1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống lưới khống chế tọa độ phục vụ công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố hải phòng

81 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Nguyễn Hữu Hải ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG LƯỚI KHỐNG CHẾ TỌA ĐỘ PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

Nguyễn Hữu Hải

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

HỆ THỐNG LƯỚI KHỐNG CHẾ TỌA ĐỘ PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Hữu Hải

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

HỆ THỐNG LƯỚI KHỐNG CHẾ TỌA ĐỘ PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 8850103.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Nguời hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Quốc Bình

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn thạc sĩ khoa học

PGS.TS Trần Quốc Bình PGS.TS Nhữ Thị Xuân

Hà Nội 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được

sự giúp đỡ vô cùng to lớn của quý thầy cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Tôi xin

tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Các giảng viên Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài

- PGS.TS Trần Quốc Bình đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

- Phòng Sau Đại học đã tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt khóa học và thời gian thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Nguyễn Hữu Hải

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Khái quát về hệ thống lưới khống chế tọa độ nhà nước 5

1.1.1 Khái niệm về lưới khống chế tọa độ nhà nước 5

1.1.2 Cơ sở khoa học và phân hạng lưới khống chế tọa độ nhà nước 5

1.1.3 Vai trò của lưới khống chế tọa độ nhà nước 8

1.2 Xây dựng lưới khống chế tọa độ 9

1.2.1 Nguyên tắc xây dựng lưới khống chế tọa độ 9

1.2.2 Thiết kế kỹ thuật lưới tọa độ 9

1.2.3 Chọn điểm xây dựng mốc 11

1.2.4 Xây dựng mốc 12

1.3 Tình hình xây dựng lưới khống chế tọa độ ở một số nước trên thế giới 17

1.4 Sự cần thiết phải đánh giá và hoàn thiện hệ thống lưới không chế tọa độ trong bối cảnh ứng dụng các công nghệ đo đạc mới và phát triển KT-XH 18

1.5 Ứng dụng dịch vụ trạm CORS 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG LƯỚI KHỐNG CHẾ TỌA ĐỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 22

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng 22

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 22

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 23

2.1.3 Quá trình đô thị hóa, phát triển đô thị của thành phố 24

2.1.4 Tình hình thực hiện công tác quản lý đất đai của thành phố Hải Phòng27 2.1.5 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và ảnh hưởng đến hệ thống lưới khống chế tọa độ 28

2.2 Tình hình quản lý, sử dụng hệ thống lưới khống chế tọa độ tại thành phố Hải Phòng 28

2.2.1 Khái quát tình hình đo đạc bản đồ trên địa bàn 28

2.2.2 Hiện trạng hệ thống lưới khống chế tọa độ tại Hải Phòng 29

2.2.3 Đánh giá những mặt được 58

Trang 5

2.2.4 Những tồn tại, hạn chế 58

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG LƯỚI KHỐNG CHẾ TỌA ĐỘ NHÀ NƯỚC TẠI HẢI PHÒNG 60

3.1 Giải pháp về mặt xã hội 60

3.2 Giải pháp về mặt kỹ thuật 61

3.2.1 Giải pháp về hệ thống lưới khống chế tọa độ hiện nay 61

3.2.2 Giải pháp bổ sung hệ thống lưới hiện tại 61

3.2.3 Giải pháp đổi mới công nghệ đo đạc trên cơ sở ứng dụng dịch vụ trạm CORS 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 6

i

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các chỉ tiêu kỹ thuật khi thiết kế lưới khống chế tọa độ 8

Bảng 2.1 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Ngô Quyền 30

Bảng 2.2 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Lê Chân 32

Bảng 2.3 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Hồng Bàng 33

Bảng 2.4 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Hải An 35

Bảng 2.5 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Kiến An 36

Bảng 2.6 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Dương Kinh 38

Bảng 2.7 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Đồ Sơn 39

Bảng 2.8 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Cát Hải 41

Bảng 2.9 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo 43

Bảng 2.10 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Tiên Lãng 45

Bảng 2.11 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện An Lão 47

Bảng 2.12 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Kiến Thụy 49

Bảng 2.13 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện An Dương 51

Bảng 2.14 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Thủy Nguyên 53

Bảng 2.15 Bảng thống kê số lượng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn thành phố Hải Phòng 57

Trang 7

ii

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mốc cấp 0 13

Hình 1.2 Mốc hạng II, hạng III 13

Hình 1.3 Mốc gắn trên núi đá hoặc công trình kiến trúc 14

Hình 1.4 Quy cách dấu mốc 14

Hình 1.5 Quy cách tường vây 15

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Ngô Quyền 31

Hình 2.2 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Ngô Quyền trên nền bản đồ Google Map 31

Hình 2.3 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn Quận Lê Chân 32

Hình 2.4 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Lê Chân trên nền bản đồ Google Map 33

Hình 2.5 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Hồng Bàng 34

Hình 2.6 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Hồng Bàng trên nền bản đồ Google Map 34

Hình 2.7 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Hải An 36

Hình 2.8 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Hải An trên nền bản đồ Google Map 36

Hình 2.9 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Kiến An 37

Hình 2.10 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Kiến An trên nền bản đồ Google Map 37

Hình 2.11 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Dương Kinh 38

Hình 2.12 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Dương Kinh trên nền bản đồ Google Map 39

Hình 2.13 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Đồ Sơn 40

Hình 2.14 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Đồ Sơn trên nền bản đồ Google Map 40

Hình 2.15 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Cát Hải 42

Hình 2.16 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Cát Hải trên nền bản đồ Google Map 42

Trang 8

iii

Hình 2.17 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo 44Hình 2.18 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo trên nền bản

đồ Google Map 44Hình 2.19 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Tiên Lãng 46Hình 2.20 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Tiên Lãng trên nền bản

đồ Google Map 46Hình 2.21 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện An Lão 48Hình 2.22 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện An Lão trên nền bản đồ Google Map 49Hình 2.23 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Kiến Thụy 50Hình 2.24 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Kiến Thụy trên nền bản

đồ Google Map 51Hình 2.25 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện An Dương 52Hình 2.26 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện An Dương trên nền bản

đồ Google Map 53Hình 2.27 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Thủy Nguyên 55Hình 2.28 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn huyện Thủy Nguyên trên nền bản đồ Google Map 56Hình 2.29 Vị trí mốc khống chế tọa độ còn lại trên địa bàn thành phố Hải Phòng 57

Trang 9

iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Từ viết đầy đủ

CORS Continuosly Operating Reference Stations -

Trạm tham chiếu GPS hoạt động liên tục GCN QSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

GNSS Global Navigation Satellite System - hệ thống

dẫn đường vệ tinh toàn cầu GPS Global Positioning System - Hệ thống định vị

toàn cầu GLONASS Global Navigation Satellite System - hệ thống

định vị vệ tinh của CHLB Nga KT-XH Kinh tế - Xã hội

ITRF International Terrestrial Reference Frame –

Khung tham chiếu quốc tế UTM Universal Transerse Mercator - Lưới chiếu bản

đồ UTM UBND Ủy ban nhân dân

WAN Wide Area Network - Mạng diện rộng

WGS 84 World Geodetic System 1984 - Hệ tọa độ trắc

địa 1984

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng

Quản lý, sử dụng đất đai ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh bùng

nổ dân số, hiện đại hóa, công nghiệp hóa, tài nguyên cạn kiệt như ngày nay Vì vậy, công tác quản lý đất đai ngày càng được Chính phủ chú trọng quan tâm, để quản lý chặt chẽ những biến động cả về chủ sử dụng và bản thân đất đai thì Nhà nước phải thực hiện đo vẽ các loại bản đồ địa chính, địa hình, bản đồ hành chính,

Các bản đồ chuyên đề về đất đai giữ vai trò quan trọng trong công tác quản

lý đất đai Nó là cơ sở cho việc hoạch định các chính sách phù hợp và lập ra các kế hoạch hợp lý nhất cho các nhà quản lý phân bổ sử dụng đất đai cũng như trong việc

ra các quyết định liên quan đến đầu tư và phát triển nhằm khai thác hợp lý nhất đối với tài nguyên đất đai

Trong công tác đo vẽ, thành lập, chỉnh lý bản đồ thì các điểm khống chế tọa

độ là cơ sở để xác định tọa độ của tất cả các đối tượng trên bản đồ Vì vậy, các điểm khống chế tọa độ có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định tới độ chính xác của bản

đồ

Ngày nay bản đồ được sử dụng rất rộng rãi và đòi hỏi độ chính xác cao sử dụng cho nhiều mục đích Để đo vẽ các loại bản đồ tỷ lệ lớn với độ chính xác cao trong thời gian ngắn chúng ta cần phải xây dựng hệ thống lưới khống chế dày đặc

và hợp lý

Thành phố Hải Phòng là thành phố lớn trực thuộc trung ương, có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển công nghiệp và đô thị hóa, đồng thời cũng là địa bàn thích hợp để có những dự án lớn thu hút đầu tư, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, thành phố nằm trong nhóm 10 địa phương hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu

tư Việt Nam; liên tục 4 năm xếp thứ 2/63 tỉnh, thành phố về cải cách hành chính Các nhà đầu tư và các doanh nghiệp trẻ đầu tư vào thành phố khiến thị trường bất động sản biến động kéo theo nhu cầu sử dụng đất và biến động đất đai lớn, tạo nên

Trang 11

kỹ thuật, xây dựng các công trình, dự án lớn của thành phố, hồ sơ lưới khống chế tọa độ được lưu trữ ở Trung tâm Công nghệ thông tin thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, đủ đáp ứng yêu cầu khai thác của các tổ chức, cá nhân

Tuy nhiên do những nguyên nhân sau dẫn đến hiện tại bị mất nhiều điểm lưới cơ sở:

- Quá trình đô thị hóa nhanh

- Cơ cấu kinh tế thay đổi lớn, dẫn đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất mạnh

- Các công nghệ đo đạc bản đồ đã có nhiều thay đổi, một số điểm không đáp ứng được yêu cầu khi đo bằng công nghệ mới như đo lưới GPS, công nghệ ảnh số, viễn thám, (nhiều điểm bị che khuất do cây cối, nhà cửa xây bên cạnh)

- Do việc quản lý chưa chặt chẽ, do ý thức của người dân chưa tốt, do việc xây dựng các công trình diễn ra mạnh nên một số lượng mốc khống chế bị mất

Việc mất nhiều điểm lưới cơ sở gây khó khăn nhất định trong công tác đo vẽ bản đồ, quản lý đất đai và tài nguyên - môi trường Do vậy, việc đánh giá thực trạng

và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống lưới khống chế tọa độ phục vụ công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng có tính cấp thiết cao

2 Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ thực trạng hệ thống lưới khống chế tọa độ trên địa bàn thành phố Hải Phòng (số lượng, phân bố, tình hình) và nghiên cứu giải pháp phát triển lưới khống chế tọa độ của địa bàn thành phố nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH gắn với việc ứng dụng các công nghệ hiện đại trong đo vẽ, thành lập và hiện chỉnh bản đồ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu đề ra, nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện bao gồm:

- Thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, KT-XH thành phố Hải Phòng và

Trang 12

3

công tác đo đạc bản đồ của thành phố;

- Điều tra hiện trạng hệ thống lưới khống chế thành phố Hải Phòng;

- Đánh giá số lượng và sự phân bố các điểm khống chế, khả năng đáp ứng công tác đo vẽ, thành lập và hiện chỉnh bản đồ trong giai đoạn hiện nay;

- Đề xuất các giải pháp phát triển lưới khống chế tọa độ trên địa bàn thành phố

Phạm vi thời gian: Từ năm 1995 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu:

+ Thu thập các tài liệu điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, tình hình sử dụng và quản lý đất đai của thành phố

+ Thu thập các tài liệu liên quan đến hệ thống lưới khống chế tọa độ của thành phố Hải Phòng

- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thống kê, tập hợp lại những số liệu

điều tra thực địa về các điểm lưới khống chế trên địa bàn thành phố Hải Phòng

- Phương pháp phân tích, so sánh: Phân tích dữ liệu thu thập được, từ đó so

sánh mật độ điểm của từng quận, huyện dưới góc độ phát triển KT-XH của địa phương

- Phương pháp đánh giá tổng hợp: Đánh giá thực trạng mạng lưới khống chế

tọa độ thành phố Từ đó có những đề xuất và giải pháp

6 Kết quả nghiên cứu

- Đã đánh giá được thực trạng lưới khống chế tọa độ trên địa bàn thành phố Hải Phòng

- Đưa ra giải pháp hoàn thiện, bổ sung mạng lưới khống chế tọa độ của thành phố Hải Phòng

Trang 13

4

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn đã đưa ra báo cáo về thực trạng hệ thống mốc lưới khống chế tọa

độ của thành phố Hải Phòng, từ đó giúp các cá nhân, đơn vị quản lý, cơ quan, tổ chức sử dụng nắm bắt và sử dụng mốc một cách hiệu quả

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành 03 chương:

Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Thực trạng hệ thống lưới khống chế tọa độ trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Chương 3 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ thống lưới khống chế tọa độ tại Hải Phòng

Trang 14

5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Khái quát về hệ thống lưới khống chế tọa độ nhà nước

1.1.1 Khái niệm về lưới khống chế tọa độ nhà nước

Lưới khống chế tọa độ là một hệ thống các điểm khống chế có tọa độ xác định trong một hệ thống, liên kết với nhau theo một dạng hình học nhất định, được đánh dấu ở thực địa bằng những mốc đặc biệt Đây là lưới cơ bản thống nhất trong toàn quốc để nghiên cứu hình dạng, kích thước, sự biến đổi của bề mặt Trái đất phục vụ đo vẽ địa hình và giải quyết các nhiệm vụ kỹ thuật khác [4]

1.1.2 Cơ sở khoa học và phân hạng lưới khống chế tọa độ nhà nước

Mạng lưới toạ độ quốc gia Việt Nam trước năm 2000 bố trí theo 4 hạng là I,

II, III, IV Từ năm 1994 đến 1997, Việt Nam đã xây dựng mạng lưới cấp 0 gồm 69 điểm bao trùm toàn lãnh thổ và lãnh hải Điều này giúp hoàn thiện hệ quy chiếu mới VN-2000 của Việt Nam Năm 1999, ellipsoid WGS 84 được Việt Nam lựa chọn để xây dựng hệ quy chiếu và hệ toạ độ VN-2000 Điểm gốc mới N00 và 25 điểm định

vị cơ sở GPS được nối với lưới trắc địa quốc tế ITRS Hệ toạ độ vuông góc phẳng là UTM [7]

Hiện nay lưới tọa độ quốc gia bao gồm: Lưới tọa độ cấp 0, lưới tọa độ hạng

I, lưới tọa độ hạng II và lưới tọa độ hạng III khác nhau về độ chính xác, mật độ phân bố điểm, mục đích sử dụng, phương pháp xây dựng và trình tự phát triển của lưới

Lưới tọa độ quốc gia được xây dựng chủ yếu bằng công nghệ GNSS Lưới tọa độ quốc gia được tính toán trong Hệ quy chiếu và Hệ tọa độ VN-2000, có điểm gốc là N00 Riêng lưới tọa độ cấp 0 được tính toán trong hai hệ tọa độ: VN-2000 và ITRF

- Lưới tọa độ cấp 0 là lưới có độ chính xác cao nhất, được phân bố với mật

độ khoảng 10.000 km2 - 15.000km2/điểm với khoảng cách trung bình giữa các điểm

từ 100km - 150km Trong một số trường hợp được xây dựng riêng cho các mục đích đặc biệt như nghiên cứu khoa học, an ninh quốc phòng có thể được phân bố với mật độ dày hơn

Trang 15

6

- Lưới tọa độ cấp 0 được đo lặp với chu kỳ 15 năm/lần Để phục vụ cho việc gắn kết lưới tọa độ quốc gia với ITRF theo quan điểm hệ tọa độ động, một số điểm trong lưới được đo lặp với chu kỳ 1 năm/lần

- Lưới tọa độ hạng I là mạng lưới hiện đang tồn tại nhưng không xây dựng lại

- Lưới tọa độ hạng II là lưới tọa độ tăng dày trung gian làm cơ sở để phát triển lưới tọa độ hạng III được phân bố với mật độ khoảng 700km2 – 1000km2/điểm với khoảng cách trung bình giữa các điểm từ 25km - 30km Các điểm gốc được sử dụng để phát triển lưới tọa độ hạng II là các điểm tọa độ cấp 0 Lưới tọa độ hạng II được xây dựng chủ yếu theo phương pháp thiết kế thành mạng lưới trên phạm vi rộng Trong trường hợp cá biệt, khi có nhu cầu xây dựng một vài điểm để phục vụ cho các mục đích riêng hoặc khôi phục điểm bị mất, bị phá hủy được phép xây dựng theo phương pháp chêm điểm

Khi xây dựng lưới tọa độ hạng II, việc bố trí các điểm đo nối hạng cao được thực hiện theo nguyên tắc:

+ Trường hợp thiết kế thành mạng lưới trên phạm vi rộng lưới tọa độ hạng II phải được đo nối với ít nhất 5 điểm tọa độ cấp 0 trong đó có 4 điểm bố trí tại các góc và 1 điểm bố trí tại trung tâm của lưới đồng thời đo nối với tất cả các điểm tọa

độ cấp 0 khác có trong phạm vi xây dựng lưới;

+ Trường hợp chêm điểm, điểm tọa độ hạng II phải được đo nối với ít nhất 3 điểm tọa độ cấp 0 bố trí ở các vị trí cách đều về 3 phía của điểm

- Lưới tọa độ hạng III là lưới tọa độ làm cơ sở để phát triển các lưới khống chế đo vẽ được phân bố với mật độ khoảng 5km2 – 15km2/điểm đối với khu vực đồng bằng và 25km2-50km2/điểm đối với khu vực miền núi Khoảng cách trung bình giữa các điểm trong lưới tọa độ hạng III là 2km-4km đối với khu vực đồng bằng và 5km-7km đối với khu vực miền núi Trong trường hợp đặc biệt, khi xây dựng lưới tọa độ hạng III ở khu vực miền núi không thể bố trí được điểm theo mật

độ quy định, khoảng cách giữa các điểm trong lưới hạng III được phép kéo dài hơn nhưng không được vượt quá 2 lần

Lưới tọa độ hạng III phải được đo nối với các điểm khống chế tọa độ hạng cao để phục vụ cho việc xác định tọa độ Các điểm gốc tọa độ hạng cao được sử

Trang 16

7

dụng để xây dựng lưới tọa độ hạng III là các điểm tọa độ cấp 0 và tọa độ hạng II; các điểm gốc độ cao hạng cao được sử dụng để xây dựng lưới tọa độ hạng III là các điểm độ cao quốc gia có độ chính xác từ hạng II trở lên

Lưới tọa độ hạng III được xây dựng chủ yếu theo phương pháp thiết kế thành mạng lưới trên phạm vi rộng Trong trường hợp cá biệt, khi có nhu cầu xây dựng một vài điểm để phục vụ cho các mục đích riêng hoặc khôi phục điểm bị mất, bị phá hủy được phép xây dựng theo phương pháp chêm điểm

Khi xây dựng lưới tọa độ hạng III theo phương pháp thiết kế thành mạng lưới trên phạm vi rộng, các điểm đo nối hạng cao được bố trí theo nguyên tắc:

+ Lưới thiết kế phải được đo nối với ít nhất 8 điểm tọa độ quốc gia có độ chính xác từ hạng II trở lên trong đó có 4 điểm bố trí tại các góc và ít nhất 1 điểm

bố trí tại trung tâm của lưới đồng thời đo nối với tất cả các điểm tọa độ cấp 0 và tọa

độ hạng II khác có trong phạm vi xây dựng lưới;

+ Lưới thiết kế phải được đo nối với ít nhất 5 điểm độ cao quốc gia có độ chính xác từ hạng III trở lên trong đó có 4 điểm bố trí tại các góc và 1 điểm bố trí tại trung tâm của lưới, đồng thời trong phạm vi xây dựng lưới cứ khoảng 2000km2-3000km2 phải bố trí một điểm khống chế độ cao

+ Khi chêm điểm tọa độ hạng III phải bố trí các điểm đo nối hạng cao theo nguyên tắc các điểm tọa độ hạng III phải được đo nối với ít nhất 3 điểm tọa độ quốc gia có độ chính xác từ hạng II trở lên bố trí ở các vị trí cách đều về 3 phía của điểm [1]

Trang 17

8

Bảng 1.1 Các chỉ tiêu kỹ thuật khi thiết kế lưới khống chế tọa độ [1]

7

Khoảng cách tối đa từ một điểm bất

kỳ trong lưới đến điểm khống chế tọa

Khoảng cách tối đa từ một điểm bất

kỳ trong lưới đến điểm khống chế độ

cao gần nhất

Không quy định

Không quy

1.1.3 Vai trò của lưới khống chế tọa độ nhà nước

- Lưới khống chế tọa độ được xây dựng nhằm mục đích tạo cơ sở thống nhất

và chính xác về mặt tọa độ cho các điểm gốc tọa độ phục vụ công tác đo đạc bản đồ địa chính, địa hình, quy hoạch, quản lý đất đai,

- Lưới tọa độ địa chính phục vụ thành lập bản đồ địa chính [2]

- Lưới trắc địa các cấp làm cơ sở xây dựng lưới khống chế đo vẽ bản đồ địa hình các loại tỷ lệ trong phạm vi Quốc gia [3]

- Nghiên cứu chi tiết hình dáng kích thước, thể trọng trường của Trái đất và những thay đổi của chúng theo thời gian, định hướng cho các công tác nghiên cứu

Trang 18

9

khoa học và kỹ thuật về Trái đất như: địa chất, địa động lực, bảo vệ tài nguyên và môi trường

1.2 Xây dựng lưới khống chế tọa độ

Lưới trắc địa là một tập hợp các điểm cơ sở đã xác định toạ độ - độ cao trong

hệ quy chiếu có độ chính xác theo yêu cầu, được bố trí với mật độ phù hợp trên phạm vi lãnh thổ đang xét

1.2.1 Nguyên tắc xây dựng lưới khống chế tọa độ

Việc thiết kế kỹ thuật lưới tọa độ nhằm đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật và đảm bảo tính thống nhất cho toàn bộ mạng lưới tọa độ quốc gia, đồng thời là cơ sở cho việc dự toán kinh phí triển khai Lưới tọa độ chỉ được thi công khi thiết kế kỹ thuật - dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Lưới tọa độ hạng II được xây dựng chủ yếu theo phương pháp thiết kế thành mạng lưới trên phạm vi rộng Trong trường hợp cá biệt, khi có nhu cầu xây dựng một vài điểm để phục vụ cho các mục đích riêng hoặc khôi phục điểm bị mất, bị phá hủy được phép xây dựng theo phương pháp chêm điểm

Khi xây dựng lưới tọa độ hạng II, việc bố trí các điểm đo nối hạng cao được thực hiện theo nguyên tắc [1]:

- Trường hợp thiết kế thành mạng lưới trên phạm vi rộng lưới tọa độ hạng II phải được đo nối với ít nhất 5 điểm tọa độ cấp 0 trong đó có 4 điểm bố trí tại các góc và 1 điểm bố trí tại trung tâm của lưới đồng thời đo nối với tất cả các điểm tọa

độ cấp 0 khác có trong phạm vi xây dựng lưới;

- Trường hợp chêm điểm, điểm tọa độ hạng II phải được đo nối với ít nhất 3 điểm tọa độ cấp 0 bố trí ở các vị trí cách đều về 3 phía của điểm

Lưới tọa độ hạng III được xây dựng chủ yếu theo phương pháp thiết kế thành mạng lưới trên phạm vi rộng Trong trường hợp cá biệt, khi có nhu cầu xây dựng một vài điểm để phục vụ cho các mục đích riêng hoặc khôi phục điểm bị mất, bị phá hủy được phép xây dựng theo phương pháp chêm điểm [1]

1.2.2 Thiết kế kỹ thuật lưới tọa độ

a) Thiết kế sơ bộ:

Trang 19

10

Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, tiến hành thiết kế sơ bộ mạng lưới Nguyên tắc cơ bản nhất của bước này sử dụng tất cả các điểm tọa độ hạng cao có trong khu đo kết hợp với các tài liệu về giao thông, thủy hệ, chất đất để tiến hành thiết kế sơ bộ lưới theo các chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản đối với từng cấp hạng

b) Khảo sát thực địa:

Việc khảo sát thực địa được tiến hành sau bước thiết kế sơ bộ Trên cơ sở thiết kế sơ bộ tiến hành khảo sát toàn bộ khu vực cần thiết kế trong đó đặc biệt lưu ý tới các thông tin về sự tồn tại của các điểm tọa độ hạng cao ở thực địa cũng như khả năng sử dụng các điểm này cho đo ngắm Đối với các mốc thiết kế mới, phải lưu ý khả năng chọn điểm ở các khu vực địa hình khó khăn, dân cư đông đúc Kết thúc quá trình khảo sát phải lập báo cáo khảo sát phục vụ cho việc thiết kế chính thức

c) Thiết kế chính thức:

Trên cơ sở thiết kế sơ bộ kết hợp với báo cáo khảo sát tiến hành thiết kế chính thức Kết thúc bước công việc này phải thể hiện sơ đồ mạng lưới đã thiết kế trên máy vi tính kèm theo các thuộc tính cơ bản; số hiệu điểm, tọa độ gần đúng của điểm trên hệ tọa độ VN-2000 Trên sơ đồ thiết kế chính thức phải sử dụng các ký hiệu rõ ràng và thống nhất để thể hiện các điểm tọa độ hạng cao, các điểm độ cao hạng cao có sử dụng và các điểm tọa độ có đo nối độ cao

Lưới tọa độ quốc gia phải đo nối theo đồ hình lưới tam giác dày đặc Hướng

đo nối được thiết kế theo thứ tự ưu tiên sau [1]:

- Thỏa mãn điều kiện 4, 5 quy định tại bảng 1.1 (Số hướng đo tối thiểu tại 1 điểm và số cạnh độc lập tối thiểu tạo 1 điểm);

- Số hướng đo nối tới các điểm tọa độ hạng cao là tối đa;

- Số hướng đo nối tới các điểm độ cao quốc gia (hoặc các điểm trong lưới có thiết kế đo nối độ cao) là tối đa;

- Khoảng cách nối giữa các điểm là ngắn nhất

Lưới tọa độ quốc gia phải được thiết kế đo nối với các điểm hạng cao theo quy định về tăng dày trung gian và phát triển lưới khống chế

Trang 20

11

1.2.3 Chọn điểm xây dựng mốc

Vị trí chọn điểm phải là các vị trí có khả năng tồn tại ở thực địa lâu dài, có nền đất vững chắc, ổn định, ở những vị trí quang đãng và cách xa các công trình kiến trúc lớn, có vị trí thuận lợi cho việc đo ngắm, có khả năng phát triển cho các lưới cấp thấp hơn, nằm ngoài lộ giới các đường giao thông đã được quy hoạch Đối với trường hợp đường giao thông chưa có quy hoạch hoặc khu vực có đường sắt chạy qua thì điểm được chọn phải ở vị trí cách mép đường giao thông hoặc cách mép đường sắt ít nhất 50m [1]

- Vị trí được chọn phải có góc mở lên bầu trời lớn hơn 150o, trong trường hợp đặc biệt ở các khu vực đô thị thì vị trí điểm được chọn cũng phải có góc mở lớn hơn 120o và chỉ được phép che khuất về một phía;

- Điểm được chọn phải ở xa các trạm thu phát sóng tối thiểu 500m; xa các trạm biến thế, đường dây cao thế, trạm cao áp ít nhất 50m;

- Hạn chế chọn điểm tại các vị trí gần mái nhà kim loại, cây cối ẩm, các nhà cao tầng và hàng rào dây thép gai

- Không được phép chọn điểm ở các vị trí dưới khe, suối, sát ta-luy, dưới tán cây

Việc xê dịch vị trí điểm ở ngoài thực địa so với thiết kế chỉ được phép trong phạm vi 500m đối với khu vực đô thị và 1km đối với các khu vực khác; được phép thay đổi đồ hình đo nối nếu đồ hình mới đảm bảo chặt chẽ hơn

Khi chọn điểm cho lưới tọa độ hạng II, hạng III, đối với các điểm không thiết

kế đo nối độ cao, gần các vật kiến trúc ổn định đồng thời đảm bảo các quy định về công tác chọn điểm thì được phép thiết kế mốc gắn trên vật kiến trúc đó Vị trí đặt mốc gắn trên vật kiến trúc phải đảm bảo cho việc đo đạc sau này được thuận tiện,

dễ dàng; tận dụng điểm độ cao quốc gia làm điểm tọa độ

Quá trình chọn điểm tọa độ mà phát hiện điểm tọa độ cấp cao hơn trong khu

đo bị mất, bị phá hủy thì phải lập biên bản có xác nhận của UBND cấp xã hoặc của đơn vị có trách nhiệm quản lý mốc tại địa phương đó trong đó phải ghi rõ các lý do

cụ thể như: do làm đường, do xây dựng, do bị phá hoại, khi đó được phép thiết kế lại mạng lưới ở khu vực này và báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt để giải quyết

Trang 21

12

Không được xem các mốc chưa tìm thấy là các mốc bị mất

Đối với các điểm tọa độ cấp 0 được sử dụng trong quá trình đo nối với lưới tọa độ quốc tế ITRF mốc phải được chọn ở những vị trí thuận tiện cho việc đo thường xuyên và phải được thiết kế trong các khuôn viên để đảm bảo việc bảo quản lâu dài

Tên điểm tọa độ được lấy theo tên địa danh trong Danh mục địa danh Tên điểm tọa độ trong cùng một mảnh bản đồ tỷ lệ 1:50.000 không được trùng nhau Sau khi chọn điểm xong phải tiến hành đánh dấu vị trí điểm tại thực địa bằng cọc gỗ hoặc bê-tông đồng thời phải giải quyết các thủ tục về sử dụng đất hoặc sử dụng công trình làm nơi đặt mốc, bảo đảm tiết kiệm đất và sử dụng lâu dài [1]

Khi kết thúc công tác chọn điểm phải tiến hành tu chỉnh tài liệu và giao nộp các sản phẩm sau:

- Sơ đồ chọn điểm lưới tọa độ tỷ lệ 1:100.000 hoặc 1:250.000 trên đó ghi rõ tên điểm, số hiệu điểm, các tuyến đo nối độ cao (nếu có), hệ thống giao thông, thủy văn chính, các điểm dân cư chính;

- Bản tổng kết công tác chọn điểm trong đó phải trình bày rõ những vấn đề

có thay đổi so với thiết kế kỹ thuật dự toán đã được phê duyệt và các vấn đề đặc biệt khác (nếu có)

Trang 22

13

Hình 1.1 Mốc cấp 0

Hình 1.2 Mốc hạng II, hạng III Đối với các mốc trong lưới tọa độ hạng II, tọa độ hạng III được thiết kế gồm

có 2 tầng (Hình 1.2)

Trang 23

14

Mốc bê tông gắn trên núi đá

Mốc bê tông gắn trên công trình kiến trúc Hình 1.3 Mốc gắn trên núi đá hoặc công trình kiến trúc

Dấu bằng sứ Dấu bằng kim loại

Hình 1.4 Quy cách dấu mốc Dấu mốc toạ độ được làm bằng sứ hoặc kim loại không gỉ có khắc chữ thập

ở tâm mốc Trên mặt mốc ghi số hiệu điểm (số hiệu điểm được ghi chìm so với mặt mốc) Trường hợp tận dụng các mốc độ cao quốc gia làm mốc tọa độ quốc gia phải

Trang 24

Hình 1.5 Quy cách tường vây Cạnh tường vây song song với cạnh mốc, chữ viết quay về hướng Bắc Kích thước tường vây mốc tọa độ được quy định: rộng 100 cm, dày 20 cm, cao 50 cm;

Kích thước chữ khắc trên tường vây được quy định như sau [1]:

Trang 25

16

- Dòng chữ cơ quan chủ quản “BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG” và

“CỤC ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ VIỆT NAM” cao 4,0 cm , rộng 2,5 cm, sâu 0,5 cm, lực nét 0,5 cm;

- Các chữ khác: cao 3,0 cm; rộng 2,0 cm; sâu 0,5 cm; lực nét 0,5 cm

Mốc và tường vây phải được làm bằng bê-tông đạt mác M25 (39 TCVN 6025:1995) trở lên Mốc phải được đổ trước rồi mới đem chôn Trường hợp địa hình khó khăn được phép đổ trực tiếp ở thực địa Tường vây đổ trực tiếp ở thực địa

Thời gian từ khi đổ bê tông đến khi tháo khuôn phụ thuộc vào thời tiết nhưng không được ít hơn 48 giờ đối với mốc cấp 0 được thiết kế nối với ITRF và không ít hơn 24 giờ đối với các mốc còn lại

Mốc được chôn sâu dưới đất, mặt trên của mốc có nắp đậy bằng bê-tông cách mặt đất 30cm Sau khi chôn mốc xong mới tiến hành đổ bê-tông tường vây Mặt tường vây phải cao hơn so với mặt đất 20cm Sau khi chôn mốc và tường vây xong phải đổ đất vào trong khuôn viên tường vây để bảo vệ mốc

Khi chôn mốc ở các khu vực có mực nước ngầm cao, đất mềm hoặc đầm lầy thì trước hết phải đầm chặt lớp đất dưới đáy hố, đóng cọc có chiều dài tối thiểu 1m, đường kính 0,1m ở dưới, phía trên cọc phải lót thêm một lớp đá dăm hoặc sỏi rồi mới tiến hành chôn mốc Khi chôn mốc ở vùng đất phèn chua, nước mặn phải lựa chọn loại xi-măng thích hợp Tuyệt đối không chọn, chôn mốc cấp 0 ở những khu vực này

Mép mốc và mép tường vây song song với nhau, chữ viết trên mặt mốc và mặt tường vây quay về đúng hướng Bắc

Khi chôn mốc phải làm ván dọi điểm để đưa tâm các tầng mốc trùng nhau theo phương dây dọi Ván dọi không được cao hơn mặt đất 1,5m Độ lệch tâm giữa các tầng mốc không được vượt quá 2mm đối với mốc trong lưới tọa độ cấp 0 và 3mm đối với các lưới tọa độ hạng II và III Chiều cao giữa tâm các tầng mốc được

đo bằng thước thép chính xác tới mm

Sau khi việc chôn mốc và đổ tường vây kết thúc, phải tiến hành lập ghi chú điểm và biên bản bàn giao mốc cho địa phương Ghi chú điểm phải được điền viết đầy đủ, rõ ràng, chính xác, đảm bảo thuận tiện và dễ dàng cho người sử dụng Biên

Trang 26

17

bản bàn giao mốc phải kèm theo sơ đồ vị trí và tình trạng mốc tại thực địa cho UBND xã, phường, thị trấn với sự có mặt của chủ sử dụng đất hoặc chủ sở hữu công trình nơi đặt mốc

Khi kết thúc quá trình chôn mốc phải tiến hành tu chỉnh tài liệu và giao nộp các sản phẩm sau:

- Ghi chú điểm tọa độ;

- Biên bản bàn giao mốc tọa độ;

- Báo cáo chất lượng về quá trình chôn mốc, xây tường vây;

- Các biên bản kiểm tra nghiệm thu cấp đơn vị thi công

1.3 Tình hình xây dựng lưới khống chế tọa độ ở một số nước trên thế giới

Mạng lưới toạ độ quốc gia Liên bang Nga trước năm 2000 được xây dựng theo phương pháp truyền thống, bao gồm lưới thiên văn-trắc địa hạng I, II, tăng dày hạng III, IV Từ sau năm 2000, Nga đã ứng dụng hệ thống định vị toàn cầu GPS và GLONASS xây dựng lưới toạ độ quốc gia thành 3 cấp (CK-95) [6]:

- Lưới thiên văn - trắc địa cơ bản: gồm các điểm GPS quan trắc liên tục hoặc theo chu kỳ Khoảng cách các điểm từ 650 km đến 1000 km với sai số tuyệt đối trong hệ toạ độ không gian địa tâm là 10 cm đến 15 cm, sai số tương hỗ vị trí điểm

từ 2 đến 3 cm

- Mạng lưới trắc địa độ chính xác cao phát triển dựa trên các điể thiên văn - trắc địa cơ sở Khoảng cách giữa các điểm từ 250 km đến 300 km Sai số trung phương tương hỗ vị trí điểm mặt bằng nhỏ hơn 3 mm + 5.10-8.D(km)

- Mạng lưới trắc địa vệ tinh hạng I tăng dày trên cơ sở các điểm nhà nước cũ Khoảng cách giữa các điểm từ 20 km đến 35 km Sai số trung phương tương hỗ vị trí điểm 3 mm + 10-3.D(km)

Nhiều quốc gia đã sử dụng công nghệ GPS để xây dựng mạng lưới toạ độ cấp nhà nước cao nhất Trung Quốc đã xây dựng mạng lưới cấp A và cấp B, là cấp trên hạng 1, trong đó có sử dụng kĩ thuật đo Giao thoa cạnh đáy dài (VLBI - Very Long Baseline Interferometry)

Khối EU xây dựng mạng lưới EURF nhằm liên kết các quốc gia trong khu vực và tạo thành hệ thống toạ độ thống nhất ETRF Đó cũng là một phần của mạng

Trang 27

tế của Việt Nam

Hệ thống thông tin đo đạc và nhu cầu quản lý nhà nước về lãnh thổ, quản lý các hoạt động KT-XH, quy hoạch phát triển bền vững nền KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, giám sát khai thác tài nguyên thiên nhiên, kiểm soát tình trạng môi trường, đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của cộng đồng phục vụ quản lý sản xuất, dịch vụ, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và nâng cao dân trí

Hệ tọa độ VN-2000 đang sử dụng hiện nay bao gồm các điểm tọa độ quốc gia cấp 0, hạng I, hạng II và hạng III với tổng số 14.234 điểm phủ trùm cả nước, trung bình mỗi đơn vị hành chính cấp xã có 1 điểm tọa độ quốc gia Lưới cấp 0 gồm

71 điểm phân bố đều trên lãnh thổ được đo bằng công nghệ GPS, lưới hạng I chỉ phủ trùm khu vực miền Bắc và được đo bằng phương pháp lưới tam giác, lưới hạng

II phủ trùm toàn lãnh thổ và được đo bằng nhiều phương pháp Khi xây dựng và công bố hệ tọa độ VN-2000 chúng ta chỉ mới tính toán bình sai mạng lưới cấp 0, hạng I, II Mạng lưới tọa độ quốc gia hạng III được đo đạc, tính toán, bình sai và hoàn thành vào năm 2004 Hệ tọa độ quốc gia VN-2000 đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thành hệ thống bản đồ địa hình quốc gia, hệ thống bản đồ địa chính trên toàn quốc và các loại bản đồ chuyên ngành khác trong gần 20 năm qua

Do tác động của phát triển KT-XH, hiện nay theo báo cáo của các địa phương, khoảng từ 35-40% các điểm mốc tọa độ quốc gia đã bị mất, bị dịch chuyển

Trang 28

Hiện nay khoa học và công nghệ nói chung và công nghệ định vị vệ tinh GNSS nói riêng đã có những phát triển vượt bậc, mở ra những cơ hội mới cho việc khai thác công nghệ GNSS cho các mục đích đo đạc và bản đồ

Từ thực trạng về hạ tầng đo đạc cơ bản hiện nay của Việt Nam được trình bày hệ thống ở phần trên, xuất phát từ yêu cầu thực tế, việc hoàn thiện và hiện đại hóa hạ tầng đo đạc cơ bản là nhiệm vụ và yêu cầu cấp bách hiện nay cần phải thực hiện

1.5 Ứng dụng dịch vụ trạm CORS

CORS (Continuosly Operating Reference Stations) là hệ thống các trạm tham chiếu GNSS được kết nối với trạm xử lý trung tâm qua hệ thống mạng WAN Trạm xử lý có nhiệm vụ tiếp nhận các thông tin mà các trạm tham chiếu thu thập được, tiến hành xử lý, lưu giữ các thông tin này và trích xuất các thông tin cần thiết chuyển tới người sử dụng GPS theo yêu cầu

Cấu trúc của trạm CORS gồm 03 thành phần chính là: Hệ thống trạm tham chiếu; Trạm xử lý trung tâm (Trạm chủ) và Phần người sử dụng [5]

Trang 29

20

Hình 1.7 Cấu trúc cơ bản của trạm CORS Với sự phát triển nhanh của KT-XH của Hải Phòng cũng như Việt Nam, với mục tiêu sớm đưa Việt Nam thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, sử dụng công nghệ cao trong đa ngành, đa nghề, đa dịch vụ Trong công tác đo đạc bản đồ, quản lý đất đai, Cục đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam đã và đang xây dựng, phát triển các hệ thống nền tảng hạ tầng kỹ thuật đo đạc bản đồ và thông tin địa lý thế hệ mới như: Hệ thống mạng lưới định vị vệ tinh liên tục (CORS); Hạ tầng

dữ liệu không gian quốc gia (NSDI); Mô hình geoid/quasigeoid; Hệ quy chiếu động 3D

“Xây dựng mạng lưới trạm định vị toàn cầu bằng vệ tinh trên lãnh thổ Việt Nam” là một trong những dự án trọng điểm của Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam,

được Bộ Tài nguyên và Môi trường giao triển khai Với việc triển khai Dự án này, công nghệ và hạ tầng kỹ thuật của ngành đo đạc, bản đồ Việt Nam sẽ có bước ngoặt lớn góp phần thúc đẩy ứng dụng công nghệ mới, tăng năng suất lao động trong lĩnh vực đo đạc, bản đồ; phục vụ tích cực cho công tác xây dựng hệ thống quy chiếu động, tham gia vào hệ thống lưới địa động lực quốc tế Đồng thời hiện đại hóa cơ sở

hạ tầng đo đạc và bản đồ Hiện nay, Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam đang thực hiện xây dựng 65 trạm GNSS CORS trên toàn lãnh thổ Việt Nam, trong đó có 24 trạm Geodetic CORS phân bố đều trên toàn lãnh thổ Việt Nam với khoảng cách giữa các trạm từ 150km đến 200km và 41 trạm NRTK CORS tại các

Trang 30

21

khu vực trọng điểm với mật độ từ 50km đến 80km/trạm Trong đó Miền Bắc 14 trạm; Miền Trung 7 trạm; Tây Nguyên và Nam Bộ 20 trạm và 01 Trạm xử lý và điều khiển trung tâm tại Hà Nội Tiếp sau đó sẽ từng bước chêm dày các trạm NRTK CORS tại các khu vực còn lại tiến tới phủ trùm trên toàn lãnh thổ Khi dự án hoàn thành sẽ làm thay đổi cơ bản hạ tầng đo đạc theo xu hướng hiện đại và đáp ứng độ chính xác cao [14]

Với các khu vực có sóng 3G/4G của mạng di động chúng ta có thể xác định được ngay tức thời tọa độ, độ cao tại bất kỳ vị trí nào và thời gian nào ở độ chính xác cỡ cm, đặc biệt khi thử nghiệm đo đạc xác định tọa độ tại những vị trí dưới tán cây thưa, kết quả vẫn đảm bảo độ chính xác cỡ cm [9]

Trang 31

22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG LƯỚI KHỐNG CHẾ TỌA ĐỘ

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía Đông miền duyên hải Bắc Bộ, cách Thủ đô Hà Nội 100 km, phía Bắc và Đông Bắc giáp Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp Hải Dương, phía Tây Nam giáp Thái Bình và phía Đông là bờ biển chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ phía Đông đảo Cát Hải đến cửa sông Thái Bình Là nơi hội tụ đầy đủ các lợi thế về đường biển, đường sắt, đường bộ và đường hàng không, giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong cả nước và các quốc gia trên thế giới Do có cảng biển, Hải Phòng giữ vai trò to lớn đối với xuất nhập khẩu của vùng Bắc Bộ, tiếp nhận nhanh các thành tựu khoa học - công nghệ từ nước ngoài để rồi lan toả chúng trên phạm vi rộng lớn từ bắc khu Bốn cũ trở ra Cảng biển Hải Phòng cùng với sự xuất hiện của cảng Cái Lân (Quảng Ninh) với công suất vài chục triệu tấn tạo thành cụm cảng có quy mô ngày càng lớn góp phần đưa hàng hoá của Bắc

bộ đến các vùng của cả nước [10]

Tổng diện tích của thành phố Hải Phòng là 1.519 km2, bao gồm cả huyện đảo (Cát Hải và Bạch Long Vĩ) Đồi núi chiếm 15% diện tích, phân bố chủ yếu ở phía Bắc, do vậy địa hình phía bắc có hình dáng và cấu tạo địa chất của vùng trung du với những đồng bằng xen đồi; phía nam có địa hình thấp và khá bằng phẳng kiểu địa hình đặc trưng vùng đồng bằng thuần tuý nghiêng ra biển, có độ cao từ 0,7 - 1,7

m so với mực nước biển

Địa hình phía bắc của Hải Phòng là vùng trung du, có đồi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía nam ra biển Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ đất liền ra biển gồm hai dãy chính Dãy chạy từ An Lão đến Đồ Sơn đứt quãng, kéo dài khoảng 30 km có hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi: Voi, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu Dãy Kỳ Sơn - Tràng Kênh và An

Trang 32

23

Sơn - Núi Đèo, gồm hai nhánh: nhánh An Sơn - Núi Đèo cấu tạo chính là đá cát kết

có hướng tây bắc đông nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lãng và Núi Đèo; và nhánh Kỳ Sơn - Trang Kênh có hướng tây tây bắc - đông đông nam gồm nhiều núi

đá vôi

Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km2, thấp và khá bằng phẳng, chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra biển Chính vì điều này đã làm cho biển Đồ Sơn thường xuyên bị vẩn đục nhưng sau khi cải tạo nước biển đã có phần sạch hơn, cát mịn vàng, phong cảnh đẹp Ngoài ra, Hải Phòng còn có đảo Cát Bà là khu dự trữ sinh quyển thế giới có những bãi tắm đẹp, cát trắng, nước trong xanh cùng các vịnh Lan Hạ, đẹp và kì thú Cát Bà cũng là đảo lớn nhất thuộc khu vực vịnh Hạ Long

Sông ngòi ở Hải Phòng khá nhiều, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km/1 km²

Độ dốc khá nhỏ, chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc Đông Nam Đây là nơi tất cả hạ lưu của sông Thái Bình đổ ra biển, tạo ra một vùng hạ lưu màu mỡ, dồi dào nước ngọt phục vụ đời sống con người nơi đây Hải Phòng có 16 sông chính tỏa rộng khắp địa bàn thành phố với tổng độ dài trên 300 km [10]

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Hải Phòng là một trung tâm kinh tế của miền Bắc nói riêng và của cả Việt Nam nói chung Dưới thời Pháp thuộc, Hải Phòng là thành phố cấp 1, ngang hàng với Sài Gòn và Hà Nội Những năm cuối thế kỷ 19, người Pháp đã có những đề xuất

xây dựng Hải Phòng thành "thủ đô kinh tế" của Đông Dương Ngày nay, Hải Phòng

là một trong những trung tâm kinh tế quan trọng nhất của Việt Nam, từ năm 2005 đến nay luôn đứng trong top 5 các tỉnh thành phố đóng góp ngân sách nhiều nhất cả nước, cụ thể là luôn đứng ở vị trí thứ 3 sau Thành phố Hồ Chí Minh,Hà Nội

Năm 2018, trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh mới được công

bố, Hải Phòng vươn lên vị trí thứ 9/63 tỉnh thành phố, tăng 12 bậc so với năm 2016,

là thứ hạng cao nhất trong 13 năm qua và nằm trong 10 địa phương có chất lượng điều hành tốt nhất của cả nước Còn trong bảng xếp hạng về chỉ số thương mại điện

tử năm 2017 Hải Phòng đứng vị trí thứ 3, tăng 2 bậc Đây là một bước tiến ngoạn mục của Hải Phòng về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và cải cách hành chính [12]

Trang 33

24

Hải Phòng là trung tâm phát luồng hàng xuất nhập khẩu lớn nhất miền Bắc Đến nay, Hải Phòng đã có quan hệ xuất nhập khẩu hàng hoá với trên 40 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Trung tâm Hội chợ triển lãm quốc tế Hải Phòng là trung tâm hội chợ lớn nhất của Việt Nam hiện nay Hải Phòng đang phấn đấu để trở thành một trong những trung tâm thương mại lớn nhất của cả nước

Hải Phòng là một trong 5 địa phương có quy mô công nghiệp lớn nhất cả

nước Một trong các mục tiêu phát triển của thành phố là trở thành "thành phố công nghiệp và dịch vụ cảng văn minh, hiện đại" Thành phố có mạng lưới các khu công

nghiệp được bố trí hợp lý với các khu công nghiệp lớn: Nomura - Đình Vũ, Đồ Sơn - Hải Phòng, Vinashin - Shinec, Tân Liên và nhiều cụm công nghiệp nhỏ và vừa: Quán Toan, Đông Hải, Kiến An - An Tràng, Một số khu công nghiệp lớn của các nhà đầu tư Singapore, Đài Loan, Đức đang được nghiên cứu đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, sẵn sàng mời gọi các nhà đầu tư nước ngoài

Đặc biệt, Hải Phòng là thành phố có nhà máy ô tô VinFast cũng là nhà máy ô

tô đầu tiên tại Việt Nam sở hữu chu trình sản xuất hoàn thiện, đồng bộ và tự động hóa cao hàng đầu quốc tế với 6 nhà xưởng gồm: xưởng dập, xưởng hàn thân vỏ, xưởng sơn, xưởng động cơ, xưởng phụ trợ và xưởng lắp ráp VinFast là nhà máy ô

tô duy nhất tại Việt Nam làm chủ được các công đoạn cốt lõi, có năng lực tự sản xuất những cấu phần chính của một chiếc ô tô như thân vỏ, động cơ Với năng lực

tự dập các tấm lớn (hơn 20 tấm cơ bản cho mỗi xe); và khả năng gia công, sản xuất động cơ tại chỗ theo tiêu chuẩn cao của Châu Âu - VinFast đã khẳng định được vị thế của một nhà sản xuất ô tô độc lập [10]

2.1.3 Quá trình đô thị hóa, phát triển đô thị của thành phố

Quá trình đô thị hóa ở Hải Phòng chịu sự tác động của các điều kiện tự nhiên: địa hình đa dạng gồm cả đồng bằng, đồi núi, biển đảo; đất sử dụng ngày càng hợp lý; sông ngòi có mật độ vào loại cao nhất đồng bằng Bắc Bộ; tài nguyên du lịch phong phú; khí hậu ảnh hưởng của biển Một số khó khăn cần khắc phục như: nền địa chất có cường độ chịu tải thấp, hiện tượng bồi lắng phù sa ở cửa sông, xói lở bờ biển và những biến đổi của khí hậu toàn cầu

Các nhân tố KT-XH tác động đến quá trình đô thị hóa thể hiện chủ yếu:

Trang 34

25

- Đô thị Hải Phòng có lịch sử phát triển hơn 100 năm, từ năm 1985 đến nay

có sự thay đổi lớn về lãnh thổ đô thị Tỷ lệ gia tăng dân số thấp hơn cả nước và giảm nhẹ, tỷ lệ nhập cư thấp Hải Phòng là trung tâm thứ hai của Đồng bằng sông Hồng về tiềm lực khoa học kỹ thuật và thứ ba cả nước về đội ngũ cán bộ giỏi thuộc nhiều lĩnh vực

- Quy mô nền kinh tế của Thành phố ở mức khá lớn và tăng liên tục Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, giảm chênh lệch giữa các vùng, hiện đại hoá nông thôn, phát triển nhanh vùng ven biển Các dự án

và vốn đầu tư phát triển đô thị tăng nhanh

- Cảng Hải Phòng là một trong cảng quan trọng nhất cả nước, gồm 25 bến cảng tập trung thành 4 cụm cảng chính Số lượng và quy mô các cơ sở công nghiệp tăng liên tục, phân bố dọc theo các sông lớn và các trục đường giao thông chính, càng xa trung tâm mật độ phân bố càng thấp Các khu công nghiệp tập trung ở các quận nội thành và các thị trấn Phần lớn các làng nghề được phân bố ở các thị tứ, tạo nền móng ban đầu cho quá trình đô thị hóa nông thôn

- Hải Phòng thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là một cực của tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là điểm kết nối hai tuyến hành lang kinh tế và một vành đai phát triển kinh tế vùng Duyên hải Bắc bộ

Từ năm 2003, Hải Phòng được công nhận là đô thị loại I - trung tâm cấp quốc gia, với tính chất: “là một cực quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc; là thành phố cảng, cửa ngõ chính ra biển của các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng; là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ của

cả nước và vùng Duyên hải Bắc Bộ; có vị trí quan trọng cả về quốc phòng, an ninh” Giai đoạn 1985 đến nay mức độ đô thị hóa về chức năng đô thị của Hải Phòng luôn đạt mức cao, đạt tiêu chuẩn của đô thị loại I Các thị trấn chỉ đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV và loại V

Hiện tại việc mở rộng, phát triển không gian đô thị mới của thành phố Hải Phòng tỏa ra 3 hướng đột phá [10]:

- Đối với hướng đột phá về phía bờ Bắc sông Cấm, Thành phố đã khởi công

và tập trung cao để triển khai xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị Trung tâm hành

Trang 35

26

chính chính trị thành phố, với tổng vốn đầu tư 9.800 tỷ đồng Tới nay, khối lượng hoàn thành trên 5.000 tỷ đồng Đồng thời thu hút nhiều dự án lớn đầu tư vào khu đô thị và công nghiệp VSIP, đảo Vũ Yên Cuối năm 2019, sẽ hoàn thành cầu Hoàng Văn Thụ và dự kiến sẽ khởi công Trung tâm hành chính chính trị cùng các công trình lớn khác như nhà hát, quảng trường, Đây là một trong những hướng được ưu tiên đầu tư và thành phố tập trung rất cao để thực hiện

- Về hướng đột phá phát triển về phía Cát Hải, Thành phố vừa khánh thành Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng, Khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp, vui chơi giải trí đảo Cát Bà; Nhà máy sản xuất ô tô Vinfast và Khu công nghiệp Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng, cầu Bạch Đằng, kết nối Hải Phòng - Quảng Ninh, mở ra cửa ô mới và mang lại thêm nhiều cơ hội cho sự phát triển của thành phố

- Còn hướng đột phá phát triển về phía ven sông Lạch Tray đi Đồ Sơn, Thành phố đã triển khai Trung tâm thương mại Aeon Mall (Nhật Bản); khánh thành Bệnh viện quốc tế Vinmec; xây dựng khu đô thị và khách sạn 5 sao; thực hiện dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Hòn Dấu - Đồ Sơn, Hiện thành phố đang triển khai dự án tuyến đường bộ ven biển từ Đồ Sơn, qua Kiến Thụy, Tiên Lãng kết nối với Thái Bình - Nam Định, cuối năm 2020 sẽ hoàn thành, mở ra cửa ô mới về không gian đô thị và thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội thành phố

Một loạt các công trình kết cấu hạ tầng giao thông có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển KT-XH của thành phố và của cả nước đã hoàn thành như: đường ô

tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; Cảng Hàng không quốc tế Cát Bi; đường và cầu Tân

Vũ - Lạch Huyện; mở rộng, nâng cấp quốc lộ 10 và nhiều công trình giao thông đối nội của thành phố như cầu Hàn, cầu Đăng, cầu vượt đường Lê Hồng Phong, cầu vượt đường Nguyễn Bỉnh Khiêm; cầu Vũ Yên 1,

Đi đôi với việc phát triển, mở rộng không gian đô thị, thành phố cũng đã triển khai một loạt các dự án chỉnh trang, nâng cấp đô thị như: xây dựng Công viên cây xanh Tam Bạc; chỉnh trang dải trung tâm thành phố; chỉnh trang khu vực Nhà triển lãm thành phố và dải vườn hoa trung tâm thành phố; quy hoạch lại Cung Văn hóa lao động hữu nghị Việt- Tiệp; cải tạo chỉnh trang hai bờ sông Tam Bạc; đẩy nhanh tiến độ thực hiện tuyến đường giao thông đô thị; triển khai dự án giao thông thông minh,

Trang 36

27

Đặc biệt, trong hơn 2 năm qua, thành phố đã đầu tư khoảng 1.860 tỷ đồng xây dựng lại các chung cư xuống cấp với cách làm sáng tạo, hiệu quả, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hoàn thành chỉnh trang xây dựng chung cư xuống cấp Các khu chung cư mới bảo đảm hiện đại, thông thoáng, quy hoạch đồng bộ về kết cấu hạ tầng, có công viên cây xanh, bãi đỗ xe, khu vực dịch vụ, đáp ứng yêu cầu của cư dân, [10]

2.1.4 Tình hình thực hiện công tác quản lý đất đai của thành phố Hải Phòng

Trước khi Hải Phòng có hệ thống Văn phòng Đăng ký đất đai, tình trạng hồ

sơ địa chính tại các cấp xã, huyện, thành phố chưa được thiết lập hoặc có thiết lập thì lại chưa đồng bộ, thông tin đất đai chưa được cập nhật, chỉnh lý biến động thường xuyên nên chưa đáp ứng được yêu cầu về quản lý cũng như cung cấp thông tin địa chính Hệ lụy là tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thấp, nhiều khiếu kiện về đất đai, các tổ chức, công dân bức xúc khi thực hiện các thủ tục hành

chính liên quan đến đất đai,

Ngày 19/10/2005, Văn phòng Đăng ký đất đai được thành lập với chức năng giúp Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND thành phố Hải Phòng thực hiện nhiệm

vụ đăng ký, chỉnh lý biến động, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, [10]

Hệ thống Văn phòng Đăng ký đất đai đi vào hoạt động ổn định, nhất là từ năm 2013 đến nay đã tạo ra sự thống nhất trong quản lý nhà nước về đất đai, kịp thời khắc phục được tối đa những sai sót, chồng chéo, đảm bảo chặt chẽ, chính xác, tránh được những sai phạm, từ đó hạn chế các tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, nhất là các vụ việc phức tạp, kéo dài Đến nay, kết quả cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất trên địa bàn thành phố đạt tỷ lệ cao Trong đó, các tổ chức đạt 85%; hộ gia đình, cá nhân đạt 94,3% và cơ sở tôn giáo đạt 58%

Thời gian qua, hoạt động của Văn phòng Đăng ký đất đai Hải Phòng ngày càng chính quy, chuyên nghiệp và hiện đại, từ đó đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong lĩnh vực quản lý đất đai, đưa thành phố Hải Phòng đứng thứ 6 trong 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở

Hải Phòng bao gồm 7 quận nội thành, 6 huyện ngoại thành và 2 huyện đảo trong đó có 224 đơn vị cấp xã gồm 70 phường, 10 thị trấn và 144 xã Trong đó

Trang 37

28

108/224 xã, phường, thị trấn được đo vẽ bàn đồ địa chính với diện tích là 71.878,2/152.336,9 ha đạt 48,2% về số xã, phường, thị trấn và 47,2% về diện tích, chủ yếu nằm trong 7 quận nội thành và 2 huyện đảo, các địa phương trên đã được bàn giao bản đồ số để phục vụ việc quản lý và đăng ký biến động Còn lại 6 huyện ngoại thành vẫn chưa có bản đồ địa chính và bản đồ số lên việc quản lý đất đai, cấp GCN QSDĐ vẫn còn khó khăn

2.1.5 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và ảnh hưởng đến

hệ thống lưới khống chế tọa độ

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa nhanh, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhiều, mật độ xây dựng công trình dày đặc trong số đó có những khu đất có mốc khống chế toạ độ dẫn đến mất mốc

Nhiều vị trí mốc nằm trong các dự án xây dựng công ty, mở rộng đường đã

bị san lấp, đào đắp lên không còn

Những mốc tọa độ trước kia nằm trong khu vực đất nông nghiệp, nhưng do quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng (đào ao, xây nhà) đã dẫn đến việc mốc bị nghiêng, sụt lún, di chuyển,

Nhiều mốc khống chế còn nhưng khả năng sử dụng hạn chế do nằm trong khu vực có nhiều nhà cao tầng dẫn đến việc đo đạc hạn chế (bị che khuất, khó tận dụng phục vụ đo bằng công nghệ GPS)

Việc phát triển KT-XH của Hải Phòng nhưng năm gần đây đã biến Hải Phòng thành một đại công trường của cả nước Đòi hỏi việc thành lập các loại bản

đồ độ chính xác cao và đo đạc hệ thống lưới quan trắc quan trọng hơn lúc nào hết Thực tế này đặt ra yêu cầu không nhỏ cho hệ thống lưới khống chế về mật độ điểm

mốc cũng như độ chính xác của các mốc tọa độ

2.2 Tình hình quản lý, sử dụng hệ thống lưới khống chế tọa độ tại thành phố Hải Phòng

2.2.1 Khái quát tình hình đo đạc bản đồ trên địa bàn

Trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện có 13 đơn vị được Cục Đo đạc, Bản

đồ và Thông tin địa lý Việt Nam cấp Giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ, trong

đó có 2 đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường và 11 doanh nghiệp

Trang 38

29

Ngoài ra, còn có các đơn vị của quân đội, trung ương đóng trên địa bàn thành phố Các tổ chức hoạt động đo đạc và bản đồ đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đo đạc và bản đồ phục vụ kịp thời cho yêu cầu phát triển KT-XH; đảm bảo quốc phòng an ninh; quản lý, quản lý đất đai, giám sát tài nguyên, môi trường trên địa bàn thành phố [10]

Trang thiết bị, công nghệ trong lĩnh vực đo đạc, bản đồ được quan tâm đầu

tư hiện đại nên công tác đo đạc, lập bản đồ được thực hiện nhanh chóng, chính xác

và đầy đủ

Năm 2010, Bộ Tài nguyên và Môi trường bàn giao cho thành phố 510 mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1/2.000 (chiếm khoảng 43% diện tích thành phố) và 67 mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1/10.000 phủ trùm toàn thành phố Thành phố thành lập 3 bộ

hồ sơ và bản đồ địa giới hành chính cấp thành phố; 52 bộ hồ sơ cấp huyện và 1.080

bộ hồ sơ cấp xã Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có dữ liệu về hệ thống bản đồ chuyên đề: Bản đồ quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quy hoạch xây dựng, giao thông, nông nghiệp; Bản đồ thổ nhưỡng, các bản đồ chuyên đề khác

Trong công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đo đạc

và bản đồ, thành phố đã ban hành các văn bản về: mức thu phí đo đạc lập bản đồ địa chính, phí thẩm định cấp quyền sử dụng đất, phí khai thác sử dụng tài liệu đất đai trên địa bàn thành phố; quy chế thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu tài nguyên và môi trường trên địa bàn thành phố; đơn giá khảo sát, xây dựng; giá dịch

vụ đo đạc, lập bản đồ địa chính trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất mới hoặc cho phép thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất ở những nơi chưa có bản đồ địa chính có tọa độ trên địa bàn thành phố

UBND thành phố Hải Phòng đang lên kế hoạch xây dựng cơ sở dữ liệu nền địa lý (bản đổ số) theo quy định trong Luật Đo đạc và Bản đồ Hệ thống bản đồ số này được xây dựng sẽ tạo thuận lợi trong công tác quản lý, quy hoạch đất đai và các lĩnh vực chuyên ngành như đo đạc, bản đồ, giao thông, nông nghiệp,

2.2.2 Hiện trạng hệ thống lưới khống chế tọa độ tại Hải Phòng

Cuối năm 1995, thành phố Hải Phòng được Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) xây dựng và bàn giao mạng lưới địa chính cơ sở phủ trùm toàn thành phố, tổng số điểm mốc khống chế tọa độ là 284 điểm trong đó có

Trang 39

30

194 điểm nằm trên địa bàn thành phố Hải phòng, 90 điểm nằm ở khu vực các tỉnh giáp ranh là Thái Bình, Quảng Ninh và Hải Dương; xây dựng 799 điểm lưới địa chính cấp 1 và 1569 điểm địa cấp 2 Tình trạng các mốc địa chính cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xây dựng các công trình, dự án lớn của thành phố Hồ sơ lưới khống chế tọa

độ được lưu trữ ở Trung tâm Công nghệ thông tin thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, đủ đáp ứng yêu cầu khai thác của các tổ chức, cá nhân [8]

Theo báo cáo số 408/BC-TTKTTN-MT của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên - Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng ngày 29/12/2016 trên địa bàn thành phố Hải Phòng còn lại 128 mốc khống chế tọa độ còn

sử dụng được

Dưới đây học viên sẽ thống kê tình hình các điểm mốc tọa độ theo địa bàn từng quận, huyện của thành phố Hải Phòng:

2.2.2.1 Quận Ngô Quyền

Bảng 2.1 Hiện trạng mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Ngô Quyền

STT Số hiệu

mốc Tên điểm Tình trạng dấu mốc và nguyên nhân

1 118469 Thủy Tinh Mất (do làm đường)

2 118470 Cảng Hải Phòng Mất (do san lấp làm bãi cảng)

4 118479 Vạn Mỹ Mất (do tôn tạo mái nhà)

5 118483 Ngã 4 Thành Đội Mất (do làm đường)

6 118484 Đông Khê Mất (do làm đường Lê Hồng Phong)

7 118496 A10 Đồng Tâm Còn (trên nóc nhà trung tâm ứng dụng cầu

Vượt Lạch Tray)

8 118504 Ngân hàng nông nghiệp Còn (trên nóc nhà Ngân hàng Phát triển

Nông nghiệp và nông thôn) Như vậy hiện tại toàn quận Ngô Quyền còn 2/8 mốc khống chế tọa độ nhà nước Vị trí các mốc được phân bố như sau (hình 2.1) và được áp lên bản đồ Google Map (hình 2.2):

Trang 40

31

Vị trí mốc còn ngoài thực địa

 Vị trí mốc đã mất ngoài thực địa Hình 2.1 Sơ đồ vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Ngô Quyền

Hình 2.2 Vị trí mốc khống chế tọa độ trên địa bàn quận Ngô Quyền

trên nền bản đồ Google Map

Ngày đăng: 22/07/2020, 15:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w