thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạmnhất định ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo.* Khái niệm tội phạm Theo quy định của BLHS hiện
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TẠ THỊ BÍCH NGỌC
TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG 7
1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội gây rối trật tự công cộng 7
1.2 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội phạm khác 161.3 Lịch sử hình thành và phát triển quy định về tội gây rối trật tự công cộngtrong luật hình sự Việt Nam qua các giai đoạn 22
Chương 2: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH
PHẠT TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TẠI TỈNH BẮC NINH 30
2.1 Khái quát tình hình xét xử tội gây rối trật tự công cộng tại tỉnh Bắc Ninhtrong giai đoạn từ năm 2015 - 2019 302.2 Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt tội gây rối trật tự côngcộng tại tỉnh Bắc Ninh 332.3 Một số vướng mắc, hạn chế từ thực tiễn định tội danh và quyết định hìnhphạt tội gây rối trật tự công cộng tại tỉnh Bắc Ninh và nguyên nhân của nhữngvướng mắc, hạn chế 41
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG 59
3.1 Một số yêu cầu nâng cao hiệu quả định tội danh và quyết định hình phạttội gây rối trật tự công cộng 593.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh và quyết định hình phạt tộigây rối trật tự công cộng 60
KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 5DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sựTAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối caoVKS : Viện kiểm sát
HĐXX : Hội đồng xét xử
GRTTCC : Gây rối trật tự công cộng
NQ: Nghị quyết
HĐTP : Hội đồng thẩm phán
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hòa cùng xu thế chuyển biến mạnh mẽ của tình hình kinh tế thế giới,Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện đấtnước Trong những năm qua, đất nước ta đã thu được những thành tựu đáng
kể trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, văn hóa,giáo dục Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, mặt trái của cơchế thị trường cũng đã bộc lộ những tiêu cực nhất định, đặt ra những khókhăn và thách thức to lớn cho Đảng và toàn dân đó chính là vấn đề tội phạm.Hiện nay, tội phạm nói chung, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tựcông cộng nói riêng và đặc biệt là tội gây rối trật tự công cộng đang là vấn đềnhức nhối của toàn xã hội Tuy loại tội phạm này có tính nguy hiểm khôngcao so với các loại tội phạm khác nhưng nó có tính phổ biến, đa dạng và ảnhhưởng không nhỏ đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội Hành vi gây rốitrật tự công cộng xâm phạm các quan hệ xã hội trong lĩnh vực công cộng, gâytổn hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và công dân Hành vinày được thực hiện công khai và thường xảy ra ở những nơi đông người, thểhiện ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước Hình thứcbiểu hiện của hành vi gây rối thường là: Hành hung, đánh lộn, đập phá, gâylộn xộn ở nơi đông người, tụ tập điều khiển xe máy tốc độ cao, lạng lách,đánh võng, gây huyên náo đường phố , kèm theo đó là các hành vi hủy hoạitài sản, chống người thi hành công vụ, cố ý gây thương tích, thậm chí là giếtngười
Nằm trong xu thế chung của cả nước, Bắc Ninh là tỉnh phát triển mạnh
mẽ trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mật độ dân số tập trung tạicác khu công nghiệp, làng nghề cao dẫn đến khó quản lý kiểm soát, xuất hiệnnhững trường hợp người dân tụ tập với số lượng đông biểu tình, cản trở, gâysức ép và phản đối các chủ trương chính sách của Nhà nước, tụ tập trước cáctrụ sở Cơ quan nhà nước, cản trở giao thông, gây mất trật tự công cộng ngày
Trang 7càng nhiều Điều này tạo tâm lý hoang mang lo lắng cho nhân dân, làm mấtniềm tin của nhân dân vào sự quản lý của chính quyền Công tác quản lý trật
tự công cộng còn lỏng lẻo, việc xử lý và xét xử các tội phạm này trong nhiềutrường hợp chưa thực sự nghiêm minh, nhiều vụ án xét xử quá nhẹ làm giảmtính giáo dục, tính răn đe đối với người phạm tội cũng như đối với cộng đồng,làm giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
Trong các hành vi xâm phạm trật tự công cộng, hành vi gây rối trật tựcông cộng vẫn diễn biến khá phức tạp BLHS năm 2015 tiếp tục quy định tộigây rối trật tự công cộng tại Điều 318 với nhiều sự sửa đổi bổ sung trong cấuthành tội phạm cũng như các tình tiết định khung hình phạt Tính đến nay đãgần 02 năm thi hành, tuy nhiên nhà làm luật chưa ban hành bất kỳ văn bảnhướng dẫn thi hành nào đối với tội gây rối trật tự công cộng dẫn đến nhữngkhó khăn, thiếu thống nhất trong công tác áp dụng pháp luật Điều đó đặt rayêu cầu cấp thiết trong việc nghiên cứu lý luận cũng như sự phân tích, đánhgiá tính khả thi trong thực tiễn để có sự tổng kết và đưa ra những kiến nghịhướng dẫn phù hợp
Xuất phát từ thực tế nêu trên, học viên đã chọn đề tài: “Tội gây rối trật
tự công cộng từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh” để làm đề tài nghiên cứu luận văn
thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh tội gây rối trật tự công cộng, nhiều nhà nghiên cứu luậthọc đã nghiên cứu dưới nhiều hình thức, với góc độ tiếp cận khác nhau thôngqua công trình nghiên cứu khoa học được công bố Các công trình nghiên cứu
về đề tài trên có thể kể đến như:
* Tài liệu là giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo: Giáo trình Luật
hình sự Việt Nam phần các tội phạm Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, năm 2013; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam: phần các tội phạm trường Học viện khoa học xã hội, Nxb.
Khoa học xã hội, năm 2014; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần các tội
Trang 8phạm, Trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, năm 2018; Giáo trình luật hình sự Việt Nam Phần các tội phạm, trường Đại học Kiểm sát,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016; Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Bình luận
khoa học bộ luật hình sự năm 2015 - sửa đổi bổ sung 2017 phần các tội phạm, Nxb Tư pháp; Trần Văn Biên (chủ biên), sách bình luận khoa học Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017; Nxb Thế giới; Đinh Văn Quế (2018), Chuyện pháp đình (bình luận án), Nxb Thông tin truyền thông.
* Luận văn thạc sĩ: Trần Long Nhi (2015), Pháp luật hình sự Việt Nam
về tội gây rối trật tự công cộng và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, Luận văn thạc sĩ luật học Khoa luật trường Đại học quốc gia Hà Nội;
Nguyễn Thanh Hải (2010), Tội gây rối trật tự công cộng trong luật hình sự
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học Khoa luật trường Đại học quốc gia Hà
Nội; Triệu Văn Nam (2016), Các tội xâm phạm trật tự công cộng trong luật
hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học Khoa luật trường Đại học quốc
gia Hà Nội; Nguyễn Thị Bích (2011), Phòng ngừa tội gây rối trật tự công
cộng trên địa bàn các tỉnh, thành miền Bắc, luận văn thạc sĩ luật học trường
Đại học Luật Hà Nội; Vũ Minh Trang (2016), Thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án gây rối trật tự công cộng ở thành phố Hà Nội,
luận văn thạc sĩ luật học trường Đại học luật Hà Nội
* Tài liệu là các bài viết trên các tạp chí: Vũ Thành Long (2005), Tội
gây rối trật tự công cộng không có người bị hại, Tạp chí Toà án nhân dân số
15-2005; Nguyễn Hữu Minh (2011), “Đồng phạm về tội giết người hay là gây
rối trật tự công cộng”, Tạp chí Toà án nhân dân Số 19/2011, tr 34, 38; Cao
Thị Thu Thắng (2016), Kinh nghiệm rút ra qua việc giải quyết vụ án “gây rối
trật tự công cộng” bị cấp phúc thẩm hủy để điều tra lại, Tạp chí Kiểm sát Số
2/2016, tr 51 - 53, 64; Bùi Ai Giôn (2019), Về tội gây rối trật tự công cộng
quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, Tạp chí Tòa án nhân dân Số
15, tr 25-28, 48; Nguyễn Thanh Hải (2018), Xử lý tội gây rối trật tự công
Trang 9cộng, cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn, Tạp chí Luật sư Việt Nam số
7/2018, tr 37 - 42
Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến tội gây rối trật tự côngcộng ở khía cạnh, góc độ khác nhau, trong đó đa phần các đề tài được nghiêncứu trước khi BLHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật Một số ít đề tài nghiêncứu sau khi BLHS năm 2015 có hiệu lực nhưng ở phạm vi không gian và thờigian khác nhau Tính đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đếntội gây rối trật tự công cộng theo pháp luật hình sự Việt Nam, một cách cụthể, chuyên sâu từ thực tiễn tại tỉnh Bắc Ninh, trong phạm vi từ năm 2015 đến
2019 dưới hình thức là luận văn thạc sĩ Do đó đề tài đảm bảo tính mới vàkhông trùng lặp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống, làm rõ những vấn đề lý luận
và pháp luật và phân tích thực tiễn áp dụng quy định về tội gây rối trật tự côngcộng tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019, luận văn kiến nghịmột số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về tội gây rối trật tựcông cộng trong luật hình sự và đề xuất những giải pháp bảo đảm áp dụng đúngpháp luật hình sự về tội gây rối trật tự công cộng tại tỉnh Bắc Ninh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về tội gây rối trật tự công cộng trong pháp luật hình sự Việt Nam, mà trọng tâm là BLHS năm 2015
- Phân tích những quy định hiện hành về tội gây rối trật tự công cộng.Đánh giá những kết quả đạt được, những vướng mắc, hạn chế và nguyên nhâncủa những vướng mắc, hạn chế trong quá trình định tội danh và quyết địnhhình phạt tội Gây rối trật tự công cộng tại tỉnh Bắc Ninh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm áp dụng đúng quy định về tội gây rối trật tự công cộng nói chung và tại tỉnh Bắc Ninh nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên
Trang 104.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tội gây rối trật tự công cộng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề nêutrên dưới góc độ Luật hình sự, đặc biệt là trên cơ sở quy định của BLHS 2015cùng các văn bản pháp luật khác có liên quan đến đề tài luận văn
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu tội gây rối trật tự công cộngtrong phạm vi không gian là tại tỉnh Bắc Ninh, được giới hạn trong thực tiễnđịnh tội danh và quyết định hình phạt trong giai đoạn xét xử tại TAND tỉnh Bắc Ninh
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn thời gian 05 năm từ năm
2015 đến năm 2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này này, luận văn sử dụng phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhànước và Pháp luật, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong phòngchống tội phạm
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoahọc luật hình sự như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học, phươngpháp so sánh đối chiếu, phương pháp điều tra án điển hình để phân tích cácvấn đề khoa học cần nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng caonhận thức và áp dụng pháp luật cũng như hoàn thiện lý luận về tội gây rối trật
tự công cộng trong khoa học luật hình sự Việt Nam Từ một số giải pháp đưa
ra, luận văn sẽ góp phần hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật về tộigây rối trật tự công cộng, là cơ sở lý luận – khoa học cho hoạt động áp dụng
Trang 11pháp luật của cơ quan tư pháp có thẩm quyền nói chung và ở tỉnh Bắc Ninhnói riêng.
Về mặt thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệutham khảo cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, xây dựnghoàn thiện các quy định về tội gây rối trật tự công cộng Ngoài ra, kết quả đạtđược trong nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu thamkhảo trong công tác nghiên cứu khoa học chuyên ngành làm tài liệu thamkhảo đối với người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và công tác thực tiễn;đặc biệt, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao hiệu quả côngtác giải quyết các vụ án gây rối trật tự công cộng
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội gây rối trật tự côngcộng
Chương 2 Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt tội gây rốitrật tự công cộng tại tỉnh Bắc Ninh
Chương 3 Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh vàquyết định hình phạt tội gây rối trật tự công cộng
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội gây rối trật tự công cộng
1.1.1 Khái niệm
* Khái niệm trật tự công cộng
Theo “Từ điển từ và ngữ Hán - Việt” của Giáo sư Nguyễn Lân, Nxb.Văn học, Hà Nội 2003: “Trật tự là tình trạng ổn định, có thứ bậc trên dưới,trước sau ” [27, tr 704]
Mặt khác, theo “Từ điển Bách khoa toàn thư”: TTCC là một mặt củatrật tự, an toàn xã hội và có nội dung bao gồm những quy định chung về trật
tự, vệ sinh, văn hóa; sự tuân thủ những quy định của pháp luật và phong tục,tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận; tình trạng yên ổn, có trật tự,tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi
Còn dưới góc độ pháp lý, Từ điển Luật học có giải thích cụ thể “trật tựcông cộng” là: Trạng thái ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng.Những nơi phục vụ lợi ích công cộng như đường phố, quảng trường, côngviên, bệnh viện, nhà hát, rạp chiếu bóng, bãi biển, khu nghỉ mát… được tổchức sắp xếp ngăn nắp, các quy ước chung được mọi người tôn trọng, thựchiện nghiêm chỉnh Quy tắc bắt buộc phải tuân theo để bảo vệ lợi ích chungcủa xã hội, thể hiện toàn bộ yêu cầu cơ bản của xã hội về các mặt chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội… [49, tr 809]
Ngoài ra, trong một nghiên cứu chuyên sâu, PGS.TS Trần Hải Âu, VũThế Công và tập thể tác giả quan niệm như sau: TTCC là tình trạng xã hội có ổnđịnh, hoạt động của con người tuần tự, được tổ chức theo một quy tắc nhất định
và tuân thủ các quy tắc đó tại không gian công cộng để bảo đảm lợi ích chungcho tất cả mọi người trong khi cùng tham gia hoạt động [45, tr.7-8];v.v…
Tóm lại, từ các khía cạnh, khái niệm có liên quan nêu trên, theo chúngtôi khái niệm đang nghiên cứu có thể được định nghĩa như sau: TTCC là trạng
Trang 13thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạmnhất định ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo.
* Khái niệm tội phạm
Theo quy định của BLHS hiện hành thì tội phạm là hành vi nguy hiểmcho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực tráchnhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâmphạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền conngười, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực kháccủa trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải
bị xử lý hình sự
* Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng
Tội gây rối trật tự công cộng là một loại tội phạm được quy định trong
Bộ luật hình sự, do vậy khái niệm tội gây rối trật tự công cộng cần được nhìnnhận dưới góc độ khái niệm chung của tội phạm Tuy nhiên, về vấn đề nàytrong khoa học luật hình sự Việt Nam còn nhiều quan điểm khác nhau
Có tác giả cho rằng: Gây rối trật tự công cộng là nhóm các hành vi xâmphạm trật tự công cộng được Nhà nước bảo vệ bằng quy định điều luật trongpháp luật hình sự và đáng bị trừng phạt theo những quy định của điều luật này[52, tr.25]; có tác giả khác lại định nghĩa: xâm phạm trật tự công cộng lànhững hành vi làm phá vỡ sự ổn định của trật tự công cộng, vi phạm phápluật, văn hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán đảm bảo trật tự côngcộng, làm cản trở hoạt động bình thường, tuần tự của mọi người tại khônggian công cộng [52, tr.25]
Quan điểm này có ưu điểm là đã nêu bật được khách thể mà tội phạmxâm phạm đến, nhưng vẫn chưa nêu cụ thể hành vi phạm tội và dấu hiệu chủthể của tội phạm này
Trang 14Quan điểm khác cho rằng: “Gây rối trật tự công cộng là hành vi làm
náo loạn trật tự nơi công cộng” [33, tr.13] Quan điểm này mới chỉ nêu định
nghĩa hành vi gây rối trật tự công cộng chứ chưa làm rõ khái niệm tội gây rốitrật tự công cộng, hơn nữa, hành vi phạm tội khác tội phạm, vì khái niệm tộiphạm đòi hỏi phải đầy đủ như khái niệm trong Điều 8 Bộ luật hình sự Ngoài
ra, có quan điểm dựa trên căn cứ là các quy định của Bộ luật hình sự năm
2015 (Điều 318) để định nghĩa: “Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi gây
rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” [37, tr.7] Quan điểm này có
điểm hợp lý là phù hợp với các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam,nhưng trong khái niệm cũng vẫn thiếu dấu hiệu chủ thể của tội phạm
Tóm lại, khái niệm tội gây rối trật tự công cộng cần thể hiện được đầy
đủ các bình diện tương ứng với những đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của tội
phạm đã nêu trên Theo Điều 8 của BLHS hiện hành: Tội gây rối trật tự công
cộng là hành vi hò hét, làm náo động, phá phách, hành hung người khác hoặc
có hành vi khác làm rối loạn các hoạt động ở những nơi công cộng, gây thiệt hại cho trật tự, an toàn công cộng, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý và hình phạt của tội gây rối trật tự công cộng
1.1.2.1 Về chủ thể
Chủ thể của tội gây rối trật tự công cộng bị truy cứu trách nhiệm hình
sự là chủ thể thường, theo đó tất cả mọi người khi đạt đến một độ tuổi nhấtđịnh và có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS đều có thể
là chủ thể của của tội gây rối trật tự công cộng
Trang 15Đối chiếu quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì chỉ người đủ 16 tuổitrở lên mới là chủ thể của tội phạm này, vì tội phạm này không có trường hợpnào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [18].
Đối với các hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng hậu quả gây ảnhhưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội được xác định là không đáng
kể, chưa gây ra mức độ hậu quả nghiêm trọng nhưng trước đó người này viphạm pháp luật về hành vi này, đã có quyết định xử phạt trong lĩnh vực hànhchính hoặc đã từng bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn viphạm thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này
1.1.2.2 Về khách thể
Đối với tội gây rối trật tự công cộng thì khách thể bị xâm phạm là trật
tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng Ngoài ra hành
vi phạm tội còn xâm phạm đến các hoạt động đi lại, làm việc, vui chơi vớinguyên tắc an toàn tại nơi công cộng có nhiều người qua lại đồng thời xâmhại đến sức khỏe, tài sản của những người xung quanh Hành vi này cũng làmảnh hưởng đến việc thực hiện những đường lối, chính sách của Đảng, Nhànước trong quá trình ổn định đời sống của người dân[13]
1.1.2.3 Về mặt khách quan
Đối với mặt khách quan của tội gây rối trật tự công cộng được thể hiện
ở 2 phương diện là hành vi khách quan và hậu quả
- Hành vi khách quan
Người phạm tội thực hiện hành vi gây rối bằng nhiều phương thức khácnhau như: người có hành vi phạm tội tiến hành tổ chức tụ tập nhiều người làmnáo động, gây ồn ào, mất trật tự ở nơi nhiều người sinh hoạt và qua lại; cóhành vi đánh nhau làm mất trật tự ở nơi công cộng; hay cố ý phá hoại tài sảncủa Nhà nước, cơ quan tổ chức, cá nhân ở những nơi đông người Người cóhành vi vi phạm có thái độ coi thường ở những nơi đông người, có những lờinói và hành vi thô bạo làm ảnh hưởng đến người khác, khiến cho những ngườixung quanh sợ hãi…
Trang 16- Hậu quả
Hậu quả do hành vi gây rối trật tự công cộng gây ra là những hậu quảnhất định như sự ổn định an ninh trật tự của xã hội, sức khỏe, tài sản, tinh thầncủa cộng đồng Hậu quả là điều bắt buộc để truy cứu trách nhiệm hình sự vớinhững đối tượng vi phạm lần đầu, còn khi những đối tượng này đã bị xử phạt
vi phạm hành chính hoặc dã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích màcòn vi phạm thì hậu quả có thể không phải là bắt buộc
Trước đây, theo quy định của Điều 245 BLHS 1999 và hướng dẫn củaToà án nhân dân tối cao thì coi là hậu quả của hành vi gây rối trật tự là nếuthuộc một trong các trường hợp sau:
- Cản trở, ách tắc giao thông đến dưới 2 giờ ;
- Cản trở sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân;
- Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ mười triệu đồng trở lên;
- Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ chongười khác với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên
- Gây cho nhiều người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệthương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cảnhững người này từ 41% trở lên;
- Gây cho người khác bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệthương tật từ 21% đến 30% và còn thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm triệuđồng trở lên;
- Gây cho nhiều người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệthương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cảnhững người này từ 30% đến 40% và còn thiệt hại về tài sản có giá trị từ nămtriệu đồng trở lên[25]
Ngoài các hậu quả xảy ra về tính mạng, sức khoẻ và tài sản như đãđược hướng dẫn trên đây, thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi vậtchất như có ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách
Trang 17của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, ngoại giao, đến trật tự, an toàn
xã hội Trong các trường hợp này phải tuỳ vào từng trường hợp cụ thể đểđánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra có phải là nghiêm trọng haykhông để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự[25]
Hiện nay theo quy định tại Điều 318 BLHS, thì hậu quả của hành vigây rối trật tự là gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội
1.1.2.4 Về mặt chủ quan
Đối với mặt chủ quan của tội phạm này thì chủ thể có hành vi vi phạm
có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ hành vi của mình sẽ ảnh hưởng rất lớn đếntrật tự an ninh xã hội, lối sống lành mạnh, sự ổn định của xã hội, quy tắc sinhhoạt, đi lại, vui chơi của người khác nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trựctiếp
Trang 18phạm bên cạnh các tình tiết định khung tại khoản 1 thì có thêm các tình tiết này làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bao gồm:
- Có tổ chức: Cũng như đối với các trường hợp phạm tội có tổ chứckhác, phạm tội gây rối trật tự công cộng có tổ chức là trường hợp nhiều người
cố ý cùng thực hiện một tội phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những ngườicùng thực hiện tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, ngườixúi giục, người giúp sức
- Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách:
+ Vũ khí: Theo hướng dẫn tại Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ
và công cụ hỗ trợ ngày 20/6/2017 quy định như sau: “1 Vũ khí là thiết bị,phương tiện hoặc tổ hợp những phương tiện được chế tạo, sản xuất có khảnăng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, pháhủy kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũkhí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự
2 Vũ khí quân dụng là vũ khí được chế tạo, sản xuất bảo đảm tiêuchuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, được trang bị cho lựclượng vũ trang nhân dân và các lực lượng khác theo quy định của Luật này đểthi hành công vụ, bao gồm:
a) Súng cầm tay bao gồm: súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên, súng trung liên, súng chống tăng, súng phóng lựu;
b) Vũ khí hạng nhẹ bao gồm: súng đại liên, súng cối, súng ĐKZ, súng máy phòng không, tên lửa chống tăng cá nhân;
c) Vũ khí hạng nặng bao gồm: máy bay chiến đấu, trực thăng vũ trang, xe tăng, xe thiết giáp, tàu chiến, tàu ngầm, pháo mặt đất, pháo phòng không, tên lửa;
d) Bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thủy lôi; đạn sử dụng cho các loại vũ khíquy định tại các điểm a, b và c khoản này
…
5 Vũ khí thể thao là vũ khí được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, được sử dụng để luyện tập, thi đấu thể thao, bao gồm:
Trang 19a) Súng trường hơi, súng trường bắn đạn nổ, súng ngắn hơi, súng ngắnbắn đạn nổ, súng thể thao bắn đạn sơn, súng bắn đĩa bay và đạn sử dụng chocác loại súng này;
b) Vũ khí thô sơ quy định tại khoản 4 Điều này dùng để luyện tập, thiđấu thể thao
6 Vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự là vũ khí được chế tạo, sảnxuất thủ công hoặc công nghiệp, không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế củanhà sản xuất hợp pháp, có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng,sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất tương tự như vũ khí quândụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao
+ Về hung khí: Về hung khí, hiện nay chỉ được hướng dẫn tại tiểu mục3.1 mục 3 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 và tiểumục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần 1 Nghị quyết 02/2003 của HĐTP TANDTC quyđịnh: ““Dung hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 củaBLHS là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướngdẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
2.2 “Phương tiện nguy hiểm” là công cụ, dụng cụ được chế tạo ranhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt)hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tộiphạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sửdụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểmđến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công
Về công cụ, dụng cụ Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc,
nhọn
Về vật mà người phạm tội chế tạo ra Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ
Về vật có sẵn trong tự nhiên Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc,thanh sắt
Trang 20+ Có hành vi phá phách là trường hợp trong khi thực hiện hành vi gâyrối, người phạm tội đã có hành vi đập phá tài sản nhưng thiệt hại về tài sảnchưa đến mức cấu thành tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của ngườikhác.
- Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt độngcông cộng: - Gây cản trở giao thông nghiêm trọng là gây cản trở giao thông từ
2 giờ trở lên hoặc gây cản trở giao thông ở những tuyến giao thông quantrọng, làm ách tắc giao thông trên diện rộng (không phân biệt thời gian baolâu)[25]
- Gây đình trệ hoạt động công cộng là trường hợp do hành vi gây rối
mà hoạt động công cộng bị đình trệ như: phải tạm dừng buổi chiếu phim; phảitạm dừng trận thi đấu bóng đá, bóng chuyền hoặc các môn thể thao khác; phảitạm dừng cuộc họp Hội đồng nhân dân.v.v… không phân biệt thời gian bịđình trệ dài hay ngắn
- Xúi giục người khác gây rối: Xúi giục người khác gây rối là hành vikích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện hành vi gây rối Tuy nhiên,hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện hành vi gây rốinhưng không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức với vai trò là người xúigiục trong vụ án đồng phạm Tuy nhiên khi xác định hành vi xúi giục ngườikhác gây rối cần phải chú ý: Nếu việc xúi giục không liên quan trực triếp đếnhành vi gây rối của Toà án cấp phúc thẩm thì không phải là người xúi giụcngười khác gây rối
- Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng: Hành hungngười can thiệp bảo vệ trật tự công cộng là trường hợp trong khi thực hiệnhành vi gây rối, có người can ngăn hoặc yêu cầu chấm dứt hành vi gây rốinhưng người có hành vi gây rối chẳng những không nghe mà còn có hành vihành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng
Khi xác định tình tiết này cần chú ý: nếu người can thiệp bảo vệ trật tựcông cộng là người đang thi hành công vụ, có nhiệm vụ bảo vệ trật tự nơi
Trang 21công cộng mà người phạm tội có hành vi hành hung đối với người này thìthuộc trường hợp chống người thi hành công vụ ; nếu gây thương tích hoặcgây tổn hại cho sức khoẻ người thi hành công vụ thì thuộc trường hợp phạmtội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác quy địnhtại Điều 134 Bộ luật hình sự.
- Tái phạm nguy hiểm: Là trường hợp người phạm tội bị kết án về tộirất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích màlại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, hoặc táiphạm, chưa được xoá án mà lại phạm tội do cố ý Như vậy, đối với tội gây rốitrật tự công cộng người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm chỉ cóthể là người đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội gây rối trật tựcông cộng, vì đối với tội phạm này không có trường hợp nào là tội phạm rấtnghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
1.2 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội phạm khác
1.2.1 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
“Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác” là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của người kháclàm cho người đó mất đi một phần hoặc toàn bộ sức lực vốn có của họ đượccoi là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việc phân biệt tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tội gây rối trật
tự được phân biệt theo các tiêu chí sau:
STT Tiêu chí Tội gây rối trật tự công Tội cố ý gây thương tích
cộng hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác
chung, vi phạm nếp sống pháp luật bảo vệ về sức khỏe
1 khách
thể
Trang 22cuộc sống bình thường củamọi người ở nơi công cộng.
Ngoài ra, có trường hợp còngây khó khăn, trở ngại chohoạt động của những ngườitrong cơ quan Nhà nước và
xã hội làm nhiệm vụ bảo vệtrật tự công cộng
động, phá phách, hành hung hoặc gây tổn hại cho sức
khác làm rối loạn các hoạt những hành vi tác động vàođộng ở những nơi công cơ thể con người, gây tổn
Về hành cộng, gây thiệt hại nghiêm thương một bộ phận hay
trọng cho trật tự an toàn toàn bộ cơ thể, hoặc gây tổn
phổi
hưởng xấu đến an ninh, trật hoặc gây tổn hại cho sức
Về điều tự, an toàn xã hội hoặc đã bị khỏe của người khác với tỷ
Trang 23hóa chất nguy hiểm; Đối vớingười dưới 16 tuổi, phụ nữ
mà biết là có thai, người giàyếu, ốm đau hoặc ngườikhác không có khả năng tựvệ; Đối với ông, bà, cha, mẹ,thầy giáo, cô giáo của mình,
bệnh cho mình; Có tổ chức;
hạn; Trong thời gian đang bịgiữ, tạm giữ, tạm giam, đangchấp hành án phạt tù, đangchấp hành biện pháp tư phápgiáo dục tại trường giáodưỡng hoặc đang chấp hànhbiện pháp xử lý vi phạmhành chính đưa vào cơ sởgiáo dục bắt buộc, đưa vàotrường giáo dưỡng hoặc đưavào cơ sở cai nghiện bắtbuộc; Thuê gây thương tíchhoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác hoặcgây thương tích hoặc gây tổnhại cho sức khỏe của ngườikhác do được thuê; Có tínhchất côn đồ; Đối với ngườiđang thi hành công vụ hoặc
vì lý do công vụ của nạnnhân
4 Địa điểm Nơi công cộng, đông người Bất kỳ đâu
phạm tội như nhà ga, bến xe, rạp hát,
18
Trang 24đường phố, công viên;
1.2.2 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội đua xe trái phép
Đua xe trái phép là hành vi của hai hoặc nhiều người điều khiển xe ô tô,
xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ chạy thi trên đường bộ nhằmđuổi kịp hoặc vượt người cùng đua Hành vi đua xe trái phép được coi là tộiphạm khi gây thiệt hại về sức khỏe, tổn hại cho sức khỏe và gây thiệt hại vềtài sản cho người khác đủ mức quy định tại Điều 266 BLHS 2015 Việc phânbiệt tội đua xe trái phép với tội gây rối trật tự công cộng theo các tiêu chí:
STT Tiêu chí Tội gây rối trật tự công Tội đua xe trái phép
cộng
chung, vi phạm nếp sống cộng, đồng thời tội này còn đevăn minh, quy tắc cuộc dọa an toàn tính mạng, sứcsống, gây ảnh hưởng đến khỏe, tài sản của người kháccuộc sống bình thường cũng như gây ảnh hưởng
1 khách cộng Ngoài ra, có trường cộng
ngại cho hoạt động củanhững người trong cơquan Nhà nước và xã hộilàm nhiệm vụ bảo vệ trật
tự công cộng
2 Về hành Hành vi hò hét, làm náo Hành vi khách quan của tội
vi khách động, phá phách, hành phạm này là hành vi đua xe
19
Trang 25quan hung người khác hoặc có Người đua xe trái phép, có thể
hành vi khác làm rối loạn thực hiện một trong các hànhcác hoạt động ở những nơi vi như: chuẩn bị phương tiệncông cộng, gây thiệt hại (xe đua) và những điều kiệnnghiêm trọng cho trật tự cần thiết cho cuộc đua; đến nơi
tham gia cuộc đua
Gây hậu quả là gây ảnh Hậu quả là dấu hiệu bắt buộchưởng xấu đến an ninh, của tội phạm này Nếu hậu quảtrật tự, an toàn xã hội hoặc chưa xảy ra, tức là chưa gây
đã bị xử phạt hành chính thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản
về hành vi này hoặc đã bị của người khác thì hành vi đua
Về điều kết án về tội này, chưa xe trái phép chưa cấu thành tội
kiện được xóa án tích mà còn đua xe trái phép Hậu quả ở
3 truy cứu vi phạm đây là thiệt hại về sức khỏe
hại cho sức khỏe của 01 người
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ31% đến 60%; Gây thiệt hại vềtài sản từ 50.000.000 đồng đếndưới 100.000.000 đồng
điểm người như nhà ga, bến xe, trên các tuyến đường giao
ngày lễ lớn hoặc khi có các sự20
Trang 26kiện văn hóa, thể thao
1.2.3 Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với tội chống người thi hành công vụ
Theo Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 tội chống người thi hànhcông vụ được hiểu là hành vi chống đối, cản trở, đe dọa, uy hiếp người thihành công vụ xảy ra trước, trong hoặc sau khi người thi hành công vụ thựchiện công vụ bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủđoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ, trả thùngười thi hành công vụ, đe dọa người khác hoặc để ép buộc người thi hànhcông vụ thực hiện hành vi trái pháp luật Tội chống người thi hành công vụ vàtội gây rối trật tự công có một số điểm khác nhau cơ bản sau đây:
STT Tiêu chí Tội gây rối trật tự công Tội chống người thi hành
vi phạm nếp sống văn minh, vụ của người thi hành côngquy tắc cuộc sống, gây ảnh vụ, qua đó xâm phạm sựhưởng đến cuộc sống bình hoạt động bình thường của
thể
khăn, trở ngại cho hoạt động chính Nhà nước
của những người trong cơquan Nhà nước và xã hộilàm nhiệm vụ bảo vệ trật tựcông cộng
2 Về hành Hành vi hò hét, làm náo Hành vi dùng vũ lực cản trở,
vi khách động, phá phách, hành hung chống lại người thi hành
Trang 27quan người khác hoặc có hành vi công vụ; đe dọa dùng vũ lực
khác làm rối loạn các hoạt cản trở, chống lại người thi
cộng, gây thiệt hại nghiêm thủ đoạn khác cản trở,trọng cho trật tự an toàn chống lại người thi hành
thi hành công vụ thực hiệnhành vi trái pháp luật
Gây hậu quả là gây ảnh Không cần có hậu quả, nếuhưởng xấu đến an ninh, trật người phạm tội gây ra hậu
tự, an toàn xã hội hoặc đã bị quả thương tật thì bị truy
xử phạt hành chính về hành cứu trách nhiệm hình sự về
Về điều vi này hoặc đã bị kết án về tội cố ý gây thương tích
tội này, chưa được xóa án trong trường hợp để cản trở
truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội giết người trongtrường hợp để cản trở ngườithi hành công vụ hoặc vì lý
do công vụ của nạn nhân
Địa điểm Nơi công cộng, đông người Bất kỳ đâu
4 phạm tội như nhà ga, bến xe, rạp hát,
đường phố, công viên;
1.3 Lịch sử hình thành và phát triển quy định về tội gây rối trật tự công cộng trong luật hình sự Việt Nam qua các giai đoạn
Trang 281.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự năm 1985
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ngay từ khi giành được chínhquyền, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự để bảo vệcác thành quả cách mạng, bảo vệ tài sản Nhà nước, của tổ chức, tính mạng,sức khỏe, tài sản của công dân, đồng thời còn bảo vệ hoạt động bình thường,
ổn định xã hội ở những nơi công cộng, nhưng chưa đề cập trực tiếp đến tộigây rối trật tự công cộng Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959, cụ thể:
Điều 39: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có nghĩa vụ tuântheo Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật lao động, trật tự công cộng, và những quytắc sinh hoạt xã hội
Điều 40: Tài sản công cộng của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà làthiêng liêng không thể xâm phạm Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệtài sản công cộng
Tội gây rối trật tự công cộng lần đầu tiên được đề cập đến trong luậthình sự Việt Nam trong Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 - Quy định cáctội phạm và hình phạt Tuy nhiên, hành vi này chưa có tên gọi như trong bộluật hình sự mà được quy định chung với nhiều loại hành vi khác trong cùngmột tội danh Cụ thể, Điều 9 Sắc luật số 03 – Tội xâm phạm đến trật tự côngcộng, an toàn công cộng và sức khỏe nhân dân quy định như sau:
- Tụ tập đông người nhằm gây náo động trong dân chúng và khuấy rốitrật tự ngoài đường phố hoặc ở các nơi công cộng chống lại nhân viên nhànước khi làm nhiệm vụ;
- Vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng;
- Tổ chức du đãng có hành động càn quấy, đe dọa tánh mạng người khác và an toàn xã hội;
- Cờ bạc, tổ chức ổ mại dâm, buôn bán, tàng trữ ma túy và các chất độc khác trái phép;
Trang 29Ngoài ra, những hành vi sau đây cũng bị coi là tội xâm phạm đến trật tựcông cộng, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân và bị xử phạt theoĐiều 9 Sắc luật:
- Giả danh cán bộ, bộ đội, nhân viên an ninh;
- Xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, không vì mục đích phản cách mạng;
- Vi phạm các quy định về quyền lập hội và quyền hội họp
Phạm các tội trên nếu vượt quá mức độ xử lý hành chính, thì bị truy tố
và xét xử về hình sự và bị phạt từ 3 tháng đến 5 năm Trường hợp nghiêmtrọng, thì bị phạt tù đến 15 năm tù
Theo quy định trên đây của Thông tư số 03-BTP tháng 4/1976 vềhướng dẫn thi hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định các tộiphạm và hình phạt, các hành vi sau là hành vi gây rối trật tự công cộng thuộctội gây rối trật tự công cộng:
- Tụ tập đông người nhằm gây náo động trong dân chúng và khuấy rốitrật tự ngoài đường phố hoặc ở các nơi công cộng chống lại nhân viên nhànước khi làm nhiệm vụ;
- Vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng;
- Tổ chức du đãng có hành động càn quấy, đe dọa tánh mạng người khác và an toàn xã hội,
1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Trang 30Theo quy luật khách quan và xu hướng tất yếu của quá trình phát triển
đi lên của xã hội, cũng như sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự củaViệt Nam, đòi hỏi việc ban hành một văn bản mang tính khái quát, tập trung,
có hệ thống và bao quát đầy đủ các lĩnh vực bị tội phạm xâm phạm đến, ngày27/6/1985, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua
Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày01/01/1986 Bộ luật hình sự năm 1985 đã có sự kế thừa nội dung của các vănbản pháp luật hình sự trước đó Điều 9 Sắc Luật số 03-SL/76 đã được cụ thểhóa thành nhiều tội danh và được quy định tại Chương VIII – Các tội xâmphạm an toàn công cộng, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính - của
bộ luật hình sự Trong đó, lần đầu tiên tội gây rối trật tự công cộng được quyđịnh tại Điều 198 Mục B – Các tội xâm phạm trật tự công cộng như sau:
1- Người nào gây rối trật tự ở nơi công cộng thì bị phạt cảnh cáo, cảitạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm
2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từmột năm đến bảy năm:
a) Có dùng vũ khí hoặc có hành vi phá phách;
b) Lôi kéo, kích động người khác gây rối;
c) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng.”
Như vậy, theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1985, tội gây rối trật
tự công cộng đã được ghi nhận là một tội danh độc lập với khách thể đượcbảo vệ là trật tự công cộng Tuy nhiên, điều luật còn bộc lộ hạn chế, khôngđưa ra định nghĩa cụ thể về những hành vi gây rối trật tự công cộng nào đượccoi là tội phạm cũng như không có văn bản nào hướng dẫn cụ thể Vì vậy, dẫntới nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn, thiếu thống nhất giữa các cơquan tố tụng trong việc áp dụng Ngoài ra, theo cấu thành cơ bản tại khoản 1Điều 198 thì chỉ cần một người nào đó có hành vi gây rối trật tự ở nơi côngcộng thì sẽ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù
từ ba tháng đến hai năm, tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi
Trang 31phạm tội mà không cần đòi hỏi phải có hậu quả của hành vi phạm tội phải xảy
ra Với cách quy định không rõ ràng như thế, rất khó phân biệt giữa hành viphạm tội gây rối trật tự công cộng và hành vi vi phạm hành chính
1.3.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015.
Để khắc phục các hạn chế của BLHS năm 1985, Ngày 21 tháng 12 năm
1999, Quốc hội ban hành bộ luật hình sự mới, là một sự kiện pháp lý quantrọng
Trong Bộ luật hình sự năm 1999, tội gây rối trật tự công cộng được quyđịnh tại Điều 245 Chương XIX – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tựcông cộng:
1 Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc
đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưađược xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mườitriệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đếnhai năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a Có dùng vũ khí hoặc có hành vi phá phách;
b Có tổ chức;
c Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;
d Xúi giục người khác gây rối;
đ Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;
e Tái phạm nguy hiểm.”
So với Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 245 Bộ luật hình sựnăm 1999 quy định về tội phạm này có những sửa đổi, bổ sung như sau: Nếukhoản 1 Điều 198 quy định “Người nào gây rối trật tự công cộng” thì khoản 1Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “Người nào gây rối trật tự công
Trang 32cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi nàyhoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” Việc sửađổi, bổ sung này đã làm phạm vị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vigây rối trật tự công cộng giảm đi nhiều, nội dung câu thành tội phạm đượcxây dựng theo hướng chỉ xử lý hình sự trong các trường hợp cụ thể.
Bộ luật hình sự năm 1999 còn bổ sung một số tình tiết là yếu tố địnhkhung hình phạt quy định tại khoản 2 của Điều 245 mà khoản 2 Điều 198 Bộluật hình sự 1985 chưa quy định như : có tổ chức, gây cản trở giao thôngnghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng, tái phạm nguy hiểm.Sửa đổi một số tình tiết “lôi kéo, kích động người khác” thành tình tiết “xúigiục người khác”
1.3.4 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 đến nay
Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số100/2015/QH13 (viết tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015) được Quốc hội khóaXIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015, được Chủ tịch nước công bốvào ngày 18/12/2015 Tuy nhiên, đã được sửa đổi bổ sung tại Luật số12/2017/QH14 được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày20/6/2017 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018
Bộ luật Hình sự năm 2015 ra đời đánh dấu một bước tiến mới trong kỹthuật lập pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập cũng như phù hợpvới tình hình thực tiễn về phát triển kinh tế - xã hội của nước ta So với trướcđây, Bộ luật Hình sự năm 2015 được xác định là sửa đổi căn bản và toàn diện.Trong đó, tội gây rối trật tự công cộng được quy định tại Điều 318 như sau:
1 Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh,trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi nàyhoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bịphạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữđến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm
Trang 332 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;
c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;
d) Xúi giục người khác gây rối;
đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;
e) Tái phạm nguy hiểm
So với quy định tại Điều 245 BLHS năm 1999, quy định tại Điều 318BLHS năm 2015 có những điểm mới như sau :
Ở quy định dấu hiệu cấu thành tội phạm: Trong khi Điều 245 BLHSnăm 1999 quy định dấu hiệu cấu thành là “gây hậu quả nghiêm trọng” thì ởBLHS 2015 chỉ cần hành vi “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn
xã hội” thì đã có thể bị xem là tội phạm
Mức phạt tiền tại Điều 318 BLHS năm 2015 được quy định “từ nămtriệu đồng đến năm mươi triệu đồng”, cao hơn so với Điều 245 BLHS năm
1999 để phù hợp với thực tiễn
Ngoài ra, ở khoản 2 Điều 318, quy định các tình tiết định khung tăngnặng, có sự hoán đổi vị trí của điểm a và điểm b so với khoản 2 Điều 245BLHS năm 1999 Thêm vào đó, ở tình tiết định khung tăng nặng quy định tạiđiểm b Điều 318 BLHS năm 2015 được thay đổi thành “Dùng vũ khí, hungkhí hoặc có hành vi phá phách” Như vậy, theo quy định của BLHS năm
2015, thì dùng vũ khí hay hung khí cũng đều là tình tiết định khung tăng nặngcủa tội gây rối trật tự công cộng
Trang 34Tiểu kết chương 1
Tại Chương 1 của luận văn, tác giả đã nghiên cứu, phân tích một số vấn
đề lý luận và pháp luật về tội gây rối trật tự công cộng, như khái niệm, dấu hiệupháp lý, hình phạt của tội gây rối trật tự công cộng trên cơ sở nghiên cứu kháiniệm chung của tội phạm tại Điều 8 BLHS năm 2015 và các bài viết, bình luậnkhoa học, giáo trình của các trường đại học trên cả nước để xây dựng các kháiniệm liên quan đến tội gây rối trật tự công cộng Từ đó, luận văn đã phân biệt tộigây rối trật tự công cộng trong luật hình sự Việt Nam với một số tội có liên quankhác như tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác,tội chống người thi hành công vụ, tội đua xe trái phép
Trong chương này, tác giả cũng đã khái quát lịch sử lập pháp của tộigây rối trật tự công cộng giai đoạn từ năm 1945 đến nay Kết quả nghiên cứutại Chương 1 của luận văn là cơ sở, nền tảng để tác giả nghiên cứu, phân tíchđánh giá quy định của BLHS hiện hành về tội gây rối trật tự công cộng vàthực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt tại tỉnh Bắc Ninh trong cácchương tiếp theo của luận văn
Trang 35Chương 2 THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TẠI TỈNH
BẮC NINH 2.1 Khái quát tình hình xét xử tội gây rối trật tự công cộng tại tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn từ năm 2015 - 2019
Tỉnh Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thànhphố, 1 thị xã, 6 huyện với 126 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 26 phường,
6 thị trấn và 94 xã Theo số liệu thống kê được từ TAND tỉnh Bắc Ninh trong
05 năm giai đoạn từ 2015 đến năm 2019, TAND hai cấp tỉnh Bắc Ninh đã đưa
ra xét xử sơ thẩm 4.875 vụ án hình sự, đối với 7.107 bị cáo, trong đó tội gâyrối trật tự công cộng là 113 vụ án đối với 412 bị cáo Cụ thể:
Bảng 2.1: So sánh tình hình tội gây rối trật tự công cộng với tội phạm thuộc Chương XXI (các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng) được xét
xử sơ thẩm tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2015 – 2019
Tội phạm thuộc Tội gây rối trật tự
chương XXI BLHS công cộng (Điều 245 Tỷ lệ %
2015 (chương XIX BLHS 1999; Điều
Trang 36Biểu đồ 2.1 Biểu đồ so sánh tình hình tội phạm xâm phạt trật tự công cộng, an toàn công cộng với tội phạm gây rối trật tự công cộng được đưa
số bị cáo lớn, thường tập trung tại một làng, xóm Diễn biến tội này có xuhướng tăng dần trong các năm từ 2015 đến 2019 Cụ thể:
Năm 2015: Số vụ án xét xử về tội gây rối trật tự công cộng là 14 vụ án,
64 bị cáo
Năm 2016: Số vụ án xét xử về tội gây rối trật tự công cộng là 20 vụ án,
74 bị cáo (tăng 42,85 về số vụ án so với năm 2015)
Năm 2017: Số vụ án xét xử về tội gây rối trật tự công cộng là 24 vụ án,
88 bị cáo (tăng 20% về số vụ án so với năm 2016)
Năm 2018: Số vụ án xét xử về tội gây rối trật tự công cộng là 27 vụ án,
101 bị cáo (tăng 12.5% về số vụ án so với năm 2017)
31
Trang 37Năm 2019: Số vụ án xét xử về tội gây rối trật tự công cộng là 28 vụ án,
85 bị cáo (tăng 3,7% về số vụ án so với năm 2018)
Bảng 2.2 Bảng hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phạm tội gây rối trật tự công cộng
Năm Hình Cải tạo Tù nhưng cho Tù có thời hạn
phạt không giam hưởng án treo Tù dưới Tù trên 3
Hình phạt tiền Cải tạo không giam giữ
Tù nhưng cho hưởng án treo tù dưới 3 năm
tù từ trên 3 năm đến dưới 7 nămQua bảng số liệu cho thấy, do tội gây rối trật tự công cộng là loại tội phạmnghiêm trọng (có mức cao nhất của khung hình phạt là đến 07 năm tù) do
32
Trang 38đó các loại hình phạt có thể được áp dụng đối với tội phạm gây rối trật tự côngcộng là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn đến dưới 7 năm.
Trong giai đoạn 05 năm từ năm 2015-2019, không có bị cáo nào bị ápdụng hình phạt tiền; 12 bị cáo bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ(chiếm tỷ lệ 2,90%); 175 bị cáo bị áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng ántreo (chiếm tỷ lệ 42,48%); 155 bị cáo bị áp dụng hình phạt tù dưới 3 năm(chiếm tỷ lệ 37,62%); 70 bị cáo bị áp dụng hình phạt tù từ trên 3 năm đếndưới 7 năm (chiếm tỷ lệ 17%)
2.2 Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt tội gây rối trật
tự công cộng tại tỉnh Bắc Ninh
2.2.1 Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt tội gây rối trật tự công cộng theo cấu thành tội phạm cơ bản
Cấu thành cơ bản của tội gây rối trật tự công cộng được quy định tạikhoản 1 Điều 318 BLHS năm 2015 (khoản 1 Điều 245 BLHS năm 1999)
Qua nghiên cứu các bản án tại tỉnh Bắc Ninh xét xử tội gây rối trật tựcông cộng trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2019 cho thấy, các cơquan tiến hành tố tụng cơ bản đều định tội danh và quyết định hình phạt đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đảm bảo việcxét xử các vụ án trong thời hạn luật quy định, không có vụ án nào oan sai.Điều này được thể hiện thông qua nhiều các bản án về tội gây rối trật tự côngcộng được Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đưa ra xét xử trong thời gian qua
Một số vụ án có thể kể đến như sau:
Vụ án thứ nhất: Bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Xuân N và Đào Văn
D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 245 BLHS
1999 (Bản án số: 186/2018/HSST ngày: 28/11/2018 của TAND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh)
* Nội dung vụ án: Khoảng hơn 00 giờ ngày 27/8/2017, tại quán
Lasvegas và khu vực đường 286 xung quanh quán Lasvegas ở thôn Đông
33
Trang 39Yên, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xảy ra vụ xô xát, đánhnhau giữa hai nhóm thanh niên gồm Lê Trung T, Nguyễn Bá Đ, Nguyễn HảiNam, Lê Văn Q, Nguyễn Văn T và một số thanh niên khác chưa rõ danh tínhvới nhóm thanh niên gồm Nguyễn Văn T, Đào Văn D, Nguyễn Xuân N, TrầnQuang H Lê Trung T dùng dao phóng lợn và dùng gạch, Nguyễn Bá Đ dùng
1 gậy rút 03 khúc bằng kim loại và 01 thanh tuýp bằng kim loại dài khoảng01m, dạng vuông; Lê Văn Q dùng dao phóng lợn và dùng gạch; Nguyễn HảiNam dùng gạch và dao phóng lợn, Nguyễn Văn T dùng chân tay và gạch,Nguyễn Văn T dùng gậy bằng kim loại dài khoảng 02m và dùng gạch,Nguyễn Xuân N dùng thanh tuýp bằng kim loại dài khoảng 01m, Đào Văn Ddùng thắt lưng da, Trần Quang H dùng gậy bằng kim loại dài khoảng 02m vàgạch đuổi đánh, chém, ném, vụt nhau Hậu quả: T, D bị thương phải đi cấpcứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh H, Nam bị thương nhẹ không phảiđiều trị tại Bệnh viện Sự việc đánh nhau giữa hai nhóm thanh niên diễn ravào ban đêm ở khu đông dân cư, nơi công cộng trong thời gian khoảng 10 -15phút, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an, an toàn xã hội và gâyhoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân
* Quyết định của Tòa án: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn
Xuân N và Đào Văn D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Áp dụng khoản 1 Điều 245, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60BLHS năm 1999 Bị cáo N, D được áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 46, bịcáo T được áp dụng thêm điểm q khoản 1 Điều 46, 42 BLHS năm 1999; Xửphạt:
Nguyễn Văn T 07 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửthách 14 tháng tính từ ngày tuyên án (28/11/2018)
Nguyễn Xuân N 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thửthách 12 tháng tính từ ngày tuyên án (28/11/2018)
Đào Văn D 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách
12 tháng tính từ ngày tuyên án (28/11/2018)
Trang 40Về chủ thể: Nguyễn Văn T, Sinh năm 1982; Nguyễn Xuân N, Sinh năm1987; Đào Văn D, Sinh năm 1987 Các đối tượng đều trên 18 tuổi có đầy đủkhả năng nhận thức và điều khiển hành vi, do đó đều là chủ thể của tội phạm.
Về mặt khách quan:
Hành vi khách quan: Hành vi cụ thể của các bị cáo là Nguyễn Văn Tdùng chân tay và gạch, Nguyễn Văn T dùng gậy bằng kim loại dài khoảng02m và dùng gạch, Nguyễn Xuân N dùng thanh tuýp bằng kim loại dàikhoảng 01m, Đào Văn D dùng thắt lưng da, Trần Quang H dùng gậy bằngkim loại dài khoảng 02m và gạch đuổi đánh, chém, ném, vụt nhau
Hậu quả: Sự việc đánh nhau giữa hai nhóm thanh niên diễn ra vào banđêm ở khu đông dân cư, nơi công cộng trong thời gian khoảng 10 -15 phút,làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an, an toàn xã hội và gây hoangmang, lo sợ trong quần chúng nhân dân
Về mặt chủ quan: Nguyễn Văn T; Nguyễn Xuân N và Đào Văn D có đủnhận thức để hiểu được hành vi gây náo loạn, đánh nhau tại phía trước quánquán Lasvegas ở thôn Đông Yên, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh BắcNinh sẽ gây mất trật tự công cộng, tuy nhiên xuất phát từ những mâu thuẫnnhỏ nhặt mà các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp
TAND huyện Y đã định tội danh đối với hành vi của Nguyễn Văn T,Nguyễn Xuân N và Đào Văn D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theokhoản 1 Điều 245 BLHS trên cơ sở các dấu hiệu trên là hoàn toàn đúng quy