1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện can lộc, tỉnh hà tĩnh

247 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 247
Dung lượng 6,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy có thể nói, các nghiên cứu cụ thể về tác động của BĐKH và thiên tai trong bối cảnh BĐKH tại địa bàn huyện Can Lộc còn rất ít và chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về ảnh hưởng c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG



Phạm Thị Bích Ngọc

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

TẠI HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Hà Nội - Năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG



Phạm Thị Bích Ngọc

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ

ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

TẠI HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Môi trường trong Phát triển bền vững

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS.TSKH Trương Quang Học

Hà Nội - Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả đạt được trong luận án là sản phẩm của riêng cá

nhân tôi, không sao chép lại của người khác Trong toàn bộ nội dung của luận án,

những điều được trình bày hoặc là của cá nhân, hoặc là được tổng hợp từ nhiều

nguồn tài liệu Tất cả các tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc rõ ràng và được trích

dẫn theo đúng quy định về khoa học Các kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng

được người khác công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tôi, người duy nhất, xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận án

Hà Nội, tháng 05 năm 2020

Phạm Thị Bích Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án được hoàn thành, trước hết bằng sự nỗ lực, nghiêm túc học tập và nghiên cứu của Tác giả trong những năm qua, nhưng không thể thiếu sự giúp đỡ, tư vấn nhiệt tình và trách nhiệm của rất nhiều tổ chức và cá nhân Những sự giúp đỡ và

tư vấn đó đã giúp Tác giả hoàn thành luận án cũng như tiếp tục sự nghiệp trong tương lai

Trước tiên, Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Viện Tài nguyên và Môi trường (trước đây là Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Tác giả được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, Tác giả xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới hai thầy cô hướng dẫn là GS.TSKH Trương Quang Học và TS Nghiêm Thị Phương Tuyến đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ Tác giả từ những bước đi đầu tiên xây dựng hướng nghiên cứu, cũng như trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án Hai thầy cô đã luôn ủng hộ, động viên và hỗ trợ những điều kiện tốt nhất để Tác giả hoàn thành luận án

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Thị Xuân Thắng

đã chỉ dẫn Tác giả những ý tưởng ban đầu về phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế cũng như cung cấp rất nhiều tài liệu tham khảo hữu ích để Tác giả tham khảo trong quá trình xây dựng và triển khai đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ông Lê Anh Đức – Giám đốc Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Hà Tĩnh và các cán bộ của Trung tâm đã cung cấp số liệu và nhiệt tình hỗ trợ cho Tác giả trong các đợt thực địa tại

Hà Tĩnh

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ông Trần Văn Lợi – Cán bộ chương trình, Tổ chức DDS Việt Nam (thuộc Trung tâm Khuyến Lâm Đan Mạch), Ông Đặng Trần Phong – Phó chủ tịch UBND huyện Can Lộc, Ông Phan Đình Thắng – Cán bộ Khuyến Nông huyện Can Lộc, Ông Nguyễn Công Tiến – Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Lộc, Ông Nguyễn Văn Quế - Chủ tịch UBND xã Vượng Lộc và Ông

Trang 5

Nguyễn Xuân Nhân – Chủ tịch xã Khánh Lộc đã bố trí cho Tác giả được tiếp cận địa bàn nghiên cứu, cung cấp các thông tin hữu ích, cũng như hỗ trợ Tác giả trong suốt quá trình thu thông tin tại huyện Can Lộc và ba xã Khánh Lộc, Vĩnh Lộc và Vượng Lộc

Tác giả xin được chân thành cảm ơn người dân tại ba xã Vượng Lộc, Vĩnh Lộc và Khánh Lộc đã không quản thời tiết nắng nóng gay gắt tới họp bàn nhiều lần với Tác giả và cung cấp các thông tin rất thiết thực và hữu ích cho luận án

Cuối cùng, với tình yêu từ đáy lòng, Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, người thân và gia đình (bố, mẹ, chồng, anh chị em và hai con của Tác giả), những người thân yêu đã luôn ở bên cạnh Tác giả, động viên tinh thần để Tác giả vững tâm hoàn thành luận án của mình

TÁC GIẢ

Phạm Thị Bích Ngọc

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG x

DANH MỤC HÌNH xii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của luận án 1

2 Luận điểm nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Câu hỏi nghiên cứu 2

5 Đối tượng nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 5

8 Tính mới của luận án 6

9 Cấu trúc của luận án 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 7

1.1 Biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế 7

1.1.1.Các công trình nghiên cứu trên thế giới 7

1.1.2.Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam 10

1.2.Tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế do biến đổi khí hậu 12

1.2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 12

1.2.2.Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam 14

1.3.Các giải pháp phát triển sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH 17

1.3.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 17

1.3.2 Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam 19

1.4.Các nghiên cứu tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh 21

Tiểu kết chương 1 23

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

Trang 7

2.1 Cơ sở lý luận 25

2.1.1.Sinh kế bền vững và chiến lược thích ứng với BĐKH 25

2.1.2.Tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế trước biến đổi khí hậu 31

2.1.3 Các giải pháp phát triển sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH 36

2.2 Khung phân tích vấn đề nghiên cứu 38

2.3 Cách tiếp cận 41

2.3.1 Cách tiếp cận hệ thống, liên ngành 41

2.3.2 Cách tiếp cận kết hợp trên xuống và dưới lên 41

2.3.3 Cách tiếp cận dựa vào khung sinh kế bền vững 42

2.4 Phương pháp nghiên cứu 43

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 43

2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu sơ cấp 47

2.4.3 Phương pháp tính toán chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế 48

2.4.4 Phương pháp xác định mô hình sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH 55

Tiểu kết chương 2 56

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 58

3.1 Đặc trưng tự nhiên, kinh tế-xã hội của vùng nghiên cứu 58

3.1.1 Đặc trưng tự nhiên của huyện Can Lộc 58

3.1.2 Đặc trưng kinh tế - xã hội của huyện Can Lộc 59

3.1.3 Đặc trưng chính của 3 xã Khánh Lộc, Vĩnh Lộc và Vượng Lộc 62

3.2 Thực trạng BĐKH và kịch bản BĐKH khu vực nghiên cứu 67

3.2.1 Thực trạng BĐKH 67

3.2.2 Kịch bản BĐKH 75

3.3 Thực trạng sinh kế hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu 77

3.3.1 Các nguồn vốn sinh kế 78

3.3.2 Các hoạt động sinh kế chính 85

3.3.3 Chiến lược sinh kế 90

3.3.4 Kết quả sinh kế 91

Trang 8

3.3.5 Thể chế - chính sách liên quan tới hoạt động sinh kế trong bối cảnh

BĐKH 93

3.3.6 Tác động của BĐKH tới sinh kế 97

3.4 Tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế 104

3.4.1 Chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế (LVI) 105

3.4.2 Chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế theo IPCC (LVI-IPCC) 120

3.4.3 Tính toán chỉ số ảnh hưởng sinh kế (LEI) 121

3.5 Thực trạng thích ứng với BĐKH trong sinh kế nông nghiệp của người dân khu vực nghiên cứu 124

3.5.1 Các hoạt động sinh kế ứng phó của người dân 124

3.5.2 Đánh giá sự phù hợp của các chiến lược sinh kế 126

3.6 Đề xuất giải pháp phát triển sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH 130

3.6.1 Giải pháp về mô hình/thực hành tốt trong phát triển sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH 130

3.6.2 Giải pháp hỗ trợ để phát triển các mô hình sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH 146

Tiểu kết chương 3 149

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 152

1 Kết luận 152

1.1 Về phương pháp nghiên cứu 152

1.2 Về kết quả nghiên cứu 152

2 Khuyến nghị 153

2.1 Đối với phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương 154

2.2 Đối với phương pháp đánh giá mô hình bền vững thích ứng BĐKH 154

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 155

TÀI LIỆU THAM KHẢO 156

PHỤ LỤC 154

Trang 9

Phụ lục 1 Số liệu tổng lượng mưa giai đoạn 1961 – 2014 tại Trạm Khí tượng

Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh 154

Phụ lục 2 Số liệu nhiệt độ trung bình giai đoạn 1961-2014 tại Trạm khí tượng Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh 156

Phụ lục 3 Số liệu nhiệt độ trung bình và tổng lượng mưa giai đoạn 1961-2014 tại Trạm khí tượng Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh 158

Phụ lục 4 Các yếu tố chính, yếu tố hợp thành trong tính toán LVI, LVI-IPCC và LEI 160 Phụ lục 5 Số liệu tổng hợp từ bảng hỏi điều tra hộ gia đình 169

Phụ lục 6 Danh sách Lãnh đạo và cán bộ huyện Can Lộc, xã Vĩnh Lộc, Vượng Lộc, Khánh Lộc và Trưởng các thôn tham gia phỏng vấn sâu 188

Phụ lục 7 Danh sách người dân tại 3 xã Vượng Lộc, Vĩnh Lộc và Khánh Lộc tham gia thảo luận nhóm 190

Phụ lục 8 Danh sách người dân trả lời bảng hỏi điều tra 191

Phụ lục 9 Hướng dẫn thảo luận nhóm 197

Phụ lục 10 Hướng dẫn phỏng vấn sâu người dân 199

Phụ lục 11 Hướng dẫn phỏng vấn sâu Lãnh đạo xã, trưởng thôn, cán bộ nông nghiệp, cán bộ phòng chống thiên tai 200

Phụ lục 12 Bảng hỏi điều tra Hộ gia đình 201

Phụ lục 13 Bộ tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá mô hình thích ứng với BĐKH 210

Phụ lục 14 Một số hình ảnh tại các đợt thực địa 215

Trang 10

KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

(Adaptive Capatity) BĐKH (CC) Biến đổi khí hậu

(Climate Change) CAF Khung thích ứng Cancun

(Cancun Adaptation Framework) CMP Hội nghị các Bên tham gia Nghị định thư Kyoto

(Conference of the Parties Serving as the Meeting of Parties to the Kyoto Protocol)

(Conference of the Parties) DBTT Dễ bị tổn thương

DFID Bộ Phát triển Quốc tế Anh

(Department for International Development) ĐLSH Đệm lót sinh học

(Exposure)

IPCC Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu

(Intergovernmental Panel on Climate Change)

(Kyoto Protocol) KT-XH Kinh tế-xã hội

LEI Chỉ số ảnh hưởng sinh kế

(Livelihood Effect Index) LHQ (UN) Liên Hiệp Quốc

(United Nations)

Trang 11

LVI Chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế

(Livelihood Vulnerability Index) NAP Kế hoạch thích ứng quốc gia

(National Adaptation Plan) NDC Đóng góp do quốc gia tự quyết định

(Nationally Determined Contributions) NGO Tổ chức Phi chính phủ

(Non-Governmental Organization) NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

NTP-RCC Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH

(National Target Programme to Respond to Climate Change) PRA Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia

(Participatory Rural Appraisal) QLRRTT Quản lý rủi ro thiên tai

(Sensitivity) SREX Quản lý rủi ro thiên tai và hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy

thích ứng với BĐKH (Managing the Risks of Extreme Events and Disasters to Advance Climate Change Adaptation)

TTDBTT (V) Tình trạng dễ bị tổn thương

(Vulnerability) TN&MT Tài nguyên và Môi trường

TTKTTVQG Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia

UNFCCC Công ước khung của Liên hiệp quốc về BĐKH

(United Nations Framework Convention on Climate Change)

Trang 12

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các khái niệm về tình trạng dễ bị tổn thương theo IPCC 32

Bảng 2.2 Tổng hợp các nhân tố xác định LEI 35

Bảng 2.3 Các yếu tố chính của LVI và LVI-IPCC 49

Bảng 2.4 Các yếu tố chính của LVI và LEI 50

Bảng 2.5 Phân cấp mức độ DBTT sinh kế LVI 53

Bảng 2.6 Phân cấp mức độ DBTT sinh kế LVI-IPCC 54

Bảng 2.7 Phân cấp mức độ ảnh hưởng sinh kế LEI 55

Bảng 2.8 Bộ tiêu chí đánh giá mô hình thích ứng với BĐKH 56

Bảng 2.9 Xếp hạng mức độ thích ứng của các mô hình 56

Bảng 3.1 Các thông tin chính về điều kiện tự nhiên - xã hội của 3 xã 63

Bảng 3.2 Mức tăng nhiệt độ so với thời kỳ cơ sở theo kịch bản RCP4.5 75

Bảng 3.3 Mức tăng lượng mưa so với thời kỳ cơ sở theo kịch bản RCP4.5 76

Bảng 3.4 Diện tích, sản lượng, năng suất lúa năm 2017 86

Bảng 3.5 Tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan do BĐKH tới sinh kế của người dân Can Lộc 99

Bảng 3.6 Thiệt hại do thiên tai cực đoan tới kết quả sinh kế và các nguồn vốn sinh kế, giai đoạn 2010-2017 100

Bảng 3.7 Các yếu tố chính và số các yếu tố hợp thành 105

Bảng 3.8 Giá trị yếu tố hợp thành của yếu tố chính 1 - Thiên tai 106

Bảng 3.9 Giá trị yếu tố hợp thành của yếu tố chính 2 - BĐKH 107

Bảng 3.10 Giá trị yếu tố hợp thành của yếu tố chính 3 - Tài nguyên đất, nước 109

Bảng 3.11 Giá trị yếu tố hợp thành của yếu tố chính 4 – Sức khỏe 110

Bảng 3.12 Giá trị yếu tố hợp thành yếu tố chính 5 - Lương thực, thực phẩm 111

Bảng 3.13 Giá trị yếu tố hợp thành của yếu tố chính 6 - Kiến thức, kỹ năng 112

Bảng 3.14 Giá trị yếu tố hợp thành của yếu tố chính 7 - Thu nhập 112

Bảng 3.15 Giá trị yếu tố hợp thành của yếu tố chính 8-Đặc điểm dân số-xã hội 113

Bảng 3.16 Giá trị yếu tố hợp thành của yếu tố chính 9 - Mạng lưới xã hội 115

Trang 13

Bảng 3.17 Giá trị yếu tố hợp thành của yếu tố chính 10 - Hạ tầng và điều kiện sinh

hoạt 116

Bảng 3.18 Giá trị yếu tố hợp thành của yếu tố chính 11 - Chiến lược sinh kế 117

Bảng 3.19 Kết quả tính toán LVI dựa trên 11 yếu tố chính 118

Bảng 3.20 Kết quả tính toán LVI theo IPCC 120

Bảng 3.21 Kết quả tính toán LEI dựa trên 5 nguồn vốn sinh kế 122

Bảng 3.22 Giải pháp sinh kế thích ứng của người dân tại 3 điểm nghiên cứu 124

Bảng 3.23 Đánh giá các giải pháp sinh kế thích ứng tại huyện Can Lộc 126

Bảng 3.24 Bảng đánh giá Mô hình tổ nhóm nông dân sản xuất giống lúa 133

Bảng 3.25 Hạch toán chi phí lợi nhuận từ ruộng lúa 137

Bảng 3.26 Hạch toán chi phí lợi nhuận từ nuôi Cá 137

Bảng 3.27 Hạch toán chi phí lợi nhuận từ nuôi Vịt 138

Bảng 3.28 Bảng đánh giá mô hình Lúa – Cá – Vịt 138

Bảng 3.29 Bảng đánh giá Mô hình Đệm lót sinh học 142

Trang 14

DANH MỤC HÌNH

Hình 0.1 Vị trí huyện Can Lộc trong tỉnh Hà Tĩnh 4

Hình 1.1 (a): Nhiệt độ TB bề mặt Trái Đất và đại dương toàn cầu giai đoạn 1850-2012; và (b) Thay đổi mực nước biển TB toàn cầu giai đoạn 1901-2012 8

Hình 2.1 Khung sinh kế bền vững 27

Hình 2.2 Khung lý thuyết xây dựng sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH 31

Hình 2.3 Khung phân tích tổng thể của luận án 40

Hình 2.4 Vị trí Trạm khí tượng Hương Khê và vị trí huyện Can Lộc 44

Hình 2.5 Sơ đồ chọn mẫu cho điều tra hộ gia đình 46

Hình 2.6 Khung phân tích tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế của luận án 51

Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh 58

Hình 3.2 Cơ cấu hộ phân theo (a) loại hình SX, (b) nguồn thu nhập chính 61

Hình 3.3 Tỷ lệ dân số phân theo (a) loại hộ, (b) thành thị, nông thôn 61

Hình 3.4 Vị trí ba xã nghiên cứu tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh 62

Hình 3.5 Sơ đồ đánh dấu các điểm lũ lụt tại xã Khánh Lộc 64

Hình 3.6 Sơ đồ đánh dấu các điểm lũ lụt tại xã Vĩnh Lộc 64

Hình 3.7 Sơ đồ đánh dấu các điểm lũ lụt tại xã Vượng Lộc 65

Hình 3.8 Biến trình năm của nhiệt độ trung bình và tổng lượng mưa tại trạm Hương Khê – Hà Tĩnh giai đoạn 1961-2017 68

Hình 3.9 Xu thế biến đổi nhiệt độ trung bình năm tại trạm Hương Khê – Hà Tĩnh giai đoạn 1961-2017 69

Hình 3.10 Xu thế biến đổi nhiệt độ trung bình vụ hè thu (V-IX) tại trạm Hương Khê – Hà Tĩnh giai đoạn 1961 - 2017 70

Hình 3.11 Xu thế biến đổi nhiệt độ trung bình vụ đông xuân (XII-IV) tại trạm Hương Khê – Hà Tĩnh giai đoạn 1961 - 2017 70

Hình 3.12 Xu thế biến đổi tổng lượng mưa năm tại trạm Hương Khê – Hà Tĩnh giai đoạn 1961-2017 72

Hình 3.13 Xu thế biến đổi tổng lượng mưa vụ hè thu (V-IX) tại trạm Hương Khê – Hà Tĩnh giai đoạn 1961-2017 72

Trang 15

Hình 3.14 Xu thế biến đổi tổng lượng mưa vụ đông xuân (XII-IV) tại trạm Hương

Khê – Hà Tĩnh giai đoạn 1961-2017 73

Hình 3.15 Người dân tại xã Khánh Lộc chỉ mức ngập năm 2010 73

Hình 3.16 Mức biến đổi nhiệt độ trung bình năm giữa thế kỷ XXI (a) và cuối thế kỷ XXI (b) theo kịch bản RCP4.5 76

Hình 3.17 Mức biến đổi lượng mưa năm (a) giữa thế kỷ XXI và (b) cuối thế kỷ XXI theo kịch bản RCP4.5 77

Hình 3.18 Biến động diện tích đất sản xuất nông nghiệp qua các năm 78

Hình 3.19 Lao động phân theo độ tuổi lao động 81

Hình 3.20 Cơ cấu lao động 82

Hình 3.21 Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo giai đoạn 2013-2017 92

Hình 3.22 Sơ đồ biểu diễn TTDBTT sinh kế LVI theo 11 yếu tố chính 119

Hình 3.23 Sơ đồ biểu diễn E, S, AC của LVI-IPCC 121

Hình 3.24 Sơ đồ biểu diễn giá trị N, H, S, F, P của chỉ số LEI 122

Hình 3.25 Các mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH tại huyện Can Lộc 130

Hình 3.26 Mô hình tổ nhóm nông dân sản xuất lúa giống ngắn ngày tại xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc 132

Hình 3.27 Mô hình Lúa – Cá – Vịt tại xã Vĩnh Lộc, huyện Can Lộc 136

Hình 3.28 Mô hình đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn ở xã Vượng Lộc 140

Hình 3.29 Thảo luận nhóm người dân 215

Hình 3.30 Người dân xã Khánh Lộc tham gia vẽ sơ đồ xã và đánh dấu các điểm rủi ro sinh kế do BĐKH 215

Hình 3.31 Công cụ người dân dùng để di chuyển và gặt lúa mùa lụt 215

Hình 3.32 Đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà 216

Hình 3.33 Cải tạo vườn tạp chồng bưởi 216

Trang 16

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã, đang và sẽ là thách thức lớn với toàn nhân loại

Sự ấm lên của Trái đất và tình trạng nước biển dâng cùng với sự bất thường của các hiện tượng thời tiết cực đoan (như: lũ lụt, hạn hán, rét đậm, rét hại, mưa bão bất thường ) đã đe dọa cuộc sống của con người ở mọi nơi trên thế giới BĐKH đang làm trầm trọng thêm tình trạng ngập lụt trong mùa mưa và hạn hán trong mùa khô, làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của người dân, đặc biệt là những người mà cuộc sống mưu sinh phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp Điều này có nguy

cơ ảnh hưởng đến an ninh lương thực và đe dọa sự ổn định cuộc sống của người dân

Can Lộc là huyện nông nghiệp nghèo của tỉnh Hà Tĩnh Can Lộc không có tài nguyên biển, nghèo tài nguyên rừng và tài nguyên khoáng sản Theo số liệu thống kê năm 2017, huyện Can Lộc có dân số là 128.581 người, trong đó 89% người dân sống

ở vùng nông thôn và sinh kế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp [Chi cục Thống

kê huyện Can Lộc, 2018a] Giá trị sản xuất nông nghiệp ở địa phương thấp và phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu

Huyện Can Lộc đã và đang phải hứng chịu các tác động trầm trọng của thiên tai và BĐKH, đặc biệt là sự bất thường của các hiện tượng thời tiết cực đoan, gần đây nhất có thể kể đến là trận lũ lịch sử gây nên bởi hai đợt mưa lớn kéo dài từ 29/9 đến 04/10/2010 và từ 15 đến 19/10/2010 Cơn lũ đã nhấn chìm 23/23 xã, thị trấn trong biển nước, trong đó 15/23 xã bị cô lập hoàn toàn Đường giao thông bị ngập sâu, hư hỏng nặng và bị chia cắt Khi lũ đến người dân hoàn toàn bị bất ngờ và do nước dâng nhanh đột ngột vào ban đêm nên người dân không đi sơ tán kịp, tài sản không thu dọn được và hầu hết bị nhấn chìm trong biển nước Các kết quả sinh kế nông nghiệp của người dân cũng theo đó mà mất trắng [UBND huyện Can Lộc, 2011]

Cho đến nay, số lượng các nghiên cứu về tác động của BĐKH tới sinh kế tại huyện Can Lộc là chưa nhiều, mới có hai nghiên cứu do hai học viên cao học tiến hành, tuy nhiên chưa đầy đủ, một nghiên cứu chỉ tập trung vào tác động của BĐKH tới sản xuất lúa, một nghiên cứu chỉ tập trung vào địa bàn một xã của huyện Can Lộc

Trang 17

Các đánh giá về tác động của BĐKH tới sinh kế trong 2 báo cáo nghiên cứu này đều mang tính định tính Như vậy có thể nói, các nghiên cứu cụ thể về tác động của BĐKH

và thiên tai trong bối cảnh BĐKH tại địa bàn huyện Can Lộc còn rất ít và chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về ảnh hưởng của BĐKH tới sinh kế, vì vậy việc nghiên cứu các mô hình sinh kế bền vững trước bối cảnh BĐKH gia tăng và sự bất thường của thiên tai là hết sức cần thiết và thiết thực giúp người dân tại các vùng nông thôn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh có thể ổn định cuộc sống và yên tâm phát triển sản xuất, cũng như giúp địa phương có cơ sở để lập kế hoạch và triển khai các chương trình phát triển kinh tế

Chính vì vậy, việc thực hiện luận án “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu

và đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh” rất có ý nghĩa

2 Luận điểm nghiên cứu

- Biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra tình trạng dễ bị tổn thương đối với sinh

kế, đặc biệt là các sinh kế dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên như sinh kế nông nghiệp

- Sinh kế thích ứng với BĐKH phải đảm bảo cả tính hiệu quả và bền vững

về kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế, đồng thời hướng tới mục đích nâng cao đời sống cộng đồng

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế và tác động của BĐKH tới sinh kế nông nghiệp của người dân tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

- Đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH cho địa bàn nghiên cứu

4 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu trên, luận án tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Khu vực nghiên cứu có những đặc trưng gì liên quan tới tình trạng dễ bị tổn thương trước BĐKH?

Trang 18

- Diễn biến của các yếu tố khí hậu, thời tiết tại vùng nghiên cứu diễn ra như thế nào trong quá khứ, hiện tại và tương lai?

- Thực trạng sinh kế của người dân tại khu vực nghiên cứu như thế nào?

- Tác động của BĐKH đến sinh kế như thế nào?

- Trước tác động của BĐKH thì tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế như thế nào?

- Cần có giải pháp gì để phát triển sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH cho địa bàn nghiên cứu?

5 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động của BĐKH tới sinh kế và các giải pháp phát triển sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH

Sinh kế được đề cập trong nghiên cứu là sinh kế nông nghiệp cấp hộ gia đình

Lý do luận án tập trung vào sinh kế nông nghiệp cấp hộ gia đình là vì sinh kế chính của người dân tại huyện Can Lộc là nông nghiệp, BĐKH đang tác động mạnh mẽ tới sản xuất nông nghiệp, vì vậy luận án sẽ tập trung nghiên cứu các sinh kế nông nghiệp cấp hộ gia đình (gọi tắt là sinh kế nông hộ)

“rốn lũ” Trong bối cảnh của BĐKH ngày càng gia tăng thì hai vùng này được xem

là hai vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi BĐKH và sự bất thường của các hiện tượng thời tiết cực đoan

Trang 19

Nguồn: [UBND huyện Can Lộc, 2017]

Hình 0.1 Vị trí huyện Can Lộc trong tỉnh Hà Tĩnh

Trên cơ sở điều kiện địa hình như trên, để có các bằng chứng thực tế, luận án lựa chọn ba (03) xã (Vĩnh Lộc, Vượng Lộc và Khánh Lộc) để khảo sát thực địa, trong

đó xã Vượng Lộc nằm ở chân núi Hồng Lĩnh, xã Vĩnh Lộc và Khánh Lộc nằm ở khu giữa, vùng đồng bằng Ba xã này đều là các xã nghèo của huyện Can Lộc, có địa hình đặc trưng của huyện Can Lộc là nằm trong vùng thấp trũng, ven các con sông, dễ bị ảnh hưởng bởi BĐKH và thiên tai, đặc biệt là thiên tai trong bối cảnh BĐKH Sinh

kế chính của người dân tại 3 xã là trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, đây là các sinh kế mà dựa nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, nên bị ảnh hưởng bởi BĐKH/thiên tai trong bối cảnh BĐKH Việc lựa chọn 3 xã để nghiên cứu thực địa này được thảo luận và được sự thống nhất của lãnh đạo Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Can Lộc thông qua các cuộc họp, đồng thời được sự ủng hộ của lãnh đạo UBND 3 xã nêu trên

Phạm vi thời gian:

- Các số liệu về khí hậu thời tiết được hồi cứu trong giai đoạn 1961-2017,

- Các số liệu thiên tai được thu thập từ năm 2010 đến 2017,

Trang 20

- Các số liệu về kinh tế - xã hội được cập nhật hết năm 2017 và một số số liệu được thu thập và lấy trung bình trong 5 năm (2013-2017),

- Kịch bản BĐKH được tính toán đến giữa và cuối thế kỷ XXI

Phạm vi chuyên môn:

- Biến đổi khí hậu: Xem xét các biểu hiện chính của BĐKH tại khu vực nghiên cứu, gồm: sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa và sự bất thường của các hiện tượng thời tiết cực đoan, gồm: bão, lũ lụt, hạn hán,

- Sinh kế hộ gia đình trong bối cảnh biến đổi khí hậu: Luận án tập trung đánh giá các sinh kế chính của người dân tại huyện Can Lộc mà phụ thuộc nhiều vào các nguồn vốn tự nhiên và chịu tác động mạnh bởi BĐKH Các sinh kế này được xác định là: sinh kế trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản

- Tình trạng dễ bị tổn thương của sinh kế trước BĐKH được phân tích dựa trên mối quan hệ ba nhân tố ảnh hưởng của BĐKH theo IPCC, gồm: i) sự phơi bày; ii) mức độ nhạy cảm; và iii) khả năng thích ứng Đồng thời xem xét tới 5 nguồn vốn sinh kế theo DFID, gồm: i) nguồn vốn con người; ii) nguồn vốn tự nhiên; iii) nguồn vốn tài chính; iv) nguồn vốn xã hội; và v) nguồn vốn vật chất Ba nhân tố và năm nguồn vốn này lại được xác định bởi 11 yếu tố chính và chi tiết bởi 83 yếu tố hợp thành (cụ thể được đề cập trong Chương 2, Mục 2.4, Tiểu Mục 2.4.3)

- Mô hình sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH được đánh giá và đề xuất dựa trên tiêu chí: i) tính bền vững (về kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế); ii) tính thích ứng và giảm nhẹ BĐKH; và iii) có khả năng nhân rộng

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học:

Luận án góp phần hoàn thiện phương pháp luận và làm giàu thêm hệ tri thức

cơ sở lý luận về sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH trong điều kiện của Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn:

Các kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp cơ sở khoa học cho địa phương

và cộng đồng khu vực nghiên cứu lập kế hoạch và phát triển các sinh kế nông nghiệp chủ động thích ứng với BĐKH Các kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng cho các địa phương khác có điều kiện địa lý tương tự

Trang 21

8 Tính mới của luận án

- Luận án đã phân tích và làm rõ được thực trạng nguồn vốn sinh kế, các sinh kế chính và các tác động của BĐKH đến sinh kế nông nghiệp của huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

- Luận án đã xác lập được cơ sở lý luận về sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH trên cơ sở tính toán và đánh giá định lượng tình trạng dễ bị tổn thương sinh

kế nông nghiệp cho 3 xã nghiên cứu điểm bằng bộ chỉ số tổng hợp LVI, LVI-IPCC, LEI

- Luận án đã làm sáng tỏ được đặc thù của khu vực nghiên cứu trên cơ sở luận cứ khoa học để đề xuất các mô hình sinh kế bền vững thích ứng BĐKH phù hợp với điều kiện của huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

9 Cấu trúc của luận án

Luận án bao gồm phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, ký hiệu và chữ viết tắt, danh mục bảng, danh mục hình, danh mục các công trình khoa học đã công bố, tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung chính được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Tổng quan nghiên cứu,

Chương 2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu,

Chương 3 Kết quả và bàn luận

Trang 22

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Trong chương này, luận án tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới, tại Việt Nam và tại khu vực nghiên cứu, theo 3 chủ đề: i) BĐKH và tác động của BĐKH tới sinh kế nông nghiệp; ii) Tình trạng dễ bị tổn thương của sinh kế do BĐKH; iii) Các giải pháp phát triển sinh kế nông nghiệp bền vững và thích ứng với BĐKH

1.1 Biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã thực sự trở thành vấn đề toàn cầu và là mối quan tâm của tất cả các quốc gia hiện nay Vào năm 1896, BĐKH đã được Arrhenius - nhà khoa học người Thụy Điển, đề cập đến lần đầu tiên thông qua định lượng sự đóng góp của carbon điôxit (CO2) trong việc gây ra các hiệu ứng nhà kính và ông cũng suy đoán rằng sự thay đổi nồng độ CO2 trong khí quyển sẽ góp phần vào sự biến đổi của khí hậu [Arrhenius, 1896]

Năm 1988, Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) đã ra đời và là cơ quan chịu trách nhiệm đánh giá khoa học về các vấn đề liên quan tới BĐKH do con người gây ra Các nghiên cứu và đánh giá liên quan tới BĐKH và tác động của BĐKH trong thời gian qua đã được phân tích và tổng kết trong các báo cáo của IPCC (cho đến nay

đã có 5 báo cáo, báo cáo lần thứ 6 dự kiến sẽ công bố vào năm 2020) Trong số 5 báo cáo tổng hợp đã được công bố, Báo cáo lần thứ 4 năm 2007 (AR4) đã được nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình cùng với Al Gore Tại báo cáo lần thứ 4 này, từ các quan sát

về sự tan chảy của băng tuyết, sự gia tăng của mực nước biển và nhiệt độ trung bình trên toàn cầu, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng thế giới đang nóng lên và các hoạt động của con người là nguyên nhân chủ yếu Theo AR4, nhiệt độ trung bình của bề mặt Trái Đất đã tăng khoảng 0,74oC trong 100 năm qua (1906-2005), con số này cao hơn

so với công bố tại báo cáo năm 2001 với mức 0,6oC AR4 cũng chỉ ra rằng việc tăng đáng kể nồng độ các khí nhà kính (CO2, CH4 và N2O) kể từ năm 1750 đến nay chính

là hậu quả từ các hoạt động của con người [IPCC, 2007]

Theo Báo cáo tổng hợp lần thứ 5 (AR5), trong ba thập kỷ vừa qua, cứ sau mỗi thập kỷ bề mặt Trái Đất đã liên tục nóng lên hơn bất kỳ thập kỷ nào trước đó kể từ

Trang 23

năm 1850 (xem Hình 1.1a,b) Ở Bắc bán cầu, giai đoạn từ 1983 đến 2012 dường như

là khoảng thời gian 30 năm ấm nhất trong 1.400 năm qua [IPCC, 2013; 2014]

Nguồn: Trích [Kỷ Quang Vinh, 2013] theo [IPCC, 2013]

Hình 1.1 (a): Nhiẹ ̂t độ TB bề mặt Trái Đất và đại dương toàn cầu giai đoạn 1850-2012; và (b) Thay đổi mực nu ̛ớc biển TB toàn cầu giai đoạn 1901-2012

Năm 2018, IPCC đã công bố báo cáo đặc biệt, trong báo cáo này các nhà khoa học đã nhấn mạnh tác động của việc ấm lên toàn cầu 1,5oC, đồng thời chỉ ra rằng năm

2018 là năm thứ 4 liên tiếp có nhiệt độ trung bình cao nhất [IPCC, 2018]

BĐKH không những tác động tới tự nhiên mà còn là thách thức về kinh tế, xã hội của nhân loại Xét về những tổn thất kinh tế, chi phí cho việc khôi phục thiệt hại sau những thiên tai do BĐKH đã làm thâm hụt ngân sách các quốc gia

Theo Economist Intelligence Unit [2019], trên cơ sở đánh giá hoạt động chuẩn

bị ứng phó với BĐKH của 82 nền kinh tế lớn nhất trên thế giới, đã đưa ra nhận định rằng BĐKH có thể khiến kinh tế thế giới thiệt hại 7.900 tỉ USD vào năm 2050 do tình trạng hạn hán, lũ lụt và vụ mùa thất thu ngày càng nghiêm trọng, từ đó làm cản trở tốc độ tăng trưởng và đe dọa hạ tầng cơ sở GDP toàn cầu sẽ giảm 3% vào năm 2050 trong bối cảnh biến đổi khí hậu khiến các sự kiện thời tiết cực đoan diễn ra thường xuyên hơn

Nghiên cứu của IPCC [2007] cũng chỉ ra rằng, mặc dù BĐKH là một hiện tượng lâu dài và có thể khó xác định được các tác động một cách rõ ràng ở một số khu vực trên thế giới, nhưng rõ ràng BĐKH có thể tạo ra những cú sốc khí hậu cho các cộng đồng sản xuất nông nghiệp dễ bị tổn thương Tất cả các lĩnh vực sinh kế hiện hữu đang dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên đã bị tác động tiêu cực do biến

Trang 24

đổi khí hậu và sẽ càng bị tổn hại nặng nề hơn trong tương lai Đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản đã, đang và sẽ tiếp tục chịu tác động nặng nề và mức độ bị tác động sẽ tùy thuộc vào bối cảnh và năng lực của địa phương, như địa điểm, sự đa dạng của vụ mùa/vật nuôi,

Công trình nghiên cứu “Impacts of climate change on disadvantaged UK

coastal communities” (Tác động của biến đổi khí hậu đến cộng đồng ven biển ở Anh)

của Zsamboky và cộng sự [2011] cũng đã khẳng định: trong bối cảnh BĐKH, ven biển là khu vực dễ bị tổn thương hơn các khu vực nằm sâu trong lục địa bởi bên cạnh các tác động về nhiệt độ và lượng mưa, vùng ven biển còn chịu ảnh hưởng của mực nước biển và độ cao sóng, gây ra sự xói mòn, suy thoái đất… Biến đổi khí hậu tác động trực tiếp đến sinh kế ven biển, đặc biệt là các hoạt động kinh tế khai thác thủy hải sản và du lịch thông qua việc giảm số lượng ngày ra khơi đánh bắt hải sản, hư hỏng cơ sở vật chất,… dẫn tới suy giảm nguồn thu nhập cá nhân và ảnh hưởng đến nền kinh tế địa phương Ở một số vùng ven biển, những tác động này có thể khiến cho ngư dân chuyển sang các hình thức đánh bắt cá có độ rủi ro cao hơn do có ít sự lựa chọn Trồng trọt cũng là một loại hình sinh kế chính chịu ảnh hưởng của BĐKH

do gia tăng sâu bệnh, dịch bệnh có hại cho cây trồng Bên cạnh đó, tỷ lệ xâm nhập mặn tăng lên làm suy giảm chất lượng và diện tích đất canh tác của người nông dân [Zsamboky et al., 2011]

Ở khu vực nông thôn phần lớn các hoạt động sinh kế dựa trên tài nguyên thiên nhiên, như sinh kế nông nghiệp rất nhạy cảm với những thay đổi của điều kiện thời tiết [Ellis, 2000; Bryceson, 2002; Ellis and Allison, 2004; Pande and Akermann, 2008; Altieri and Koohafkan, 2008] Do đó, mỗi một sự thay đổi nhỏ trong điều kiện thời tiết có thể có tác động lớn đến phúc lợi của các hộ gia đình nông thôn ở các nước đang phát triển [Altieri and Koohafkan, 2008; Musemwa et al., 2012] Hay nói cách khác BĐKH có tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp và các chiến lược sinh kế dựa vào nông nghiệp của các hộ gia đình nông thôn Có nhiều dấu hiệu cho thấy tác động của BĐKH đối với nông nghiệp sẽ nghiêm trọng ở các vùng ngập lụt, khô hạn và vùng đất mà chất đất có độ phì nhiêu thấp [Olesen and Bindi, 2002; Bates et al., 2008]

Trang 25

1.1.2 Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường và UNDP [2010], tại Việt Nam, sự gia tăng của mực nước biển, sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa và sự bất thường của các hiện tượng thời tiết cực đoạn (như bão, lũ lụt, hạn hán ) đang ngày càng đe dọa sản xuất và đời sống của người dân Các sinh kế nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt là những sinh kế phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên (như: tài nguyên khí hậu, đất, nước ) sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất trước tác động của BĐKH Những tác động đó bao gồm: i) Thu hẹp và mất diện tích đất canh tác do nước biển dâng, do quá trình xâm thực, do xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền, do xói lở bờ sông và do hạn hán gia tăng; ii) Gia tăng diện tích đất bị nhiễm mặn do nước biển dâng cao và lượng bốc hơi nước mạnh hơn; iii) Gia tăng quá trình thoái hóa đất do nhiệt độ và hạn hán tăng; iv) Gia tăng quá trình xói mòn, rửa trôi đất do lượng mưa

và cường độ mưa tăng; v) Gia tăng tổn thất mùa màng, giảm sản lượng cây trồng và vật nuôi do các tác động trực tiếp và gián tiếp của sự gia tăng nhiệt độ trung bình, độ bất thường của thời tiết, các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan (bão lụt, hạn hán, rét đậm, rét hại…); vi) Thay đổi cấu trúc mùa vụ [Bộ Tài nguyên và Môi trường và UNDP, 2010] Như vậy, BĐKH làm giảm năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng các chi phí cho công tác phòng chống dịch bệnh, gia tăng các chi phí đầu vào cho sản xuất

Năm 2009, Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO) đã triển khai đánh giá tác động của BĐKH đến nông nghiệp Việt Nam và năm 2011 đã công bố báo cáo với kết luận rằng: i) Nhiệt độ tăng sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng cây trồng, và do đó rút ngắn chu kỳ tăng trưởng của thực vật Nhiệt độ tăng 1oC sẽ tương ứng với chu kỳ tăng trưởng bị rút ngắn từ 5 đến 8 ngày đối với cây lúa, hoặc từ 3 đến 5 ngày đối với khoai tây và đậu tương; ii) Nhu cầu nước cho nông nghiệp có thể tăng gấp đôi hoặc gấp ba lần vào năm 2100 so với năm 2000; iii) Có khả năng gia tăng các loại sâu bệnh hại mùa màng khi lượng mưa tăng; iv) Thay đổi mùa vụ của cây trồng: Theo kịch bản trung bình, mùa vụ trồng trọt ở đồng bằng sông Hồng có thể bị thay đổi từ 5 đến 20 ngày trên mức trung bình đối với cây trồng theo mùa, cây gieo hạt có thể muộn từ 20 đến 25 ngày; v) Do mực nước biển dâng, đất canh tác trên toàn quốc sẽ được giảm

Trang 26

đáng kể; vi) Sản lượng lúa có thể giảm khoảng 2 đến 4% vào năm 2050 và 3 đến 6% vào năm 2070; và vii) Hàng triệu người sống ở các vùng thấp sẽ buộc phải nâng cao nền hoặc phải di dời, gây thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế địa phương và quốc gia [FAO, 2011]

Đoàn Văn Điếm và cộng sự [2010], trong nghiên cứu Dự báo tác động của BĐKH đến sản xuất lúa ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, đã kết luận rằng: năng suất lúa chịu tác động mạnh mẽ bởi BĐKH, với kịch bản phát thải cao A2 lúa vụ xuân

có thể giảm từ 41,8% vào năm 2020 đến 71% vào năm 2100 Trong vụ mùa, mức giảm thấp hơn từ 7% vào năm 2020 đến 41% vào những năm cuối thế kỷ XXI Đặc biệt là năng suất của lúa vụ mùa có xu thế giảm sự chênh lệch so với lúa vụ xuân [Đoàn Văn Điếm và nnk, 2010] Tuy nhiên, những năm gần đây, số liệu thống kê của tỉnh Thái Bình đã cho thấy: năng suất lúa của tỉnh Thái Bình về cơ bản vẫn ổn định,

có tăng giảm đôi chút, tuy nhiên không đáng kể, do sử dụng giống lúa năng suất cao,

áp dụng phương pháp canh tác hiện đại và biện pháp phòng chống dịch bệnh, đồng thời lựa chọn thời điểm gieo cấy và thu hoạch phù hợp phòng tránh được những hiện tượng thời tiết cực đoan Điều này cho thấy, cần có các nghiên cứu toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất lúa bên cạnh những yếu tố về BĐKH, để có những kết luận chính xác hơn về tác động của BĐKH đối với sản xuất lúa

Nghiên cứu “Ứng dụng mô hình Cropwat đánh giá năng suất lúa vùng đê bao tỉnh An Giang trong điều kiện biến đổi của các yếu tố khí tượng thủy văn”, nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và cộng sự [2012] đã kết luận rằng: Theo kịch bản A2 và B2, năm 2030 nhiệt độ tăng lần lượt là 0,9oC và 0,7oC, năng suất lúa vụ đông xuân giảm lần lượt là 1,35% và 1,5%; đối với vụ hè thu nhiệt độ tăng 0,9oC và 1oC lần lượt theo kịch bản B2 và A2 thì năng suất lúa lại cho kết quả tăng 0,16% và 0,22% Nhóm tác giả cũng cho rằng, việc nghiên cứu thêm về sự phụ thuộc của năng suất lúa với các yếu tố khác như độ ẩm, thời gian nắng, tốc độ gió, CO2, N2 là cần thiết [Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và nnk, 2012]

Trường hợp tỉnh Tây Ninh cho thấy nước dâng vào mùa mưa năm 2016 khiến diện tích đất trồng lúa dọc sông Vàm Cỏ Đông bị ngập, không sử dụng được và lượng mưa cao bất thường trong mùa mưa đã làm cây hoa màu và thủy sản bị thiệt hại nặng

Trang 27

nề [Trương Văn Tuấn, Trần Mỹ Kiều, 2018] Trong khi đó, trường hợp của tỉnh An Giang lại chỉ ra việc lũ giảm xuống ngày càng thấp đã làm giảm lượng phù sa, làm nghèo đất, phá hoại cân bằng sinh thái, và tác động tiêu cực đến nguồn lợi thủy sản

tự nhiên [Nguyễn Chí Hải, 2018]

Trường hợp nghiên cứu tại tỉnh Thừa Thiên-Huế, tác giả Lê Văn Ân [2018]

đã chỉ ra rằng do sự thất thường của thời tiết nên thời gian sản xuất bị rút ngắn lại Nông lịch hiện nay của tỉnh cho thấy thời vụ trồng trọt rút xuống còn 50-55 ngày, và nuôi trồng thủy sản rút ngắn còn 30-40 ngày Ngoài ra, sự bất thường về mùa còn làm tăng rủi ro trong thời gian thả giống và thu hoạch thủy sản [Lê Văn Ân, 2018]

Tóm lại, trên thế giới và cả tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về tác động của BĐKH được thực hiện bởi cả các cơ quan chuyên trách, các bộ ngành, các địa phương, các tổ chức/đơn vị và nhóm các nhà khoa học/các nhà khoa học đơn lẻ Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng BĐKH đã hiện hữu tại Việt Nam và đã gây ra những tác động không nhỏ tới mọi lĩnh vực cuộc sống, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp và cụ thể là sinh kế nông nghiệp của các hộ gia đình tại các vùng nông thôn Mặc dù vậy, mỗi vùng lại có điều kiện khí hậu, địa hình, địa lý và các hoạt động sinh kế khác nhau, nên tác động của BĐKH tới các hoạt động sinh kế của các hộ gia đình cũng rất khác nhau Có những vùng tác động của BĐKH có thời điểm là có lợi, có thời điểm lại có hại Vì vậy, cần các nghiên cứu cụ thể tác động của BĐKH tới từng vùng, từng địa phương để làm cơ sở xây dựng và thực thi các kế hoạch ứng phó với BĐKH, phát triển sinh kế bền vững và ổn định đời sống của người dân

1.2 Tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế do biến đổi khí hậu

1.2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Tình trạng dễ bị tổn thương (TTDBTT) sinh kế được lượng hóa bằng chỉ số

dễ bị tổn thương (LVI), với khởi đầu là nghiên cứu của Hahn và cộng sự [2009] Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu của Hahn đã sử dụng dữ liệu cấp hộ gia đình

để tính toán LVI bằng 2 phương pháp: i) Phương pháp thứ nhất là lựa chọn 7 yếu tố chính, 31 yếu tố thành phần và kết hợp dữ liệu khảo sát về cùng một đơn vị đo Sau

đó, các yếu tố này được tính trung bình để có được giá trị LVI tổng thể cho từng huyện; ii) Phương pháp thứ hai là tính toán LVI dựa trên định nghĩa về TTDBTT của

Trang 28

IPCC (LVI-IPCC), nhấn mạnh tổn thương sinh kế dưới 3 góc độ: i) năng lực thích ứng; ii) mức độ nhạy cảm; và iii) sự phơi bày Kết quả nghiên cứu được trình bày trên biểu đồ nhện để cho phép so sánh tính dễ bị tổn thương giữa các yếu tố chính và giữa các khu vực [Hahn et al., 2009]

Từ nghiên cứu của Hahn và cộng sự, rất nhiều tổ chức cá nhân đã sử dụng phương pháp tính toán LVI để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế tại nhiều khu vực khác nhau với quy mô đa dạng và có sự điều chỉnh các yếu tố thành phần phù hợp với khu vực nghiên cứu Một số nghiên cứu điển hình có thể kể đến là của Etwire và cộng sự [2013]; Zhang và cộng sự [2018]; Adu và cộng sự [2018]:

+ Nghiên cứu của Etwire và cộng sự [2013] đã sử dụng phương pháp LVI của Hahn cho khu vực phía thượng Tây, thượng Đông và các khu vực phía Bắc của Ghana Nhóm nghiên cứu đã sử dụng 7 yếu tố chính và 24 yếu tố thành phần để tính toán TTDBTT sinh kế Kết quả cho thấy, vùng thượng Tây dễ bị tổn thương về: nước, lương thực; vùng thượng Đông dễ bị tổn thương về: chiến lược sinh kế và mạng lưới

xã hội; khu vực phía Bắc dễ bị tổn thương về: sức khỏe, nhân khẩu học, xã hội, thiên tai và BĐKH [Etwire et al., 2013]

+ Nghiên cứu của Zhang và cộng sự [2018], xem xét tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế của nhiều hộ gia đình nông thôn thông qua LVI liên quan đến khung dễ bị tổn thương theo IPCC và khung sinh kế bền vững theo DFID Kết quả nghiên cứu đã chỉ

ra rằng tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế giữa các hộ gia đình với các đặc điểm kinh

tế xã hội khác nhau là do sự khác nhau giữa sự phơi bày, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu Từ đó, để giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế cần cải thiện đa dạng sinh kế và nâng cao khả năng sử dụng linh hoạt vốn sinh kế [Zhang et al., 2018]

+ Tương tự Adu và cộng sự [2018] đã áp dụng LVI trong việc đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương trước BĐKH của hộ nông dân trồng ngô ở vùng Brong-Ahafo, Ghana Kết quả thực nghiệm cho thấy, hộ nông dân ở đô thị Wenchi dễ bị tổn thương trước BĐKH hơn so với các hộ gia đình ở thành phố Techiman về mặt: lương thực, nước và sức khỏe Hơn nữa, các hộ nông dân ở đô thị Wenchi dễ bị tổn thương hơn

về năng lực thích ứng, xét đến khía cạnh đặc điểm của hộ, mạng lưới xã hội và sinh

Trang 29

kế của các hộ gia đình ở đô thị Techiman [Adu et el., 2018]

Không chỉ dừng lại ở việc áp dụng phương pháp tiếp cận của Hahn và cộng sự [2009], một số nghiên cứu tích hợp cả chỉ số ảnh hưởng sinh kế (Livelihood Effect Index - LEI) của DFID [1999] với chỉ số LVI cho đánh giá tính dễ bị tổn thương sinh

kế, điển hình là Urothody và cộng sự [2010]; Sattar và cộng sự [2017]:

+ Nghiên cứu của Urothody và cộng sự [2010] đã tích hợp ba chỉ số LVI, IPCC, LEI để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của hai cộng đồng nông thôn ở hai làng Kunjo và Lete, huyện Mustang, Nepal Kết quả nghiên cứu cho thấy, làng Kunjo

LVI-dễ bị tổn thương sinh kế do BĐKH hơn làng Lete Cả hai chỉ số LVI và LEI đều phản ánh được sự khác biệt về tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế do tác động của BĐKH của hai làng Kunjo và Lete; tạo cơ sở cho áp dụng chỉ số để xác định và ưu tiên giảm nhẹ các tác động BĐKH [Urothody et al., 2010]

+ Sattar và cộng sự [2017] đã sử dụng chỉ số LVI, LVI-IPCC, LEI để đánh giá tác động của BĐKH đến các hộ chăn nuôi nhỏ ở hai quận Rawalpindi và Chakwal, tỉnh Punjabc, Pakistan Kết quả cho thấy, cả hai quận đều khó khăn trong giáo dục; nguồn vốn tự nhiên và vốn tài chính có tác động lớn nhất đến sinh kế của hộ nông dân Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho quá trình ra quyết định và phân tích các nguy cơ tác động của BĐKH ở các nước đang phát triển [Sattar et al., 2017]

1.2.2 Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

Dựa trên công bố của Hahn và cộng sự [2009], nhiều nhà nghiên cứu tại Việt Nam đã sử dụng chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế (LVI) để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế vùng ven biển như: [Nguyễn Văn Công, 2012; Nguyễn Văn Quỳnh Bôi và nnk, 2012; Lê Thị Diệu Hiền và nnk, 2014; Nguyễn Quốc Nghi, 2016; Cong

et al., 2016; Trần Xuân Bình và nnk, 2016; Lê Quang Cảnh và nnk, 2016; Nguyễn Văn Quỳnh Bôi, 2017]:

+ Nguyễn Văn Quỳnh Bôi và cộng sự [2012] đã sử dụng chỉ số LVI của Hahn, kết hợp với phương pháp có sự tham gia cho trường hợp tại xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự phơi bày trước tác động BĐKH cao, nhưng khả năng thích ứng của địa phương về mạng lưới xã hội, đặc điểm hộ và hoạt động sinh kế tương đối tốt Nghiên cứu đề xuất, cần có phương pháp

Trang 30

luận để xây dựng bộ chỉ số tổn thương sinh kế phù hợp với điều kiện của Việt Nam [Nguyễn Văn Quỳnh Bôi và nnk, 2012]

+ Nguyễn Quốc Nghi [2016] sử dụng chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế LVI của Hahn để đánh giá sự tổn thương của BĐKH đối với hoạt động sinh kế của cư dân ven biển Cà Mau Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, cộng đồng ở khu vực này chịu ảnh hưởng khá lớn từ tác động của BĐKH, nhưng năng lực thích ứng tốt Tình trạng dễ

bị tổn thương giảm dần theo các yếu tố: mạng lưới xã hội, chiến lược sinh kế, lương thực, nguồn nước, đặc điểm hộ, vốn tài chính, thảm họa tự nhiên, BĐKH và sức khỏe [Nguyễn Quốc Nghi, 2016]

Công P.T và cộng sự [2016] đánh giá tổn thương sinh kế do BĐKH của cộng đồng ven biển ở thị trấn Rạng Đông, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Tác giả sử dụng khung sinh kế bền vững của DFID, chỉ số LVI-IPCC, phỏng vấn hộ gia đình tập trung vào các nguồn vốn sinh kế Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực thích ứng của cộng đồng ở mức thấp Trong đó vốn tài chính, vốn vật chất và vốn con người còn yếu, vốn tự nhiên đã bị giảm do tác động của BĐKH Đồng thời, người trả lời phỏng vấn không thực hiện giải pháp nào để làm giảm tác động của BĐKH lên hoạt động sinh kế, sức khỏe của họ Từ đó, nhóm tác giả đưa ra một số khuyến nghị giúp cho các nhà hoạch định chính sách cải thiện khả năng ứng phó với BĐKH của cộng đồng ven biển [Cong et al., 2016]

Lê Quang Cảnh và cộng sự [2016] cũng sử dụng chỉ số LVI cho đánh giá tổn thương do BĐKH ở vùng Ngũ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Tác giả đã chỉ ra rằng, chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế (LVI) của vùng Ngũ Điền ở mức

độ trung bình Chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế ở vùng Ngũ Điền tăng dần theo các yếu tố chính là sức khỏe, nguồn nước sử dụng, đặc điểm hộ, thiên tai tự nhiên - biến đổi khí hậu, mạng lưới xã hội, chiến lược sinh kế, hiện trạng cung cấp lương thực - tài chính [Lê Quang Cảnh và nnk, 2016]

Bên cạnh các nghiên cứu cụ thể tại một số vùng ven biển, Thắng và cộng sự [2016], đã rà soát trên 50 nghiên cứu và tổng hợp các khái niệm liên quan đến tình trạng dễ bị tổn thương (TTDBTT), các phương pháp đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và các chỉ số đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương đối với vùng ven biển

Trang 31

Nhóm tác giả đã chỉ ra rằng, khái niệm về TTDBTT cho đến nay chưa có sự thống nhất, tuy nhiên khái niệm TTDBTT trong các nghiên cứu được chia thành 2 loại chính: i) TTDBTT về mặt lý sinh, và ii) TTDBTT về mặt xã hội Về phương pháp đánh giá TTDBTT, phân thành 3 phương pháp chính: i) phương pháp có sự tham gia; ii) phương pháp dựa trên mô hình mô phỏng; và iii) phương pháp dựa trên chỉ số Về chỉ số đánh giá TTDBTT đới ven biển, chưa có một khung chỉ số thuyết phục nào mà xem xét tổng thể các vấn đề cả về mặt không gian và thời gian cũng như biểu thị sự thay đổi trong hoạt động của đới ven biển [Thang et al., 2016]

Ngoài các đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế (LVI) vùng ven biển, tại Việt nam còn áp dụng chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế trong đánh giá rủi ro của lũ

và BĐKH tại đồng bằng sông Mê Kông của Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, LVI của thôn Phú Hữu (nằm tại vùng lũ sớm) là cao hơn tại thôn Ta Danh (nằm tại vùng lũ muộn) Phân tích cũng chỉ ra rằng phương pháp LVI cũng có thể ứng dụng cho một số mục đích khác, như giám sát TTDBTT, đánh giá các chương trình phát triển hoặc đánh giá hiệu quả chính sách [Can et al., 2013]

Hà Hải Dương [2014] với công trình “Nghiên cứu xây dựng phương pháp luận đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp - Áp dụng thí điểm cho một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng” đã kết luận rằng đánh giá TTDBTT mặc dù đã được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới tuy nhiên lại rất mới và phức tạp để áp dụng đánh giá tại Việt Nam và chưa có một đánh giá cũng như nghiên cứu chi tiết nào về TTDBTT đối với tài nguyên nước phục vụ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam Từ đó, nghiên cứu đã đưa ra quy trình

để đánh giá TTDBTT do biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và

cụ thể cho nhu cầu nước phục vụ trồng trọt và công cụ hỗ trợ đánh giá tình trạng dễ

bị tổn thương do biến đổi khí hậu: Phần mềm CVASS (Climate Vulnerability Assessment Support Software)

Tóm lại, các nghiên cứu về tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế đã được triển khai ở một số nơi tại Việt Nam, tuy nhiên mới chỉ tập trung chủ yếu ở vùng ven biển, một vài nghiên cứu đã được triển khai tại đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, mà chưa có nghiên cứu nào được triển khai ở vùng Bắc Trung Bộ và cũng

Trang 32

chưa có nghiên cứu nào sử dụng kết hợp bộ 3 chỉ số LVI, LVI-IPCC và LEI để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương sinh kế một cách chuyên sâu tại Việt Nam

1.3 Các giải pháp phát triển sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH

1.3.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Phần lớn các công trình nghiên cứu về giải pháp sinh kế bền vững thích ứng đều dựa theo khung nghiên cứu do Chambers và Conway [1992] đưa ra Từ cách nhìn nhận về mặt lý thuyết của các tác giả trên, các nghiên cứu cụ thể đã ứng dụng hợp lý, linh hoạt vào giải quyết mục tiêu được đặt ra Một số công trình điển hình có thể kể đến là [IISD, IUCN and SEI, 2013; Tanner et al., 2014; Amos et al., 2014]:

IISD, IUCN và SEI [2013] từ kết quả nghiên cứu của công trình “Livelihoods and climate change - Combining disaster risk reduction, natural resource management and climate change adaptation in a new approach to the reduction of vulnerability and poverty” (Sinh kế và biến đổi khí hậu - Lồng ghép giảm thiểu rủi

ro khí hậu, quản lý tài nguyên thiên nhiên và thích ứng với biến đổi khí hậu từ một cách tiếp cận mới để giảm thiểu khả năng dễ bị tổn thương và giảm nghèo) khẳng định: mục tiêu trọng tâm của các chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu là giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương do BĐKH và duy trì, củng cố sinh kế của con người, đặc biệt là người nghèo và nhóm yếu thế thông qua cải thiện các nguồn vốn tự nhiên bởi nguồn vốn này là phương tiện sản xuất sẵn có hình thành nên sinh kế cho từng cá nhân và cộng đồng Do đó, duy trì, cải thiện nguồn vốn tự nhiên sẽ là cơ sở để đảm bảo được mức độ bền vững và an ninh sinh kế [IISD, IUCN and SEI, 2013]

Đồng quan điểm với các tác giả trên, Công trình nghiên cứu “Livelihood resilience in the face of climate change” (Khả năng phục hồi sinh kế trước tác động của biến đổi khí hậu) [Tanner et al., 2014] đã tổng quan và phân tích hệ thống về sinh

kế, BĐKH và khả năng phục hồi của sinh kế trước các tác động của BĐKH, đồng thời chỉ ra rằng: BĐKH tác động toàn diện đến hệ thống sinh kế, làm tăng rủi ro và tình trạng dễ bị tổn thương của các cộng đồng Vì vậy, để ứng phó hiệu quả cần thiết phải có các biện pháp sinh kế hợp lý với từng lãnh thổ, từng cộng đồng khác nhau, nhất là các giải pháp tập trung vào nhu cầu của con người và trao quyền cho các nhóm

Trang 33

yếu thế; qua đó sẽ đem lại nhiều lợi ích phát triển bền vững trong ngắn hạn và dài hạn

Công trình nghiên cứu “Households’ perception and livelihood vulnerability

to climate change in a coastal area of Akwa Ibom state, Nigeria” (Quan niệm của hộ

gia đình và tình trạng dễ bị tổn thương của sinh kế trước BĐKH ở cộng đồng ven biển tỉnh Akwa Ibom, Nigeria) [Amos et al., 2014] tiếp cận nghiên cứu từ góc độ hộ gia đình cho rằng: BĐKH đã làm gia tăng tình trạng dễ bị tổn thương của dân cư nông thôn ven biển Vì vậy, cần thiết phải có những giải pháp, chiến lược sinh kế bền vững trên cơ sở kết hợp giữa kinh nghiệm bản địa với các kiến thức, công nghệ mới nhằm thích ứng hiệu quả nhất trước các tác động bất lợi của khí hậu và thiên tai; đồng thời, phù hợp với kiến thức, khả năng tiếp thu của người dân địa phương

Tương tự tại các quốc gia kém phát triển hơn, nghiên cứu “Small-scale innovations in coastal communities: Shell-handicraft as a way to empower women and decrease poverty” (Các sáng kiến quy mô nhỏ tại các cộng đồng ven biển: Sản xuất hàng thủ công từ vỏ sò như một cách thức trao quyền cho phụ nữ và giảm nghèo) của Frocklin và cộng sự [2018] tại Tanzania cho thấy hiệu quả của những dự án đổi mới về sinh kế của các cộng đồng dân cư nông thôn ven biển nhằm xóa đói giảm nghèo và thích ứng với BĐKH và thay đổi của môi trường Kết quả của mô hình sản xuất hàng thủ công từ vỏ sò đã chứng minh đây là một cách thức chuyển đổi và cải thiện sinh kế bền vững, không chỉ có hiệu quả giảm nghèo mà còn cải thiện rõ rệt hiệu quả quản lý các nguồn tài nguyên ven biển [Frocklin et al., 2018]

Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác về giải pháp đối với sinh kế thích ứng với BĐKH Ví dụ đối với ngành thủy sản, để ứng phó với BĐKH cần chú ý: i) cung cấp trước thông tin dự báo về BĐKH hỗ trợ cho lập kế hoạch ứng phó; ii) cần công nhận và tận dụng các cơ hội có lợi từ BĐKH đối với ngành thủy sản; iii) các chiến lược thích ứng với BĐKH cần được thiết kế trên quan điểm đa ngành, liên ngành; và iv) phải ghi nhận những đóng góp tiềm năng của thủy sản trong các nỗ lực giảm nhẹ [Badjeck et al., 2010]

Trang 34

1.3.2 Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, đã có những công trình nghiên cứu về sinh kế bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu được thực hiện Kết quả nghiên cứu từ các công trình này đã giúp cho các nhà quản lý, người dân có cái nhìn toàn diện về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các nguồn vốn hình thành sinh kế cũng như các mô hình, giải pháp ứng phó hợp lý với bối cảnh, nguồn lực sẵn có của địa phương và năng lực của người dân

Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu [2012] trong nghiên cứu “Biến đổi khí hậu

và sinh kế ven biển” đã khẳng định: Vùng ven biển là một trong những nơi dễ bị tổn thương nhất do tác động của BĐKH Do đó, tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng của những cộng đồng dân cư ven biển với BĐKH là một trong những thách thức quan trọng nhất Người dân đã tự nỗ lực kết hợp với sự trợ giúp của các tổ chức trong và ngoài nước điều chỉnh các hoạt động sinh kế phù hợp nhằm thích ứng với BĐKH, đặc biệt là tiếp cận với các tài sản sinh kế Nghiên cứu khuyến nghị để giúp các hộ gia đình thích nghi tốt hơn với những tác động của BĐKH, Chính phủ cần hỗ trợ các hộ gia đình cải thiện tài sản sinh kế của họ, tăng cường các thể chế và chính sách thích ứng với BĐKH ở các cấp quốc gia và địa phương [Trần Thọ Đạt và nnk, 2012]

Vũ Thị Hoài Thu [2013] trong nghiên cứu “Sinh kế bền vững vùng ven biển đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu - Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Nam Định” đã tiếp cận nghiên cứu theo hướng gắn kết khung sinh kế bền vững với yếu tố BĐKH để phân tích khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động của BĐKH và chỉ ra cơ chế tác động Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, do bị tổn thương trước tác động của BĐKH nên sinh kế không chỉ cần bền vững mà còn phải thích ứng để giảm thiểu những thiệt hại do BĐKH gây ra Sử dụng phương pháp phân tích đa tiêu chí, tác giả đã đưa ra bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững về kinh tế - xã hội - môi trường - thể chế và thích ứng với BĐKH của sinh kế Kết quả nghiên cứu cho thấy, các hộ gia đình tại 3 huyện ven biển của tỉnh Nam Định đang thực hiện các hoạt động thích ứng về sinh kế một cách bị động, mang tính đối phó hơn là những hoạt động thích ứng chủ động Để giúp các hộ gia đình chuyển từ thích ứng bị động

Trang 35

sang thích ứng chủ động, nhà nước cần hỗ trợ để tạo ra một môi trường thuận lợi cho các hộ gia đình thực hiện các sinh kế [Vũ Thị Hoài Thu, 2013]

Lê Văn Thăng [2015] với đề tài nghiên cứu “Luận cứ khoa học cho việc lựa chọn và hoàn thiện các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng ở

miền Trung và đề xuất nhân rộng” đã đánh giá khả năng thích ứng với BĐKH và

hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của các mô hình dựa vào cộng đồng ở miền Trung Từ đó đã lựa chọn và hoàn thiện một số mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng ở miền Trung, đồng thời đề xuất các phương án và giải pháp nhân rộng các mô hình thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng ở miền Trung [Lê Văn Thăng, 2015]

Nhiều công trình nghiên cứu về mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH được

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [2011], Bộ Tài nguyên và Môi trường [2016]

và các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam, như: CARE quốc tế tại Việt Nam [2009], Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững [2014], thực hiện tại các địa phương như Bắc Kạn, Phú Thọ, Hưng Yên, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Một

số mô hình tốt có thể kể ra như: Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) nhằm giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH tại miền Trung Việt Nam; Giải pháp thay đổi cơ cấu giống lúa và cải tiến kỹ thuật tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng; Các mô hình sinh

kế thích ứng với hạn tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn; Mô hình hỗ trợ nông dân sản xuất nông nghiệp khép kín không rác thải tại huyện Tân Sơn và Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ… Nhìn chung các mô hình này, về cơ bản đã được xây dựng theo khung sinh kế bền vững của DFID và chú ý tới khả năng thích ứng với BĐKH cũng như giảm tác động đến đa dạng sinh học và môi trường Cho dù nhiều mô hình chưa phải là các mô hình sinh kế mà là các điển hình tốt về sinh kế trong các lĩnh vực khác nhau (như trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, ) nhưng đã góp phần phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của người dân trong bối cảnh BĐKH hiện nay

Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan tác động và các biện pháp thích ứng, Trương Quang Học và cộng sự [2015; 2019] đã đề xuất các chỉ tiêu đánh giá mô hình sinh kế bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu để lựa chọn loại hình sinh kế phù hợp với từng vùng và nguồn lực của mỗi hộ gia đình [Trương Quang Học và nnk, 2015; 2019]

Trang 36

Kết quả của các đề tài khoa học nghiên cứu về sinh kế bền vững và sinh kế thích ứng với BĐKH đã bước đầu góp phần tổng quan một cách đầy đủ về biểu hiện của biến đổi khí hậu, tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có sinh kế; đồng thời đã đề xuất được giải pháp, mô hình nhằm nâng cao năng lực ứng phó với những diễn biến phức tạp của thiên tai, thời tiết

ở các lãnh thổ khác nhau Mặc dù vậy, sinh kế mỗi vùng lại khác nhau và bị tác động bởi BĐKH cũng khác nhau, vì vậy việc phát triển sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH cho từng vùng, từng tỉnh và đặc biệt là cho cấp huyện là rất cần thiết

1.4 Các nghiên cứu tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

Viện Chiến lược, chính sách, tài nguyên và môi trường [2009] với báo cáo

“Biến đổi khí hậu tại Hà Tĩnh” đã chỉ ra rằng Hà Tĩnh đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nhiều thiên tai: bão, nắng nóng, hạn hán, mưa lớn, lũ lụt Nổi bật hơn cả là gió Tây khô nóng giữa mùa hè, làm gián đoạn mùa mưa vào thời điểm nhiệt độ cao nhất

và bốc hơi nhiều nhất, gây ra hạn hán nghiêm trọng, sau đó là thời điểm mưa bão dồn dập BĐKH gây ra nhiều tác động hiện tại và tiềm tàng tới mọi lĩnh vực KT-XH trên toàn tỉnh, liên quan tới sinh kế nông nghiệp, có thể kể đến là: Phân bố cây trồng và thời vụ cây trồng thay đổi theo hướng mở rộng hơn đối với cây nhiệt đới và thu hẹp lại đối với cây cận nhiệt đới và ưa lạnh, yêu cầu tưới tiêu tăng lên và chi phí sản xuất nông nghiệp gia tăng, đất đai ở cả vùng núi và đồng bằng bị thoái hóa nhanh chóng

do xói mòn, rửa trôi và bạc màu nhanh hơn Kết quả là năng suất và sản lượng cây trồng cũng biến đổi theo hướng suy giảm đi Ngành chăn nuôi gặp nhiều khó khăn do gia cầm, gia súc phải sống trong điều kiện kém thích nghi hơn và dịch bệnh nhiều hơn [Viện Chiến lược, chính sách, tài nguyên và môi trường, 2009]

Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và BĐKH [2016] trong báo cáo “Tư vấn

kỹ thuật và phân tích khí hậu hiện tại, tương lai phục vụ công tác quản lý tài nguyên nước tại Hà Tĩnh” đã đưa ra kết luận về kịch bản BĐKH khu vực ven biển Hà Tĩnh

và chỉ ra rằng nhiệt độ trung bình năm và các mùa đều có xu thế tăng, lượng mưa cũng có xu thế tăng lên ở hầu hết các mùa và năm

Tô Thúy Nga [2016] đã thực hiện nghiên cứu tích hợp các vấn đề môi trường

và các yếu tố BĐKH vào quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Hà Tĩnh đến năm

Trang 37

2020 nhằm phát triển bền vững Trong nghiên cứu này tác giả đã nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn và đề xuất được các chỉ tiêu môi trường và quy trình tích hợp các chỉ tiêu này vào Quy hoạch tổng thể Hà Tĩnh hiện nay.

Simelton và cộng sự [2017] tìm hiểu “Tính dễ bị tổn thương do khí hậu: Đánh giá có sự tham gia tại thôn Mỹ Lợi, xã Kỳ Sơn, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh” Nhóm nghiên cứu này áp dụng các công cụ của phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia

để đánh giá định tính các vùng dễ bị tổn thương và nhóm đối tượng bị tổn thương, từ

đó dựa trên các chỉ số về thông minh với khí hậu để đề xuất các giải pháp tiềm năng làm giảm tình trạng dễ bị tổn thương trước BĐKH của thôn Mỹ Lợi thuộc xã Kỳ Sơn, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh [Simelton và nnk, 2017]

Bùi Sỹ Bách và cộng sự [2018] đã nghiên cứu đánh giá mức độ dễ bị tổn thương sinh kế do BĐKH tại các xã ven biển thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Nghiên cứu này tập trung áp dụng phương pháp đánh giá Chỉ số dễ bị tổn thương sinh

kế (LVI) với 7 thành phần chính (hiện trạng sinh kế, dân số - xã hội, hỗ trợ cộng đồng, hiện trạng cung cấp thực phẩm, tiếp cận các tiện nghi, hiện trạng chăm sóc sức khỏe cộng đồng và khí hậu) ở 3 xã ven biển Thạch Hải, Thạch Trị và Thạch Văn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế là rõ nét nhưng các nguồn lực tại địa phương dường như chưa theo kịp được với quá trình phát triển kinh tế, xã hội Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, cách tiếp cận đánh giá LVI có thể được dùng để giám sát diễn biến mức độ tổn thương sinh kế và có thể áp dụng ở các đơn vị hành chính khác như tại huyện, tỉnh ; giúp cơ quan quản lý, các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn trực quan, trên cơ sở đó đề xuất xây dựng các chính sách sinh kế bền vững [Bùi Sỹ Bách, Hoàng Thị Thu Hòa, Nguyễn Thị Xuân Thắng, 2018]

Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và BĐKH [2018] thực hiện đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương liên quan đến BĐKH và xây dựng kế hoạch hành động BĐKH cho thành phố Hà Tĩnh Hoạt động đánh giá này tập trung vào tình trạng dễ bị tổn thương do các tác động BĐKH tới quản lý nước và phát triển đô thị tại thành phố Hà Tĩnh và xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH cho thành phố Hà Tĩnh

Trang 38

[Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và BĐKH, 2018]

Đã có một vài nghiên cứu về tác động của BĐKH đến sinh kế và khả năng thích ứng của cộng đồng tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, tuy nhiên những nghiên cứu này là những nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ, nên còn khá đơn giản:

- Nghiên cứu thứ nhất chỉ tập trung vào đánh giá tác động tiêu cực của BĐKH tới trồng lúa, bằng cách xem xét diễn tiến của BĐKH (dựa trên số liệu khí tượng 30 năm 1977-2007, của trạm Vinh - Nghệ An) và khả năng thích ứng của cộng đồng Nghiên cứu này kết luận rằng, BĐKH tại Can Lộc đã tác động tới sinh kế của người dân, đặc biệt là sinh kế trồng lúa Tuy nhiên, năng suất lúa vẫn tăng trong những năm qua do áp dụng kỹ thuật mới/hiện đại, người dân có hiểu biết về BĐKH và có những hoạt động ứng phó với BĐKH trên cơ sở hướng dẫn và hỗ trợ của chính quyền địa phương

- Nghiên cứu thứ hai tìm hiểu tác động của BĐKH và ứng phó của cộng đồng tại xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Nghiên cứu này xem xét diễn biến của các yếu tố khí hậu, hiện trạng sinh kế và khả năng ứng phó của người dân và cộng đồng tại xã Khánh Lộc, từ đó đề xuất giải pháp góp phần nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH, đảm bảo quá trình phát triển kinh tế bền vững, giảm thiểu rủi ro do BĐKH và thiên tai tới cộng đồng tại vùng nghiên cứu Nghiên cứu đã chỉ ra rằng BĐKH khí hậu đã diễn ra tại địa phương và đã tác động tới các nhóm dễ bị tổn thương (người nghèo, người già, trẻ em), người dân đã có hiểu biết về BĐKH và đã áp dụng thành công một số mô hình thích ứng trong sản xuất nông nghiệp

Tiểu kết chương 1

Qua kết quả nghiên cứu tổng hợp ở trên cho thấy, BĐKH đã hiện hữu và đang

có các tác động mạnh mẽ đến nhiều ngành nghề, lĩnh vực, đặc biệt là sinh kế Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tác động của BĐKH đến sinh kế và phát triển các giải pháp sinh kế bền vững thích ứng Việt Nam cũng đã có những nghiên cứu về tác động của BĐKH đối với sinh kế nông nghiệp Nhìn chung các nghiên cứu tập trung nhiều vào tác động và giải pháp sinh kế cho vùng ven biển hoặc vùng núi cao Hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về sinh kế thích ứng cho vùng đồng bằng hoặc vùng trũng như huyện Can Lộc của tỉnh Hà Tĩnh Một số nghiên cứu tại huyện Can Lộc

Trang 39

còn thiếu chiều sâu và chưa đồng bộ, chưa có nghiên cứu nào chỉ ra được tình trạng

dễ bị tổn thương sinh kế do BĐKH theo phương pháp định lượng trên nhiều biến số nhằm tìm hiểu rõ nguyên nhân gây ra TTDBTT của sinh kế

Do đó luận án tập trung phân tích: 1) diễn biến BĐKH trong hơn 50 năm qua

và xu hướng của BĐKH tới cuối thế kỷ XXI tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh; 2) TTDBTT của sinh kế ở huyện Can Lộc; 3) tổng hợp và đánh giá các giải pháp thích ứng trong sinh kế nông nghiệp được áp dụng bởi các hộ gia đình tại địa phương; 4)

đề xuất một số giải pháp sinh kế bền vững thích ứng với BĐKH dựa trên phân tích tình trạng dễ bị tổn thương, tính bền vững trên 4 phương diện (kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế) và khả năng nhân rộng có tính đến kịch bản BĐKH và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện Can Lộc trong bối cảnh chung của tỉnh Hà Tĩnh

Trang 40

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận

Trong Mục này luận án sẽ trình bày cơ sở lý luận của ba vấn đề chính của luận

án, gồm: i) Sinh kế bền vững và chiến lược thích ứng với BĐKH; ii) Tình trạng dễ bị tổn thương của sinh kế trước BĐKH; và iii) Các giải pháp phát triển sinh kế nông nghiệp bền vững thích ứng với BĐKH

2.1.1 Sinh kế bền vững và chiến lược thích ứng với BĐKH

2.1.1.1 Sinh kế bền vững

a) Khái niệm về sinh kế bền vững

Khái niệm về sinh kế bền vững về cơ bản được dựa trên nền tảng của khái niệm phát triển bền vững và thường xuyên được sử dụng và trích dẫn trong các nghiên cứu dựa trên ý tưởng về sinh kế của Chambers và Conway [1992], trong đó, sinh kế bao gồm khả năng, nguồn vốn và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Một sinh kế là bền vững khi có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và nguồn lực, tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp địa phương và toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn [Chambers

và Conway, 1992]

Scoones [1998] định nghĩa sinh kế bao gồm các khả năng, nguồn vốn và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Một sinh kế được coi là bền vững khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng; duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại mà không làm tổn hại đến cơ

sở tài nguyên thiên nhiên [Scoones, 1998]

Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) [2001] đã đưa ra khái niệm về sinh kế để định hướng cho các hoạt động hỗ trợ sinh kế của mình đối với các cộng đồng mục tiêu Theo đó, sinh kế gồm khả năng, nguồn vốn cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho con người [DFID, 2001] Khái niệm này hoàn toàn giống với khái niệm của Scoones [1998]

Ngày đăng: 22/07/2020, 15:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w