Bài viết trình bày xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan với rối loạn tăng động giảm chú ý ở học sinh tiểu học dựa trên thang đo Vanderbilt ADHD dành cho giáo viên và bố mẹ.
Trang 1NHẬN BIẾT SỚM TRẺ CÓ NGUY CƠ VỚI RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý DỰA TRÊN THANG ĐO VANDERBILT ADHD
DÀNH CHO GIÁO VIÊN VÀ BỐ MẸ
Lê Đình Dương 1 , Võ Văn Thắng 1 , Nguyễn Thị Mai 2 , Võ Thị Hân 1 , Nguyễn Hữu Châu Đức 1 , Hoàng Hữu Hải 1 , Đặng Ngọc Thanh Thảo 3
(1)Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế (2)Trung tâm Y tế Quận Liên Chiểu, Đà Nẵng (3)Trung tâm Y tế học đường tỉnh Thừa Thiên Huế
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan với rối loạn tăng động giảm chú ý ở học sinh tiểu
học dựa trên thang đo Vanderbilt ADHD dành cho giáo viên và bố mẹ Phương pháp: Thiết kế mô tả cắt
ngang trên 564 học sinh tiểu học được chọn ngẫu nhiên từ 4 trường tiểu học tại thành phố Huế Thang đo Vanderbilt ADHD dành cho giáo viên và bố mẹ được sử dụng để nhận biết trẻ có nguy cơ với RLTĐGCY Kết quả: Tỷ lệ có nguy cơ với RLTĐGCY là 4,1% (2,44% - 5,72%) trong đó 4,6% và 4,8% lần lượt dựa trên đánh giá
của giáo viên và bố mẹ RLTĐGCY thường gặp hơn ở học sinh nam (OR adj: 4,64; KTC 95%: 1,53 - 14,05) và nhóm không có bạn thân (OR adj: 5,11; KTC 95%: 2,13 – 12,24) Kết luận: Thang đo Vanderbilt ADHD dành
cho giáo viên và bố mẹ là công cụ có thể xem xét sử dụng để phát hiện sớm trẻ có có nguy cơ với RLTĐGCY
Từ khóa: Rối loạn tăng động giảm chú ý, Vanderbilt ADHD, giáo viên, bố mẹ, học sinh tiểu học.
Abstract
EARLY RECOGNIZATION OF THE CHILDREN WITH ATTENTION DEFICIT HYPERACTIVITY DISORDER BY VANDERBILT ADHD RATING
SCALE FOR TEACHERS AND PARENTS
Le Dinh Duong 1 , Vo Van Thang 1 , Nguyen Thi Mai 2 , Vo Thi Han 1 , Nguyen Huu Chau Duc 1 , Hoang Huu Hai 1 , Dang Ngoc Thanh Thao 3
(1) Hue University of Medicine and Pharmacy, Hue University
(2) Danang, Lien Chieu Medical Central (3) Trung tâm Y tế học đường tỉnh Thừa Thiên Huế
Objectives: The study aims to explore the prevalence of attention deficit hyperactivity disorder and to
examine the associated factors with ADHD among primary students by Vanderbilt ADHD rating scale for teacher and parents. Methods: A cross-sectional study design was conducted in 564 students who selected
randomly in 4 primary schools in Hue city Vanderbilt ADHD rating scale for parents and teachers were applied
to evaluate the ADHD of children over 6 months ago Results: The overall prevalence of children who had
high risk with ADHD was 4.1% (95%CI: 2.44 - 5.72), including 4.6% and 4.8% in the rating of teachers and parents, respectively Male was more likely to have ADHD than female (OR adj: 4.64 (95%CI: 1.53 - 14.05) and lack of closely friend (OR adj: 5.11 (95% CI: 2.13 - 12.24) Conclusion: Vanderbilt ADHD diagnosis rating scale
for teachers and parents can be used to early recognization children with a high risk of ADHD
Keywords: ADHD, Vanderbilt, ratings scale, teacher, parent, children.
Địa chỉ liên hệ: Lê Đình Dương, email: ledinhduong@huemed-univ.edu.vn
Ngày nhận bài: 21/4/2019, Ngày đồng ý đăng: 16/6/2019; Ngày xuất bản: 1/7/2019
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn tăng động giảm chú ý (RLTĐGCY) là một
trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất ở trẻ
em, ảnh hưởng đến khoảng 5% trẻ em và thanh
thiếu niên trên thế giới(Polanczyk, de Lima, Horta,
Biederman, & Rohde, 2007) Rối loạn này được đặc
trưng bởi giảm khả năng duy trì sự chú ý và tăng
hoạt động quá mức, có hành vi xung động so với trẻ
cùng lứa tuổi, cùng mức độ phát triển Rối loạn tăng động giảm chú ý thường xuất hiện sớm ở lứa tuổi nhỏ, khi mới bắt đầu đi học và đem lại những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển
về tâm lý và các hành vi nhân cách của trẻ Do đó, phát hiện sớm, chăm sóc và điều trị thích hợp có vai trò quan trọng đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ trong tương lai
DOI: 10.34071/jmp.2019.4.12
Trang 2Tại Việt Nam, mặc dù chương trình Mục tiêu
Quốc gia về sức khỏe tâm thần của Bộ Y tế đã có
nhiều hoạt động, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế
đặc biệt là nguồn nhân lực trong hệ thống chăm sóc
sức khỏe tâm thần, tư vấn chăm sóc ban đầu nhất
là trong môi trường học đường Chính vì vậy, việc
nhận biết sớm trẻ RLTĐGCY dựa vào cộng đồng mà
cụ thể nhất là giáo viên và bố mẹ có vai trò rất quan
trọng, đảm bảo tính hiệu quả và bền vững trong bối
cảnh hiện nay Thang đo Vanderbilt ADHD được sử
dụng rất rộng rãi ở nhiều quốc gia và đã chứng minh
được hiệu quả trong sàng lọc sớm trẻ có nguy cơ
cao với rối lọan này Tuy nhiên hiện nay vẫn rất ít
nghiên cứu tại Việt Nam đề cập đến vấn đề này Do
đó, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu để
xác định tỷ lệ học sinh có nguy cơ và các yếu tố liên
quan với ADHD ở học sinh tiểu học bằng thang đo
Vanderbilt ADHD hiệu chỉnh dành cho giáo viên và
phụ huynh
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành trên 564 học sinh có tuổi
từ 6 - 12 tuổi tại 4 trường tiểu học trên địa bàn
thành phố Huế trong năm học 2017 - 2018 Có tổng
cộng 72 giáo viên và 564 bố mẹ của học sinh tham
gia đánh giá
Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Từ tháng
1/2018 đến tháng 4/2018 tại 4 trường tiểu học Ngự
Bình, Thuận Lộc, Phú Cát, Trường An, thành phố Huế
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang 2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu: áp dụng công thức ước tính một tỷ lệ nghiên cứu:
Trong đó: p = 9,3% (Nguyễn Thị Thu Hiền, 2012) [4], chọn sai số là 5%, hệ số thiết kế mẫu là 4 Chúng tôi mời 600 học sinh và bố mẹ tham gia nghiên cứu, thực tế cỡ mẫu cuối cùng là 564 (94,0%)
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu chùm ngẫu
nhiên nhiều giai đoạn Giai đoạn 1: Chọn trường, thành phố Huế có 38 trường tiểu học, trong đó bờ Nam có 19 trường, bờ Bắc có 19 trường Mỗi bên chọn ngẫu nhiên 2 trường Giai đoạn 2: Chọn học sinh tiểu học: Tại mỗi trường tiểu học, chọn ra 150 học sinh tương ứng với 5 khối học (từ khối 1 đến khối 5) Lập danh sách từng khối học sinh của mỗi trường, chọn mẫu ngẫu nhiên đơn để chọn ra 30 học sinh của mỗi khối
Trong tổng số 600 học sinh được mời tham gia nghiên cứu, có 564 chiếm tỷ lệ 94% được đưa vào mẫu phân tích Tỷ lệ không tham gia nghiên cứu là 6% trong đó do bố mẹ từ chối, không hoàn thành phiếu thông tin và không đúng người trả lời lần lượt 1,3%; 1,7% và 3,0%
Sơ đồ 1 Mẫu nghiên cứu
2.2.3 Nội dung nghiên cứu
Nguy cơ RLTĐGCY được xác định dựa vào thang
đánh giá Vanderbilt ADHD chuẩn hóa dành giáo viên
và bố mẹ của trẻ [1] Thời gian đánh giá trong vòng
6 tháng tính tới thời điểm nghiên cứu Trẻ được
xác định có nguy cơ với RLTĐGCY khi có biểu hiện
RLTĐGCY đồng thời từ đánh giá từ giáo viên và bố
mẹ Khảo sát các yếu tố liên quan với RLTĐGCY ở trẻ
bao gồm: đặc điểm chung của học sinh, bố mẹ, đặc
điểm trải nghiệm trong thời kì mang thai của người
mẹ và thời kỳ thơ ấu của trẻ
2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin
Bộ công cụ được thử nghiệm và hiệu chỉnh trước khi tiến hành nghiên cứu bởi nhóm nghiên cứu với nhiều chuyên ngành khác nhau về Nhi khoa, Tâm thần và Y tế Công cộng Sử dụng bộ công cụ tự đánh giá dành cho giáo viên và bố mẹ của học sinh Giáo viên chủ nhiệm lớp và bố mẹ được hướng dẫn về phương pháp tự đánh giá dựa vào thang đo ADHD Valderbilt do bác sỹ chuyên khoa tâm thần của
Trang 33 KẾT QUẢ
3.1 Tỷ lệ học sinh có nguy cơ với rối loạn tăng động giảm chú ý
Bảng 1 Tỷ lệ RLTĐGCY theo đánh giá của giáo viên và bố mẹ Đánh giá
Các dạng
RLTĐGCY
Giảm chú ý 37 6,6 (4,51 – 8,61) 30 5,3 (3,46 – 7,18) 24 4,3 (2,58 – 5,93) Tăng động 29 5,1 (3,31– 6,97) 39 6,9 (4,81 – 9,01) 23 4,1 (2,44 – 5,72) Phối hợp 26 4,6 (2,87 – 6,35) 27 4,8 ( 3,02 – 6,55) 23 4,1 (2,44 – 5,72) Trong tổng số 564 học sinh, có 23 học sinh (4,1%) có nguy cơ với rối loạn tăng động giảm chú ý, trong đó dạng trội giảm chú ý là 4,3% và tăng động là 4,1% Tỷ lệ nguy cơ với rối loạn tăng động giảm chú ý theo đánh giá của giáo viên và bố mẹ lần lượt là 4,6% và 4,8%
3.2 Mức độ đồng thuận giữa đánh giá của giáo viên và bố mẹ
Bảng 2 Hệ số Kappa và tỷ lệ đồng thuận giữa đánh giá của giáo viên và bố mẹ
Tăng động 0,656 96,10 < 0,001 Giảm chú ý 0,699 96,63 < 0,001 RLTĐGCY 0,861 98,76 < 0,001
Hệ số kappa theo đánh giá của giáo viên và bố mẹ trên cả 3 nhóm tăng động, giảm chú ý và RLTĐGCY đều tốt, lần lượt là 0.656; 0.699 và 0,861 Tỷ lệ đồng thuận dựa trên các quan sát là trên 95% ở cả 3 yếu tố
3.3 Một số yếu tố liên quan đến rối loạn tăng động giảm chú ý ở học sinh tiểu học
3.3.1 Liên quan giữa đặc điểm chung và các trải nghiệm bất lợi của trẻ với nguy cơ RLTĐGCY
Bảng 3 Đặc điểm về RLTĐGCY ở học sinh tiểu học RLTĐGCY
Giới
Nam 19 (6,7) 265 (93,3) 284 (50,4) 0,002
Nữ 4 (1,4) 276 (98,6) 280 (49,6)
Tuổi trẻ 9,14 ± 1,48 9,26 ± 1,29 9,15 ± 1,47 0,706 Thứ tự sinh
Con đầu 16 (5,6) 271 (94,4) 287 (50,9) 0,057 Con thứ 5 (5,0) 96 (95,1) 101 (17,9)
Con út 2 (1,1) 174 (98,9) 176 ( 31,2)
nhóm nghiên cứu thực hiện
2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu:
Số liệu được được nhập và làm sạch bằng phần
mềm Epidata 3.1, xử lý số liệu bằng phần mềm
thống kê Stata 14.0 Tỷ lệ trẻ có nguy cơ với RLTĐGCY
được mô tả bằng tỷ lệ % và khoảng tin cậy 95% Hệ
số Kappa được sử dụng để đo lường mức độ lặp lại
trên 2 đánh giá của giáo viên và bố mẹ của học sinh
Mô hình phân tích hồi quy logistic đa biến được sử
dụng để tìm yếu tố liên quan với rối loạn này ở trẻ
2.2.6 Đạo đức nghiên cứu:
Nghiên cứu có sự đồng ý cho phép thực hiện của Trường Đại học Y Dược Huế, trung tâm y tế học đường tỉnh Thừa Thiên Huế, Ban giám hiệu của 4 trường tiểu học tham gia nghiên cứu Tôn trọng sự đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu của học sinh, giáo viên và bố mẹ học sinh
Các thông tin và số liệu thu được chỉ dành cho mục đích nghiên cứu khoa học, không được phép dùng cho các mục đích khác
Trang 4Tuổi mẹ 37,82 ± 5,77 37,68 ± 5,43 37,82 ± 5,74 0,910 Tuổi bố 41,37 ± 6,30 40,57 ± 6,25 41,33 ± 6,29 0,551 Tình trạng hôn nhân
Bố mẹ sống cùng nhau 20 (3,9) 492 (96,1) 512 (90,8) 0,518 Khác 3 (5,8) 49 (94,2) 52 (9,2)
Kinh tế gia đình
Nghèo (< 1,3 tr) 9 (5,7) 149 (94,3) 158 (28,0) 0,278 Trung bình (1,3 - 1,95 tr) 6 (5,0) 113 (95,0) 119 (21,1)
Trên trung bình (> 1,95 tr) 8 (2,8) 279 (97,2) 287 (50,9)
Tiền sử gia đình có RLTT
Có 2 (13,3) 13 (86,7) 15 (2,7) 0,066 Không 21 (3,8) 528 (96,2) 549 (97,3)
Bất lợi thời kỳ mang thai và thơ ấu
Không 7 (3,0) 224 (97,0) 231 (41,0) 0,295 Có** 16 (4,8) 317 (95,2) 333 (59,0)
Mẹ uống rượu, bia (n = 552)* 0 (0,0) 13 (100,0) 13 (2,4) N/A
Mẹ Hút thuốc lá thụ động
(n = 457)* 9 (5,6) 153 (94,4) 162 (35,5) 0,260
Mẹ bị cảm cúm trong 3
tháng đầu (n = 495)* 2 (8,0) 23 (92,0) 25 (5,1) 0,167 Tuổi mẹ ≥ 35 4 (4,9) 78 (95,1) 82 (14,5) 0,863 Trẻ sinh nhẹ cân (n = 444)* 4 (4,7) 82 (95,3) 86 (19,4) 0,095 Tuổi thai khi sinh dưới 37 tuần 2 (2,9) 66 (97,1) 68 (12,1) 0,613 Tiền sử động kinh* (n = 541) 1 (5,6) 17 (94,4) 18 (3,3) N/A Tiến sử viêm màng não*
(n = 552) 1 (12,5) 7 (87,5) 8 (1,5) N/A Tiền sử chấn thương
vùng đầu* (n = 550) 0 (0,0) 28 (100,0) 28 (5,1) N/A
Tr: triệu VNĐ; N/A: không phân tích; * phân tích loại bỏ những trường hợp không biết/ không nhớ **có được xác định nếu học sinh có ít nhất 1 trong 9 trải nghiệm bất lợi được liệt kê
Giá trị số lượng và tỷ lệ % thể hiện bằng n (%); giá trị TB và độ lệch chuẩn thể hiện bằng X ± SD.
Phân tích đơn biến cho thấy có mối liên có ý nghĩa giữa giới tính của học sinh với nguy cơ RLTĐGCY Chưa tìm thấy sự khác biệt giữa các đặc điểm chung của trẻ, gia đình và trải nghiệm bất lợi của trẻ với nguy cơ RLTĐGCY
3.3.2 Mối liên quan giữa mối quan hệ của học sinh và RLTĐGCY
Bảng 4 Mối liên quan giữa mối quan hệ của học sinh và RLTĐGCY
RLTĐGCY Đặc điểm mối quan
hệ của học sinh
Có
Bố mẹ nói chuyện với trẻ về học tập trên lớp
Hằng ngày 5 (2,4) 199 (97,6) 204 (36,2) 0,156 Hằng tuần 15 (4,6) 312 (95,4) 327 (58,0)
Không, hiếm khi 3 (9,1) 30 (90,9) 33 (5,8)
Trang 5Trẻ tâm sự với bố mẹ
Hằng ngày 4 (2,9) 132 (97,1) 136 (24,1) 0,061 Hằng tuần 12 (3,4) 338 (96,6) 350 (62,1)
Không, hiếm khi 7 (9,0) 71 (91,0) 78 (13,8)
Bố mẹ hướng dẫn trẻ học bài
Hằng ngày 5 (2,5) 194 (97,5) 199 (35,3) 0,106 Hằng tuần 14 (4,3) 309 (95,7) 323 (57,3)
Không, hiếm khi 4 (9,5) 38 (90,5) 42 (7,4)
Trẻ tiếp xúc, nói chuyện với trẻ khác
Hằng ngày 6 (2,4) 239 (97,6) 245 (43,4) 0,052 Hằng tuần 13 (4,6) 268 (95,4) 281 (49,8)
Không, hiếm khi 4 (10,5) 34 (89,5) 38 (6,7)
Trẻ có bạn thân
Có 11 (2,4) 449 (97,6) 460 (81,6) < 0,001 Không 12 (11,5) 92 (88,5) 104 (18,4)
Phân tích mối quan hệ của trẻ với nguy cơ RLTĐGCY, yếu tố bạn thân được tìm thấy có sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,001
3.4 Mô hình các yếu tố liên quan với nguy cơ RLTĐGCY ở học sinh tiểu học
Bảng 5 Mô hình các yếu tố liên quan với nguy cơ RLTĐGCY ở học sinh tiểu học
Giới
Nam 4,95 (1,66 – 14,73) 4,64 (1,53 – 14,05) 0,007 Thứ tự sinh
Con đầu 2,28 (0,92 – 5,62) 2,25 (0,88 – 5,71) 0,089 Tiền sử gia đình có rối loạn
tâm thần
Có 3,87 (0,82 – 18,25) 3,90 (0,72 – 21,01) 0,113 Bạn thân
Không 5,32 ( 2,28 – 12,44) 5,11 (2,13 – 12,24) < 0,001
Mô hình logistic đa biến với phương pháp backward conditional (p<0,25), sau khi hiệu chỉnh với các yếu
tố khác trong mô hình, nguy cơ có RLTĐGCY thường gặp hơn ở học sinh là nam (OR hiệu chỉnh: 4,64 (1,53 – 14,05) và trẻ không có bạn thân (OR hiệu chỉnh 5,11 (2,13 - 12,24)
4 BÀN LUẬN
Rối loạn Tăng động giảm chú ý là một rối loạn
tâm thần phổ biến nhất ở trẻ em Tỷ lệ trẻ có nguy
cơ với RLTĐGCY trong nghiên cứu này là 4,1% với
khoảng tin cậy 95% là 2,4 - 5,7% [Bảng 1] Nhiều
nghiên cứu tổng quan hệ thống cũng chỉ ra tỷ lệ trẻ
em có rối loạn TĐGCY tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi, dao động trong cộng đồng là từ 2% đến 7%, trung bình khoảng 5% [9] Tác giả Polanczyk ước tính trên toàn cầu tỷ lệ trẻ em từ 5 - 19 tuổi có rối loạn TĐGCY khoảng 2,2% và cao nhất ở nhóm 9 tuổi [6] Khảo sát tại 9 khu vực tại Italia trên 67838
Trang 6trẻ em từ 5 - 17 tuổi, tỷ lệ hiện mắc RLTĐGCY ước
tính trung bình là 5,9% ( khoảng 1,4 - 16,7%) [8] So
sánh với một số nghiên cứu tại các quốc gia đang
phát triển khác như Ấn Độ, tỷ lệ trẻ RLTĐGCY là 5,7%
(Joshi & Angolkar, 2018); Nigeria là 6,6% [3] Thổ Nhi
Kỳ là 8% [10], tại Vĩnh Long, Việt Nam là 7,7% [5]
Hiện nay, rất nhiều nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt về
tỷ lệ RLTĐGCY giữa các nước đang phát triển và các
nước đã phát triển không chỉ phụ thuộc vào công
cụ chẩn đoán mà còn phụ thuộc vào rất nhiều rào
cản khác [9], sự khác biệt trong hệ thống y tế, các
yếu tố về môi trường, văn hóa, cũng như nhận thức
của cộng đồng là những yếu tố cần xém xét Trong
nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ rối loạn tăng động
giảm chú ý theo đánh giá của giáo viên và bố mẹ
không khác biệt có ý nghĩa, lần lượt là 4,6% và 4,8%
Đánh giá mức độ đồng thuận giữa 2 nhóm cũng có
mức độ tương đồng tốt với hệ số kappa trên 0,65 ở
cả 3 nhóm yếu tố đánh giá là giảm chú ý, tăng động
và dạng kết hợp [bảng 2]
Phân tích đơn biến giữa các yếu tố về đặc điểm
chung của học sinh, bố mẹ, gia đình, những trải
nghiệm bất lợi của thời kỳ mang thai, thơ ấu và
mối quan hệ của với nguy cơ RLTĐGCY Nghiên cứu
chúng tôi chưa tìm thấy sự khác biệt của hầu hết các
yếu tố khảo sát [Bảng 4, 5], điều này có thể lý giải do
các yếu tố khảo sát trong vòng 6 tháng tới thời điểm
khảo sát, các yếu tố được hồi cứu lại do vậy nhiều
yếu tố bị mất thông tin Bảng 5 - Phân tích các yếu tố
liên quan với nhóm có nguy cơ với RLTĐGCY, dựa vào
mô hình hồi quy logistic đa biến có 4 yếu tố được
kết hợp ở mô hình cuối cùng sau khi loại bỏ các
biến độc lập khác dựa trên phương pháp backward
conditional (p < 0,25) RLTĐGCY có khả năng thường
gặp nhiều hơn ở nhóm trẻ em là nam giới cao gấp
4,6 lần so với nhóm trẻ em là nữ giới Do RLTĐGCY
là một rối loạn thuộc vào thời kỳ phát triển của
trẻ, nguyên nhân do yếu tố sinh học đóng vai trò quan trọng và thường có tỷ lệ cao ở nam giới Nhiều nghiên cứu cũng tìm thấy điều tương tự, nghiên cứu của Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ, tỷ lệ trẻ
em nam mắc RLTĐGCY cao hơn 2,57 lần so với trẻ
em nữ (nam là 10,3% và 4,0%) [7] RLTĐGCY thường gặp ở trẻ em nam hơn so với nữ, với tỷ suất gặp là 2 -
3 so với 1 trong trong cộng đồng [9] Thứ tự sinh của học sinh cũng là một yếu tố cần được xét xét khi khả năng RLTĐGCY có xu hướng gặp cao hơn 2,25 lần ở nhóm trẻ là con đầu lòng (5,6% so với 2,5% ở con thứ), tuy nhiên chưa có ý nghĩa về mặt thống kê (p = 0,089) Mặc dù điều này còn rất hạn chế trong y văn hiện nay Trong các mối quan hệ của học sinh, yếu tố
có bạn thân được tìm thấy có ý nghĩa với RLTĐGCY; trẻ không có bạn thân có khả năng có RLTĐGCY gấp
5 lần (2,13 - 12,24) so với nhóm còn lại
5 KẾT LUẬN
Rối loạn tăng động giảm chú ý có thể được sàng lọc và phát hiện sớm dựa trên kết hợp đánh giá giữa giáo viên và bố mẹ Tỷ lệ trẻ có nguy cơ RLTĐGCY là 4,1% (KTC 95%: 2,4 - 5,7%) RLTĐGCY có
xu hướng thường gặp cao hơn ở nhóm học sinh nam
và nhóm học sinh không có bạn thân Tuy nhiên cần
có những nghiên cứu mang tính theo dõi trên mẫu lớn hơn nhằm đo lường chính xác nguy cơ của trẻ
em RLTĐGCY và kết hợp chẩn đoán lâm sàng
LỜI CẢM ƠN
Nhóm nghiên cứu xin gởi lời cảm ơn đến Đại học Huế, Trường Đại học Y Dược, Trung tâm Y tế Học đường tỉnh Thừa Thiên Huế, Trường tiểu học Ngự Bình, Thuận Lộc, Phú Cát, Trường An, các em học sinh, giáo viên và bố mẹ đã đồng ý tham gia nghiên cứu này Đây là nghiên cứu được hỗ trợ kinh phí thực hiện từ Quỹ nghiên cứu khoa học - Đại học Huế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 American Academy of Pediatrics (2002) Vanderbilt
Assesement Scale used for diagnosing ADHD
2 Joshi, H M., & Angolkar, M (2018) Prevalence
of ADHD in Primary School Children in Belagavi
City, India J Atten Disord, 1087054718780326 doi:
10.1177/1087054718780326.
3 Ndukuba, A C., Odinka, P C., Muomah, R C.,
Obindo, J T., & Omigbodun, O O (2017) ADHD Among
Rural Southeastern Nigerian Primary School Children: Prevalence and Psychosocial Factors J Atten Disord, 21(10), 865-871 doi: 10.1177/1087054714543367.
4 Nguyễn Thị Thu Hiền (2012) Nghiên cứu tỷ lệ học sinh tiểu học có rối loạn tăng động giảm chú ý tại quận ba đình - hà nội Luận văn thạc sĩ tâm lý học, Đại học quốc gia
Hà Nội, Hà Nội
5 Pham, H D., Nguyen, H B., & Tran, D T (2015)
Trang 7Prevalence of ADHD in primary school children in Vinh Long,
Vietnam Pediatr Int, 57(5), 856-859 doi: 10.1111/ped.12656.
6 Polanczyk, G., de Lima, M S., Horta, B L., Biederman,
J., & Rohde, L A (2007) The worldwide prevalence
of ADHD: a systematic review and metaregression
analysis Am J Psychiatry, 164(6), 942-948 doi: 10.1176/
ajp.2007.164.6.942
7 Center for Diseases control and prevention of
US, (2010) Increasing prevalence of parent-reported
attention-defcit/hyperactivity disorder among children—
United States, 2003 and 2007 MMWR Morb Mortal Wkly
Rep, 59: (1439–43.)
8 Reale, L., & Bonati, M (2018) ADHD prevalence estimates in Italian children and adolescents: a methodological issue Ital J Pediatr, 44(1), 108 doi: 10.1186/s13052-018-0545-2.
9 Sayal, K., Prasad, V., Daley, D., Ford, T., & Coghill, D (2018) ADHD in children and young people: prevalence, care pathways, and service provision Lancet Psychiatry, 5(2), 175-186 doi: 10.1016/S2215-0366(17)30167-0.
10 Zorlu, A., Unlu, G., Cakaloz, B., Zencir, M., Buber, A., & Isildar, Y (2015) The Prevalence and Comorbidity Rates of ADHD Among School-Age Children in Turkey J Atten Disord doi: 10.1177/1087054715577991.