Tính cấp thiết của đề tài Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy có thể hiểu là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, những ví dụ và kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn đảm bảo tính chính xác, trung thực và chưa ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 9
1.1 Khái niệm định tội danh 9
1.2 Tội mua bán trái phép chất ma túy 12
1.3 Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy 16
Tiểu kết Chương 1 28
Chương 2: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN TẠI TỈNH BẮC NINH 29
2.1 Thực trạng tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 29
2.2 Thực tiễn định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy tại tỉnh Bắc Ninh 30
Tiểu kết Chương 2 48
Chương 3 CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỊNH TỘI DANH TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 49
3.1 Các yêu cầu nâng cao chất lượng định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 49
3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 50
Tiểu kết Chương 3 66
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 5DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
CTTP: Cấu thành tội phạm ĐTD: Định tội danh
ĐT: Định tội
TNHS: Trách nhiệm hình sự VKSND: Viện kiểm sát nhân dân TAND: Tòa án nhân dân
CQĐT: Cơ quan điều tra
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Thống kê tội mua bán trái phép chất ma túy với tội phạm thuộc Chương XX (các tội phạm về ma túy) được xét xử sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2015 – 2019 73 Bảng 2.2: Thống kê tội mua bán trái phép chất ma túy với tội phạm quy định tại Chương XX (các tội phạm về ma túy) được xét xử phúc thẩm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2015 – 2019 74 Bảng 2.3 Thống kê các trường hợp xác định tội danh sai của CQĐT, VKS, TAND hai cấp tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2015 -2019 75
Biểu đồ 2.1: so sánh tình hình tội phạm hình sự với tội phạm mua bán trái phép chất ma túy được đưa ra xét xử sơ thẩm 73 Biểu đồ 2.2: So sánh tình hình tội phạm hình sự với tội mua bán trái phép chất ma túy được đưa ra xét xử phúc thẩm 75
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy có thể hiểu là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định hành vi của một người có phạm tội mua bán trái phép chất
ma túy hay không, nếu phạm tội thì theo điểm, khoản nào của BLHS về tội mua bán trái phép chất ma túy Hoạt động này có vai trò rất quan trọng về cả phương diện chính trị - xã hội và phương diện pháp lý Với mục đích bảo vệ quyền lợi về mặt kinh tế của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật, pháp chế, bảo
vệ quyền lợi cho các chủ thể trong xã hội, góp phần đưa các quy định của pháp luật về đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, nhất là quy định của BLHS vào thực tiễn cuộc sống, là tiền để và cơ sở để quyết định hình phạt đúng đắn, tương xứng với hành vi của người phạm tội, đây cũng là cơ sở để ra các quyết định tố tụng đúng, không bắt oan, sai, không bỏ lọt tội phạm, nâng cao uy tín của cơ quan tư pháp
Pháp luật hình sự Việt Nam thời gian vừa qua đã có nhiều văn bản pháp luật mới được sửa đổi, ban hành mới, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy như Thông tư liên tịch
số 08/2015/TTLN ngày 14/11/2015 sửa đổi Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLN ngày 24/12/2007, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999; đặc biệt là BLHS năm 2015 (sửa đôi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực toàn bộ từ ngày 01/01/2018 với nhiều quy định mới về tội mua bán trái phép chất ma túy như tách Điều 194 “Tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy” của BLHS năm 1999 thành các tội danh riêng, bổ sung 03 chất ma tổng hợp mới Methamphetamine, Amphetamine, MDMA với cùng chính sách hình sự như hêrôin, côcain, thay đổi đơn vị đo trọng lượng thành
Trang 8khối lượng cho đúng với đơn vị đo lường theo quy định của pháp luật quốc tế
và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan của Nhà nước ta đã góp phần rất lớn nâng cao hiệu quả định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy thời gian qua, trong đó có tỉnh Bắc Ninh với 8 đơn vị hành chính cấp huyện, thuộc Đồng bằng sông Hồng và nằm trên Vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ, đang có sự phát triển rất lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự cho thấy cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có tỉnh Bắc Ninh vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy như trình trạng lượng các vụ án về tội phạm ma túy tăng nhanh (theo số liệu thống
kê được từ TAND tỉnh Bắc Ninh trong 05 năm giai đoạn từ 2015 đến năm
2019 thì tội mua bán trái phép chất ma túy có xu hướng tăng trong các năm từ
2017 đến 2019), vẫn còn vụ án vẫn bị hủy do tài liệu, chứng cứ không đủ để định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy chính xác (Bản án số 11/2019/HS-PT ngày 22/4/2019 của TAND tỉnh Bắc Ninh); trong quá trình điều tra, truy tố chưa củng cố chặt chẽ chứng cứ, dẫn đến khi các đối tượng thay đổi lời khai, Tòa án buộc phải thay đổi tội danh (Bản án số 05/2018/HS-
ST ngày 08/01/2018 của TAND tỉnh Bắc Ninh) mà nguyên nhân chủ yếu do quy định của pháp luật liên quan đến tội mua bán trái phép chất ma túy vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: một số quy định chưa có hướng dẫn kịp thời
để áp dụng trong thực tiễn như chưa có hướng dẫn, quy định cách xác định trường hợp chất ma túy có chứa thành phần của nhiều chất ma túy khác nhau
và không thể tách riêng từng chất ma túy ra để giám định, chưa có hướng dẫn trường hợp phạm tội đối với 02 người trở lên, quan hệ phối hợp hoạt động trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự về mua bán trái phép chất ma túy ở địa phương chưa có sự phối kết hợp đồng bộ và chặt chẽ, trang thiết bị, phương tiện phục vụ nghiệp vụ còn hạn chế Điều này, đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc định tội danh tội phạm mua bán trái phép chất ma túy của
Trang 9tỉnh Bắc Ninh một cách chính xác trong thời gian qua
Xuất phát từ thực tế nêu trên và từ nhận thức việc định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là một vấn đề quan trọng về cả lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới, tác giả đã chọn đề tài:
“Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh”
để làm để tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan tới đề tài tác giả nghiên cứu, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới góc các góc độ, phạm vi và các hướng nghiên cứu khác nhau, mà điển hình như một số công trình sau đây
(1) Các nghiên cứu về tội phạm ma túy:
- Công trình là Giáo trình và sách chuyên khảo: Trường Đại học Luật
Hà Nội (2014), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (tập II), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Trần Văn Luyện (1998), Trách nhiệm hình sự đối với các tội
phạm về ma túy, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Ths Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần tội phạm, tập IV: Các tội phạm về ma túy), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM; Phạm Minh Tuyên
(2013), Các tội phạm về ma túy ở Việt Nam cơ sở lý luận và thực tiễn xét xử
(tài liệu tham khảo dùng cho các Thẩm phán, thư kí Tòa án, Nxb Hồng Đức,
Hà Nội; Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp (chủ biên, 2017), Bình luận khoa học
phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm
2017, Nxb Thế giới, Hà Nội; GS TS Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên, 2018)), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (phần các tội phạm), Nxb Tư
pháp, Hà Nội; v.v…
Nhận xét: Các công trình nêu trên nghiên cứu về tội mua bán trái phép
chất ma túy cùng với các tội danh khác, với phạm vi quy định của luật thực định mà chưa đi sâu phân tích những tồn tại, hạn chế trong quy định của pháp
Trang 10luật và văn bản hướng dẫn thi hành cũng như thực tiễn thi hành pháp luật hình
sự
- Công trình là luận án, luận văn: Trần Văn Luyện (1999), Phát hiện và
điều tra các tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Cảnh sát
nhân dân, Hà Nội
Nhận xét: Công trình khoa học trên chủ yếu nghiên cứu đề tài dưới góc
độ công tác điều tra nhóm tội phạm về ma túy của lực lượng điều tra, trong đó
có tội mua bán trái phép chất ma túy Nên không đi sâu phân tích làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật về tội mua bán trái phép chất ma túy trong pháp luật hình sự, cũng như từ thực tiễn xét xử của hệ thống Tòa án
- Công trình trên trên báo, tạp chí, đề tài khoa học: Nguyễn Thị Mai
Nga (2008), Bàn về quy định xử lý tội phạm ma túy của Bộ luật hình sự trong
thời kỳ hội nhập, Tạp chí Kiểm sát số 12/2008, Hà Nội; Đỗ Văn Kha (2010), Bàn về công tác phối hợp trong việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án ma túy,
Tạp chí Kiểm sát (số 18/2010), Hà Nội; Nguyễn Minh Đức (2015), Những
khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết các vụ án ma túy, Tạp chí kiểm sát, số 20, tr 7 – 13; Hương Nhung (
đề “Định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy” chỉ là một phần nhỏ trong nội dung nghiên cứu của các công trình trên
Trang 11(2) Các nghiên cứu về định tội danh tội mua bán ma tuý theo pháp luật hình sự Việt Nam:
- Về lý luận chung về định tội danh: Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản (chủ
biên, (2004) “Định tội danh-lý luân, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực
hành”, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội; Võ Khánh Vinh (2003), Giáo trình lý luận chung về định tội danh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Lê Văn Đệ (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội; TS Dương Tuyết Miên (2007), “Định tội danh và
quyết định hình phạt”, Nxb Lao động-Xã hội, Hà Nội; Đoàn Tấn Minh
(2010), “Phương pháp định tội danh và hướng dẫn định tội danh đối với các
tội phạm trong BLHS hiện hành”, Nxb Tư pháp, Hà Nội; v.v
Nhận xét: Đây là những công trình nghiên cứu sâu về lý luận chung của hoạt động định tội danh, do vậy không đi sâu phân tích các quy định định tội danh với một tội cụ thể như tội mua bán trái phép chất ma túy
Các luận văn trên nghiên cứu về hoạt động định tội danh các tội phạm
về ma túy bao gồm nhiều tội danh khác nhau, trong đó tội mua bán trái phép chất ma túy, hoặc có đề tài nghiên cứu trên phạm vi cả nước, trước khi BLHS năm 2015 có hiệu lực toàn bộ từ ngày 01/01/2018 Như vậy, liên quan trực tiếp đến đề tài tác giả nghiên cứu không có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận và thực tiễn về định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy; tính đến nay, sau khi BLHS năm 2015 có hiệu lực thì chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đến định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy một cách cụ thể, chuyên sâu tại địa bàn một tỉnh là tỉnh Bắc Ninh, trong phạm vi từ năm 2015 đến 2019
Do vậy, đề tài luận văn “Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy từ
thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” đảm bảo tính cấp thiết và có ý nghĩa lớn về lý luận và thực
tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 123.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về định tội danh tội phạm mua bán trái phép ma tuý theo pháp luật hình sự Việt Nam áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng về định danh tội mua bán trái phép chất ma túy và các văn bản hướng dẫn áp dụng nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả của công tác áp dụng pháp luật đối với định danh tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam
Đánh giá thực tiễn định tội danh tội mua bán trái phép chất ma tuý giai đoạn 2015 – 2019
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động định tội danh tội mua
bán trái phép chất ma túy
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh hoạt động định tội danh đối với tội mua bán trái pháp chất ma túy, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá hoạt động này trong thực tiễn, phân tích những hạn chế từ đó kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện luật thực định và nâng cáo hiệu quả trong hoạt động định tội danh
Giới hạn về lĩnh vực: Chủ yếu khảo sát và nghiên cứu số liệu ở ngành Toà án tỉnh Bắc ninh
Giới hạn về không gian: Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 13Giới hạn về thời gian: Trong giai đoạn 05 năm từ năm 2015 – 2019
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm, chủ chương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách hình sự và cải cách tư pháp
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp với yêu cầu của từng vấn đề cụ thể như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn, lịch sử cụ thể… để làm sáng tỏ nội dung cần nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trên cơ sở kế thừa các công trình khoa học đã được công bố, tác giả tiếp tục nghiên cứu một cách hệ thống về những vấn đề lý luận và thực tiễn làm rõ hoạt động định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống tương đối toàn diện góp phần nhận thức sâu hơn về lý luận về định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy thông qua thực tiễn ở tỉnh Bắc Ninh
Từ một số giải pháp hoàn thiện chế định định tội danh tác giả sẽ góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy, tạo thuận lợi cho hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan
có thẩm quyền;
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu khoa học chuyên ngành và tài liệu tham khảo đối với cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và công tác thực tiễn đặc biệt đội ngũ Thẩm phán trong ngành tòa án nhân dân các cấp, ngành tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
Trang 147 Kết cấu của luận văn
Chương 1 Lý luận về định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy Chương 2 Thực tiễn định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy tại tỉnh Bắc Ninh
Chương 3 Các yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 15Chương 1
LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1.1 Khái niệm định tội danh
Quan điểm thứ nhất, cho rằng: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [45, tr 4]
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của BLHS hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện” [15, tr.9]
Tuy nhiên, theo tác giả, khái niệm định tội danh cần phải bao hàm được những nội dung như: chủ thể trực tiếp thực hiện, cách thức tiến hành và kết quả của định tội danh được thể dưới hình thức nào Tiếp thu những yếu tố hợp lý trong các quan điểm nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm định tội danh
như sau: Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận, dạng hoạt động
thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, tiến hành trên cơ sở các chứng
cứ, tài liệu được thu thập theo quy định của pháp luật và các tình tiết thực tế của vụ án để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật hình sự quy định và kết luận hành vi nguy hiểm cho xã hội đó có phạm tội hay không, nếu có thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều luật nào của BLHS,
Trang 16được thể hiện thông qua các văn bản áp dụng pháp luật tương ứng với các giai đoạn định tội danh
1.1.2 Phân loại
Căn cứ vào chủ thể tiến hành định tội danh và hậu quả của việc định tội danh, có thể phân chia định tội danh đối với mua bán trái phép chất ma túy làm hai dạng tương ứng là: định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức
- Định tội danh chính thức:
Định tội danh chính thức đối với tội mua bán trái phép chất ma túy là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, và Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, trong hoạt động đấu tranh với tội phạm mua bán trái phép chất
ma túy
Đặc điểm cơ bản của hình thức định tội danh này như sau:
- Thứ nhất, đây là hoạt động mang tính tổ chức – quyền lực Nhà nước Chủ thể tiến hành hình thức định tội danh này được Nhà nước quy định rõ trong BLTTHS
- Thứ hai, được tiến hành trong tất cả các giai đoạn tố tụng, từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Trường hợp xác định có dấu hiệu tội mua bán trái phép chất ma túy thì phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ, căn cứ khởi tố, điều khoản của BLHS áp dụng và họ tên, chức vụ người ra quyết định Các quyết định sau đó như khởi tố bị can, bản kết luận điều tra, cáo trạng và bản án đều phải thể hiện chính thức quan điểm chính thức của người tiến hành tố tụng về tội mua bán trái phép chất ma túy trong đó
- Thứ ba, hậu quả của hình thức định tội danh này là việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội như hình phạt, các biện pháp tư pháp cũng như những biện pháp cưỡng chế khác trong quá trình điều tra,
Trang 17truy tố, xét xử như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú đều có liên quan đến hoạt động định tội danh chính thức Mặc dù định tội danh chính thức do nhiều chủ thể có thẩm quyền tiến hành song chỉ duy nhất Tòa án mới
có thẩm quyền đưa ra kết luận cuối cùng về việc bị cáo có phạm tội mua bán trái phép chất ma túy trong bản án có hiệu lực pháp luật, là văn bản định tội danh cuối cùng, chính thức khẳng định về tội danh đối với người mua bán trái phép chất ma túy
- Định tội danh không chính thức đối với tội phạm về ma túy là hình thức định tội danh do các chủ thể không đại diện cho Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra không phải là sự đánh giá chính thức về mặt nhà nước, không được thể hiện trong các văn bản tố tụng và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của đối tượng bị định tội danh
1.1.3 Phân biệt khái niệm “Định tội danh” và “Định tội”
Liên quan đến khái niệm “Định tội danh” (ĐTD), có một khái niệm rất gần và dễ gây nhầm lần là “Định tội” (ĐT) Giữa hai khái niệm có mối quan
hệ mật thiết với nhau, đều nằm trong một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự
để đi tới sự thật khách quan của vụ án, vụ việc Trong đó, định tội là giai đoạn đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động ĐTD, nó quyết định việc có phát sinh ĐTD hay không, nói cách khác nó quyết định có phát sinh các hoạt động tố tụng tiếp theo như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, truy tố hay không Đây là hai hoạt động có mối quan hệ mật thiết với nhau, hoạt động này là tiền
đề của hoạt động kia (định tội là tiền đề của định tội danh), hỗ trợ nhau, cùng nằm trong một tổng thể quá trình tố tụng, nhằm làm sáng tỏ bản chất của vụ việc đã xảy ra có dấu hiệu tội phạm không, nếu có thì đó là tội gì, được quy định như thế nào trong BLHS Như vậy, giữa hoạt động định tội và ĐTD có thể phân biệt như sau:
Trang 18Định tội là hoạt động nhận thức lý luận logic và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra Còn ĐTD là hoạt động tiếp theo của định tội, của cơ quan, người có thẩm quyền nhằm xác định hành vi phạm tội là tội gì, quy định tại điểm, khoản, điều luật nào của Bộ luật hình sự, thông qua việc phân tích các dấu hiệu của CTTP như hành vi khách quan có biểu hiện như thế nào, xâm phạm đến khách thể thông qua đối tượng tác động như thế nào, chủ thể có dấu hiệu đặc biệt (chủ thể đặc biệt) không, lỗi của người phạm tội có phù hợp với tội danh dự kiến áp dụng với người phạm tội hay không? Kết quả của việc này là người định tội danh phải
“đặt tên” cho hành vi phạm tội, và “tên gọi” của hành vi phạm tội phải là tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự, đây là hoạt động bắt buộc, bởi pháp luật hình sự nước ta chỉ truy cứu TNHS với người phạm một tội được
Bộ luật hình sự quy định, đây là biểu hiện của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, việc phân biệt này chỉ có nghĩa về mặt lý luận bởi thực tiễn thì trong hoạt động ĐTD đã bao hàm cả hoạt động định tội, bởi phải có định tội thì mới có hoạt động ĐTD
1.2 Tội mua bán trái phép chất ma túy
1.2.1 Khái niệm
Dưới góc độ pháp lý, BLHS năm 2015 chưa đưa ra định nghĩa thế nào
là mua bán trái phép chất ma túy Tuy nhiên, tại Điều 8 BLHS năm 2015 đã đưa ra khái niệm pháp lý của tội phạm
Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại chương XX, Điều
251 BLHS năm 2015, hành vi xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của
Nhà nước về các chất ma tuý, được thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, tuy thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội, có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn xử sự khác, phù hợp
Trang 19với đòi hỏi của xã hội nhưng họ vẫn thực hiện và mong muốn hậu quả đó xảy
Trên cơ sở phân tích nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm tội mua bán trái
phép chất ma túy như sau: Tội mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao
đổi trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy của Nhà nước
1.2.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma túy
* Khách thể của tội phạm
Trong luật hình sự Việt Nam, đối tượng bị tội phạm hướng tới gây thiệt
hại được gọi là khách thể của tội phạm Trong đó, khách thể trực tiếp của tội
phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm cụ thể xâm hại mà sự xâm hại này phản ánh được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đó [29, tr.108] Theo đó, khách thể trực tiếp của tội mua bán trái phép chất ma túy là chế độ
độc quyền và thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy
Để gây thiệt hại cho khách thể trên, thì chủ thể tội phạm phải tác động
và đối tượng tác động của tội phạm, qua đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt
hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Đối tượng tác động của tội
phạm này là các chất ma túy và các nguyên liệu thực vật có chứa chất ma tuý [46; tr18]
“Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành” [24], [5] Ngoài ra, các chất ma
túy được quy định trong các danh mục do chính phủ Việt Nam ban hành được thể hiện tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 Nghị định Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất Đồng thời theo BLHS năm
2015 thì các chất ma túy và các nguyên liệu thực vật có chứa chất ma túy gồm: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca; Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11; Lá cây côca; lá
Trang 20khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định; Quả thuốc phiện khô; Quả thuốc phiện tươi; Các chất ma túy khác ở thể rắn; Các chất ma túy khác ở thể lỏng
* Mặt khách quan của tội phạm
- Về hành vi khách quan:
Hành vi khách quan của tội mua bán tái phép chất ma túy là hành vi mua bán trái phép chất ma túy Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần Trong đó, “Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng” “Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng” [24, Điều 2] Hiện nay, danh mục chất ma túy và tiền chất được ban hành kèm theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018
Có thể hiểu hành vi khách quan của tội mua bán trái phép chất ma tuý
là bán hay mua để bán lại; vận chuyển ma tuý để bán cho người khác; tàng trữ
để bán lại hoặc để sản xuất ra chất ma tuý khác để bán lại trái phép; hoặc dùng ma tuý để đổi lấy hàng hoá hay dùng hàng hoá để đổi lấy ma tuý [17; tr.45,46] Hành vi này trái với những quy định do Nhà nước ban hành, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của nhà nước, không thuộc các trường hợp được áp dụng trong khoa học, nghiên cứu và y học, do một số các cơ quan có thẩm quyền được phép mua bán phục vụ công tác chuyên môn Hay nói cách khác, “Hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị coi là trái phép khi hành vi
đó được thực hiện mà không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền” [13;
tr 57]
- Hậu quả của tội mua bán trái chất ma tuý nói riêng không phải là yếu
tố bắt buộc để định tội
*Chủ thể của tội phạm
Trang 21Theo PLHS Việt Nam thì chủ thể của tội mua bàn trái phép chất ma túy chỉ có thể là cá nhân Đó là người có năng lực TNHS và đủ độ tuổi theo luật định
Luật hình sự Việt Nam không trực tiếp quy định thế nào là người có năng lực TNHS mà chỉ quy định thông qua độ tuổi chịu TNHS tại Điều 12 BLHS và tình trạng không có năng lực TNHS tại Điều 21 BLHS
Theo đó, một người chỉ được coi là không có năng lực TNHS khi đồng thời thỏa mãn hai dấu hiệu sau: Về y học - người đó mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần, đồng thời về tâm lý họ bị mất năng lực nhận thức, hoặc mất năng lực điều khiển hành vi của mình, việc xác định hai dấu hiệu này do hội đồng giám định pháp y xác định và kết luận
Về tuổi chịu TNHS, Điều 12, BLHS năm 2015
Đối chiếu với quy định tại Điều 251 BLHS năm 2015, thì chỉ những người sau đây, có năng lực TNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm này:
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của Điều 251 BLHS
- Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, phải chịu TNHS theo quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 251 BLHS Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 vì đây là tội phạm nghiêm trọng
*Mặt chủ quan của tội phạm
- Lỗi của người phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý thực hiện hành
vi phạm tội của mình do cố ý trực tiếp, tức là nhận thức rõ hành vi của mình
bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất
ma tuý nhưng vẫn thực hiện
- Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội cố ý (trực tiếp) [29, tr.182] Trong quá trình định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy, chủ
Trang 22thể có thẩm quyền cần xác định được mục đích của người phạm tội có phải để mua bán trái phép ma túy không để định tội danh phù hợp
- Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tôi cố ý [29, tr.180] Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của CTTP của tội mua bán trái phép chất ma túy
Trong trường hợp bên bán biết là chất ma túy giả còn bên múa đã nhầm tưởng là chất ma túy, hành vi của người bán không cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy mà cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS); còn hành vi mua nhầm vẫn cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy (chưa đạt vô hiệu) [13, tr 57]
1.3 Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy
1.3.1 Khái niệm
Trong BLHS Việt Nam hiện hành thì tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại chương XX, Điều 251 BLHS năm 2015, được xác định là hành vi trao đổi trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý
Từ phân tích trên, kết hợp với khái niệm về định tội danh tại tiểu mục 1.1.1, tác giả đưa ra khái niệm định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy
như sau: Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là một quá trình
nhận thức lý luận, dạng hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu được thu thập theo quy định của pháp luật và các tình tiết thực tế khách quan của vụ án để xác định
sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 BLHS và kết luận hành vi nguy hiểm cho xã hội đó có phạm tội mua bán trái phép chất ma túy hay không, nếu có thì phạm theo điểm, khoản
Trang 23nào của Điều 251 BLHS, thể hiện thông qua các văn bản áp dụng pháp luật tương ứng với các giai đoạn định tội danh
1.3.2 Đặc điểm
Từ khái niệm định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy, có thể rút
ra các đặc điểm cơ bản của hoạt động này như sau:
- Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là một quá trình nhận thức lý luận, dạng hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
- Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là định tội danh đối với một loại tội phạm cụ thể - tội mua bán trái phép chất ma túy Ngoài những đặc điểm chung của định tội danh với tư cách là hoạt động nhận thức có tính logic của con người, thì định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy có đặc điểm riêng liên quan đến đặc điểm của hành vi mua bán trái phép chất ma túy xảy ra trong thực tế khách quan và quy định của BLHS về tội phạm này
- Chủ thể định tội danh phải đối chiếu, so sánh và đưa ra kết luận, về việc có hay không có sự phù hợp giữa hành vi xâm phạm mua bán trái phép chất ma túy xảy ra trong thực tế với quy định pháp luật quy định tội mua bán trái phép chất ma túy trong BLHS hiện hành
- Đinh tội danh chính thức đối với tội mua bán trái phép chất ma túy là hoạt động áp dụng pháp luật, nếu chủ thể định tội danh là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền
Do đó, quá trình định tội danh (chính thức) phải tuân theo những thủ tục chặt chẽ về mặt tố tụng theo quy định của BLTTHS hiện hành
- Định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy liên quan đến vấn đề chứng cứ đã được thu thập, kiểm tra, đánh giá
Trang 24Đối với hình thức định tội danh không chính thức, các tình tiết của vụ
án đã được mặc nhiên coi là đúng và đã được chứng minh bằng các chứng cứ
mà các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được Tuy nhiên, đối với hình thức định tội danh chính thức, xuất phát từ nguyên tắc trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng nên chưa thể khẳng định ngay từ đầu bị can có phải là người phạm tội hay không Định tội danh với tội mua bán trái phép chất ma túy là hoạt động được tiến hành song song và tiếp liền với hoạt động thu thập, cũng cố, kiểm tra, đánh gái và sử dụng chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng Do đó, định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy gắn liền với hoạt động chứng minh tội phạm và người phạm tội của các cơ quan nói trên
1.3.3 Cơ sở pháp lý của việc định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy
Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy, dù là chính thức hay không chính thức cũng đều phải dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định
Cơ sở pháp lý của định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là toàn bộ các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề định tội danh đối với tội phạm này
Trong đó cách tiếp cận theo nghĩa rộng (phương diện nội dung và hình thức) thường được xem là hợp lý hơn vì nó cho phép đánh giá một cách toàn diện các quy định pháp luật làm nền tảng cho việc định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy trên Thực tiễn đã chứng minh: các quan hệ pháp luật hình sự luôn phải được tồn tại trong những hình thức tố tụng nhất định Do đó, định tội danh với nghĩa là sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội, phải được đánh trên cả hai phương diện: pháp luật hình sự và tố tụng hình sự hiện hành
Về phương diện pháp luật hình sự, chủ thể định tội danh phải đưa ra kết luận hành vi nguy hiểm cho xã hội có thỏa mãn quy định của Điều 251 BLHS
Trang 25hay không Về phương diện pháp luật tố tụng hình sự, cần chỉ rõ việc xác định tội danh này được phản ánh trọng quyết định hay văn bản pháp luật tố tụng hình sự nào
Để mô tả và luật hóa hành vi tội phạm, khoa học luật hình sự sử dụng phương pháp điển hình hóa thông qua các dấu hiệu pháp lý đặc trưng Tổng hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng cho tội phạm nói chung và tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định trong BLHS được gọi là cấu thành tội phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Các dấu hiệu CTTP tội mua bán trái phép chất ma túy được ghi nhận trong cả Phần chung và Phần các tội phạm BLHS, đã được tác giả phân tích
cụ thể 04 yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy tại tiểu mục 1.2.2 của luận văn
1.3.4 Ý nghĩa của việc định tội danh tội mua bán trái phép chất ma tuý
* Ý nghĩa về phương diện chính trị - xã hội
- Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy có mục đích bảo vệ quyền lời vể mặt kinh tế (quyền quản lý thống nhất của nhà nước về ma túy) Hoạt động này nhằm bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể trong xã hội, chống lại mọi hành vi xâm hại của đối tượng phạm tội Đây
là hoạt động thể hiện quyền lực chính trị trong thực tiễn đời sống xã hội
- Thông qua định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy, Nhà nước ta thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma tuý và chất hướng thần, kiểm soát ma túy Do vậy, định tội danh có chức năng xác định trách nhiệm hình sự, đấu tranh phòng chống lại hành vi phạm tội này
- Nếu định tội danh đúng, chính xác góp phần quan trọng trong phòng chống oan sai, phòng chống tội phạm về ma túy Góp phần củng cố lòng tin
Trang 26của người dân vào công lý vào pháp luật Thể hiện tính nghiêm minh của luật pháp
* Ý nghĩa phương diện pháp lý
Về mặt pháp lý, có thể khẳng định rằng định tội danh đúng là tiền đề và
cơ sở để áp dụng một loạt các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình
sự
- Là tiền đề cho việc quyết định hình phạt đúng Định tội danh với tội mua bán trái phép chất ma túy là tiền để, cơ sở để áp dụng các chế tài hình sự được quy định tại Điều 251 BLHS, cũng như quy định tại phần chung của BLHS như căn cứ miễn TNHS, miễn hình phạt, án treo
Đối với pháp luật tố tụng hình sự, định tội danh đúng là cơ sở để ra các quyết định tố tụng đúng, không bắt oan, sai, không bỏ lọt tội phạm Là cơ sở xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử đúng, xác định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử cũng như áp dụng các biện pháp ngăn chăn phù hợp, cũng như các biện pháp khác ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân, tôn trọng và đảm bảo thực hiện có hiệu quả quyền bào chữa của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ trong, đặc biệt là đối với những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa tham gia
Đối lập với định tội danh đúng là trường hợp có sự sai lầm trong định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy
1.3.5 Định tội danh tội mua bán chất trái phép chất ma túy trong một
Trang 27ở nước ta, đã phát hiện nhiều đường dây mua bán trái phép chất ma tuý xuyên quốc gia nhưng do tính chất của tội phạm về ma tuý nên việc tổ chức thành một đường dây mua bán trái phép chất ma tuý không giống như những trường hợp phạm tội có tổ chức, hoặc đồng phạm phức tạp khác
Trong quá trình định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy,
để xác định tội phạm mua bán trái phép chất ma túy có đồng phạm hay không cần căn cứ vào dấu hiệu thuộc mặt chủ thể, chủ quan và mặt khách quan của đồng phạm
1.3.5.2 Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy trong trường hợp có cấu thành tăng nặng
Tội mua bán trái phép chất ma túy không có CTTP giảm nhẹ chỉ có CTTP tăng nặng Theo đó, CTTP tăng nặng là cấu thành cơ bản có thêm một hay nhiều tình tiết định khung tăng nặng mà chúng làm tính chất và mức độ
nguy hiểm của tội phạm tăng lên một cách đáng kể CTTP được quy định tại
điểm khoản 2,3,4, Điều 251 BLHS năm 2015 là CTTP tăng nặng của tội mua bán trái phép chất ma túy
* Định tội danh thuộc trường hợp CTTP tăng nặng theo khoản 2 Điều
tổ chức, người xúi giục, người giúp sức, người thực hành, nhưng bắt buộc phải có người tổ chức và người thực hành
- Phạm tội 02 lần trở lên: tình tiết này có thể hiểu là người phạm tội đã
có tất cả hai lần mua bán trái phép chất ma tuý trở lên mà mỗi lần phạm tội đều có đầy đủ yếu tố cấu thành mua bán trái phép chất ma tuý; đồng thời
Trang 28trong số các lần mua bán trái phép chất ma tuý đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc hết thời hiệu truy cứu TNHS
- Đối với 02 người trở lên: tình tiết này cần được hiểu là nếu cùng một thời gian mua bán trái phép ma tuý đối với 02 người trở lên thì có coi là phạm tội đối với 02 người trở lên
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Đây là trường hợp một người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mua bán trái phép chất ma tuý và hành vi phạm tội đó
có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ, nếu họ không có chức
vụ, quyền hạn đó thì họ khó có thể thực hiện mua bán trái phép chất ma tuý
- Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức Lợi dụng danh nghĩa cơ quan,
tổ chức để mua bán trái phép chất ma tuý là trường hợp người phạm tội thông qua cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để mua bán trái phép chất ma tuý
- Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi: [14, tr.55]
Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội là trường hợp người
phạm tội đã dụ dỗ, xúi gịục, mua chuộc, hăm doạ, khống chế, lôi kéo người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi mua bán trái chất ma tuý
Bán ma tuý cho người dưới 16 tuổi là dùng ma tuý mà mình có dưới bất
kỳ hình thức nào như: mua được, xin được, nhặt được, người khác gửi hoặc chiếm đoạt được để bán cho người dưới 16 tuổi lấy tiền hoặc lấy tài sản
- Qua biên giới: mua bán ma tuý qua biên giới là đưa ma tuý từ nước này qua nước khác dưới bất kỳ hình thức nào
- Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam
- Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam
Trang 29- Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam
- Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam
- Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam
- Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam
- Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới
250 mililít
- Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này
- Tái phạm nguy hiểm: là người đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại mua bán trái phép chất ma tuý thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3, hoặc khoản
4 của Điều 251, hoặc đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội mua bán trái chất ma tuý
* Định tội danh thuộc trường hợp CTTP tăng nặng theo khoản 3 Điều
251 BLHS năm 2015 trong các trường hợp sau:
- Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam
- Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam
- Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam
Trang 30- Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam
- Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam
- Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam
- Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới
750 mililít
- Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này
* Định tội danh thuộc trường hợp CTTP tăng nặng theo khoản 4 Điều
251 BLHS năm 2015 trong các trường hợp sau:
- Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên
- Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên
- Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên
- Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên
- Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên
- Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên
- Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên
- Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này
Trang 311.3.6 Các giai đoạn định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy
Trên cơ sở kết hợp lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác – Lê nin và lý luận về hoạt động áp dụng pháp luật, có thể rút ra các giai đoạn cụ thể của quá trình định tội danh như sau:
* Xác định tình tiết của vụ việc đã xảy ra, thu thập, kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ chứng minh có dấu hiệu tội phạm về mua bán trái phép chất ma túy hay không
- Làm rõ các tình tiết liên quan thông qua các chứng cứ thu thập, kiểm tra, đánh giá theo quy định của pháp luật Trong thực tế, nhiệm vụ này chỉ đặt
ra đối với hoạt động định tội danh chính thức với chủ thể là Cơ quan điều tra,
Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra) Trong quá trình này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành thu thập và làm rõ tất cả các tình tiết liên quan đến vụ việc xảy ra một cách khách quan bằng các biện pháp được quy định trong BLTTHS, một cách đầy đủ, toàn diện, trung thực, chính xác, khách quan và khoa học Trong giai đoạn này cần làm rõ các nội dung cụ thể sau: Có vụ mua bán trái phép chất ma túy xảy ra không? nếu không có dấu hiệu tội phạm thì hoạt động định tội danh sẽ kết thúc, nếu hành vi là vi phạm khác thì sẽ xử lý hoặc kiến nghị xử lý theo thẩm quyền Nếu có tội phạm xảy ra thì chuyển sang hoạt động thứ hai Điều quan trọng nhất trong giai đoạn này là đối với chủ thể định tội danh là phải nắm được bản chất của sự việc xảy ra, phải bước đầu khẳng định được khả năng có dấu hiệu của tội mua bán trái phép chất ma túy để tiếp tục chuyển sang giai đoạn tiếp theo của quá trình định tội danh đối với tội này
* So sánh, đối chiếu các tình tiết của vụ án đã được làm rõ với quy định của Điều 251 BLHS để xác định sự tương đồng
Đây là giai đoạn trung tâm của quá trình định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy Trong giai đoạn này, chủ thể định tội danh phải xác định
Trang 32dấu hiệu tội phạm xảy ra là tội phạm nào, có phải là tội phạm về ma túy hay không mà cụ thể là tội mua bán trái phép chất ma túy, bằng cách xác định: Thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội; diễn biến hành vi phạm tội, động
cơ, mục đích; những dụng cụ, phương tiện thực hiện tội phạm, nơi cất giấu để thu giữ Đối với người bán trái phép chất ma túy: Số lượng và nguồn gốc chất
ma túy; hàm lượng; người mua; người bán và những tình tiết có liên quan đến việc mua và bán chất ma túy; đã bán bao nhiêu lần; có hẹn người đến mua tiếp nữa không; nếu có thì bao giờ gặp nhau, ở đâu Đối với người mua chất
ma túy cần làm rõ: Mua của ai, ở đâu, mua loại chất ma túy nào, số lượng và hàm lượng, các tình tiết có liên quan đến việc mua và bán, mục đích mua, có hẹn người bán là sẽ mau tiếp không, khi nào thì gặp nhau, ở đâu
Nói cách khác, phải đối chiếu từng tình tiết của vụ án xảy ra với các dấu hiệu CTTP tương ứng của tội mua bán trái phép chất ma túy Sau đó, phải đối chiếu, so sánh tổng thể tất cả các tình tiết của vụ án với các dấu hiệu CTTP của tội phạm này Tiếp đó, phải xác định xem vụ án có yếu tố đồng phạm không, ai là người đồng phạm, thực hiện tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò cụ thể nào, xác định các giai đoạn thực hiện tội phạm, hoàn thành hay chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và kiểm tra các vấn đề khác
có liên quan, đặc biệt là các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS quy định tại Điều 51, 52 BLHS
Kết thúc giai đoạn này, chủ thể định tội danh đã có căn cứ để xác định đối tượng vụ án đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và hành
vi này đã cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 BLHS, xác định được các điều luật khác trong phần chung BLHS được áp dụng để giải quyết vụ án
* Đưa ra kết luận về tội danh với đối tượng đã thực hiện hành vi quy định tại Điều 251 BLHS
Trang 33Đây là giai đoạn đưa ra kết luận về việc đối tượng vụ án đã thực hiện tội phạm mua bán trái phép chất ma túy Trong trường hợp định tội danh chính thức, chủ thể ra các quyết định tố tụng cần thiết theo quy định của BLTTHS để truy cứu TNHS đối với người phạm tội về tội phạm nêu trên Giai đoạn này giai đoạn cuối cùng trong quá trình định tội danh Chủ thể định tội danh phải bằng ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và niềm tin nội tâm khẳng định một cách dứt khoát rằng đối tượng vụ án đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy và nêu ra các điều luật được áp dụng trong cả BLHS và BLTTHS
Đối với định tội danh không chính thức, quá trình định tội danh có thể được xem là đã kết thúc
Tóm lại, có thể nói rằng, việc phân chia các giải đoạn định tội danh trên chỉ có tính chất tương đối
Trang 34Tiểu kết Chương 1
Chương 1 của luận văn đã làm rõ những nội dung lý luận và quy định của pháp luật về định tội danh nói chung và định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy nói riêng như khái niệm, phân loại và ý nghĩa của định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy; đồng thời, tác giả đã phân tích, làm rõ
cơ sở pháp lý, các giai đoạn định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy
Trang 35Chương 2 THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT
MA TÚY TRÊN TẠI TỈNH BẮC NINH 2.1 Thực trạng tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Theo số liệu thống kê được từ TAND tỉnh Bắc Ninh trong 05 năm giai đoạn từ 2015 đến 30/10/2019 TAND tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra xét xử sơ thẩm
858 vụ án, đối với 1307 bị cáo, trong đó tội mua bán trái phép chất ma túy là
143 vụ án đối với 254 bị cáo (Bảng 2.1, Biểu đồ 2.1 phần Phụ lục)
Qua bảng số liệu và biểu đồ, có thể thấy tình hình xét xử sơ thẩm tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có sự biến động qua các năm, trong đó có nhiều vụ án phức điển hình như vụ án Tráng A Tàng cùng đồng phạm bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Diễn biến tội này có xu hướng tăng trong các năm từ 2017 đến 2019 Nếu như vào năm
2015 có tổng số 34 vụ án và 67 bị cáo đưa ra xét xử thì năm 2016 con số này
đã giảm xuống còn 29 vụ với 57 bị cáo, và tiếp tục giảm vào năm 2017 với 24
vụ và 49 bị cáo; tuy nhiên, đến năm 2018 thì tình hình tội này lại tăng lên 27
vụ và 36 bị cáo, đến năm 2019 tiếp tục tăng lên con số 29 vụ với 45 bị cáo Đây là con số thể hiện sự tăng nhanh và phức tạp khó dự đoán của loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Bên cạnh đó, theo số liệu thống kê được từ TAND tỉnh Bắc Ninh trong
05 năm giai đoạn từ 2015 đến năm 2019 TAND tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra xét
xử phúc thẩm 405 vụ án, với 920 bị can thuộc chương XX (tội phạm về ma túy), trong đó tội mua bán trái phép chất ma túy là 111 vụ đối với 151 bị cáo (xem Bảng 2.2 và Biểu đồ 2.2, Phục lục):
Qua bảng thống kê và biểu đồ có thể thấy, tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy được đưa ra xét xử phúc thẩm chiếm tỷ lệ cao trong số các
vụ án được đưa ra xét xử Tương tự như tình hình xét xử sơ thẩm thì trong các
Trang 36năm từ 2017 đến năm 2019 thì tình hình tội mua bán trái phép chất ma túy đưa ra xét xử phúc thẩm đang có xu hướng tăng và phức tạp, vào năm 2017 thì có 21 vụ với 27 bị cáo thì con số này tăng lên 22 vụ với 27 bị cáo và 24 vụ với 29 bị cáo vào năm 2019 bị đưa ra xét xử phúc thẩm Điều này cho thấy, trong các vụ án về mua bán ma túy các bị cáo có xu hướng kháng cáo, qua khảo sát các bản án thì các bị cáo chủ yếu kháng cáo để xin giảm nhẹ hình phạt cho họ
Ngoài ra, theo báo cáo tổng kết của TAND tỉnh Bắc Ninh từ năm 2015 đến năm 2019 cho thấy tỉ lệ án hủy điều tra lại, xét xử lại hoặc án sửa liên quan đến định tội danh không nhiều (Bảng 2.3, Phụ lục) Tuy nhiên, qua bảng
số liệu có thể thấy, bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn một số vụ án vẫn bị hủy hoặc sửa do có nhầm lần trong việc định tội danh Nguyên nhân do phát sinh những tình tiết mới hoặc có những nội dung mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được hoặc xuất phát từ nhận thức, năng lực trình độ của người tiến hành định tội danh
2.2 Thực tiễn định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy tại tỉnh Bắc Ninh
2.2.1 Kết quả đạt được
Qua nghiên cứu các bản án của tòa án nhân dân hai cấp của tỉnh Bắc
Ninh cho thấy, đa số các vụ án đều được định tội danh đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Quá trình xử lý vụ án đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng
Một số vụ án điển hình gần đây như:
Vụ án số 1: Bản án số 06/2017/HSPT ngày 17/01/2017 của TAND tỉnh
Bắc Ninh [35]
Khoảng 23h20’ ngày 10/5/2016, tại phòng nghỉ 302 nhà nghỉ Ánh Tuyết, địa chỉ: Thôn Ngô Xá, xã Long Châu, huyện Yên Phong, Công an kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Văn D, sinh năm 1988 ở thôn Đ, xã H, thành
Trang 37phố B, tỉnh Bắc Ninh có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng tên Nguyễn Văn H, sinh năm 1993 ở thôn P, xã T, huyện Y và Nguyễn Thị H, sinh năm 1995 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh Thu giữ tại lòng bàn tay phải của H 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, H khai đó là ma túy đá mua của D để sử dụng Công an đã lập biên bản phạm pháp quả tang, đồng thời niêm phong vật chứng gửi đi giám định Tại bản kết luận giám định số 207/KLGĐ-PC54 ngày 11/5/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Tinh thể màu trắng trong mẫu gửi giám định có trọng lượng 0,8228 gam có thành phần Methamphetamine Trước đó, khoảng 23h10’ ngày 10/5/2016 tại trước cửa nhà nghỉ Ánh Tuyết, thôn N, xã Long C, huyện Y, Công an kiểm tra bắt quả tang Phạm Tiến C, sinh năm 1989 ở thông L, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh thu giữ tại bàn tay trái của Phạm Tiến C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ đen, bên trong chiếc điện thoại ở dưới quả pin có 03 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng C khai đó là ma túy đá mua của Nguyễn Văn D về sử dụng Tại bản kết luận giám định số 206/KLGĐ-PC54 ngày 11/5/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Tinh thể màu trắng trong mẫu gửi giám định có trọng lượng 2,8815 gam có thành phần Methamphetamine
Với nội dung trên, bản án hình sự sơ thẩm số 122/2016/HSST ngày 25 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p khoản 2, 5 Điều 194 BLHS, xử phạt: Nguyễn Văn D 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2016 Ngày 28/11/2016, bị cáo D làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm Trên cơ sở chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả xét
xử tại phiên tòa, TAND tỉnh Bắc Ninh nhận định: Cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên phạt bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, p khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Do
Trang 38vậy, TAND tỉnh Bắc Ninh đã ra bản án số 06/2017/HSPT ngày 17/01/2017: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D, giữ nguyên án sơ thẩm
Như vậy, TAND hai cấp tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành định tội danh hành
vi của Nguyễn Văn D theo các dấu hiệu sau:
+ Về khách thể: Hành vi bán trái phép chất ma túy của D cho H và C,
đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền và thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, với đối tượng tác động là Methamphetamine
+ Về chủ thể: Nguyễn Văn D là người đã thành niên, đạt độ tuổi phải chịu TNHS, có khả năng nhận thức và điều hiển hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho H và C
+ Về mặt chủ quan: D thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp
+ Về mặt khách quan: Nguyễn Văn D đã có hành vi hai lần bán trái phép chất ma túy, một lần cho H và một lần cho C để thu tiền Hành vi này đã
vi phạm quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999
TAND hai cấp tỉnh Bắc Ninh đã định tội danh đối với hành vi của Nguyễn Văn D theo khoản 2 Điều 194 trên cơ sở các dấu hiệu trên là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật
Trên cơ sở việc tuân thủ đúng quy định của pháp luật, lý luận chung về định tội danh và tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy nói riêng TAND hai cấp tỉnh Bắc Ninh đã định tội danh nhiều vụ án khác, đều đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
Vụ án số 2: Bản án 44/2018/HS-PT ngày 21/09/2018 của TAND tỉnh
Bắc Ninh [36]
Hồi 10h50’ ngày 09/01/2018, tại nhà của Nguyễn Văn C, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố B bắt quả tang Nguyễn Văn C có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Trọng T Vật chứng thu giữ: + Thu tại tay trái của T 01 gói nilon bằng băng dính màu đen, mở ra
Trang 39bên trong có 04 túi nilon màu trắng và 01 đoạn ống hút màu xanh bên trong đều chứa các hạt tinh thể màu trắng Tại bản Kết luận giám định số 169/KLGĐMT-PC 54 ngày 09/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công
an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Các hạt tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư có khối lượng 0,0715 gam; Là ma túy; Loại ma tuý: Methamphetamine” Với nội dung trên, bản án hình sự sơ thẩm số 194/2018/HSST ngày 29/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt Nguyễn Văn C 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn
tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/01/2018 Ngày 02/7/2018, bị cáo Nguyễn Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt Ngày 09/7/2018, bị cáo C nộp đơn kháng cáo bổ sung, bị cáo kháng cáo toàn bộ bản án TAND tỉnh Bắc Ninh nhận định Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Do vậy, TAND tỉnh Bắc Ninh đã ra bản án 44/2018/HS-PT ngày
21/09/2018: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội
“Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2018
Vụ án số 3: Bản án số: 52/2019/HS-PT, ngày: 18/9/2019 của TAND
tỉnh Bắc Ninh [37]
Vào khoảng 11h ngày 23 tháng 01 năm 2019, tại nhà Lương Thị L, ở Khu phố 6, C, phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh Đội CSĐTTP về ma túy Công an thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang Lương Thị L có hành vi bán trái phép chất ma túy cho một nam thanh niên tự khai họ tên là Lê Minh
H, sinh năm 1982 ở thôn H, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội, thu giữ một số lượng chất nghi ma túy Tại bản Kết luận giám định số: 235/KLGĐMT-PC09
Trang 40ngày 23/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: có tổng 75,7168 gam là ma túy loại ma túy: Heroine; 86,6804 gam: là
ma túy; loại ma túy Methamphetamine Với nội dung trên, bản án số:117/2019/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố bị cáo Lương Thị L phạm các tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lương Thị L 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 12 năm 06 tháng tù về tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tổng hợp hình phạt hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/01/2019 Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước Ngày 05/7/2019,
bị cáo Lương Thị L kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo TAND tỉnh Bắc Ninh nhận định Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lương Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
Với nội dung trên, TAND tỉnh Bắc Ninh đã căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị
cáo Lương Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Vụ án số 4: Bản án số: 27/2019/HSPT, ngày 23/4/2019 của TAND tỉnh
Bắc Ninh [38]
Hồi 12h ngày 01/10/2018 tại khu Y, phường K, thành phố B, bị cáo Nguyễn Văn T bị Công an thành phố B bắt quả tang về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1999; trú tại: Khu 4, Đ, TP B, tỉnh Bắc Ninh Tang vật thu giữ được gồm có: Thu tại tay V 01 gói bọc ngoài bằng băng dính màu đen trong đó 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1); thu tại túi quần T đang mặc 01 túi nilon màu trắng có 03