Chuyên đề: Tập tính ở động vật - tập tính kiếm mồi và săn mồi ở động vật
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA SINH HỌC -
-CHUYÊN ĐỀ TẬP TÍNH HỌC ĐỘNG VẬT
Đề bài:
TẬP TÍNH KIẾM MỒI VÀ SĂN MỒI Ở
ĐỘNG VẬT
Học viên : Ngô Như Hải Lớp : Cao học K19 Người hướng dẫn : TS Nguyễn Lân Hùng Sơn
Trang 2HÀ NỘI, 9 – 2010
I Khái niệm về tập tính ở động vật
Tập tính ở động vật là một chuỗi các phản ứng trả lời các kích thích bên trong cũng như bên ngoài cơ thể nhờ đó mà động vật có thể tồn tại và phát triển được
Tập tính là một loạt các hoạt động phối hợp và thường dẫn tới hoạt động của một
bộ phận cơ thể: ve vẩy tai, đuôi, đến mùa sinh sản các loài chim thường hót hoặc khoe lông, hoặc có sự tranh giành con cái bằng giao đấu…Đôi khi tập tính lại là những phản ứng bất động VD như phản ứng tự vệ của con bọ que (giả chết)
Các phản ứng tập tính đều mang tính chất thích nghi, nghĩa là làm cho cơ thể sinh vật tiếp tục tồn tại, các phản ứng này giúp con vật tránh xa các mối nguy hiểm hoặc giảm tối đa những sự đe dọa trước mắt nhờ sử dụng một loạt các phản ứng điều hòa
Người ta chia làm hai loại tập tính cơ bản:
1 Tập tính bản năng (tập tính bẩm sinh nguyên thủy hay không do học tập)
Tập tính bản năng do nhân tố gen quyết định và thường không bị thay đổi bởi hoàn cảnh
VD: Thủy tức khi có mồi chạm vào xúc tu, thủy tức sẽ tự đưa thức ăn vào miệng
Gấu bắt cá ở các vực nước
Màn song đấu của công
Cò bắt cá ở chỗ nước nông
Trang 3Đỉa sống trong nước, khi nghe có tiếng động trong nước sẽ tự động bơi lại phía đó
để kiếm ăn
2 Tập tính học tập
Tập tính học tập là kiểu hoạt động hình thành do kết quả của kinh nghiệm và có thể thay đổi bởi hoàn cảnh
VD: Báo mẹ dạy con săn mồi: Sau khi bắt được con mồi, báo mẹ làm cho con mồi yếu đi rồi cho con tập săn mồi Nếu báo được con người nuôi dưỡng từ nhỏ thì khi lớn lên được thả ra tự nhiên sẽ không có các kỹ năng săn mồi Vì thế tập tính kiếm ăn của hầu hết các động vật bậc cao là tập tính học tập
Ngoài ra còn có tập tính hỗn hợp: Vừa có tập tính học tập vừa có tập tính bản năng
Cơ sở thần kinh của tập tính là các phản xạ Các phản xạ thực hiện qua cung phản xạ
Báo mẹ dạy con săn mồi Báo mẹ làm con mồi yếu đi
Trang 4Kớch thớch là những tỏc nhõn tỏc động vào con vật, kớch thớch cú thể từ bờn ngoài như ỏnh sỏng, nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ oxi, độ pH (kớch thớch ngoài) tới làm con vật cảm nhận được thụng qua cỏc giỏc quan
Kớch thớch cú thể từ bờn trong con vật do sự thay đổi sinh lý bờn trong con vật (kớch thớch trong)
Một số dạng tập tớnh phổ biến ở động vật:
- Tập tớnh kiếm mồi và săn mồi
- Tập tớnh bảo vệ vựng lónh thổ
- Tập tớnh phỏt tớn hiệu bỏo động
- Tập tớnh thỏch đấu
- Tập tớnh sinh sản
- Tập tớnh xó hội hay tập tớnh sống bầy đàn
- Tập tớnh ớch kỷ và lũng vị tha
II Tập tớnh kiếm mồi và săn mồi ở động vật
Cỏc tỏc nhõn kớch thớch như: hỡnh ảnh, õm thanh con mồi phỏt ra, nhiệt độ cơ thể con mồi, mựi mỏu tanh…hỡnh thành nờn tập tớnh rỡnh mồi, rượt đuổi mồi để tấn cụng và
vồ mồi
Tập tớnh kiếm mồi và săn mồi ở cỏc động vật khỏc nhau là khỏc nhau:
1 Đối với động vật cú tổ chức thần kinh chưa phỏt triển thỡ là tập tớnh kiếm mồi và săn mồi là tập tớnh bẩm sinh.
VD: Ong bắp cày ký sinh Aphidius colemani là một loài ký sinh ăn tạp, tấn cụng
nhiều loài rệp vừng
Sau khi giao phối, con cỏi tấn cụng một con rệp vừng, đưa cơ quan đẻ trứng của
nú vào khoang bụng của con rệp vừng Bất cứ loài rệp vừng nào cũng phự hợp làm con mồi đối với ong bắp cày
Cơ quan thụ cảm Hệ thần kinh Thực hiệnCơ quan Kích thích
Hoặc trong
Hành động
Trang 5Khi ở trong cơ thể rệp vừng, các trứng tăng kích thước nhiều lần so với kích thước ban đầu của nó Ấu trùng sau đó nở và bắt đầu ăn ở dạng thấm lọc Ấu trùng ký sinh sau
đó cắt một đường rạch nhỏ bên trong rệp vừng, gắn lớp biểu bì với lá bởi tơ và cuối cùng
tạo thành kén trong con rệp vừng đang chết, tạo thành nhộng Khi trưởng thành, ong bắp cày ký sinh sẽ cắt một lỗ tròn ở phần ngoại biên phía trên của “xác ướp” (giữa các tuyến rệp sáp) để chui ra ngoài
2 Đối với động vật có hệ thần kinh phát triển tập tính bắt mồi và săn mồi rất phong phú
và phức tạp
Phần lớn các tập tính này được hình thành do học tập từ bố mẹ của chúng hay đồng loại hoặc do kinh nghiệm của bản thân và chúng được hoàn thiện dần để đảm bảo
sự sống sót của các loài trong tự nhiên
3 Trái lại ở con mồi khi phát hiện ra kẻ thù thì có tập tính lẩn trốn, bỏ chạy hoặc tự vệ
Trong đa số trường hợp con mồi bị truy đuổi quá gần thì lập tức nó chuyển từ trạng thái trốn chạy sang tư thế tấn công
Khi gặp kẻ thù thường biểu hiện tư thế dọa nạt, thú ăn thịt thì nhe răng, giơ vuốt, thú móng guốc thì dậm chân Một số loài thì xù lông lên và dựng đứng người
Các loài khỉ thường có tập tính bẻ cành ném xuống thậm chí phóng uế vào mặt kẻ thù
Con ong bắp cày cái A colemani (trái)
đang tấn công 1 con rệp vừng
Một con sư tử cái đang tấn công đàn
ngựa vằn công một con linh dươngHai anh em báo đang tấn
Trang 6Có những loài chọn những cách tự vệ kì dị, như giả chết, cuộn tròn thân mình hay biến mình thành vũ khí khó nuốt
VD: Loài thú có túi Opssum châu Mỹ, sinh sống chủ yếu từ Canada tới nước
Costa Rica Bình thường chúng vẫn có những phản ứng khi gặp nguy hiểm giống như các loài có túi khác: kêu rít lên, cào cấu và nhe răng Nếu tình thế nguy hiểm hơn chúng có thể cắn ác ý
Tuy nhiên, nếu tình thế trở nên cực kỳ nguy hiểm chúng sẽ thực hiện “kế hoạch B” của mình: giả chết Con vật sẽ thả rơi mình xuống đất, miệng nhỏ dãi như thể bị ốm, nằm bất động với cái miệng mở ra Bên cạnh đó, nó tiết ra một chất có mùi như xác chết
từ tuyến hậu môn của mình
Hầu hết các loài ăn thịt thích giết ngay con mồi của mình, còn không có hứng thú với những con vật đã chết Chính điều này giúp con thú gặm nhấm này thoát chết
Loài vượn cáo Tây Phi thuộc họ linh trưởng Vượn cáo là loài thú sống về đêm,
thức ăn chủ yếu là nhựa cây, hoa quả và các loài động vật nhỏ Vì di chuyển chậm chạp, các loài ăn thịt dễ dàng đe dọa mạng sống của chúng Vì vậy, chúng có một cách tự vệ rất đặc biệt
Thỏ bỏ chạy khi bị chó tấn công Nhím xù lông để tự vệ trước
kẻ thù
Trang 7Vượn cáo tránh được những cú cắn chết người nhờ sự phòng vệ độc đáo Chúng
mở rộng phần cột sống từ cổ tới vai, tạo thành những điểm lồi, giống như một thứ vũ khí đặc biệt Điều này, ngoài việc đe dọa kẻ thù, còn khiến cho chúng khó bị nuốt hơn Những phần cột sống này cũng có tác dụng như một chiếc khiên, bảo vệ phần cổ của con vượn cáo khỏi những cú cắn chết người của kẻ thù vào những điểm yếu như cổ hay sau đầu
Tê tê Với lớp vảy cứng, loài tê tê gần như không phải lo ngại kẻ thù nào Loài vật
này sống chủ yếu ở châu Phi và châu Á Tê tê có vẻ bề ngoài khá kì dị với lớp vỏ giáp khiến chúng trông như những nón thông khổng lồ di động
Thức ăn chủ yếu của chúng là các loài sâu bọ Chúng có những móng vuốt lớn và đầy sức mạnh, nhưng lại hiếm khi sử dụng Thay vào đó, nó cuộn người lại như một quả bóng, khiến chúng rất khó bị loài thú ăn thịt trải ra Phần rìa sắc nhọn của lớp vảy khiến chúng rất khó bị tác động bởi hầu hết các loài ăn thịt
Ngoài ra, chúng có thể tặng cho kẻ thù những cú quất đuôi mạnh mẽ, gây ra những tổn thương nghiêm trọng
Tê tê có thể cuộn mình thành quả bóng và lăn trốn rất nhanh Giải pháp cuối cùng của loài tê tê để phòng thủ là tiết ra một chất hôi thối, dinh dính từ hậu môn để đẩy lùi kẻ thù Chính vậy, loài thú này hiếm khi phải lo lắng về những kẻ thù của mình
Tatu Cuộn mình như quả bóng da, không một khe hở cho kẻ thù là cách tự vệ của
tatu Loài tatu ở Nam Mỹ còn đặc biệt hơn ở khả năng cuộn thành một quả bóng hoàn hảo Ngoài lớp vỏ giáp ngoài cột chặt thít, phần đầu và đuôi đan vào nhau khi loài vật này cuộn thành quả bóng Điều này giúp chúng hoàn toàn an toàn trước mọi kẻ thù
Trông tatu giống như một con vật mặc áo giáp vàng Mọi người vẫn nghĩ, loài tatu với lớp áo giáp nặng nề, bảo vệ nó giống như mai rùa sẽ không bị các loài thú ăn thịt tiêu diệt Tuy nhiên, chúng không dựa vào lớp vỏ dày dặn đó để bảo vệ trước các loài thú ăn thịt lớn Thay vào đó, chúng tự đào hố để chôn mình dưới đất để trốn thoát
Ngoài ra, chúng có một trò tự vệ đặc biệt nữa là, tạo nên âm thanh kì lạ trước khi cuộn tròn thành quả bóng, khiến cho kẻ thù giật nảy mình Chính vì vậy, những con tatu
Trang 8không cần phải đào lấy hang cho mình mà sử dụng những cái hang đã đào của các loài vật khác
Nhím có mào Loài nhím có mào sinh sống ở châu Phi và cả ở phía Nam châu Âu,
chủ yếu là ở Italia Chúng được coi là loài gặm nhấm lớn nhất trên thế giới và cũng là một trong những loài thú có vú tự bảo vệ mình tốt nhất Loài nhím có mào có thể gây chết kẻ thù bằng cách đâm lông vào kẻ thù
Vũ khí lợi hại của chúng là những chiếc lông cứng và sắc nhọn bằng keratin Nên
dù màu sắc của lông thường là trắng và đen, khiến chúng dễ bị kẻ thù phát hiện từ xa nhưng chúng vẫn có thể an toàn
Khi bị đe dọa, chúng thường lắc cái lông đuôi, tạo ra những tiếng ồn để đe dọa kẻ thù Nếu không hiệu quả, chúng cố gắng quay lưng, tấn công hay đâm kẻ thù bằng phần lông cứng ở thân Chúng có chất kháng sinh trong máu giúp không bị nhiễm độc khi gặp tai nạn
Những chiếc lông nhím rất dễ gãy Khi chúng đi vào cơ thể kẻ thù gây nhiễm trùng từ những vết thương như vậy Nguy hiểm hơn, khi những cái lông cứng chọc sâu vào thịt, chúng phá hoại các mạch máu và cả nội tạng
Ngoài ra, ở sinh vật còn có trường hợp thay đổi ngoại hình để nó trở nên lẫn vào
môi trường xung quanh gọi là ngụy trang Đây là hành vi (tập tính) của sinh vật nhằm
trốn tránh khỏi khả năng quan sát của đối tượng khác Tập tính này có thể giúp sinh vật trốn tránh kẻ thù hoặc dễ dàng hơn trong việc săn mồi
Luôn có sự tiến hóa liên tục trong khả năng phát hiện sự trá hình và tương tự năng lực ẩn trốn cũng biến đổi luôn luôn Ở mỗi cặp động vật săn đuổi-trốn tránh, cấp độ tiến hóa trá hình và phát hiện khác nhau
Ví dụ của ngụy trang như những đường vằn trên lưng con hổ lẫn vào trong môi trường để dễ dàng săn mồi hơn
Trang 9Những vạch đen trên da ngựa vằn khiến rất khó phân biệt từng cá thể làm kẻ thù khó tấn công
- Ngụy trang có thể là động vật hòa mình vào môi trường xung quanh
Hổ Sumatra
Bọ lá Một Anolis caroliensis con thằn với khả lằn Con cá bõn lẫn với môi trường xung quanh
năng đổi màu da giống hệt môi trường xung quanh gần nhý trở thành 1 phần của cành cây
Trang 10- Cách khác là động vật biến hình thành thứ gì khác hấp dẫn hoặc có vẻ ngoài nguy hiểm Một số động vật ẩn trốn làm giả chuyển động trong tự nhiên, ví dụ chiếc lá trong gió
Các động vật khác gắn liền hoặc lấy những vật liệu trong tự nhiên đắp lên thân mình để ẩn náu
Nhện Cyclosa mulmeinensis có khả năng tự tạo những vật trang trí có hình dạng
và màu sắc giống cơ thể chúng, nhằm đánh lạc hướng kẻ thù chính là ong bắp cày
Loài nhện này trang trí mạng của chúng bằng xác côn trùng chết và bao trứng của chúng Do đó ong bắp cày không thể phân biệt được nhện với những vật trang trí trên mạng
4 Tập tính kiếm mồi và săn mồi ở động vật phụ thuộc vào nguồn thức ăn mà chúng sử dụng Dựa vào nguồn thức ăn mà chia động vật ra: Nhóm ăn thực vật, nhóm ăn thịt, nhóm ăn tạp Các nhóm động vật khác nhau có tập tính kiếm ăn là khác nhau
4.1 Nhóm ăn thực vật
4.1.1 Nhóm ăn cỏ: Ngựa, bò, dê, cừu, thỏ, gặm nhấm…
Capybara: các răng cửa rất to hiệu quả để gặm cỏ ngắn còn lại sau mùa khô, chúng hoạt động suốt đêm, các bữa ăn được xen kẽ giữa các giấc ngủ ngắn
Con mực con trốn
Những con cú ở Australia hòa lẫn với màu của vỏ cây
Trang 11Hyrax: răng lại không thích hợp với chế độ ăn cỏ thô Các răng cửa trông như răng nanh hầu như không được sử dụng vì vậy con vật phải nghiêng đầu một bên và dùng các răng má
4.1.2 Nhóm ăn cành, lá, vỏ cây: hươu, hươu cao cổ, voi, thỏ rừng, hải ly, lười…
Hải ly: Vào mùa đông hải ly góp nhặt và tích trữ các loại cây thân mộc trong ao Hải ly dựa vào nguồn thức ăn này trong suốt mùa đông Vào mùa hè, khi có nhiều lựa chọn hơn về thức ăn Hải ly chuyển sang ăn lá mềm
Với móng vuốt và hàm răng sắc nhọn, loài hải ly là một trong loài thú có khả năng xây đập nổi tiếng
Đây là loài nổi tiếng với việc dùng gỗ, bùn đất và đá để "xây dựng” các đập nước Mục đích là tạo nên một con hào nhằm bảo vệ cho gia đình của mình Những chiếc đập như vậy sẽ ngăn chặn được những loài thú săn mồi như chồn, cáo, sói, gấu Đồng thời chúng cũng sẽ giúp hải ly dễ dàng kiếm thức ăn hơn trong mùa đông
4 1.3 Nhóm ăn quả: Khỉ, voọc mũi hếch, vươn đen họ cáo có túi, chuột sóc, nhím… 4.1.4 Nhóm ăn hạt: Chuột lớn, chuột nhắt, chuột gerbil, gundi, sóc…
Sóc ưa ăn hạt dẻ nhất, thường tìm và ăn hạt
Trang 121.5 Nhóm ăn rễ: chuột túi và chuột ăn rễ, wom bat…
1.6 Nhóm ăn nước mật và phấn hoa:
Possum mật có mõm dài và nhọn để đưa sâu vào bên trong đầu hoa, chót lưỡi có gai nhọn như bàn chải để liếm nước mật ngọt
4.2 Nhóm ăn thịt: Bộ ăn thịt, bộ chân màng, bộ cá voi
Thức ăn: thân mềm, giun, sâu bọ, lưỡng cư, bò sát nhỏ và các loài thú ăn thực vật
4.2.1 Thú ăn sâu bọ:
Tê tê là đại diện điển hình của thú ăn sâu bọ Để sống và tồn tại hàng ngày chúng cần bắt 1 lượng côn trùng rất lớn kể cả sâu bọ có nọc độc như ong, kiến…
Tê tê có tập tính bắt mồi rất lạ: Miệng tê không có răng và cũng không há ra được, thực chất giống như một lỗ nhỏ Tê tê dùng cái lưỡi rất dài thò qua miệng, phóng tới tấp vào các khe nhỏ của tổ mối, kiến Lưỡi nó có chất dính và bằng động tác thò ra thụt vào
cứ thế kiến, mối bị lôi tuột vào miệng, rồi tê tê nuốt chửng
Trang 134.2.2 Thú săn mồi khác
Thường các loài thú ăn thịt, quá trình bắt mồi gồm 5 giai đoạn
a Giai đoạn 1
Con săn mồi cùng 1 loài thường phải ganh đua nhau kịch liệt mới có thể sống được Có thể là con vật cô độc (hổ, mèo) hoặc một đôi vợ chồng cùng với con cái (cáo), hay cả nhóm sống theo bầy đàn (sư tử, linh cẩu, chó sói, chó rừng )
Chúng giới hạn lãnh thổ của mình bằng sự đánh dấu khứu giác, cũng bằng cả những giọng luyến ở cách xa: tiếng gầm của sư tử, tiếng hú của chó sói, tiếng gầm gừ của linh cẩu
b Giai đoạn 2
Dò tìm con mồi bằng cách theo dõi và rình con mồi nhờ vào những nhóm giác quan đã hoàn hảo Loài động vật có vú cùng 1 lúc sử dụng cả khứu giác, thị giác và thính giác.
Trang 14Những động vật ăn thịt có kích thước lớn tiến tới sát “con vật săn” mà không gây
ra 1 tiếng động nào bằng cách lẩn trốn những cặp mắt sau những hốc đá hay lùm cây và tránh được chiều gió thổi
c Giai đoạn 3
Có những kỹ thuật chính để săn bắt con mồi theo đuổi, mai phục, thăm dò và tóm gọn con mồi Sự rượt đuổi đòi hỏi những điều kiện thích nghi với tốc độ và sự nhanh nhẹn
Những con săn mồi tấn công những con mồi lớn hơn cơ thể nó hoặc tập hợp lại thành nhóm để tự vệ hay cùng nhau săn bắt và cùng nhau chia những con mồi săn được
Ba tính chất quan trọng lúc rình mồi là: kín đáo, chăm chú theo dõi và nhanh nhẹn khi tấn công
d Giai đoạn 4
Những con săn mồi phải giết chết nạn nhân đã rồi mới ăn thịt
Trang 15Những miếng mồi có kích thước to lớn phải được tiêu hóa ở nơi kín đáo, tránh những con mắt soi mói hoặc ít ra là không bị lấy cắp
e Giai đoạn 5: Tiêu thụ con mồi
Những thú ăn thịt bé hơn: Cầy giông, cầy hương, mèo rừng…mỗi ngày ăn 3 – 4 con chuột mới no nhưng khi không bắt được mồi chúng cũng ăn cả sâu bọ và giun đất
Các loài thú vốn là ăn thịt như gấu ngựa nhưng do không đủ thức ăn chúng đã dần trở thành thú ăn tạp, ngoài thịt, thức ăn của chúng còn là trái cây (dẻ, chuối, sung, tai chua, củ mài, củ ráy…)