1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh

87 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 586 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy...29 2.2.. THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN ĐÌNH THẮNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN MA TÚY

TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Trang 2

Hà Nội - 2020

Trang 3

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN ĐÌNH THẮNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN MA TÚY

Trang 4

Hà Nội - 2020

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học này là độc lập của riêng tôi.

Các kết quả được viết trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đúng theo quy định.

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.

Tác giả

Trang 6

1.2 Những yếu tố đảm bảo thực hành quyền công tố của Viện kiểm

sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túyError! Bookmark not de Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ

SƠ THẨM VỤ ÁN MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 29

2.1 Những quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực

hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án ma túy 29

2.2 Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ

thẩm vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2015

đến năm 2019 39

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH

QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ

ÁN MA TÚY 58

3.1 Quan điểm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy 58

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong

giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy 61

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ Luật hình sự

BLTTHS: Bộ Luật tố tụng hình sự

CQĐT: Cơ quan điều tra

KSĐT: Kiểm sát điều tra

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là haichức năng cơ bản của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) các cấp được quyđịnh tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa tại Điều 2 Luật Tổchức VKSND năm 2014 Việc đảm bảo thực hiện chức năng này là nhiệm vụtrọng tâm cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện trong Nghịquyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về "Một số nhiệm vụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" [1]; Nghị quyết số 48-NQ/TWcủa Bộ Chính trị, ngày 24/5/2005 về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020" [2];Nghị quyết số 49-NQ/TW Bộ Chính trị, ngày 02/6/2005 về "Chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020" [3] Hoạt động của VKSND là một hoạt độngxuyên suốt bắt đầu từ giai đoạn giải quyết tin báo, điều tra, truy tố, xét xử đếngiai đoạn thi hành án hình sự Trong tố tụng hình sự, chức năng thực hànhquyền công tố trong giai đoạn xét xử của Viện kiểm sát là đặc biệt quan trọng,bởi vì quyết định truy tố (bản cáo trạng) là cơ sở pháp lý để Tòa án đưa vụ án

ra xét xử sơ thẩm Vì thế hoạt động này của Viện kiểm sát sẽ tạo điều kiệncho Toà án nhân dân tuyên một bản án khách quan, đúng người, đúng tội,đúng pháp luật và có tính thuyết phục, nâng cao chất lượng công tác đấu tranhphòng ngừa vi phạm và tội phạm, hạn chế thấp nhất việc kháng cáo, khángnghị Kiểm sát viên (KSV) căn cứ quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xửtuyên bố bị cáo đúng tội danh, đề xuất mức hình phạt phù hợp với hành viphạm tội mà bị cáo đã gây ra, đây chính là việc Kiểm sát viên đã đảm bảo tốtcông tác thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Tỉnh Bắc Ninh là tỉnh có địa giới hành chính sát với Thủ đô Hà Nội,

Trang 9

nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có hệ thống giao thông thuận lợikết nối với các tỉnh trong vùng Từ khi tái lập tỉnh đến nay, Bắc Ninh đã cónhững bước phát triển khá nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đời sống vậtchất và văn hoá tinh thần của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cảithiện Tuy nhiên, cùng với sự phát triển vượt bậc của kinh tế - xã hội cũng kéotheo sự gia tăng của các loại tội phạm trên địa bàn tỉnh, trong đó nổi lên là cáctội phạm ma túy Trong những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tộiphạm ma túy được xác định là nhiệm vụ hết sức quan trọng của chính quyềntrong tỉnh Bắc Ninh nói chung và các cơ quan tư pháp trong tỉnh trong đó cóVKSND nói riêng, là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế xã hội, sự

ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh Bắc Ninh

Viện kiểm sát nhân dân các cấp của tỉnh Bắc Ninh đã quán triệt tốt cácchủ trương về cải cách tư pháp trong việc tăng cường hoạt động công tố tronggiai đoạn xét xử, đã phối hợp chặt chẽ với Tòa án hai cấp giải quyết các vụ ánhình sự về tội phạm về ma túy và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.Các vụ án về ma túy đã được Tòa án các cấp xét xử theo đúng quy định củapháp luật, không để xảy ra tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm Bên cạnh nhữngkết quả đạt được, tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trongthời gian vừa qua thể hiện còn nhiều tồn tại và hạn chế, cũng là những tháchthức đối với ngành kiểm sát trong công tác thực hành quyền công tố và kiểmsát hoạt động tư pháp Xuất phát từ đặc điểm của loại tội phạm này là cónhiều phương thức, thủ đoạn phạm tội tinh vi, xảo quyệt; số lượng vụ án cóchiều hướng gia tăng, tính chất mức độ nguy hiểm ngày càng cao; cùng với đó

là sự xuất hiện của nhiều loại chất ma túy mới, hậu quả xảy ra ngày càngnghiêm trọng gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, đòi hỏi cần phải đượcphát hiện và xử lý kịp thời Song, do nhiều lý do khác nhau mà công tác

Trang 10

THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh BắcNinh vẫn còn xảy ra tồn tại, hạn chế, sai sót, dẫn đến một số vụ án sơ thẩmcòn để sửa, hủy, gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của công dân, củacác tổ chức, cơ quan có liên quan, chưa đáp ứng được tình hình ổn định chínhtrị tại địa phương, cũng như ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động của ngành Kiểmsát hai cấp tỉnh Bắc Ninh.

Từ các lý do trên, học viên đã lựa chọn đề tài “Thực hành quyền công

tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh”

làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành tốt nghiệp Thạc sĩ Luật tại Học viện khoahọc xã hội, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự để góp phần nângcao chất lượng hiệu quả công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơthẩm của Viện kiểm sát, đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đấu tranh phòng chống tội phạm ma tuý từ lâu không còn là vấn đề chỉgiới hạn trong biên giới, lãnh thổ quốc gia mà nó đã trở thành vấn đề nóngbỏng mang tính toàn cầu Từ yêu cầu đòi hỏi khách quan, bức thiết của cuộcđấu tranh này đã thu hút nhiều nhà khoa học trong nước và thế đã quan tâmnghiên cứu, tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, tổng kết, xuất bản các tài liệuphục vụ việc phòng chống ma tuý Công tác thực hành quyền công tố tronggiai đoạn xét xử các vụ án hình sự là công tác quan trọng của ngành kiểm sátnhằm đảm bảo truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.Quá trình nghiên cứu luận văn, học viên đã tìm hiểu và tiếp cận nghiên cứuđược một số công trình khoa học có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứucủa đề tài như:

- Giáo trình Đào tạo " Nghiệp vụ kiểm sát" của Trường Đại học kiểm

sát Hà Nội [26]

- Luận án tiến sĩ "Quyền công tố ở Việt Nam" của tác giả Lê Thị Tuyết

Trang 11

Hoa [12].

- “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố

ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay” cña VKSND tối cao (năm 1999);

-“Chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, Luận án tiến sỹ của

Trần Văn Quý năm 2017

- “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự từ thực tiễn huyện Trà Bồng, tỉnh Quãng Ngãi”, Luận văn thạc sỹ của

Trương Thị Thu Thắm, năm 2017

- “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự từ thực tiễn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn thạc sĩ Luật

của Trương Khắc Dương, năm 2017

- “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự từ thực tiễn huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi”, Luận văn thạc sĩ Luật của

Phan Thị Sa, năm 2018

- “Tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam

từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn thạc sĩ Luật của Nguyễn Thành Tất,

năm 2018

Ngoài ra còn các bài viết của nhiều tác giả đăng trên các tạp chí chuyênngành như Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Toà án, Tạp chí Luật học của Việnnghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Công an nhân dân… và nhiều

chuyên đề nghiệp vụ như: “Tổng hợp kinh nghiệm thực hành quyền công tố

và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án ma tuý lớn” của Vụ 2- VKSND

tối cao (năm 2004);

Nhìn chung, có thể thấy các đề tài nghiên cứu trước đó đó đề cập cácgóc độ khác nhau của công tác THQCT và KSXX tội phạm, tuy nhiên, chưa

có đề tài nào tập trung nghiên cứu vấn đề THQCT và KSXX sơ thẩm

Trang 12

đối với vụ án về ma túy từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh Vì vậy, luận văn của họcviên nghiên cứu về một vấn đề mới không trùng lặp với các công trình khoahọc đã được công bố Học viên kế thừa dưới góc độ lý luận và cách tiếp cậncủa những công trình nêu trên trong nghiên cứu để hoàn thiện luận văn củamình.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:

3.1 Mục đích

Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận, làm rõ thực trạng, tìm hiểu nguyênnhân của những kết quả đã đạt được, hạn chế, tồn tại, luận văn kiến nghị cácgiải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công

tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát, đáp ứng yêu cầu cảicách tư pháp, góp phần cùng với các cơ quan tư pháp trong tỉnh bảo vệ tốthơn quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của tổ chức và công dân

3.2 Nhiệm vụ

Thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạnxét xử sơ thẩm vụ án hình sự ma túy Từ đó, tập trung phân tích khái niệm,đặc điểm, hình thức thực hiện và các yếu tố đảm bảo việc thực hành quyềncông tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhândân

- Phân tích những quy định pháp luật, thực trạng áp dụng pháp luậttrong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về

ma túy của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Bắc Ninh Thành tựu đạt được

và hạn chế, tìm ra những nguyên nhân hạn chế, dẫn đến những tồn tại, hạnchế của công tác này

Trang 13

- Đề xuất giải pháp nhằm bảo đảm công tác thực hành quyền công tố ởgiai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu cảicách tư pháp trong tình hình hiện nay.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu.

Nghiên cứu về hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án ma túy

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thựchành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án ma túy từ thựctiễn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015 đến năm 2019

5.Phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng để phân tíchkhái quát các vấn đề lý luận cũng như đánh giá thực trạng, đề xuất giải phápbảo đảm trong công tác thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án ma túy từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh

- Phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, xem xét những vấn

đề cần nghiên cứu trong mối liên hệ giữa lý luận với thực tiễn, các quy địnhcủa pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án

ma túy của Viện kiểm sát nhân dân và thực tế áp dụng của Viện kiểm sát nhândân tỉnh Bắc Ninh

- Phương pháp thống kê: được sử dụng khi đánh giá thực trạng áp dụngpháp trong luật thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án matúy của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Bắc Ninh

Trang 14

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả cũng sử dụngphương pháp so sánh, phương pháp khảo sát thực tế.

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về hoạt động áp dụng phápluật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy từthực tiễn tỉnh Bắc Ninh Luận văn đã đóng góp nghiên cứu những vấn đề lýluận trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túycủa Viện kiểm sát nhân dân, làm đa dạng thêm những vấn đề lý luận liên quanđến lĩnh vực này

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tácnghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các Trường Đại học chuyên ngành luật

và không chuyên ngành luật, hệ thống các trường chính trị của Đảng

Kết quả nghiên cứu luận văn có thể được dùng làm tư liệu tham khảocho các Điều tra viên, Kiểm sát viên trong Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát,nhất là những Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác thực hành quyền công tố

và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án ma túy nhằm nâng cao trình độ lý luận

và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ

7 Kết cấu của Luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Luận văn gồm 3 chương Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giaiđoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy

Chương 2 Những quy định pháp luật và thực tiễn thực hành quyền công

tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Chương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN MA TÚY

1.1 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án

ma túy

1.1.1 Khái niệm

*Khái niệm quyền công tố:

Cũng như các chế định pháp luật khác, quyền công tố là một khái niệmgắn liền với lịch sử, là sản phẩm tiến bộ của xã hội loài người, xuất hiện đồngthời với sự ra đời của nhà nước Do đó, quyền công tố luôn song hành với bảnchất của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời khỏi côngquyền

Theo Từ điển Tiếng Việt, "Công tố" được tách nhỏ, hiểu từng nghĩanhư sau: "công" có nghĩa là "thuộc về Nhà nước, tập thể, trái với tư", còn "tố"

có nghĩa là "nói về những sai phạm tội lỗi của người khác một cách công khaitrước người có thẩm quyền hoặc trước nhiều người", "công tố" có nghĩa là

"điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Toà án".Tại Việt Nam, quyền công tố được đề cập nhiều khi nhắc đến chức năngcủa Viện Kiểm sát Tuy nhiên, cho đến nay khi chúng ta đang hướng tới sựhoàn thiện quy định pháp luật cũng như đẩy mạnh cải cách tư pháp, thì nhậnthức vấn đề này vẫn chưa có sự thống nhất cao Có thể khái quát một số quanđiểm khác nhau ở những vấn đề sau:

Thứ nhất, quyền công tố là quyền của Nhà nước dùng để bảo vệ lợi ích

công được thực hiện trong cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp như TTHS, tốtụng dân sự, kinh tế, lao động hay chỉ riêng lĩnh vực TTHS

Trang 16

Thứ hai, ngay cả những người theo quan điểm quyền công tố là quyền

của Nhà nước dùng để bảo vệ lợi ích công chỉ riêng trong lĩnh vực TTHScũng chưa thống nhất Có quan điểm cho rằng quyền công tố xuất hiện ở cảgiai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; quan điểm khác lại cho rằng quyền công tốchỉ có trong giai đoạn truy tố, xét xử

Thứ ba, quyền công tố là quyền của Nhà nước dùng để bảo vệ lợi ích

công và nhà nước giao quyền này cho cơ quan nhất định thực hiện Vấn đềkhác biệt về quan điểm là ở chỗ nhà nước giao cho cơ quan nào, một cơ quanhay nhiều cơ quan

Từ những phân tích trên, khái niệm quyền công tố được hiểu như sau:

Quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự của Nhà nước, được nhà nước giao cho VKS thực hiện nhằm phát hiện, điều tra tội phạm, truy tố người phạm tội trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa.

*Khái niệm thực hành quyền công tố

Hiện nay, vấn đề quyền công tố và thực hành quyền công tố còn cónhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên bản thân các quan điểm đó cũng đều cónhững điểm hợp lý nhất định Ngay cả những người đang tiến hàng tố tụngcũng còn nhiều nhầm lẫn giữa QCT và THQCT cho rằng là một, nhưng đây làhai vấn đề hoàn toàn khác nhau nhưng có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau.Việc xác định rõ quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ýnghĩa không chỉ giúp phân định rõ ràng, đúng đắn chức năng, nhiệm vụ, xácđịnh vị trí, vai trò của VKSND trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung,trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng mà còn giúp cho nhậnthức thống nhất và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của thựctiễn cải cách tư pháp

Xuất phát từ quan niệm về quyền công tố là quyền buộc tội nhân danhNhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm

Trang 17

tội (người phạm tội và pháp nhân phạm tội) thì thực hành quyền công tố làthực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụnghình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội, truy tố ratrước Tòa án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó Để buộc tội đối với chủ thể

đã thực hiện hành vi phạm tội, pháp luật đã quy định hàng loạt các hoạt động

tố tụng, như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra thu thập chứng cứchứng minh hành vi phạm tội của người đã thực hiện hành vi phạm tội, buộctội đối với bị can, bị cáo và bảo vệ quan điểm truy tố

Ở Việt Nam, từ quy định của Hiến pháp và pháp luật, thực tiễn thi hànhthì từ trước đến nay quyền công tố chỉ được giao duy nhất cho Viện kiểm sát.Chủ thể duy nhất có chức năng thực hành quyền công tố ở Việt Nam là Việnkiểm sát nhân dân Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quyđịnh: Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong

tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạmtội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiếnnghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hìnhsự

Theo nghĩa tiếng Việt, “thực hành” được hiểu là “làm để lý thuyết ápdụng vào thực tế” Do đó, thực hành quyền công tố có thể hiểu là hoạt độngmang những quy định của pháp luật về quyền công tố thuộc chức năng củaViện kiểm sát đưa vào thực tế nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người thựchiện hành vi phạm tội Theo đó, cần phải hiểu khái niệm thực hành quyền

công tố như sau: Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát thực hiện các quyền năng pháp lý được Nhà nước giao trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người có hành vi phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó.

*Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm:

Trang 18

Giai đoạn xét xử sơ thẩm được hiểu là một giai đoạn tố tụng kế tiếp giaiđoạn truy tố, bao gồm hai phần cơ bản chuẩn bị xét xử và xét xử công khai tạiphiên tòa Trong Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử

vụ án hình sự quy định, tùy theo tính chất mức độ hành vi phạm tội và nộidung vụ án mà VKS phối hợp với Tòa án để chuẩn bị các nội dung sau:phương hướng giải quyết; thời gian, địa điểm xét xử; danh sách những ngườicần triệu tập đến phiên tòa; thông tin về sức khoẻ, tâm trạng của bị cáo; việctuyên truyền, giáo dục và những vấn đề khác có liên quan Đối với vụ án cótính chất phức tạp, thì có thể mời lãnh đạo các cơ quan có thẩm quyền tiếnhành tố tụng và một số cơ quan hữu quan khác tham dự

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm THQCT trong giai

đoạn xét xử sơ thẩm của VKSND là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung QCT của VKS để truy cứu TNHS đối với người phạm tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, bắt đầu từ khi chuyển bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn cùng hồ sơ vụ án sang Tòa án để xét xử và kết thúc khi bản án và quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, khi VKS kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, bị cáo có kháng cáo bản án sơ thẩm và hồ sơ vụ án được chuyển lên cơ quan có thẩm quyền cấp trên.

*Vụ án ma túy:

Án ma túy là một trong các loại án hình sự Khái niệm vụ án ma túy cónguồn gốc từ khái niệm “vụ án hình sự” Theo Từ điển Luật học thì: “Vụ ánhình sự là vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm được quy định trong Bộluật Hình sự đã được Cơ quan điều tra khởi tố về hình sự để tiến hành điềutra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định”

Vụ án ma túy là vụ án hình sự đã được khởi tố về một hoặc một số tộiquy định trong Bộ luật Hình sự Theo pháp luật hiện hành thì căn cứ khởi tố

Trang 19

vụ án hình sự phạm tội về ma túy là Bộ luật Hình sự năm 2015 tại Chương

XX “Các tội phạm về ma túy” gồm 13 điều (từ Điều 247 đến Điều 259)

Từ kết quả nghiên cứu của mình, tác giả đưa ra khái niệm: Vụ án ma túy

là vụ phạm pháp về ma túy đã được cơ quan có thẩm quyền theo luật định kiểm tra, xác minh xác định có hành vi phạm tội về ma túy được quy định trong Bộ luật Hình sự đã xảy ra và đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ phạm pháp đó để điều tra, giải quyết theo quy định của tố tụng hình sự.

*Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án ma túy.

Từ việc phân tích giai đoạn xét xử sơ thẩm, quyền công tố, thực hànhquyền công tố và việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơthẩm, tác giả đồng tình với quan điểm của một số tác giải trình bày tại côngtrình [26, tr.10] và [22, tr.9] như sau là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung QCT của VKS để truy cứu TNHS đối với người phạm tội về ma túy trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, bắt đầu từ khi chuyển bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn cùng hồ sơ

vụ án sang Tòa án để xét xử và kết thúc khi bản án và quyết định của Tòa án

có hiệu lực pháp luật, khi VKS kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, bị cáo có kháng cáo bản án sơ thẩm và hồ sơ vụ án được chuyển lên cơ quan có thẩm quyền cấp trên Từ cách tiếp cận trên, khi đề cập đến khái niệm thực hànhquyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cần chú ý một sốđiểm cơ bản sau: Về đặc điểm: thực hành quyền công tố được thực hiện bởi

cơ quan duy nhất là VKS trong tố tụng hình sự; là việc truy tố bị can ra trướcTòa án, trên cơ sở kết quả điều tra, thu thập chứng cứ và chứng minh đượcngười phạm tội ở các giai đoạn điều tra, truy tố; là việc buộc tội bị cáo và bảo

vệ sự buộc tội tại phiên tòa bằng các phương thức được pháp luật quy định.Đây là đặc điểm quan trọng bậc nhất vì nó thể hiện đầy đủ quyền năng pháp

Trang 20

lý của VKS tại phiên tòa được thực hiện thông qua người đại diện của VKS làKiểm sát viên Đối tượng ở đây là hành vi phạm tội và chủ thể phạm tội Vềphạm vi: từ thời điểm bắt đầu của giai đoạn xét xử sơ thẩm, tức là từ khi VKSchuyển toàn bộ hồ sơ vụ án sang Tòa án và kết thúc bằng bản án hoặc quyếtđịnh có hiệu lực pháp luật.

Đối với công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

vụ án ma túy của VKS hai cấp, cần nhìn nhận rằng, về trình tự, thủ tục thựchiện giữa các cấp VKS là không có sự khác biệt, nhưng về phạm vi thẩmquyền thực hành quyền công tố lại có sự khác nhau Theo quy định của Bộluật TTHS, VKS cấp nào thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thìVKS cấp đó quyết định việc truy tố Thẩm quyền truy tố của VKS được xácđịnh theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án

Cụ thể hơn, đối với tội phạm về ma túy là những hành vi gây nguy hiểmcho xã hội được quy định tại Chương XX (từ Điều 247 đến Điều 259 ) BLHSnăm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 do người có đủ năng lực trách nhiệmhình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ýxâm phạm đến độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy

Như vậy, thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các

vụ án ma túy của VKSND cấp huyện chỉ giới hạn đối với các loại tội phạm

mà mức của khung hình phạt cao nhất là đến 15 năm tù, cụ thể: Điều 247;Khoản 1, 2 Điều 248; Khoản 1, 2, 3 Điều 249; Khoản 1, 2 Điều 250; Khoản 1,

2 Điều 251; Khoản 1, 2, 3 Điều 252; Khoản 1, 2 Điều 253; Điều 254; Khoản

1, 2 Điều 255; Điều 256; Khoản 1, 2 Điều 257; Khoản 1, 2, 3 Điều 258; Điều

259 Bộ luật hình sự Bên cạnh đó, VKS cấp huyện theo quy định của phápluật còn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử khi VKS cấp trên ủyquyền xét xử Trước khi kết thúc điều tra, chậm nhất là 02 tháng, VKS cấptrên phải thông báo cho VKS cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền

Trang 21

xét xử sơ thẩm vụ án để cử KSV cùng tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án Ngaysau khi ban hành quyết định truy tố, VKS cấp trên ra quyết định phân côngcho VKS cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử Ngay sau khinhận được hồ sơ vụ án được ủy quyền, VKS cấp dưới có thẩm quyền thựchành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật TTHS.VKS cấp tỉnh thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án

ma túy quy định cụ thể ở Khoản 3, 4 Điều 248; Khoản 4 Điều 249; Khoản 3, 4Điều 250; Khoản 3, 4 Điều 251; Khoản 4 Điều 252; Khoản 3, 4 Điều 253;Khoản 3, 4 Điều 255; Khoản 3, 4 Điều 257; Khoản 4 Điều 258 Bộ luật hình

sự Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thực hành quyền công tố củaViện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm cho hoạt động truy tố và xét xử các vụ

án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân được đúng

người, đúng tội, đúng pháp luật.

1.1.2 Đặc điểm và hình thức thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy

1.1.2.1 Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy

Thứ nhất, thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử đối với các

vụ án về ma túy là hoạt động thực hiện quyền buộc tội của Nhà nước đối với chủ thể phạm tội về ma túy.

Pháp luật luôn là một thanh công cụ thể hiện ý chí, quyền lực của Nhànước, chức năng thực hành quyền công tố của VKS được coi là công cụ hữuhiệu thực hiện ý chí của Nhà nước Ở một khía cạnh nhất định, thực hànhquyền công tố còn mang tính chính trị, đảm bảo phục vụ cho những mục đíchchính trị của Nhà cầm quyền Điểm khác biệt với hình thức thực hiện phápluật khác, thực hành quyền công tố hoạt động theo ý chí đơn phương của cơ

Trang 22

quan Nhà nước có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ chủ thểnào khác.

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án về ma túycủa VKS là hoạt động thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với chủ thểphạm tội về ma túy nhằm đưa chủ thể phạm tội ra trước Tòa án để xét xử vàbảo vệ việc buộc tội tại phiên tòa Quyền buộc tội là quyền năng của Nhànước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội.Đây là một hoạt động cá biệt của cơ quan Nhà nước thể hiện chức năng duytrì giữ gìn trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền, thực hiện cácbiện pháp chứng minh người phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự đối vớichủ thể đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà bị coi là tội phạm

Thứ hai, thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử đối với các vụ

án về ma túy là việc bảo vệ cáo trạng tại phiên tòa thông qua việc xét hỏi, luận tội và tranh luận tại phiên tòa.

Việc thực hiện chức năng THQCT của Viện kiểm sát trong giai đoạnxét xử sơ thẩm vụ án ma túy tại phiên tòa là việc bảo vệ cáo trạng, thể hiện sựbuộc tội của Nhà nước đối với bị cáo Điều này cũng góp phần đảm bảo thựchiện quyền lực Nhà nước, cụ thể là thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ chế độ xãhội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân

Trong giai đoạn xét xử đối với các tội phạm về ma túy thì VKS thựchành quyền công tố nhằm đảm bảo việc buộc tội và bảo vệ việc buộc tội đúngquy định pháp luật, đảm bảo các hành vi xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước,quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân mà cụ thể là xâm phạm đếnđộc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, tiền chất ma túyđược xử lý nghiêm minh trước quy định pháp luật

Trang 23

Thứ ba, thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với các vụ án về ma túy ở cấp huyện có nhiều đặc điểm khác so với việc thực hành quyền công tố tại cấp tỉnh

Ở các cấp huyện, các vụ án ma túy thường mang tính chất nghiêmtrọng, lượng ma túy ít, phần lớn xét xử đối với những đối tượng nghiện matúy, không có tính tổ chức, không manh động Đa phần, những đối tượng nàythường bị bắt quả tang, quá trình xét xử, các bị cáo đều nhận tội Do đó, việcxét hỏi, luận tội thường tập trung vào biên bản phạm tội quả tang, biên bảntạm giữ đồ vật, tài liệu, biên bản niêm phong và mở niêm phong vật chứng.Đối với các biên bản này, đối tượng được tham gia, ký vào biên bản ngay từđầu, nếu kiểm sát chặt chẽ các tài liệu trên thì việc buộc tội các bị cáo tạiphiên tòa sẽ được đảm bảo

Các vụ án ma túy lớn rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thuộcthẩm quyền giải quyết ở cấp tỉnh Các vụ án này có số lượng ma túy lớn,nhiều loại ma túy khác nhau, đối tượng phạm tội mang tính tổ chức, có sự câukết chặt chẽ Phần lớn các vụ án đều là bắt quả tang, có nhiều vụ án bắt dotruy xét nên cần thu thập chứng cứ vật chất khác để buộc tội các đối tượngnhư thu giữ điện tín, trích xuất hình ảnh camera để làm chứng cứ bổ trợ Các

bị cáo thường đối mặt với mức án cao của khung hình phạt tội ma túy nên các

bị cáo có xu hướng chối tội, bởi vậy việc thực hành quyền công tố tại phiêntòa cần phải đưa ra các tài liệu chứng cứ thuyết phục Do tính đặc thù của cáctội phạm về ma túy có tính nguy hiểm cho xã hội cao nên khi thực hiện cáchoạt động THQCT trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát phải sử dụng triệt đểcác biện pháp có thể để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm kiểmtra đánh giá các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở đó thực hiện việc buộc tội vàtruy tố tội phạm ra trước Tòa án để xét xử đúng trình tự, đúng quy định phápluật và đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội

Trang 24

1.1.2.2 Hình thức thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy

Theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất cóquyền buộc tội, luận tội bị cáo, tranh tụng tại phiên toà, đề xuất hình phạt vàcác biện pháp tư pháp khác Việc thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm cho hoạtđộng truy tố và xét xử các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm

của Toà án nhân dân được thực hiện đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các quyền năng này của VKS được thể hiện qua các hình thức: văn bản phápluật cá biệt có tính “mệnh lệnh” - quyết định; biên bản; công văn; hành vi vàlời nói của Kiểm sát viên tại phiên tòa

THQCT ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là một dạng hoạtđộng áp dụng pháp luật và hình thức thực hiện cũng theo các quy trình chung

và được thực hiện qua những giai đoạn sau:

- Nghiên cứu lại toàn bộ hồ sơ vụ án, xem xét, đánh giá các tình tiết, chứng cứ có liên quan ở giai đoạn điều tra, truy tố

Việc nghiên cứu hồ sơ là nhiệm vụ trọng tâm của Kiểm sát viên khi được phâncông thực hành quyền công tố xét xử vụ án hình sự Chỉ khi nghiên cứu hồ sơ,nắm vững nội dung, bản chất vụ án, thì Kiểm sát viên mới có thể hoàn thành việcbuộc tội bị cáo, tranh luận tại phiên toà công khai Đối với tội phạm về ma túy,cần nghiên cứu kỹ biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ đồ vật,tài liệu; biên bản niêm phong, mở niêm phong vật chứng; kết luận giám định,biên bản ghi lời khai của bị cáo, người làm chứng và những người tham gia tốtụng khác Việc trích cứu này giúp Kiểm sát viên nắm chắc thêm diễn biến của

vụ án và làm cơ sở khi đấu tranh với bị cáo trong trường hợp bị cáo có thái độkhai báo quanh co, chối tội tại phiên toà Như vậy, việc nghiên cứu hồ sơ chuẩn

bị thực hành quyền công tố tại phiên toà là giai đoạn

Trang 25

khởi đầu hết sức quan trọng của quá trình giải quyết vụ án, nó có ý nghĩa tiênquyết đến việc hoàn thành nhiệm vụ của Kiểm sát viên tại phiên toà.

Chuẩn bị tốt ở giai đoạn này là nền tảng vững chắc để Kiểm sát viênchủ động, bản lĩnh tiến hành hoạt động tố tụng tiếp theo Do đặc thù riêng củatừng vụ án nên việc nghiên cứu hồ sơ tuỳ đòi hỏi Kiểm sát viên có phươngpháp nghiên cứu phù hợp Từ kết quả nghiên cứu đó sẽ giúp định hướng choKiểm sát viên có những quyết định nhạy bén, phản ứng nhanh trước phiêntòa Vì vậy, việc nghiên cứu hồ sơ vụ án ban đầu có một ý nghĩa hết sức quantrọng đảm bảo cho việc thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát đảm bảođúng pháp luật, việc giải quyết vụ án hình sự được tuân thủ theo đúng quyđịnh của pháp luật

- Xem xét, dẫn nguồn, lựa chọn quy định pháp luật

Vấn đề này được thực hiện dựa trên năng lực pháp luật, trình độ hiểu biết,kiến thức pháp lý của Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ thực hành quyềncông tố xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của VKSND Kiểm sát viên đượcgiao nhiệm vụ thực hành quyền công tố xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về

ma túy của Viện kiểm sát nhân dân cần phải tổng hợp lại toàn bộ chứng cứ,những vấn đề liên quan đã xử lý ở giai đoạn điều tra, quyết định truy tố ngườiphạm tội để xét xử ở Toà án có đúng thẩm quyền hay không, đồng thời phảinghiên cứu, xem xét các quy định pháp luật khác liên quan để áp dụng xử lý

vụ án Tóm lại, giai đoạn áp dụng pháp luật này cần đòi hỏi phải lựa chọnđúng quy phạm pháp luật được trù tính cho trường hợp đó; quy phạm phápluật được áp dụng phải là quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật vàkhông mâu thuẫn với văn bản quy phạm pháp luật khác; xác định tính chânchính của văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng quy phạm này; nhận thứcđúng đắn nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật

- Ban hành quyết định áp dụng pháp luật

Trang 26

Ban hành quyết định áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử là việcViện kiểm sát nhân dân ban hành các quyết định về đường lối giải quyết vụ

án, đề nghị Toà án ra quyết định tội phạm và hình phạt cụ thể đối với từng bịcáo và bảo vệ cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát Đây là giai đoạn quantrọng nhất, là trung tâm của cả quá trình áp dụng pháp luật trong thực hànhquyền công tố giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của VKSND Đây

là giai đoạn trọng tâm, là hạt nhân của hình thức thực hiện hoạt động thựchành quyền công tố xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhândân, là kết tinh của kết quả điều tra, truy tố trước đó, là kết quả áp dụng cácquy định của pháp luật vào từng vụ án, bị cáo cụ thể để đề ra các quyết địnhchính xác, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

- Tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật

Việc tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật là giai đoạn cuốicùng của quá trình áp dụng pháp luật thực hành quyền công tố Khác với cácquyết định áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước khác, quyết định ápdụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các

vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân được thi hành ngay mà mặc nhiênkhông phải triển khai các biện pháp tổ chức thi hành Ví dụ như trong trườnghợp Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên toà thìThẩm phán được phân công ra quyết định đình chỉ vụ án theo quy định tạiĐiều 108 Bộ luật tố tụng hình sự

1.2.1 Yếu tố pháp lý

Để thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử được đảm bảo thìcần phải có cơ sở pháp lý hoàn thiện được vận hành xuyên suốt, chặt chẽ.Theo đó, cơ sở pháp lý của thực hành quyền công tố kiểm sát xét xử củaVKSND đối với các tội phạm về ma túy là Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật

Trang 27

tố tụng hình sự năm 2015, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 vàcác văn bản pháp luật có liên quan khác.

Bộ luật hình sự là văn bản pháp luật duy nhất quy định về tội phạm vàhình phạt, là căn cứ pháp lý quan trọng nhất trong việc giải quyết vấn đề tráchnhiệm hình sự Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hành quyền công tốđối với các loại tội phạm hình sự nói chung, tội phạm ma túy nói riêng Thựchành quyền công tố đối với tội phạm về ma túy là chức năng nhiệm vụ củaVKSND nhằm bảo vệ các lợi ích của nhà nước và xã hội, nhằm giữ vững an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội, ngăn chặn, hạn chế và tiến tới đẩy lùi các nguy

cơ tội phạm ma túy gây ra trong đời sống cộng đồng Bộ luật hình sự năm 2015

ra đời đánh dấu một bước phát triển mới cao hơn của hoạt động lập pháp hình sựnước ta, vì nó được hình thành không chỉ trên cơ sở tổng hợp những kinhnghiệm, thành tựu của thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự mà còn là các tri thức

về khoa học tiên tiến trên thế giới Đây chẳng những là công cụ sắc bén, hữuhiệu của Đảng, Nhà nước và của nhân dân trong công tác đấu tranh phòng, chốngtội phạm ma túy mà còn là yếu tố bảo đảm hàng đầu cho việc THQCT nói chung

tố tụng trong giai đoạn xét xử; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tốtụng khác, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm ma túy, phát hiệnchính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội BLTTHS năm 2015 vớinhiều sửa đổi, bổ sung tăng thêm 154 điều luật với 176 điều mới, sửa đổi 317

Trang 28

điều, giữ nguyên 17 điều, bãi bỏ 26 điều Trong đó một số quy định vềTHQCT như mở rộng diện người tham gia tố tụng; bổ sung diện người thamgia tố tụng, một số cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra;quy định rõ quyền hạn, nhiệm vụ của cấp trưởng, cấp phó các cơ quan đượcgiao tiến hành một số hoạt động điều tra; bổ sung quyền của những ngườitham gia tố tụng theo hướng mở rộng hơn diện người tham gia tố tụng.

Luật tổ chức VKSND năm 2014 là cơ sở pháp lý quy định về thẩmquyền, trình tự, thủ tục thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơthẩm của VKSND đối với án hình sự nói chung, án ma túy nói riêng Đây là

cơ sở pháp lý có hiệu lực cao, nhằm đảm bảo cho việc thực hiện chức năng vànhiệm vụ của VKSND trong thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xửđối với tội phạm ma túy

Ngoài những Bộ luật kể trên, các văn bản hướng dẫn của các cơ quan

tư pháp ở trung ương cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để VKSND áp dụngtrong quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các tội phạm

ta hiện nay

1.2.2 Yếu tố về tổ chức bộ máy, con người

Kiện toàn tổ chức bộ máy làm việc có vai trò và ý nghĩa hết sức quantrọng trong công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử của

Trang 29

VKSND đối với các vụ án hình sự nói chung và án ma túy nói riêng được chấtlượng và hiệu quả Nói đến tổ chức bộ máy thực hành quyền công tố tronggiai đoạn xét xử sơ thẩm các tội về ma túy là nói đến con người cụ thể, làKiểm sát viên - chủ thể trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND

theo quy định Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Có thể hiểu người cán bộ, công chức tốt là người vừa có phẩm chất

chính trị, đạo đức vừa phải có đủ trình độ, năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụđược giao Đối với Viện kiểm sát nhân dân thì Kiểm sát viên, Kiểm tra viên,Chuyên viên, càng yêu cầu phải có trình độ năng lực pháp luật tốt, điều này sẽtác động trực tiếp đến việc áp dụng pháp luật, để tránh oan sai, bỏ lọt tộiphạm, xét xử công bằng, minh bạch Thực hiện pháp luật nghiêm minh là yêucầu đối với tất cả các chủ thể thực hiện pháp luật, nhưng đối với cán bộ củaViện kiểm sát nhân dân dường như yêu cầu khắt khe hơn vì hoạt động nàyảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, quyền vàlợi ích hợp pháp của công dân

Đối với Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, cán bộ, công chức công tác trongngành Kiểm sát phải có phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng, có những lối

xử sự theo đúng chuẩn mực của ngành cũng như yêu cầu của pháp luật Nhất

là trong quá trình thực thi công vụ, việc thực hiện pháp luật của cán bộ, Kiểmsát viên phải bảo đảm kịp thời, nghiêm minh Như vậy, để bảo đảm thực hiệnpháp luật theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vìdân, đối với đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên cần phải liên tục bồi dưỡng nângcao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; tăng cường công tác kiểm tra,giám sát, giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống

Cùng với việc đổi mới phương thức hoạt động của toàn bộ hệ thốngchính trị, đẩy mạnh cải cách tư pháp theo chủ trương của Đảng, trong những

Trang 30

năm qua công tác tổ chức cán bộ của ngành kiểm sát nhân dân đã có nhiềutiến bộ rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểmsát các hoạt động tư pháp Đội ngũ Kiểm sát viên làm công tác thực hànhquyền công tố cũng ngày càng được kiện toàn, bố trí vị trí việc làm theo nănglực, trình độ của từng người Bên cạnh đó, việc kiện toàn tổ chức và nâng caochất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơquan điều tra, Tòa án cũng sẽ là yếu tố quan trọng bảo đảm việc áp dụng phápluật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự của Viện kiểmsát nhân dân được hoàn chỉnh.

Bảo đảm về bộ máy tổ chức là yêu cầu thiết yếu và là yếu tố quan trọngbậc nhất để nâng cao chất lượng hoạt động của mỗi cơ quan tổ chức, trong đócông tác cán bộ được xác định là khâu then chốt Đối với ngành Kiểm sát, bồidưỡng, giáo dục để mỗi cán bộ, KSV nhận thức sâu sắc và thực hiện đúngchức năng nhiệm vụ của mình trong hoạt động thực hành quyền công tố trongcác vụ án hình sự nói chung, các tội phạm về ma túy nói riêng Góp phần giữvững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định của pháp luật

1.2.3 Yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị, chế độ đãi ngộ

Vấn đề cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, kỹ thuật cần thiết phục

vụ cho công tác tuy chỉ là những yếu tố hỗ trợ nhưng lại có tác dụng rất lớntrong quá trình giải quyết vụ án Thực tiễn cho thấy, để làm tốt chức năngTHQCT trong giai đoạn xét xử vụ án thì Kiểm sát viên phải tham gia tố tụngngay từ đầu, kể cả khi chưa khởi tố vụ án như khám nghiệm hiện trường,khám nghiệm tử thi; phải tiến hành một số hoạt động cần thiết như phúc cung,xác minh lời khai của người làm chứng… Để hoạt động đạt hiệu quả thì ngoàikhả năng trình độ cũng như nhiệt huyết của cán bộ, KSV thì các yếu tố bổ trợnhư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, kỹ thuật cũng hết sức cần thiết

Trang 31

Chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ đối với KSV cũng đóng một vai tròkhông nhỏ trong việc đảm bảo chất lượng THQCT Hiện nay, chế độ tiền lươngcủa cán bộ công chức nói chung, của ngành Kiểm sát nói riêng đã được quan tâmnhất định song thực tế vẫn còn khó khăn cho người cán bộ so với các khoản chiphí sinh hoạt cần thiết hàng tháng Nếu KSV không giữ vững lập trường, bảnlĩnh, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp thì sẽ dễ bị cám dỗ bởi những lợi ích vậtchất do những đối tượng vi phạm pháp luật đưa đến Với mỗi phiên tòa Kiểm sátviên tham gia xét xử sẽ được hỗ trợ theo từng buổi làm việc nhưng vẫn còn thấp,chưa phù hợp với tình hình hiện nay Do đó, đảm bảo tiền lương và các chế độtrợ cấp cho cán bộ làm công tác bảo vệ pháp luật nói chung, cán bộ KSV nóiriêng để KSV toàn tâm, toàn ý phục vụ công tác và cống hiến cho sự nghiệpchung, chắc chắn chất lượng, hiệu quả công tác sẽ được nâng cao Ngoài ra, cũngcần nghiên cứu xem xét đến cơ chế đặc biệt để bảo vệ cán bộ công chức làmcông tác bảo vệ nền tư pháp và thân nhân của họ, tránh sự hăm dọa, trả thù, xâmhại từ các đối tượng vi phạm pháp luật.

1.2.4 Sự phối hợp của cơ quan tố tụng cùng cấp

Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, trước hết là cơ quanđiều tra, VKS và Toà án trong việc thực hiện các quy định của BLTTHS là mộttrong những yếu tố quan trọng trong việc phát hiện, xử lý tội phạm kịp thời, triệt

để, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội và không

để lọt tội phạm Quan hệ này được thể hiện thông qua việc ký kết các Quy chếphối hợp trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiếnnghị khởi tố; trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự; trong tổchức các phiên tòa xét xử lưu động, phiên tòa rút kinh nghiệm, qua đó, tạo sựchuyển biến mạnh mẽ trong công tác thực hành quyền công tố Ngoài ra, mốiquan hệ phối hợp này còn thể hiện trongviệc phân loại, giải quyết các thông tin

về tội phạm, trong việc lựa chọn và giải quyết các vụ án điểm và đưa

Trang 32

ra xét xử lưu động; phối hợp giải quyết những khó khăn, vướng mắc tronghoạt động tố tụng của các Điều tra viên, KSV, Thẩm phán Sự phối hợp nàyphải dựa trên các quy định của BLTTHS, các thông tư liên tịch và quy ướcphối hợp liên ngành đã được xây dựng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Bên cạnh đó, quan hệ giữa VKS với các ngành, tổ chức chính trị, tổchức xã hội cùng các đoàn thể quần chúng là cơ sở vững chắc cho VKS thựchiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, phát huy được sức mạnh của toàn bộ

hệ thống chính trị trong đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung và tộiphạm về ma túy nói riêng Chú trọng mối quan hệ giữa VKS và Mặt trận tổquốc ban hành quy chế phối hợp công tác, từ đó mở rộng các hình thức tuyêntruyền, giáo dục, nâng cao nhận thức pháp luật cho nhiều tầng lớp nhân dânnhằm thực hiện có hiệu quả công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm cũngnhư kiểm tra, giám sát hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết án hình

sự của ngành Kiểm sát và các cơ quan tư pháp khác

1.2.5 Công tác giám sát, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền

Thứ nhất, đó là sự giám sát từ Hội đồng nhân dân.

Theo các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm

2014, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 và các văn bản pháp luật hiện hành thì Hội đồng nhân dân thực hiện hoạt động giám sát các cơ quan tư pháp thông qua các hoạt động: xem xét báo cáo công tác của VKSND, TAND cùng cấp (trong

đó có công tác thực hành quyền công tố trong xét xử); xem xét việc trả lời chất vấn của Viện trưởng VKS, Chánh án TAND cùng cấp tại các kỳ họp, yêu cầu VKS, TAND cùng cấp báo cáo về những vấn đề khác khi xét thấy cần thiết Trên thực tế, hoạt động giám sát của HĐND đối với các cơ quan tư pháp trong thời gian qua còn mang tính hình thức, chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới và cải cách tư pháp.

Do đó, trong thời gian tới cần nâng cao chất lượng giám sát

Trang 33

của HĐND, của các đại biểu HĐND đối với hoạt động của VKS và các cơquan tư pháp khác, xem xét để điều chỉnh lại hoạt động giám sát của HĐNDđối với VKS cho phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp hiện nay.

Thứ hai, đó là công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, thanh tra, kiểm tra

trong ngành Kiểm sát nhân dân

Tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, kiểm tra thanh tratrong ngành Kiểm sát được coi là yếu tố đặc biệt quan trọng bảo đảm việcTHQCT ở giai đoạn XXST các vụ án hình sự Mặt khác, một trong cácnguyên tắc hoạt động cơ bản của VKS là tập trung lãnh đạo thống nhất thì vaitrò lãnh đạo, quản lý, điều hành càng có ý nghĩa đối với việc thúc đẩy chấtlượng công tác THQCT Thực tiễn cho thấy, ở đâu vai trò lãnh đạo, chỉ đạocủa cán bộ lãnh đạo tốt, ở đâu công tác thanh tra, kiểm tra được thực hiệnthường xuyên có hiệu quả thì ở đó sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp củatập thể, phát huy dân chủ, đoàn kết nội bộ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướngmắc và uốn nắn những thiếu sót trong quá trình thực thi nhiệm vụ

Thứ ba, đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra của cấp uỷ Đảng.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội đó là một nguyên tắc hiến định Trong tổchức và hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân, Đảng giữ vai trò lãnh đạo vềchính trị, tư tưởng, đưa ra các quan điểm, nguyên tắc, hoạch định đường lối, chủtrương áp dụng pháp luật Đảng lãnh đạo về tổ chức, cán bộ, đó là việc xây dựng

và thực hiện chiến lược, quy hoạch cán bộ, lãnh đạo quá trình bổ nhiệm các chứcdanh, đó là việc sắp xếp cán bộ có đủ đức, đủ tài, có năng lực trình độ vào nhữngcông việc trọng yếu của công tác tư pháp nói chung và công tác THQCT nóiriêng Đảng lãnh đạo bằng phương thức kiểm tra, kịp thời uốn nắn sai phạm, loại

bỏ những cái bộ thái hoá biến chất, không giữ được phẩm chất người cán bộ cáchmạng Về phương thức, Đảng lãnh đạo nhưng không can thiệp trực tiếp, khônglàm ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập, khách quan, vô

Trang 34

tư và chỉ tuân theo pháp luật trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ,thông qua việc cấp uỷ Đảng định kỳ nghe báo cáo tình hình hoạt động, thôngqua kết quả kiểm tra, sẽ giúp cấp uỷ Đảng đánh giá được những ưu, khuyếtđiểm trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND Từ đó, các chủtrương lãnh đạo, kiện toàn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động củacác cơ quan VKS.

Trang 35

Tiểu kết Chương 1

Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, các quy định của Hiến pháp, Luật

và các văn bản hướng dẫn, luận văn đã phân tích và đi đến thống nhất một số nộidung về giai đoạn xét xử sơ thẩm; quyền công tố, thực hành quyền công tố vàthực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án ma túy; cũng nhưphân tích các yếu tố đảm bảo thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạnxét xử sơ thẩm vụ án hình sự về ma túy Đây là những cơ sở mang tính chất nềntảng, định hướng cho việc tiếp tục nghiên cứu những nội dung liên quan đến thựchành quyền công tố của trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về ma túy.Qua đó, một lần nữa có thể khẳng định, thực hành quyền công tố trong giai đoạnxét xử sơ thẩm được thực hiện bởi cơ quan duy nhất là VKS mà không một cơquan nào có thể thay thế chức năng này Việc nâng cao chất lượng thực hànhquyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sẽ chịu sự tác độngbởi nhiều yếu tố pháp luật, bộ máy, con người, cơ sở vật chất… Với những vấn

đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơthẩm vụ án hình sự đã phân tích trên, đã tạo ra cơ sở định hướng về lý luận, pháp

lý để tác giả nhận thức đúng đắn, phù hợp, tạo tiền đề nghiên cứu những nộidung đặt ra tại chương 02 của luận văn.

Trang 36

Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN

MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 2.1 Những quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án ma túy.

Theo quy định pháp luật ở nước ta hiện nay, nội dung và quy trình thựchành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tập trungvào các nội dung

2.1.1 Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa

Cáo trạng là văn bản pháp lý, thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát về

vụ án hình sự trên cơ sở kết quả hoạt động điều tra và ra quyết định truy tốngười phạm tội ra trước Tòa án, đây là hoạt động đầu tiên của việc thực hànhquyền công tố tại phiên tòa nhằm buộc tội bị cáo và cũng là cơ sở để Tòa án

tiến hành hoạt động xét hỏi Tại Điều 306 BLTTHS quy định “trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có) Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo” Theoquy định tại Điều 23 Quy chế thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử hình

sự ban hành kèm theo Quyết định số 505 ngày 18/12/2017 của Viện trưởngVKSND tối cao thì Kiểm sát viên phải công bố nguyên văn bản cáo trạng

Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, khi có sự thay đổi về nhận thức,đánh giá chứng cứ hoặc trên những tình tiết mới phát sinh trong quá trìnhchuẩn bị xét xử, nếu cần thiết thì KSV trình bày ý kiến bổ sung nhưng ý kiến

bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo Tại phiên toà, nếu cócăn cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố, có tình tiết mới theo

Trang 37

hướng có lợi cho bị cáo và làm thay đổi quyết định truy tố hoặc đường lối xử

lý đã được Lãnh đạo duyệt, thì KSV quyết định và phải chịu trách nhiệm vềquyết định của mình, sau phiên toà KSV phải kịp thời báo cáo ngay với Lãnhđạo đơn vị Đối với vụ án được áp dụng theo thủ tục rút gọn, theo quy định tạiĐiều 463 Bộ luật TTHS năm 2015, KSV công bố quyết định truy tố, các trình

tự, thủ tục khác tại phiên tòa xét xử sơ thẩm được thực hiện theo thủ tục

chung quy định tại Bộ luật này nhưng không tiến hành nghị án [6].

2.1.2.Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ

- Đối với việc xét hỏi: Tại phiên toà sơ thẩm, theo quy định tại Điều

307 BLTTHS thì chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏitrước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý Khi xét hỏi thì KSV tham gia xét hỏi sau khichủ toạ phiên toà, các Hội thẩm đã hỏi xong Sở dĩ quy định trình tự xét hỏinhư vậy là do xuất phát từ trách nhiệm chứng minh vụ án, xác định sự thậtkhách quan tại phiên toà là trách nhiệm chính của HĐXX Thông qua xét hỏitại phiên toà, HĐXX phải xác định đầy đủ, toàn diện các tình tiết của vụ ánlàm cơ sở cho việc xác định tội danh, hình phạt và các quyết định sau này.Căn cứ vào kết quả của việc xét hỏi, KSV thực hiện luận tội, rút quyết địnhtruy tố hoặc kết luận về tội khác nhẹ hơn…

Việc tham gia xét hỏi là bắt buộc đối với KSV, trước khi tham gia phiên toà,KSV phải dự thảo đề cương xét hỏi theo mẫu của VKSNDTC và lưu hồ sơ kiểmsát, dự kiến những nội dung cần làm sáng tỏ, chú ý các mâu thuẫn và cách xéthỏi để làm rõ sự thật khách quan cũng như bác bỏ những lời chối tội không có cơ

sở Tại phiên tòa, KSV cần chú ý theo dõi, ghi chép đầy đủ nội dung xét hỏi củaHĐXX, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác và ý kiến trả lời của ngườiđược xét hỏi để tránh hỏi những câu trùng lặp Xuất phát từ địa vị pháp lý củaKSV là người tiến hành tố tụng, là người bảo vệ bản cáo trạng trước phiên tòanên KSV phải hỏi toàn bộ vụ án để có cơ sở đề xuất trong phần luận tội, đề xuất

Trang 38

hình phạt và các quyết định khác Điều đó có nghĩa, KSV phải bảo đảm tất cảchứng cứ của vụ án phải được kiểm tra công khai tại phiên tòa KSV cần chủđộng tham gia xét hỏi để làm sáng tỏ hành vi phạm tội, tội danh, vai trò củatừng bị cáo, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp…Khi cóngười tham gia tố tụng xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới tại phiên tòa,KSV cần kiểm tra và xem xét về nguồn gốc, nội dung chứng cứ, tài liệu, đồvật đó để kết luận về tính hợp pháp và tính có căn cứ của chứng cứ, tài liệu,

đồ vật Trường hợp chưa đủ căn cứ kết luận mà chứng cứ, tài liệu, đồ vật mới

đó có thể làm thay đổi nội dung, bản chất vụ án thì KSV đề nghị HĐXX hoãnphiên tòa để xác minh Trong trường hợp bị cáo không nhận tội, lời khai củanhững người được triệu tập đến phiên tòa có mâu thuẫn với lời khai tại Cơquan điều tra thì việc chủ động tham gia xét hỏi của KSV đóng vai trò quantrọng để làm sáng tỏ vụ án Ngoài xét hỏi bị cáo, KSV có quyền hỏi bị hại,đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng, người giám định,người định giá tài sản theo quy định tại Bộ luật TTHS

- Xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ: Theo quy định tại Điều 312 Bộ

luật TTHS năm 2015 thì vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứngđược đưa ra để xem xét tại phiên tòa Khi cần thiết, HĐXX có thể cùng vớiKSV, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa đến xem xét tại chỗnhững vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được KSV, người bào chữa,người khác tham gia phiên tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về vậtchứng HĐXX, KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của bị hại, đương sự có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về nhữngvấn đề có liên quan đến vật chứng Đối với việc xem xét tại chỗ, khi xét thấycần thiết thì HĐXX có thể cùng với KSV, người bào chữa, người khác thamgia phiên tòa đến xem xét nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liênquan đến vụ án KSV, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa có

Trang 39

quyền trình bày nhận xét của mình về nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểmkhác có liên quan đến vụ án Việc xem xét vật chứng và xem xét tại chỗ cũngcần được lập thành biên bản theo quy định pháp luật Theo quy chế thực hànhquyền công tố và kiểm sát xét xử năm 2017, đối với những chứng cứ, tài liệu,

đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc Tòa án cung cấp thì trong thời hạn

03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật, KSV phải xem xétbáo cáo lãnh đạo VKS và chuyển lại chứng cứ, tài liệu, đồ vật này cho Tòa án

để đưa vào hồ sơ vụ án và sao chụp để lưu hồ sơ kiểm sát.

2.1.3 Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo.

Luận tội có ý nghĩa rất quan trọng về mặt pháp lý cũng như chính trị.Lời luận tội là sự buộc tội trực tiếp, chính thức và cuối cùng của VKS đối với

bị cáo Phần trình bày lời luận tội của Kiểm sát viên thường được sự quan tâmchú ý theo dõi đặc biệt của những người tham dự phiên toà và công chúng.Xét về tính chất pháp lý thì luận tội của Kiểm sát viên chính là công cụ đểViện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên toà Để bản luậntội có chất lượng tốt thì cùng với việc phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án trướckhi tham gia phiên toà để chuẩn bị dự thảo luận tội, Kiểm sát viên phải hếtsức chú ý theo dõi để nắm được toàn bộ diễn biến của phiên toà; tích cực, chủđộng tham gia xét hỏi, ghi chép đầy đủ các ý kiến của bị cáo, người bào chữa

và những người tham gia tố tụng khác để sửa đổi, bổ sung, cập nhật vào nộidung của luận tội Làm tốt việc luận tội cũng chính là làm tốt chức năng thựchành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

Khác với bản cáo trạng, luận tội của KSV tại phiên toà chủ yếu là phảiphân tích, đánh giá tình tiết, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo

đã gây ra những căn cứ kết tội đối với bị cáo, nguyên nhân, điều kiện, hoàncảnh, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, phân tích, đánh giá các tình tiếtđịnh khung tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được áp

Trang 40

dụng Trên cơ sở phân tích, đánh giá, KSV đề xuất đường lối xử lý đối với bịcáo về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự để HĐXX cân nhắc, đánh giákhi nghị án.

Để có sức thuyết phục, đòi hỏi luận tội của KSV tại phiên toà phải thểhiện đầy đủ những tài liệu đã được điều tra trong hồ sơ vụ án và những tài liệuchứng cứ đó phải được kiểm tra, đánh giá tại phiên toà Đồng thời, bản luậntội của KSV phải thể hiện được sự đồng tình hay bác bỏ những tài liệu, chứng

cứ, lập luận của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn xét hỏi mà họ trình bày, xuấttrình Đặc biệt, bản luận tội phải lập luận, thể hiện đầy đủ quan điểm về buộctội, chứng cứ, tài liệu chứng minh hành vi phạm tội và tội phạm của bị cáophải giải đáp những yêu cầu những quan điểm của luật sư, người bào chữacủa bị cáo nêu ra trong phần xét hỏi Thể hiện sự chủ động trước những tìnhhuống, diễn biến mới xuất hiện tại phiên toà KSV phải phân tích, đánh giáchứng cứ một cách khoa học, lôgíc, chặt chẽ, xác định rõ hành vi phạm tộicủa bị cáo việc áp dụng pháp luật về trách nhiệm hình sự của bị cáo

Trước khi tham gia phiên tòa, KSV phải dự thảo bản luận tội theo mẫu của VKSNDTC và lưu hồ sơ kiểm sát Đối với vụ án trọng điểm, phức tạp hoặc xét xử lưu động, rút kinh nghiệm, KSV báo cáo lãnh đạo VKS cho ý kiến về dự thảo bản luận tội Tại phiên tòa, KSV phải ghi chép đầy đủ việc kiểm tra những chứng cứ, tài liệu, đồ vật tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự và những người tham gia tố tụng khác để hoàn chỉnh dự thảo bản luận tội Sau khi kết thúc việc xét hỏi, KSV trình bày bản luận tội và kết luận vụ án theo hướng sau: đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; kết luận về khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật; kết luận về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội

Ngày đăng: 22/07/2020, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w