảnh hưởng

và sự đóng góp không nhỏ cho nền design thế giới thế kỷ XX và XXI Người

ta có thể thấy nhiều mức độ khác nhau trong việc tiếp nối, vận dụng tinh hoa

mỹ thuật truyền thống, cũng như việc kết hợp giữa tính truyền thống và tính hiện đại trong các sản phẩm thiết kế của ông Điển hình cho phong cách của Ikko Tanaka làposter quảng cáo cho chương trình

Nghệ thuật trình diễn Châu Á năm 1981, tại Mỹ (UCLA Asian Perfoming Arts Institute 1981 - Los Angeles, Washington DC, New York) Trong thiết kế này, tác giả sử dụng hình ảnh một cô gái Nhật chải đầu bồng, mặc Kimono, được cách điệu với hình thức mô-đun (modune) Đây là sự kế thừa nguyên tắc kết cấu chia ô trong kiến trúc truyền thống Nhật Bản, kết hợp với chủ nghĩa kết cấu ở Nga và Đức

Về màu sắc, tác giả đã phối hợp cách dùng màu từ nguyên mẫu truyền thống với cách sử dụng màu của design phương Tây hiện đại nửa cuối thế kỷ

XX Thiết kế này là một thành công mang tinh thần Nhật, hay châu Á nói chung, nhưng lại mang màu sắc hiện đại thời công nghiệp Yếu tố truyền thống ở đây không chỉ nằm ở sự vận dụng, mà nó thành công chính là ở chỗ

đã kết hợp một hình thức cũ trong cấu trúc thẩm mỹ mới (cô gái, kimono - thuộc hình thức cũ, mang tính truyền thống, với thẩm mỹ, kết cấu - thuộc về

xã hội công nghiệp mới, mang tính đương đại)

1.3.2 Kinh nghiệm thành công trong vận dụng các yếu tố mỹ thuật truyền thống vào TKĐH Trung Quốc

Trung Quốc là một nước lớn ở phương Đông, khá gần gũi với văn hóa Việt Nam Ở lĩnh vực design, ngay từ năm 1979, Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa, sẵn sàng chào đón những ý tưởng mới, các công nghệ mới nhất của phương Tây, nhưng đồng thời, họ cũng chủ trương tập trung tăng năng

Trang 39

lượng sáng tạo với một ý thức mạnh mẽ của dân tộc (nếu không nói là thậm chí còn mang tư tưởng có tính “bài ngoại”) Điển hình cho sự áp dụng thành công yếu tố văn hóa, tinh thần nghệ thuật truyền thống vào TKĐH hiện đại, là

sự thành công rực rỡ của lễ khai mạc Thế vận hội mùa hè tại Bắc Kinh - 2008:

Biểu tượng chính thức của Thế vận hội mùa hè 2008 - Dancing Beijing (Vũ hội Bắc Kinh) được công bố trong một nghi lễ diễn ra tại đền Thiên Đàn, Bắc Kinh Tinh thần toát lên từ Vũ hội Bắc Kinh là vẻ đẹp và sức mạnh của văn hóa Trung Quốc, đồng thời, truyền tải lời cam kết với thế giới sẽ mang đến một Thế vận hội đặc sắc Biểu tượng này do ông Guo Chunning, phó chủ tịch công ty Nhận dạng thương hiệu quốc tế Beijing Armstrong thiết kế, với hình ảnh một dáng người đang nhảy múa, thể hiện lời mời gọi chân thành, lòng nhiệt tình chào đón bạn bè thế giới đến với một đất nước giàu truyền thống văn hóa, hào hiệp, độc đáo và thanh lịch Để sáng tạo nên biểu tượng này, Chunning dựa vào chữ “Kinh” theo lối viết thư pháp như hình dáng một người, đặt trên dòng chữ “Bắc Kinh 2008” và năm vòng tròn tượng trưng cho phong trào Olympic quốc tế

Biểu tượng khắc họa một cách hoàn hảo, trọn vẹn giá trị cốt lõi của thể thao: vì con người và vì tinh thần thể thao chân chính Những đường cong gợi liên tưởng về hình ảnh một con rồng đang uốn lượn Cánh tay dang rộng biểu

lộ sự chân tình của người Bắc Kinh, mang đến cảm giác ấm áp, thân thiện và hữu nghị Còn dáng người đang chạy là một ẩn dụ về vẻ huy hoàng, tươi đẹp của cuộc sống

Màu đỏ may mắn được sử dụng làm màu sắc chủ đạo của biểu tượng có

ý nghĩa rất đặc biệt trong văn hóa truyền thống của họ Thiết kế này cũng cho thấy sự kế thừa, phát triển và đổi mới của văn hóa truyền thống Trung Quốc, đồng thời, nó như một minh chứng để khẳng định một trong những quan điểm

lý luận của design hiện đại thế kỷ XXI: “Thiết kế tuyệt với nhất là lấy gốc rễ

từ Văn hóa”

Trang 40

1.3.3 Kinh nghiệm trong hoạt động thiết kế theo phong cách Việt

- Thiết kế kiến trúc nhà thờ Phát Diệm: Ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX,

đầu thế kỷ XX, nhà thờ đá Phát Diệm là một điển hình cho sự giao thoa giữa văn hóa Việt Nam thời phong kiến với văn hóa phương Tây Đây là một quần thể nhà thờ công giáo tại thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, được khởi công xây dựng năm 1875 và hoàn thành vào năm 1898 (40 năm sau khi Pháp khai hỏa cho cuộc xâm lược Việt Nam)

Tuy nhiên, Thiên Chúa giáo đã đến Việt Nam trước cuộc xâm lăng này

từ rất lâu (từ năm 1533), và dần dà tìm cách thâm nhập xã hội Nho giáo - Đạo giáo - Phật giáo Tất cả những nhà thờ trước đó, thoạt tiên, nếu chưa được xây cất đàng hoàng, các cha cố dùng ngay một nhà dân bình thường làm nhà thờ Sau đó, họ xây một nhà thờ hoặc có một tháp chuông chính giữa, hoặc có hai tháp chuông theo lối nửa Roman, nửa Gotic, thấp hơn nhiều so với kiến trúc phương Tây và chủ yếu xây bằng bê tông và gạch Nhà thờ chính là sự nhân lớn kiểu thức này một cách triệt để hơn với một quần thể được quy hoạch hoàn hảo

Một nhà thờ lớn ở trung tâm và năm nhà nguyện nhỏ ở xung quanh, hồ nước trước mặt, các tuyến đường đi và đường dẫn thiết kế cân xứng, khiến cho bản thân bố cục nhà thờ chưa từng có trong kiến trúc Việt Nam và rõ ràng mang tính quy hoạch ảnh hưởng từ phương Tây, mặc dù lấy kết cấu cơ bản từ chữ “Chúa” trong Hán tự Thiết kế nhà thờ được mô phỏng theo nét kiến trúc đình chùa truyền thống với mái cong của người Việt, lại có tượng thánh giá ngự trên đài sen, hệt như Phật hiện ngự trên đài sen… Có thể nói, cấu kiện kiến trúc là phương Đông, quy hoạch mặt bằng là phương Tây đã tạo ra sự phối hợp độc đáo của một biểu hiện văn hóa lúc giao thời

- Thiết kế thời trang áo dài dân tộc: Có thể nói, áo dài dân tộc là một

trong những design thành công nhất, mang tinh thần truyền thống dân tộc và

đã được thế giới nhìn nhận như một biểu tượng văn hóa của người Việt Sự biến thiên của lịch sử đã tạo nên những nét đặc trưng của áo dài ở mỗi thời

Ngày đăng: 23/07/2020, 14:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2002), Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề, Nhà xuất bản dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản dân trí
Năm: 2002
2. Bộ lao động thương binh & XH (2002), Tài liệu đào tạo nghề, NXB Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo nghề
Tác giả: Bộ lao động thương binh & XH
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2002
3. Bộ lao động Thương binh & xã hội – Tổng cục dạy nghề (2014), Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực và cơ hội việc làm , Nhà xuất bản dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực và cơ hội việc làm
Tác giả: Bộ lao động Thương binh & xã hội – Tổng cục dạy nghề
Nhà XB: Nhà xuất bản dân trí
Năm: 2014
4. Bộ lao động Thương binh & xã hội – Tổng cục dạy nghề (2014), Tư vấn hướng dẫn học nghề và việc làm, Nhà xuất bản dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn hướng dẫn học nghề và việc làm
Tác giả: Bộ lao động Thương binh & xã hội – Tổng cục dạy nghề
Nhà XB: Nhà xuất bản dân trí
Năm: 2014
5. Bộ Khoa học và Công nghệ, 2016. Khoa học và công nghệ Việt Nam 2015. Hà Nội: Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ Việt Nam 2015
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
6. Bộ Khoa học và Công nghệ, 2011. Kỷ yếu hội thảo "Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ". Hà Nội: Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996. Nghị quyết TW2 - Khóa VIII. Hà Nội. Đặng Thu Giang và Cao Thu Anh, 2016. Vai trò của nhà nước trong thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ. Tạp chí Tài chính, tháng 4/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết TW2 - Khóa VIII". Hà Nội. Đặng Thu Giang và Cao Thu Anh, 2016. "Vai trò của nhà nước trong thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ. Tạp chí Tài chính
8. Trần Ngọc Ca, Nguyễn Võ Hưng (2012), Hướng tới một hệ thống ĐMQG trong lĩnh vực nông nghiệp-Trường hợp 3 sản phẩm VN:rau quả-chè và tôm, NXB Khoa học & Kỹ thuật HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới một hệ thống ĐMQG trong lĩnh vực nông nghiệp-Trường hợp 3 sản phẩm VN:rau quả-chè và tôm
Tác giả: Trần Ngọc Ca, Nguyễn Võ Hưng
Nhà XB: NXB Khoa học & Kỹ thuật HN
Năm: 2012
9. Vũ Cao Đàm, Đề cương 10 điểm, Tài liệu nghiên cứu khoa học, Trường ĐH KHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương 10 điểm
10. Vũ Cao Đàm (2005), Công nghệ luận, Bài giảng cho học viên Cao học Quản lý KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ luận
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Năm: 2005
11. Vũ Cao Đàm (2011), Một số vấn đề quản lý Khoa học và Công nghệ nước ta, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quản lý Khoa học và Công nghệ nước ta
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2011
12. Vũ Cao Đàm (2007), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2007
14. Nguyễn Văn Học (2013), Tập bài giảng về Quản lý đổi mới, Trường ĐHKHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng về Quản lý đổi mới
Tác giả: Nguyễn Văn Học
Năm: 2013
15. Vũ Tuấn Hùng (2016), Vai trò của đầu tư phát triển khoa học công nghệ đối với tăng trư ng kinh tế. Tạp chí Tài chính, kỳ 1, tháng 6/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đầu tư phát triển khoa học công nghệ đối với tăng trư ng kinh tế
Tác giả: Vũ Tuấn Hùng
Năm: 2016
17. Nguyễn Mạnh Quân (2007), Nghiên cứu nhận dạng hệ thống quốc gia Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp cơ sở năm 2006-Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhận dạng hệ thống quốc gia Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Tác giả: Nguyễn Mạnh Quân
Năm: 2007
20. Đào Thanh Trường (2013), Tài liệu di động xã hội của cộng đồng khoa học, Khoa KHQL, Trường ĐH KHXH&NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu di động xã hội của cộng đồng khoa học
Tác giả: Đào Thanh Trường
Năm: 2013
21. Đào Thanh Trường và cộng sự (2015), Hệ thống KH&CN và Đổi mới VN trong xu thế hội nhập quốc tế, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống KH&CN và Đổi mới VN trong xu thế hội nhập quốc tế
Tác giả: Đào Thanh Trường và cộng sự
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2015
22. Hoàng Văn Tuyên (2006), Nghiên cứu quá trình phát triển chính sách đổi mới-kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho Việt Nam, Đề tài Viện chiến lược và Chính sách KH&CN, Bộ KH&CN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quá trình phát triển chính sách đổi mới-kinh nghiệm quốc tế và gợi suy cho Việt Nam
Tác giả: Hoàng Văn Tuyên
Năm: 2006
23. Sarah Horton (12 July 2005), Access by Design: A Guide to Universal Usability for Web Designers, Publisher: New Riders- English Sách, tạp chí
Tiêu đề: Access by Design: A Guide to Universal Usability for Web Designers
24. David Robertson (2017), The Power of Little Ideas by David Robertson, Publisher: Harvard Business Review Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Power of Little Ideas by David Robertson
Tác giả: David Robertson
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w