Mặt khác, Bộ luật hình sự năm 2015 ra đời đã có sự thay đổi lớn về tộiphạm liên quan đến tai nạn giao thông đường bộ đó là sự thay đổi về tên tộidanh từ tội Vi phạm quy định về điều khiể
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN BÁ CÔNG
TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội – 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ THANH THÙY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Giám đốc Học viện Khoa học xã hội đã quyết định giao cho học viên
Nguyễn Bá Công đề tài luận văn thạc sĩ: “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” Chuyên ngành: Luật hình
sự và Tố tụng hình sự; Mã số: 8380104
Tác giả xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Luật học về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” là hoàn toàn trung thực và không trùng lắp với các
đề tài nghiên cứu khác Các số liệu, nội dung trình bày trong luận văn có tríchdẫn nguồn gốc Luận văn này là đề tài nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sựhướng dẫn khoa học của cô giáo, TS Nguyễn Thị Thanh Thùy
Học viên xin chịu mọi trách nhiệm về tính trung thực của luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Bá Công
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH
VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆTNAM 8
1.1 Khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 8 1.2 Quy định pháp luật hiện hành về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 17 1.3 Khái quát lịch sử Luật hình sự Việt Nam quy định về tội vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ 21 Tiểu kết chương 1 32 Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VIPHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI ĐỊABÀN TỈNH BẮC NINH 33
2.1 Khái quát tình hình xét xử tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại tỉnh Bắc Ninh 33 2.2 Thực tiễn định tội danh tội vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ của Tòa án tại tỉnh Bắc Ninh 36 2.3 Thực tiễn quyết định hình phạt về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của TAND hai cấp tỉnh Bắc Ninh 45 Tiểu kết chương 2 62 Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNHCỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAMGIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI BẮC NINH 63
Trang 53.1 Yêu cầu đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội
vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 63 3.2 Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về xử lý tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ 67 Tiểu kết chương 3 74
KẾT LUẬN 75DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6Viện kiểm sátTrách nhiệm hình sựGiáo sư, Tiến sĩTiến sĩ
Hộ khẩu thường trúBiển kiểm soát
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số vụ án và số bị cáo phạm tội vi phạm các quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ, tội vi phạm quy định về tham giagiao thông đường bộ và tổng số vụ án và bị cáo bị đưa ra xét xử từ năm 2014đến năm 2018
Bảng 2.2 Thống kê các vụ án và bị cáo bị xét xử về tội vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong 05 năm (2014 -2018) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2.3 Thống kê các vụ án và bị cáo bị xét xử về tội vi phạm quy định vềtham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015 trongnăm 2018 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2.4 Số bị cáo bị xét xử về tội vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ và tội vi phạm quy định về tham gia giaothông đường bộ tại các huyện của tỉnh Bắc Ninh từ năm 2014 đến năm 2018
Bảng 2.5 Cơ cấu hình phạt Tòa án áp dụng khi xét xử sơ thẩm tội “viphạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”trên địa bàn tỉnh Bắc Ninhgiai đoạn 2014 - 2018
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bắc Ninh là một trong những tỉnh có diện tích nhỏ nhất đất nước, tuynhiên nằm trong khu vực trọng điểm kinh tế phía Bắc của đất nước nên có hệthống đường giao thông thuận lợi, có nhiều tuyến đường huyết mạch trọngđiểm như Quốc lộ 1A, 1B nối Lạng Sơn, Bắc Giang với các tỉnh thành trongnước hay Quốc lộ 18 nối liền giữa sân bay quốc tế Nội Bài với hệ thống cảngbiển Quảng Ninh, Hải Phòng và các tuyến đường khác nối liền các tỉnh, thànhphố giáp ranh giữa Hải Dương, Hưng Yên và thành phố Hà Nội Ngoài ra,Bắc Ninh còn có nhiều khu công nghiệp lớn, tập trung các doanh nghiệp lớnnhư Sam Sung, Canon, Hồng Hải,… Và là nơi có nhiều làng nghề truyềnthống phát triển đa dạng, với số lượng người và xe cơ giới tham gia giaothông rất lớn, mật độ đông đúc, dẫn đến số lượng các vụ tai nạn giao thôngđường bộ xảy ra với nhiều vụ việc nghiêm trọng xâm hại đến tính mạng, sứckhỏe và tài sản của những người tham gia giao thông và gia tăng trong nhữngnăm gần đây
Mặt khác, Bộ luật hình sự năm 2015 ra đời đã có sự thay đổi lớn về tộiphạm liên quan đến tai nạn giao thông đường bộ đó là sự thay đổi về tên tộidanh từ tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộthành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, trong đó cácdấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm này có sự thay đổi để phù hợp hơnvới tình hình thực tế Bên cạnh đó, các đề tài nghiên cứu chủ yếu về tội Viphạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, chưa có nhiềucông trình nghiên cứu về tội phạm Vi phạm quy định về tham gia giao thôngđường bộ
Do đó để làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội Vi phạm quy định về tham
Trang 9pháp để góp phần phòng, chống tội vi phạm quy định về tham gia giao thôngđường bộ, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, góp phần làm giảm các vụviệc vi phạm giao thông có dấu hiệu hình sự Đây là lý do tác giả lựa chọng
đề tài “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễntỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu về tội viphạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ đã thu hút được sự quantâm của nhiều nhà nghiên cứu và cán bộ làm thực tiễn Đến nay đã có nhiềucông trình nghiên cứu được thể hiện trên ba bình diện - luận án, luận văn,sách chuyên khảo, bình luận, cũng như giáo trình dành cho hệ đại học và một
số bài viết bình luận như:
* Nhóm thứ nhất (các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ) bao gồm:
- Bùi Kiến Quốc (2001), “Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Thủ đô Hà
- Nguyễn Văn Tuyên (2018), “Kiểm sát điều tra tội vi phạm quy định
về tham gia giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn”, Luận văn thạc
sĩ;
- Nguyễn Hồng Phong (2019) “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ;
- Nguyễn Quang Tuấn (2016), “Kiểm sát điều tra vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ từ thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn thạc sỹ luật học;
Trang 10- Nguyễn Đắc Dũng (2011), “Tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Ninh)”, Luận văn thạc sĩ;
* Nhóm thứ hai (các sách chuyên khảo, tham khảo) bao gồm:
- GS.TS Võ Khánh Vinh (2013), Chương X: Các tội xâm phạm antoàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình Luật Hình sự
Việt Nam – Phần các tội phạm, do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
- TS Phạm Minh Tuyên (2014), Các tội phạm xâm phạm trật tự, antoàn giao thông đường bộ (Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử ở
- TS Cao Thị Oanh (2010), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
- GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân
- GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Hình
sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nxb Tư pháp
- Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm, tập VII, Nxb thành phố Hồ Chí Minh
Một số bài viết được đăng trên các tạp chí, trang tin điện tử về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như:
- Tạp chí Khoa học 2011 bàn về tội vi phạm giao thông đường bộ theo
Bộ luật hình sự năm 2015 Lê Văn Luật (2011), Xác định lỗi khi định tội danh
và quyết định hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển tham giagiao thông đường bộ đường bộ một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tòa ánnhân dân, tr 10-14
Trang 11- Nguyễn Duy Nam (2017), Bàn về tội vi phạm quy định tham gia giao
thông đường bộ tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, website:
http://moj.gov.vn
Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu trên đều dựa trên cơ sở Bộluật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; hiện nay Bộ luật hình sựnăm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã ban hành và có hiệu lực, về cấuthành cơ bản của tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ cũngtrên cơ sở đó có nhiều thay đổi, do vậy về lý luận và thực tiễn có nhiều thayđổi, do đó việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của Bộ luậthình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội vi phạm quy định về thamgia giao thông đường bộ, cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả ápdụng đối với các quy định về loại tội phạm này vẫn còn có ý nghĩa lý luận vàthực tiễn, đặc biệt trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn nghiên cứu một cách tương đối về những vấn đề pháp lý cơbản về tội vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ như: Kháiniệm, các dấu hiệu pháp lý, trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đồngthời đi sâu vào phân tích thực tiễn xét xử loại tội phạm này trên địa bàn tỉnhBắc Ninh từ năm 2014 đến năm 2018
3.2 Nhiệm vụ
Quá trình nghiên cứu tội Vi phạm quy định về tham gia giao thôngđường bộ nhằm làm rõ các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm này và thựctiễn xét xử người phạm tội trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Từ đó tìm ra nhữngmột số vướng mắc, tồn tại trong công tác xét xử loại tội phạm này, đồng thờiđưa ra một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
Trang 12của Bộ luật hình sự trong việc xử lý loại tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu về dấu hiệu pháp lý tội phạm Vi phạm quyđịnh về tham gia giao thông đường bộ và thực tiễn xét xử tại tỉnh Bắc Ninh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thôngđường bộ từ thực tiễn xét xử tại tỉnh Bắc Ninh từ ngày 01/01/2014 đến ngày31/12/2018
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, chủ trương củaĐảng và Nhà nước về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương phápnghiên cứu như: Phân tích quy phạm pháp luật; tổng hợp và thống kê xã hộihọc; khảo sát thực tiễn; phân tích, so sánh và nghiên cứu Cụ thể:
Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật được tác giả sử dụng tạichương 1 và chương 2 để làm rõ về các dấu hiệu pháp lý thực tiễn việc địnhtội danh, áp dụng hình phạt tại tỉnh Bắc Ninh đối với tội vi phạm quy định vềtham gia giao thông đường bộ
Phương pháp tổng hợp, phân tích và thống kê xã hội, khảo sát thực tiễnđược tác giả sử dụng tại chương 2, nhằm làm rõ thực trạng và nguyên nhâncông tác áp dụng pháp luật trong việc xét xử tội vi phạm quy định về tham giagiao thông đường bộ từ thực tiễn xét xử tại tỉnh Bắc Ninh
Trang 13Phương pháp phân tích, so sánh và nghiên cứu được tác giả sử dụngtrong toàn bộ 03 chương của luận văn nhằm làm rõ các đặc điểm, sự khácnhau qua các thời kỳ của loại tội phạm từ đó đánh giá những hạn chế, thiếusót khi điều tra, truy tố và xét xử loại tội phạm này tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp một phần hoàn thiện về mặt lýluận đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong khoahọc luật hình sự Việt Nam Cụ thể đã làm rõ các vấn đề chung về tội này trongluật hình sự Việt Nam, phân tích khái quát sự hình thành và phát triển của luậthình sự của nước ta về loại tội phạm này từ năm 1945 đến nay; làm sáng tỏcác quy định của Bộ luật hính sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; phântích thông qua thực tiễn khởi tố, điều tra, xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từnăm 2014 đến năm 2018, qua đó chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập của quyđịnh hiện hành, từ đó đưa ra nguyên nhân và tìm giải pháp khắc phục, nângcao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội vi phạm quyđịnh về tham gia giao thông đường bộ ở khía cạnh lập pháp và thực tiễn ápdụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 147 Kết cấu của luận văn
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Luật hình sự Việt Nam
- Chương 2: Thực tiễn áp dụng hình phạt về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Chương 3: Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng pháp luật hình sự vềtội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Trang 15Chương 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA
GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ
1.1.1 Khái niệm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Khái niệm tội phạm được Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sungnăm 2017 (gọi tắt là BLHS 2015) quy định:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [3, Điều 8],
Theo quy định của BLHS năm 2015, thì khái niệm của các loại tộiphạm cụ thể được quy định trong các điều luật phần các tội phạm cụ thể, bằng
mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm đó là tính nguy hiểmcho xã hội và tính có lỗi Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015 được hiểu là: Việc một người cóhành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ (người này có thểđiều khiển hoặc sử dụng phương tiện giao thông đường bộ hoặc người nàydẫn dắt súc vật hoặc người này thực hiện hành vi đi bộ tham gia giao thôngđường bộ) gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng chosức khoẻ, tài sản của người khác, và được thực hiện với lỗi vô ý
Dưới góc độ Luật hình sự, nhiều tác giả đã đưa ra các khái niệm về tội
vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như:
Trang 16Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác” [38, tr.13] Quan điểm này mới chỉ nêu
định nghĩa hành vi chứ chưa làm rõ khái niệm tội vi phạm quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ, hơn nữa, hành vi phạm tội khác tộiphạm, vì khái niệm tội phạm đòi hỏi phải đầy đủ như khái niệm trong Điều 8
Bộ luật hình sự năm 2015 hiện hành
Còn tác giả Trần Minh Hưởng lại cho rằng “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi xâm phạm những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ”[39, tr.434] Chúng tôi
cho rằng, quan điểm này khá chung chung, chưa đầy đủ và chưa nêu cụ thểhành vi phạm tội và dấu hiệu chủ thể của tội phạm này
Tác giả Ngô Ngọc Thủy đưa ra quan điểm cụ thể hóa về hành vi phạmtội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như:
“Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ( đây
là cách giải thích theo quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999), tức là hành vi của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nhưng mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ sau đó gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây thiệt hại cho tính mạng người khác”.
Theo tác giả Nguyễn Hồng Phong đưa ra khái niệm về tội vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ “là hành vi của người tham gia giao thông đường bộ có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, do lỗi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây thiệt hại cho tính mạng người khác” [24, tr10,11].
Trang 17Về các khái niệm nêu trên, tác giả đồng ý với khái niệm mà tác giảNguyễn Hồng Phong đã đưa ra vì khái niệm này đã nêu cơ bản đầy đủ cácdấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Do đó, tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đượchiểu là hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu tráchnhiệm hình sự, người này tham gia giao thông đường bộ nhưng không thựchiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các quy định, quy tắc đảm bảo
an toàn giao thông đường bộ như vi phạm Luật giao thông đường bộ, các bộquy tắc khi tham gia giao thông
1.1.2 Đặc điểm của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Những đặc điểm, dấu hiệu của các tội vi phạm an toàn giao thôngđường bộ là cơ sở xem xét, xác định hành vi phạm tội của chủ thế Các dấuhiệu này bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội; được BLHS quy định; dochủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện; tính có lỗi; xâm hại đến
trật tự an toàn giao thông đường bộ; tính phải chịu hình phạt tương ứng.
i) Đặc điểm thứ nhất là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội Hành vi của
tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trước hết phải là hành
vi nguy hiểm cho xã hội, tức là phải thể hiện bằng hành vi xác định của conngười Hành vi đó xâm hại đến các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ Hành
vi nguy hiểm cho xã hội của tội vi phạm quy định về tham gia giao thôngđường bộ là hành vi vi phạm các quy tắc an toàn, luật giao thông đường bộ vàhành vi này gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, của
tổ chức, Nhà nước và được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hànhđộng
ii) Đặc điểm thứ hai là hành vi vi phạm phải được BLHS quy định
Trang 18Theo quy định của Điều 2 BLHS năm 2015 quy định về cơ sở của trách
nhiệm hình sự: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" [3, Điều 2]
Nếu hành vi của chủ thề không cấu thành các tội được quy định trongBLHS thì không bị coi là tội phạm và không phải chịu hình phạt trong BLHS,trong trường hợp này là tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015
iii) Đặc điểm thứ ba là do chủ thế có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ độ tuổi theo quy định của BLHS thực hiện:
Người có năng lực trách nhiệm hình sự phải đạt độ tuổi theo quy định của BLHS và có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình;
- Về độ tuổi: Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170,
171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299,
303 và 304 của Bộ luật này” [3, Điều 12]
- Về khả năng nhận thức và điểu khiển hành vi của chủ thể: BLHS năm
2015 dùng phưong pháp loại trừ khi quy định các trường hợp không có năng
lực trách nhiệm hình sự: Điều 21 BLHS năm 2015 quy định “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” [3, Điều 21]
iv) Đặc điểm thứ tư là hành vi phạm tội phải có lỗi của chủ thể
Trang 19Lỗi của chủ thể thực hiện tội phạm xâm hại đến trật tự, an toàn giaothông đường bộ thể hiện: Lỗi cố ý và lỗi vô ý Các lỗi được thế hiện bằng
hành vi của chủ thế như sau:
Cố ý phạm tội là thực hiện hành vi phạm tội trong những trường hợpsau:
1 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
2 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra [3, Điều 10]
Vô ý phạm tội là thực hiện hành vi phạm tội trong những trường hợpsau:
1 Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;
2 Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó [3, Điều 11]
Đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, dấuhiệu lỗi là lỗi vô ý
v) Đặc điếm thứ năm là xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ
Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là những hành
vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, xâm hại đến trật tự antoàn giao thông đường bộ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sảncủa công dân, tổ chức hoặc Nhà nước
vi) Đặc điểm thứ sáu là tính phải chịu hình phạt của tội phạm:
Trang 20Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước ápdụng đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước
bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó
Mục dích của hình phạt được thể hiện: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” [3, Điều 31]
Trên cơ sở xác định tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân củachủ thế và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì hình phạt
do Tòa án quyết định đối với chủ thế thực hiện hành vi phạm tội
1.1.3 Các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ
Nói đến dấu hiệu pháp lý của một tội phạm tức là ta nói về các dấu hiệu,đặc điểm của loại tội phạm đó bao gồm có khách thể của tội phạm (là đốitượng bị xâm hại), chủ thể của tội phạm (là người thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội), mặt chủ quan của tội phạm (bao gồm các dấu hiệu như lỗi,động cơ, mục đích,…), mặt khách quan của tội phạm (bao gồm có hành vinguy hiểm cho xã hội của tội phạm, hậu quả của tội phạm, mối quan hệ nhânquả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả, công cụ phương tiện,phương pháp, thủ đoạn, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội)
- Thứ nhất về khách thể của tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ: Là quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ,
đó là những quy định nhằm đảm bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe của côngdân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của các tổ chức và tài sản của công dân trong hoạt động tham gia giao thông đường bộ Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là hành vi của chủ thể tham gia giao thông
Trang 21đường bộ, hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại cho tính mạng,sức khoẻ, tài sản của người khác Chỉ những hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ (ví dụ như gây tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của 01 người từ 61% trở lên,…), tài sản (gây thiệt hại từ 100.000.000đồng trở lên) của người khác hoặc hành vi tham gia giao thông đường bộ có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngănchặn kịp thời mới bị coi là phạm tội hình sự Đối với những hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ khác mà tính chất nguy hiểm không đáng kể hoặc gây thiệt hại cho người khác nhỏ (ví dụ gây tổn thương
cơ thể do thương tích gây nên dưới 61%,…) thì bị xử phạt vi phạm hành chính
- Thứ hai về mặt khách quan của tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ: Mặt khách quan của tội phạm bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giũa hành
vi và công cụ phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, hoàn cảnh, không gian, thời gian, địa điểm phạm tội
+ Hành vi khách quan: Người phạm tội có hành vi vi phạm các quy định
về tham gia giao thông đường bộ, cụ thể: Đi quá tốc độ, chở quá trọng tải quyđịnh, tránh, vượt trái phép; đi không đúng tuyến đường, phần đường; vi phạmcác quy định khác về an toàn giao thông đường bộ như chuyên chở người, hàng không đúng số lượng, trọng tải quy định;
+ Hậu quả: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ là tội phạm có cấu thành vật chất Do đó, hậu quả là dấu hiệu bắt buộc đối với tội này Nếu hành vi vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ chưagây ra hậu quả nghiêm trọng như: Làm chết người hoặc gây gây thương tích
Trang 22cho 01 người từ 61% trở lên, hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên,… thì không cấu thành tội phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 260 Bộ luật Hình sự Trên thực tế, hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông dẫn đến chết người, thiệthại về tài sản rất nhiều.
+ Mối quan hệ nhân quả: Hành vi vi phạm các quy định về tham gia giaothông đường bộ là nguyên nhân dẫn đến hậu quả (tai nạn giao thông) gây thiệthại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác Trường hợp thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác không phải do hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây ra thì không cấu thành tội này.+ Các dấu hiệu khách quan khác: Loại phương tiện giao thông đường bộ;địa điểm,… Do đó, việc xác định các dấu hiệu khách quan này là rất quan trọng, để phân biệt giữa tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ với các tội khác Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Giao thông đường
bộ thì “Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ” Phương tiện tham gia giao thông đường bộ bao gồm phương tiện giao
thông đường bộ và xe máy chuyên dùng [16.Điều 3] Trong đó phương tiện
giao thông đường bộ được quy định tại gồm “phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ” [16.Điều 3] Phương tiện
giao thông cơ giới đường bộ (gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh;
xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (sau đây gọi là xe thô sơ) gồm xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự Xe máy chuyên dùng quy định tại khoản 20 Điều 3 Luật giao thông đường bộ gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp,
Trang 23lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh có tham gia giao thông đường bộ
- Thứ ba về chủ thể của tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ: Theo quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 thì chủ thể của
tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự Trong các quy định củaBLHS năm 2015 không có quy định cụ thể nào về khái niệm năng lực trách
nhiệm hình sự, tuy nhiên qua các điều cụ thể của BLHS có thể hiểu “Năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy, đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự”.
Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì: “1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm
mà Bộ luật này có quy định khác.
2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170,
171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299,
303 và
304 của Bộ luật này.” [3, Điều 12]
Như vậy, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này Người từ đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể của tội
vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Điểm đặc biệt đối với chủ thể của tội vi phạm quy định về tham gia giaothông đường bộ là người phạm tội có hành vi phạm tội khi đang tham gia giaothông đường bộ bao gồm người điều khiển, người sử dụng phương tiện tham
Trang 24gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trênđường bộ.
- Thứ tư về mặt chủ quan của tội phạm vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ: Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội
phạm bao gồm lỗi, động cơ và mục đích phạm tội
+ Đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thì lỗicủa người phạm tội là lỗi vô ý Theo quy định tại Điều 11 BLHS thì vô ý
phạm tội được hiểu như sau: “Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây: 1 Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; 2 Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước
và có thể thấy trước hậu quả đó.” [3, Điều 11]
+ Động cơ là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạmtội Mục đích phạm tội là cái mốc mà người phạm tội đặt ra mong muốn đạtđược khi thực hiện tội phạm Giữa mục đích phạm tội và hậu quả của tộiphạm luôn có mối liên quan chặt chẽ với nhau, hậu quả của tội phạm là sự thểhiện, sự phản ánh mục đích phạm tội Tội vi phạm quy định về tham gia giaothông đường bộ dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệubắt buộc xuất phát từ yếu tố lỗi của loại tội phạm này
1.2 Quy định pháp luật hiện hành về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Kể từ ngày 01/01/2018, BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cóhiệu lực thi hành, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđược sửa đổi thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Trang 25quy định tại Điều 260 của BLHS Theo quy định tại Điều 260 BLHS năm2015:
“1 Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về
an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người
bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
Trang 26g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4 Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a,
b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ
10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” [3, Điều 260]
Theo như các quy định nêu trên của Điều 260 BLHS năm 2015 thì Tội
vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được xây dựng với kếtcấu gồm 05 khung hình phạt Trong đó khung hình phạt cơ bản thuộc khoản 1
có 04 điểm (tình tiết), khoản 2 có 07 điểm, là khung hình phạt tăng nặng vàkhoản 3 có 04 điểm là khung hình phạt nặng nhất, khung hình phạt dành chotrường hợp phạm tội chưa đạt thuộc khoản 4 và khung hình phạt quy định về
áp dụng biện pháp tư pháp ở khoản 5 Như vậy, theo quy định tại các khoảncủa Điều 260 BLHS năm 2015 thì tội vi phạm quy định về tham gia giaothông đường bộ vừa có cấu thành vật chất (từ khoản 1 đến khoản 3), vừa cócấu thành hình thức (khoản 4), cụ thể như sau:
Trang 27- Khoản 1: Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạtcải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đốivới các trường hợp:
+ Làm chết người;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệtổn thương cơ thể 61% trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000đồng
- Khoản 2: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm đối với các trường hợp:
+ Không có giấy phép lái xe theo quy định;
+ Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở cónồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kíchthích mạnh khác;
+ Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bịnạn;
+ Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫngiao thông;
+ Làm chết 02 người;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000đồng
- Khoản 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với các trường hợp:
+ Làm chết 03 người trở lên;
Trang 28+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên
mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên
- Khoản 4: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cảitạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm trongtrường hợp người vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có khảnăng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản
3 Điều 260 nếu không được ngăn chặn kịp thời Tùy vào hành vi, hậu quả củatội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xác định mức hình phạt mà tộiphạm phải chịu
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 5 Điều 260 BLHS, ngoài hình phạtchính ra người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bao gồm:Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01năm đến 05 năm
Tuy nhiên, theo quy định tại điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 đượcsửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu tráchnhiệm hình sự về mọi tội phạm trong đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này
1.3 Khái quát lịch sử Luật hình sự Việt Nam quy định về tội vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ
1.3.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự năm 1985
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời sau khi cách mạng tháng
8 năm 1945 thành công Để bảo vệ thành quả cách mạnh, ngay sau khi giànhđược chính quyền về tay nhân dân, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn
Trang 29Tuy nhiên, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ chưa được quyđịnh trong các vãn bản pháp luật hình sự trong thời kỳ này.
Ngày 03/10/1955, Bộ Giao thông Bưu điện ban hành Nghị định số348/NĐ ban hành Luật đi đường bộ Đây là văn bàn pháp lý đầu tiên của Nhànước ta quy định về an toàn giao thông đường bộ
Luật đi đường bộ 1955 quy định:
Điều 1: Mục đích- Bản luật đi đường bộ này áp dụng cho người, súc
vật, xe cộ đi trên các đuờng công cộng và nhằm: a) Đảm bảo an toàn cho nhândân đi lại và vận chuyên trên các đường giao thông và trong các đường phố;b) Đảm bảo an toàn cho nhân dân ở ven đường giao thông cũng như ở trongnhững thành phố hay thị trấn; c) Giữ gìn trật tự giao thông làm cho sự đi lại
và vận chuyển được dễ dàng thuận tiện, d) Bảo vệ đường sá, cầu, cống, phà,biển báo hiệu và các công trình giao thông khác xây dựng trên đuờng [6,Điều 1]
Tại Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ đãban hành một số quy định về trừng trị một số tội phạm, trong đó có quy địnhtội hình sự liên quan đến giao thông đường bộ tại điểm 4 của thông tư:
“Không cẩn thận hay không theo luật đi đường mà làm người khác bị thương
sẽ bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm Nếu gây tai nạn làm chết người thì có thế bị phạt tù đến mười năm” [4 Điểm 4] Tuy nhiên, qua quá trinh thực hiện,
nhiều vấn đề của Thông tư 442 không còn phù hợp, như mức hình phạt tù tối
đa khi gây tai nạn chết người chỉ là “mười năm” và không quy định trườnghợp gây tai nạn làm chết nhiều người, không quy định về thiệt hại vật chất dohành vi phạm tội gây ra
Vì vậy, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Thông tư 556/TTg, ngày29/6/1956 về việc bổ khuyết Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 Theo đó,
sửa đổi Điều 4 cho phù hợp với thực tế đời sống: Không cẩn thận hay không
Trang 30theo luật đi đường mà gây tai nạn làm người khác bị thương thì sẽ bị phạt tù
từ 3 tháng đến 3 năm Nếu gây tai nạn làm chết người thì có thể bị phạt tù đến 10 năm Trường hợp gây ra tai nạn lớn làm chết nhiều người và thiệt hại lớn đến tài sản của nhân dân thì có thế bị phạt đến tù chung thân hoặc từ hình [9, Điều 4]
Sau đó, các văn bản pháp lý khác về an toàn giao thông đã ra đời nhằm
Điều chỉnh các hoạt động giao thông vận tải như: Nghị định số 139/NĐ ngày 19/12/1956; Nghị định số 44/NĐ ngày 27/5/1958 của Bộ Giao thông Bưu điện; Nghị định Liên bộ Giao thông Bưu điện - Công an số 09/NĐLB ngày 07/3/1956 ban hành thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ; Nghi định số 10 ngày 11/01/1968 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về kỷ luật an toàn giao
thông vận tải trong thời chiến Các văn bản được ban hành nói trên đã tạo cơ
sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình sựquy định các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ
Việc xử lý hành vi phạm tội vi phạm các quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ được thực hiện theo quy định tại Bản sơ kếtkinh nghiệm về đường lối xử lý tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn(Công văn số 949 -NCPL ngày 25/11/1968 của Toà án nhân dân tối cao)
Đến năm 1976, Chính phủ ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày15/3/1976 quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi xâm phạm trật tựcông cộng, an toàn công cộng và sức khoẻ của nhân dân
1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ ba - Bộ luật hình sự năm 2015
Năm 1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam ra đời và có hiệu lực thi hành kề từ ngày 01/01/1986 Tại Điều 186
BLHS năm 1985, tội phạm được quy định với tên tội danh là: “Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng” Đến
Trang 31năm 1991, thì Điều luật này được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của BLHS năm 1985 Tên tội danh được sửa thành “Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải”, riêng nội dung của tội phạm vẫn
được giữ nguyên
Ngày 22/12/1999, tại kỳ họp thứ 6 khóa X Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLHS (sửa đổi, bổ sung) có hiệu lực từngày 01/7/2000, mà theo đó, tên tội danh và nội dung tội phạm trước đâyđược quy định tại Điều 186 BLHS năm 1985 đã có sự thay đổi cơ bản vàđược quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999
Tại Điều 202 BLHS năm 1999 có quy định:
“1 Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
ba năm đến mười năm:
a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;
b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác; c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
3 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
Trang 324 Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.” [2, Điều 202]
Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này
- Khách thể của tội phạm là sự an toàn của hoạt động giao thông
đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác
- Mặt khách quan của tội phạm vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ bao gồm các yếu tố: Hành vi khách quan;hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vàhậu quả
Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ Bao gồm các hành vi như khôngchấp hành báo hiệu đường bộ; tốc độ và khoảng cách giữa các phương tiệntham gia giao thông; sử dụng làn đường; vượt xe, chuyển hướng xe; lùi xe;tránh xe đi ngược chiều; dừng, đỗ xe trên đường (trong và ngoài đô thị); điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ qua cầu, phà, trong hầm đường bộ vàtại các nơi đường giao cắt; tải trọng và khổ giới hạn của đường bộ; xe kéo xe
và xe kéo rơ moóc;
Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy; người điềukhiển và người ngồi trên xe đạp, người điều khiển xe thô sơ khác; người đibộ; người điều khiển, dẫn dắt sức vật đi trên đường bộ;
Tổ chức các hoat động khác trên đường bộ như tổ chức hoạt động văn hoá, thể thao, diễu hành, lễ hội
Trang 33Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đối với tội phạmnày phải là người trực tiếp điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường
bộ và xe máy chuyên dùng Để truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiệnhành vi vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ theo quy định tại Điều 202 BLHS cần xác định những quy định cụ thể nào
về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong Luật giao thông đường
bộ bị vi phạm
Hậu quả của hành vi phạm tội: Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc, trongtrường hợp này hậu quả là thiệt hại về tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêmtrọng cho sức khỏe, tài sản của người khác Theo hướng dẫn tại Điều 2 Thông
tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày28/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhândân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao (gọi tắt Thông tư liên tịch09/2013/TTLT) hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX củaBLHS về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông, thì:
+ Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sứckhỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tạikhoản 1 Điều 202 BLHS là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;
Trang 34đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;
e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng” [2, Điều 202]
+ Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại rất nghiêm trọng chosức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 202 BLHS là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
“a) Làm chết hai người;
b) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;
c) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;
d) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này là từ trên 100% đến 200%;
đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của một hoặc hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e khoản 1 Điều này;
e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng” [2, Điều 202]
+ Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọngcho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọngquy định tại khoản 3 Điều 202 BLHS là thuộc một trong các trường hợp sauđây:
“a) Làm chết từ ba người trở lên;
Trang 35b) Làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;
c) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e khoản 2 Điều này;
d) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ năm người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;
đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ thương tật của những người này trên 200%;
e) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba hoặc bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng;
g) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên” [2, Điều 202]
Gữa hành vi vi phạm của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và hậu quả xảy ra phải có mối quan hệ nhân quả, nghĩa là, hành vi
vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ phải xảy ratrước và là nguyên nhân chính dẫn đến hậu quả là thiệt hại về tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác
Tội phạm hoàn thành từ thời điểm xảy ra thiệt hại về tính mạng, thiệt hại nghiêm cho về sức khoẻ, tài sản của người khác
- Về mặt chủ quan của tội phạm, tội vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ được thực hiện do lỗi vô ý do tự tin hoặc docẩu thả
- Chủ thể của tội phạm Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 1999,
thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm;người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình
Trang 36sự về về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêmtrọng.
Chủ thể của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự
Người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự là người có đủ khả năngnhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mìnhthực hiện, có khả năng điều khiển hành vi theo hướng có lợi hay không có lợicho xã hội, hoặc có khả năng xử sự khác không gây nguy hiểm cho xã hội Đểkết luận một nguời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự phải căn cứ quy địnhtại Điều 13 BLHS năm 1999, theo quy định tại Điều luật này, những người
không đủ năng lực trách nhiệm hình sự là: "Người thực hiện hành vi nguy hiểm trong xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình" [2, Điều
13] Như vậy, người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là người có khả năngnhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm
và có khả năng điều khiển hành vi của mình
Như vậy, so với Điều 186 BLHS năm 1985, thì Điều 202 BLHS năm
1999 có một số ưu điểm sau:
Một là, với sự thay đổi tên tội danh, thì đối tượng tác động của tội phạm
chỉ là người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
Hai là, thiệt hại được quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS năm 1999
có sự thay đổi về cách thức và dấu hiệu cấu thành, cụ thể: “thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác” thay cho quy định “thiệt hại cho tính mạng, cho sức khoẻ của người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” tại khoản 1 Điều 186 BLHS năm
1985
Trang 37Ba là, tại khoản 2 Điều 202 BLHS bổ sung thêm hai tình tiết tăng nặng định khung hình phạt là: “không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông” và “gây hậu quả rất nghiêm trọng.”
Bốn là, về hình phạt chính cao nhất có thể áp dụng đối với người phạm
tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được
quy định tại khoản 3 Điều 202 BLHS năm 1999 “phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm” thay cho quy định tại khoản 3 Điều 186 BLHS năm 1985
“phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm” Hình phạt chính quy định tại khoản 4
Điều 202 BLHS có mức hình phạt nhẹ hơn khoản 4 Điều 186 BLHS năm
1985, cụ thể khoản 4 Điều 202 BLHS năm 1999 là “phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”, khoản 4 Điều 186 BLHS năm 1985 là “cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ
ba tháng đến ba năm”
Năm là, hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 202 BLHS
năm 1999 độc lập với các khung hình phạt chính
Như vậy, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999 là tội nhẹ hơn tội vi phạmcác quy định về an toàn giao thông vận tải quy định tại Điều 186 BLHS năm
1985 Bởi vì, mức hình phạt tại khoản 3 Điều 202 BLHS thấp hơn khoản 3Điều 186 BLHS năm 1985
Tuy nhiên, về tên tội danh Điều 202 BLHS năm 1999 quy định “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” không khái
quát được hết các chủ thể khi tham gia giao thông đường bộ, mà trên thực tếcác chủ thể này khi tham gia giao thông đường bộ khi không tuân thủ các quyđịnh của Luật giao thông đường bộ, quy tắc an toàn khi tham gia giao thôngđường bộ cũng có thể dẫn đến những tình huống nguy hiểm gây thiệt hại về
Trang 38tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác như người điều khiển phươngtiện là xe máy chuyên dụng, như: Ô tô chữa cháy; ô tô quét đường; ô tô hútchất thải; ô tô trộn vữa; ô tô trộn bê tông; ô tô bơm bê tông; ô tô cần cẩu; ô tôthang; ô tô khoan; ô tô cứu hộ giao thông; ô tô chuyên dùng loại khác như ô tôtruyền hình lưu động, ô tô đo sóng truyền hình lưu động, ô tô kiểm tra và bảodưỡng cầu, ô tô kiểm tra cáp điện ngầm, ô tô chụp X-quang, ô tô phẫu thuậtlưu động gây ra hậu quả nghiêm trọng hay là người đi bộ.
Do đó việc sửa đổi, bổ sung Điều 202 BLHS năm 1999 thành tội viphạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260BLHS năm 2015 là phù hợp với thực tiễn việc tham gia giao thông tại ViệtNam hiện nay
Trang 39Tiểu kết chương 1
Chương một, tác giả đã tập trung phân tích làm rõ những vấn đề lý luận
và các dấu hiệu pháp lý của Tội vi phạm quy định về tham gia giao thôngđường bộ quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015 và quá trình lịch sử hìnhthành tội danh, làm tiền đề cho việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luậthình sự thông qua định tội danh và quyết định hình phạt ở chương tiếp theo
Vì vậy những vấn đề đã phân tích về mặt lý luận tại chương một sẽ là cơ sởcho nền tảng pháp lý được tác giả đưa vào chương hai nhằm phân tích rõ việcđịnh tội danh và quyết định hình phạt của TAND hai cấp tỉnh bắc Ninh và đưa
ra những kiến nghị, đề xuất giúp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật hình
sự Việt Nam và nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc về tội vi phạm quyđịnh về tham gia giao thông đường bộ tại chương ba
Trang 40Chương 2THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM QUYĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI ĐỊA BÀN TỈNH
ra còn có những tuyến đường huyết mạch nối với các cửa khẩu như ĐồngĐăng - Lạng Sơn
Cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội, tỉnh Bắc Ninh cũng đối diệnvới sự gia tăng về tình hình tội phạm, trong đó có tội vi phạm quy định vềtham gia giao thông đường bộ Những năm qua, Đảng bộ và chính quyền tỉnh