Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ngân hàng từ thực tiễn xét xử phúc thẩm tòa án nhân dân thành phố hà nội Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ngân hàng từ thực tiễn xét xử phúc thẩm tòa án nhân dân thành phố hà nội Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ngân hàng từ thực tiễn xét xử phúc thẩm tòa án nhân dân thành phố hà nộiGiải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ngân hàng từ thực tiễn xét xử phúc thẩm tòa án nhân dân thành phố hà nội Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ngân hàng từ thực tiễn xét xử phúc thẩm tòa án nhân dân thành phố hà nội
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG QUỐC ANH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG QUỐC ANH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM 6
1.1 Khái quát chung về hợp đồng tín dụng ngân hàng 61.2 Khái quát về tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng 111.3 Khái quát về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án cấp phúc thẩm 221.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án cấp phúc thẩm 28
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31
2.1 Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa
án cấp phúc thẩm 31
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THEO THỦ TỤC PHÚC PHÚC THẨM TẠI TÒA ÁN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 60
3.1 Định hướng nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng theo thủ tục phúc thẩm tại Tòa án trong giai đoạn hiện nay 603.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng theo thủ tục phúc thẩm tại Tòa án trong giai đoạn hiện nay 63
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu tôi sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng,
đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
Hà Nội, ngày 6 tháng 06 năm 2020
HỌC VIÊN
Trương Quốc Anh
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Trần Đình Hảo và những ý kiến quý báu về chuyên môn của các thầy cô trong Trường Đến nay, tác giả đã hoàn thành luận
văn thạc sĩ với đề tài “Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ngân
hàng từ thực tiễn xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội”
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ trong việc dành thời gian nghiên cứu, tìm kiếm thu thập thông tin, tài liệu trong quá trình thực hiện luận văn
Do trình độ nghiên cứu còn hạn chế cũng như thời gian nghiên cứu chưa dài nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý thầy cô và quý độc giả
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 6 tháng 06 năm 2020
HỌC VIÊN
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HĐTD Hợp đồng tín dụng NHNN Ngân hàng nhà nước XHCN Xã hội chủ nghĩa TAND Tòa án nhân dân BLDS Bộ luật dân sự BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự HTND Hội thẩm nhân dân NHTM Ngân hàng thương mại TCTD Tổ chức tín dụng HĐXX Hội đồng xét xử
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ở cấp phúc thẩm của toà án nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn 2015 – 2019 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước đã góp phần tạo nên những bước tiến đáng kể vào công cuộc cải tiến nước nhà, mở ra nhiều cơ hội mới và cũng đặt ra những thách thức vô cùng to lớn cho mọi lĩnh vực, mọi doanh nghiệp trong đó không thể không nói đến ngân hàng, một lĩnh vực hết sức nhạy cảm ở các nước đi lên từ nền kinh tế bao cấp Ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa để giải quyết nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu thanh toán…, phục vụ cho việc phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh của các tổ chức kfinh tế, cá nhân Trong hoạt động ngân hàng thì cho vay là hoạt động truyền thống mang lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng nhưng cũng là hoạt động tiềm ẩn những rủi ro vô cùng lớn Biểu hiện của rủi ro tín dụng khi khách hàng không hoàn trả gốc và lãi đúng hạn hoặc phát sinh ra những tranh chấp trong hợp đồng tín dụng (HĐTD) ngân hàng…
Nhà nước ta đang trong quá trình đổi mới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, chính trị, xã hội và các lĩnh vực khác góp phần tạo nên những bước tiến đáng kể vào công cuộc cải tiến đất nước Các giao dịch trong xã hội diễn ra hàng ngày rất đa dạng, pháp luật khó có thể điều chỉnh được toàn bộ các quan hệ trong cuộc sống Thông thường các bên lựa chọn hình thức giao dịch thông qua hợp đồng – hợp đồng ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bên, là cơ sở để pháp luật bảo vệ quyền lợi của các bên khi có tranh chấp Trong lĩnh vực ta nhận thấy HĐTD ngân hàng có nhiều trong các giao dịch với các đối tác cho nhu cầu vay vốn trong phát triển kinh doanh, sản xuất Bởi HĐTD ngân hàng chứa nhiều yếu tố phức tạp và nhạy cảm nên nó rất dễ dẫn đến tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng Khi lợi ích giữa các bên bị ảnh hưởng quyền đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp sẽ làm thủ tục khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài thương mại để được pháp luật bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng của Tòa án đóng vai trò rất quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, các nhân, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và đặc biệt góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, trong nên kinh tế thị trường hiện nay các giao dịch dân sự, đặc biệt là giao dịch thông qua HĐTD ngân hàng diễn ra ngày càng nhiều trên phạm vi rộng, gây nhiều khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp này ở Tòa án Trước tình hình đó cần phải hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật liên quan đến việc
Trang 9giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng nhằm tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực này cũng nhằm đảm quyền và lợi ích của các bên tham gia hợp đồng
Trong những năm qua, pháp luật về tổ chức tín dụng (TCTD) và pháp luật về tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng đã được Nhà nước quan tâm và không ngừng được hoàn thiện như: Bộ luật dân sự (BLDS) năm, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), Luật Các TCTD, Luật ngân hàng nhà nước (NHNN) và các văn bản hướng dẫn thi hành và những văn bản trên tạo ra khung pháp lý quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho vay của các TCTD, thực hiện chính sách tiền
tệ quốc gia, góp phần thúc đẩy nguồn vốn cho các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh phát triển góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và kết quả đạt được thì pháp luật về các TCTD và pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng còn rất nhiều bất cập
Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Hà Nội là tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự, hình sự, hành chinh theo thẩm quyền và có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các vụ án mà TAND cấp huyện trên địa bàn đã xét xử sơ thẩm mà có kháng cáo, kháng nghị Tranh chấp HĐTD ngân hàng trong những năm vừa qua trên địa bàn thành phố Hà Nội diễn ra ngày một nhiều, trong đó có nhiều vụ
án rất phức tạp, cả về đối tượng tranh chấp và phạm vi tranh chấp Điều này dẫn đến việc giải quyết tranh chấp có nhiều phức tạp Nhiều vụ án đã được giải quyêt ở cấp
sơ thẩm nhưng sau đó có kháng cáo, kháng nghị và được TAND thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm
Để tìm hiểu rõ hơn trong việc giải quyết các tranh chấp HĐTD ngân hàng theo Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam tại tòa án cấp phúc thẩm gặp những thuận lợi, khó khăn nào, trình tự giải quyết như thế nào, vấn đề đảm bảo công bằng giữa lợi ích các bên như thế nào, việc áp dụng pháp luật giải quyết gặp những thuận lợi
và khó khăn gì trên thực tế nên đó cũng là lý do mà người viết lựa chọn đề tài “Giải
quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ngân hàng từ thực tiễn xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp
cao học luật
2 Tình hình nghiên cứu luận văn
Hiện nay, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực tín dụng ngân hang nói chung và giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng nói riêng có
Trang 10nhiều công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau như: “Tranh chấp hợp đồng và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng” của tác giả Phan Chí Hiếu (2005), Trường Đại học Luật Hà Nội; “Một số vấn đề pháp lý về HĐTD ngân hàng và thời hiệu khởi kiện vụ án kinh tế về tranh chấp HĐTD ngân hàng” của tác giả Nguyễn Quỳnh Chi (2010), Trường Đại học Luật Hà Nội; “Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng bằng con đường Tòa án ở Việt Nam” của tác giả Trần Thị Thùy Trang (2014), Trường Đại học quốc gia Hà Nội;
“Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức thương lượng, hòa giải - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”của tác giả Nguyễn Hoài Sơn (2004), Trường Đại học Luật Hà Nội; - tác giả Nguyễn Thị Thu Hồng (2013), “Thủ tục giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng qua thực tiễn xét xử tại Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội”, Học viện Khoa học Xã Hội - tác giả Hoàng Văn Bích (2014), “Giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng có thế chấp tài sản qua thực tiễn xét xử tại Vĩnh Phúc”, Đại Học Quốc gia Hà Nội - tác giả Lý Thị Thanh Huyền (2012), “Thực tiễn
áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về thừa kề của TAND ở thành phố
Hà Nội”, Học viện Khoa học Xã Hội năm 2016…
Các công trình nghiên cứu trên đề cập các khía cạnh khác nhau của HĐTD ngân hàng, phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng Phần lớn các công trình này đề cập đến các tranh chấp HĐTD ngân hàng và các biện pháp đảm bảo thực hiện HĐTD ngân hàng Nhiều kết quả nghiên cứu trong các công trình nêu trên
có giá trị khoa học cao và sẽ được người viết kế thừa Để tránh trùng lặp với những kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố, nội dung của Luận văn này hướng tới việc phân tích toàn diện, liên ngành đối với những vấn đề lý luận cơ bản
về HĐTD ngân hàng, giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng ở cấp phúc thẩm, phân tích những vấn đề mà trong thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàngở cấp phúc thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam nói chung Luận văn lấy thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng tại TAND thành phố Hà Nội nói riêng làm tình huống nghiên cứu cụ thể
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 113.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích này, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Phân tích và làm rõ một số quy định của pháp luật về HĐTD ngân hàng
- Thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng tại cấp phúc thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam tại TAND thành phố Hà Nội trong những năm qua
- Đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thông qua việc giải quyết HĐTD ngân hàngtại cấp phúc thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
4 Đối tượng và pham vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của luận văn này là các quy định của pháp luật hiện hành việc giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng Luận văn phân tích thực tiễn xét xử các các vụ
án về tranh chấp HĐTD ngân hàng theo cấp phúc thẩm tại TAND thành phố Hà Nội
để nhận diện vấn đề nảy sinh từ thực tiễn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn này những vấn đề khác nhau trong giải quyết tranh chấp về HĐTD ngân hàng tại tòa án cấp phúc thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam qua thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã sử dụng phương pháp biện luận biện chứng duy vật của triết học Mác – Lenin Ngoài ra, người viết sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp như: thống kê, phân tích,tổng hợp, so sánh, diễn giải và quy nạp
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tiến hành thu thập các công trình khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu; các tài liệu, văn bản pháp luật về hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại
- Phương pháp thống kê: trên cơ sở các tài liệu, số liệu tiến hành thu thập, phân tích, đánh giá, tổng hợp để rút ra những kết luận về thực trạng tình hình, kết quả hoạt động giải quyêt tranh chấp thương mại bằng phương thức Tòa án
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để phân tích, lý giải, lập luận những vấn đề về HĐTD ngân hàng và giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Trang 12- Phương pháp so sánh được dung để so sánh các loại tranh chấp có tính chất gần giống với tranh chấp HĐTD ngân hàng để thấy rõ điểm giống nhau và khác nhau của tranh chấp HĐTD ngân hàng trong luật chuyên ngành, luật chung, từ đó
có thể xác định được bản chất và đặc trưng của tranh chấp HĐTD ngân hàng
- Phương pháp diễn giải, quy nạp được sử dụng để đưa ra định hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận của đề tài là góp phần bổ sung và phát triển lý luận về vai trò của pháp luật và áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về HĐTD ngân hàngtại Tòa án cấp phúc thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là quá trình nghiên cứu luận văn sẽ rút ra được nhiều điều bổ ích có thể áp dụng cho công tác giảng dạy tại các trường, đồng thời giúp ích cho công việc của các cán bộ ngành Tòa án đang giải quyết các vụ án về tranh chập hợp động tín dụng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng ngân hàng và giải
quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại tòa án cấp phúc thẩm
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng
tín dụng ngân hàng theo thủ tục phúc thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh
chấphợp đồng tín dụng ngân hàng theo thủ tục phúc thẩm tại Tòa án trong giai đoạn hiện nay
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI
TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM
1.1 Khái quát chung về hợp đồng tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng ngân hàng
HĐTD ngân hàng là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản đã được quy định trong BLDS 2015 Tuy nhiên, chỉ gọi là HĐTD ngân hàng trong trường hợp bên cho vay là các TCTD, trong đó chủ yếu là các ngân hàng Theo quy định tại
điều 463 BLDS 2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo
đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu
có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” [28] HĐTD ngân hàng về bản chất là hợp
đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Còn những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh,
cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá được gọi chung là hợp đồng cấp tín dụng
HĐTD ngân hàng là một căn cứ pháp lý mà qua đó, ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay Hoạt động tín dụng luôn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng diễn ra ngày một nhiều, gây thiệt hại không nhỏ cho các chủ thể, song, cho đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào của nước ta đưa ra một khái niệm chính thức về HĐTD ngân hàng mà chỉ liệt kê những nội dung chủ yếu của HĐTD ngân hàng Việc cho vay của TCTD và khách hàng vay phải được lập thành HĐTD ngân hàng HĐTD ngân hàng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận Như vậy, ngay trong quy chế cho vay của TCTD cũng chỉ qui định việc cho vay phải xác lập bằng HĐTD ngân hàng
Từ các phân tích trên, cho thấy pháp luật chuyên ngành chỉ đưa ra quy định
về những nội dung cơ bản HĐTD ngân hàngphải có mà không đưa ra định nghĩa cụ thể về HĐTD ngân hàng Quan hệ tín dụng về bản chất là một quan hệ dân sự nên
Trang 14HĐTD ngân hàngcũng là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự Từ khái niệm hợp
đồng dân sự được quy định theo điều 385 BLDS 2015: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, [26]”có thể hiểu “HĐTD ngân hànglà sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên
cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện luật định (bên vay), theo đó TCTD chuyển giao một số tiền cho bên vay sử dụng vào mục đích và trong một thời hạn được xác định, khi đến hạn, bên vay phải trả cả gốc và lãi được xác định theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận”
Như vậy, HĐTD ngân hàng ngân hàng là văn bản phản ánh thỏa thuận trực tiếp của TCTD và khách hàng trong việc xác lập một quan hệ cho vay, xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các bên đó trong việc vay và hoàn trả vốn vay
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng ngân hàng
HĐTD ngân hàngmang những đặc điểm chung của hợp đồng nhưng vẫn có những nét khác biệt cụ thể như sau:
- HĐTD ngân hàng ngân hàng phải luôn được ký kết dưới hình thức văn bản Sau khi TCTD quyết định cho khách hàng vay vốn, sự thoả thuận cho vay và vay của TCTD với khách hàng phải thành lập bằng văn bản Với HĐTD ngân hàng bằng văn bản, các bên có thể thực hiện hợp đồng trong sự đảm bảo an toàn pháp lý và khi
có tranh chấp xảy ra, HĐTD ngân hàngsẽ là căn cứ xác thực nhất để các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp Đa phần các HĐTD ngân hàng là hợp đồng theo mẫu, chủ thể cho vay là TCTD soạn thảo dựa trên quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của TCTD Bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản trong hợp đồng mà không phải ai cũng có thể yêu cầu sửa đổi điều khoản theo hướng có lợi hơn cho mình Sự tự do ý chí được thể hiện thông qua việc khách hàng chấp nhận những điều khoản trong đó thì đồng ý giao kết hợp đồng, ngược lại thì không giao kết Thực tế cho thấy việc thỏa thuận sửa một số điều khoản trong HĐTD ngân hàngtheo mẫu ít xảy ra và chỉ xảy ra với những tổ chức, cá nhân có uy tín, khoản vay lớn và TCTD có thể thu được lợi nhuận lớn từ hợp đồng này
Theo khoản 2, khoản 3 điều 405 BLDS 2015: “2 Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại
bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ
Trang 15trường hợp có thỏa thuận khác.”[26] Như vậy, pháp luật cũng có cơ chế để bảo vệ
khách hàng trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có những điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó hoặc điều khoản gây bất lợi cho khách hàng thì điều khoản này không có hiệu lực khi không có thỏa thuận khác
Tuy nhiên, HĐTD ngân hàng ngân hàng được ký kết dưới các hình thức pháp lý là văn bản bao gồm cả văn bản viết và văn bản điện tử dưới dạng thông điệp
dữ liệu Căn cứ khoản 1 điều 119 BLDS 2015, “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật
về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.[26]”; và điều 11, 12, 13,
14 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 thì dù HĐTD ngân hàng ngân hàng ký kết dưới hình thức nào trên đây đều có giá trị pháp lý ngang nhau và đều là chứng cứ trong quá trình giao dịch Trên thực tế thì HĐTD ngân hàng được ký kết dưới hình thức văn bản điện tử dạng thông điệp dữ liệu thường ít xảy ra
- HĐTD ngân hàngcó đối tượng là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức tiền tệ Vốn tiền tệ trong HĐTD ngân hàngcó thể là tiền đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Nhờ đó, hoạt động cho vay đã trở thành hoạt động sinh lời chủ yếu của các TCTD và trở thành một hình thức tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị trường Về nguyên tắc đối tượng của HĐTD ngân hàngbao giờ cũng là một số tiền xác định, được các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng
- Một bên chủ thể của HĐTD ngân hàngbắt buộc là TCTD được thành lập và hoạt động cho vay theo Luật Các TCTD năm 2010 và các văn bản liên quan; có chức năng hoạt động, kinh doanh tín dụng TCTD bao gồm ngân hàng và TCTD phi ngân hàng Bên cho vay có thể là một hoặc nhiều TCTD (trường hợp cho vay hợp vốn) thỏa mãn điều kiện luật định
- HĐTD ngân hàngphải được tuân thủ chặt chẽ về các nội dung bắt buộc, năng lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, giới hạn vốn vay, lãi suất vay và bảo đảm thực hiện hợp đồng, phương pháp giải quyết tranh chấp TCTD không được cho vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu bị cấm
Trang 16theo quy định của pháp luật TCTD không được cho vay các nhu cầu vốn sau đây:
để mua sắm các tài sản và các chi phí hình thành nên tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi; để thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm; để đáp ứng các nhu cầu chính của các giao dịch mà pháp luật cấm” [24] TCTD không được cho vay đối với khách hàng trong các trường hợp sau đây: Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của TCTD; Cán bộ, nhân viên của chính TCTD đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết định cho vay; Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc)” [24] Đối với người vay là bố, mẹ, vợ, chồng, con của Giám đốc, Phó Giám đốc chi nhánh của TCTD do TCTD xem xét quyết định” [24]
Với vai trò đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia vào quan hệ tín dụng, HĐTD ngân hàngtrở nên rất quan trọng Đặc biệt, các bên phải chú ý đến nội dung của hợp đồng, hợp đồng với những điều khoản chặt chẽ sẽ ràng buộc các bên thực hiện đúng trách nhiệm của mình, từ đó cũng góp phần giảm bớt các tranh chấp phát sinh và thúc đẩy sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của cả TCTD và khách hàng
1.1.3 Vai trò của hợp đồng tín dụng ngân hàng
Sản xuất phát triển mạnh sẽ thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển ở mỗi quốc gia trên thế giới Song để cho quá trình sản xuất được mở rộng và ngày càng hoàn thiện phải nói đến vai trò to lớn của tín dụng Ngân hàng
- Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế là người trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng đã thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn
Ngân hàng ra đời gắn liền với sự vận động trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Nền sản xuất hàng hoá phát triển nhanh chóng đã thúc đẩy hàng hoá - tiền tệ ngày càng sâu sắc, phức tạp và bao trùm lên mọi sinh hoạt kinh tế xã hội Mặt khác, chính sản xuất và lưu thông hàng hoá ra đời và được mở rộng xã kéo theo sự vận động vốn và là nền tảng tạo nên những tổ chức kinh doanh tiền tệ đầu tiên mang những đặc trưng của một ngân hàng Vì vậy, chúng ta thấy rằng còn tồn tại quan hệ hàng hoá tiền tệ thì hoạt động tín dụng không thể mất đi mà trái lại ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ Bởi trong nền kinh tế, tại một thời điểm tất yếu
Trang 17sẽ phát sinh hai loại nhu cầu là người thừa vốn cho vay để hưởng lãi và người thiếu vốn đi vay để tiến hành sản xuất kinh doanh Hai loại nhu cầu này ngược nhau nhưng cũng chung một đối tượng đó là tiền, chung nhau về tính tạm thời và cả hai bên đều thoả mãn nhu cầu và đều có lợi Ngân hàng ra đời với vai trò là nơi hiểu biết rõ nhất về tình hình cân đối giữa cung và cầu vốn trên thị trường như thế nào.Và với hoạt động tín dụng, ngân hàng đã giải quyết được hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn này bằng cách huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi để phân phối lại vốn trên nguyên tắc có hoàn trả phục vụ kịp thời cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh
- Tín dụng ngân hàng tạo ra nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất được thực hiện bình thường liên tục và phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình tái
ẩn xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi quy mô sản xuất
Hoạt động tín dụng ngân hàng ra đời đã biến các phương tiện tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thành những phương tiện hoạt động kinh doanh có hiệu quả, động viên nhanh chóng nguồn vật tư, lao động và các nguồn lực sẵn có khác đưa vào sản xuất, phục vụ và thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng Mặt khác việc cung ứng vốn một cách kịp thời của tín dụng ngân hàng để đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu động, vốn cố định của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục tránh tình trạng ứ tắc, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có vốn để ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm thúc đẩy nhanh quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triênr nhanh chóng
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng cố chế
độ hoạch toán kinh tế
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là cho vay có hoàn trả và có lợi tức Ngân hàng huy động vốn của doanh nghiệp khi họ có vốn nhàn rỗi và cho vay khi họ cần vốn
để bổ xung cho sản xuất kinh doanh Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện ghi trong HĐTD ngân hàng, trả nợ vay đúng hạn cả gốc và lãi Do đó thúc đẩy các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp tăng hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, tăng vòng quay vốn để tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp Muốn vậy các doanh nghiệp phải tự vươn lên thông qua các hoạt động của mình, một trong những hoạt động khá quan trọng là hạch toán kinh tế
Trang 18- Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại
Ngày nay sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn luôn gắn quan hệ kinh
tế với thị trường thế giới, nền kinh tế “đóng” tự cung tự cấp trước đây nay đã nhường chỗ cho nền kinh tế “mở” phát triển, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới Một quốc gia được gọi là phát triển thì trước hết phải có một nền kinh
tế chính trị ổn định, có vị thế trên thị trường quốc tế, có một lượng vốn lớn trong đó vốn dự trữ ngoại tệ là rất quan trọng Tín dụng ngân hàng trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc tế như các hình thức tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức cá nhân với chính phủ, giữa các cá nhân với cá nhân Sự phát triển ngày càng tăng trong hoạt động ngoại thương và số thành viên tham dự hoạt động ngaỳ càng lớn làm cho nhu cầu về hoạt động tài chính càng trở nên cần thiết Vì vậy việc tạo điều kiện thuận lợi
về tài chính là một công cụ cạnh tranh có hiệu quả bên cạnh các yếu tố cạnh tranh khác như giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thương mại đã vượt ra khỏi phạm
vi của một nước ra phạm vi của thế giới có tác dụng thúc đẩy nền sản xuất mang tính quốc tế hoá, hình thành thị trường khu vực và thị trường thế giới, tạo ra bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác và cạnh tranh giữa các nước với nhau Như vậy các hình thực thanh toán cũng sẽ đa dạng hơn như thanh toán qua mạng SWIFT, thanh toán LC mỗi hình thực thanh toán đòi hỏi hình thức tín dụng phù hợp và đảm bảo cho nó an toàn và hiệu quả Chất lượng của hoạt động tín dụng ngoại thương là cơ sở để tạo lòng tin cho bạn hàng trong thương mại, tạo điều kiện cho quá trình lưu thông hàng hoá, thắng trong cạnh tranh về thanh toán sẽ dẫn tới thắng lợi của mọi cạnh tranh khác trọng hoạt động ngoại thương
1.2 Khái quát về tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
1.2.1 Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Cùng với sự tồn tại và phát triển của các HĐTD ngân hàng là những tranh chấp trong HĐTD ngân hàngphát sinh từ sự mâu thuẫn hay không thống nhất về quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích trong quá trình thực hiện HĐTD ngân hàng của các bên tham gia Một HĐTD ngân hàng chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài thông qua những bằng chứng cụ thể và xác định được Theo tác giả Bùi Ngọc Cường, tranh chấp kinh
tế được hiểu là những mâu thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích kinh tế giữa các bên chủ thể khi tham gia kinh doanh [11, tr.89]
Trang 19Tranh chấp hợp đồng khác biệt với vi phạm hợp đồng Vi phạm hợp đồng là hành vi pháp lý của các bên đã xử sự trái với các điều khoản được cam kết trong hợp đồng Còn tranh chấp hợp đồng là ý kiến không thống nhất của các bên về hành
vi vi phạm đó hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ sự vi phạm đó và được thể hiện ra bên ngoài Cho nên, không phải cứ khi nào vi phạm hợp đồng thì khi đó
có tranh chấp mà đôi khi sự vi phạm hợp đồng diễn ra trước và tranh chấp hợp đồng lại là sự kiện diễn ra sau đó một khoảng thời gian nhất định Và đôi khi có sự vi phạm HĐTD ngân hàng nhưng không thể có sự tranh chấp bởi các bên không bày tỏ
ra bên ngoài về sự bất đồng hay xung đột lợi ích giữa họ với nhau bằng các hành vi phản kháng cụ thể có giá trị chứng cứ
Như vậy, tranh chấp HĐTD ngân hànglà những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ quyền và nghĩa vụ trong HĐTD ngân hàng giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên vay (khách hàng) Đó là những tranh chấp về lãi suất, nợ gốc, nợ lãi, việc giải ngân, xử lý tài sản đảm bảo, thế chấp…
1.2.2 Đặc điểm của tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Vì tranh chấp HĐTD ngân hàngngân hàng cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nói chung, do đó có đầy đủ những đặc điểm vốn có của một tranh chấp hợp đồng Tuy nhiên, với bản chất đặc thù của HĐTD ngân hàng tranh chấp HĐTD ngân hàngmang một số đặc trưng riêng biệt để có thể phân biệt với các loại tranh chấp hợp đồng khác
Thứ nhất, giá trị của tranh chấp HĐTD ngân hàngthường có giá trị lớn hoặc thậm chí là rất lớn
Khi kí kết HĐTD ngân hàng thì thường là do bên đi vay có nhu cầu về vốn
mà không thể tự mình xoay xở được Nhu cầu đó thường là để bổ sung vốn kinh doanh đối với tổ chức hoặc vay để phát triển kinh tế đối với cá nhân, hộ gia đình
Do đó, số tiền này không phải là nhỏ và dễ dàng vay được từ các tổ chức, cá nhân ngoài xã hội mà không phải là ngân hàng
Về phía bên cho vay là ngân hàng, bên cạnh vai trò là chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế thì TCTD còn đóng vai trò là người đi vay của các chủ thể khác để cho vay lại Để đạt được lợi nhuận cao thì các TCTD thường kí kết các HĐTD ngân hàng có giá trị lớn dựa trên định giá tài sản đảm bảo tại thời điểm cho vay Do bên vay vốn dùng khoản vay này phần lớn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nếu bên vay không tuân thủ các cam kết trong hợp đồng, không trả nợ cho các
Trang 20TCTD sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của TCTD đó Thực tế không hiếm các trường hợp các TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả do “nợ xấu’ Một khi khách hàng vay không thể thanh toán được nợ, tranh chấp xảy ra thì TCTD sẽ là chủ thể bị thiệt hại lớn vì nguồn vốn bị ứ đọng, phải thực hiện các biện pháp khắc phục, mục đích lợi nhuận ban đầu không còn hoặc bị gián đoạn Đặc biệt, nếu tranh chấp HĐTD ngân hàngphải khởi kiện tại Tòa án thì càng gây khó khăn cho TCTD khi muốn thu hồi vốn Bởi khi đã bị khởi kiện tại Tòa án thì thường là người đi vay không còn có khả năng trả nợ cho TCTD Mặt khác, khi tranh chấp HĐTD ngân hàngxảy ra thì TCTD sẽ mất lòng tin với khách hàng vay vốn, các HĐTD ngân hàngtiếp theo sẽ khó mà thực hiện, kể cả khi bên đi vay chứng minh lại được khả năng tài chính của mình Do đó, có thể nói tranh chấp HĐTD ngân hàng là loại tranh chấp có giá trị thiệt hại lớn, không chỉ ảnh hưởng đến bên cho vay mà còn cả đối với bên đi vay Thậm chí nếu tranh chấp xảy ra nhiều thì ảnh hưởng đó không chỉ ảnh hưởng đến một TCTD mà có thể ảnh hưởng dây chuyền đến các TCTD khác trong nền kinh tế
Thứ hai, tranh chấp HĐTD ngân hàngngân hàng được giải quyết dựa trên nguyên tắc tự do thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật của các bên tham gia tranh chấp
Pháp luật Việt Nam tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, cụ thể, Điều 3
BLDS 2015 ghi nhận: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng [26]”HĐTD
ngân hàngvề bản chất là hợp đồng dân sự mà quan hệ dân sự là quan hệ mang tính thỏa thuận, tự định đoạt giữa các bên Do đó, kể cả đối với việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàngthì các bên cũng có quyền thỏa thuận để đạt được hiệu quả tối ưu nhất trong trường hợp có tranh chấp xảy ra Việc tôn trọng quyền định đoạt này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì quan hệ dân sự giữa các bên mang tính bình đẳng, không phải là mối quan hệ mệnh lệnh - phục tùng như các quan hệ hành chính nhà nước khác Khi các bên tham gia tranh chấp có thể thỏa thuận được với nhau thì việc giải quyết tranh chấp sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi hơn, đồng thời giảm thiểu được thiệt hại về thời gian, tiền bạc, công sức của các bên Về phía các cơ quan tài phán, thi hành án thì việc thỏa thuận này cũng có ý
Trang 21nghĩa trong việc giảm nhẹ khối lượng, áp lực công việc trong điều kiện các tranh chấp ngày càng xảy ra nhiều và phức tạp như hiện nay
Đặc biệt, vấn đề thỏa thuận về phương thức giải quyết tranh chấp đối với các TCTD là ngân hàng nước ngoài, ngân hàng nước ngoài có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Bởi các chủ thể này khác với các TCTD trong nước, chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật nước ngoài lẫn pháp luật Việt Nam và sự khác nhau trong quy định của pháp luật giữa Việt Nam và nước khác là điều không thể tránh khỏi
Vì vậy, việc cho phép, tôn trọng quyền tự thỏa thuận của các bên khi có tranh chấp xảy ra sẽ giảm thiểu tối đa những xung đột pháp luật có thể xảy ra trong quá trình giải quyết các tranh chấp Tuy nhiên, nguyên tắc đối với các thỏa thuận này là phải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam
Nguyên tắc tự do thỏa thuận khi giải quyết tranh chấp giữa các bên cũng được BLTTDS thể hiện ở chế định hòa giải Theo đó, hòa giải là trách nhiệm của cơ quan tài phán khi có tranh chấp xảy ra và khi đó các bên có thể thỏa thuận về việc giải quyết vụ án Ngay cả trước khi diễn ra hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bên cũng vẫn có quyền thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp miễn sao thỏa thuận đó phù hợp với các quy định của pháp luật
Thứ ba, tranh chấp HĐTD ngân hàngluôn có sự tham gia của một bên là TCTD và phần lớn các tranh chấp HĐTD ngân hàngthì nguyên đơn là TCTD cho vay, bị đơn là bên đi vay
Với đặc thù của hoạt động tín dụng là sự cung ứng nguồn vốn đến những tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn trên cơ sở huy động của các tổ chức, cá nhân có thừa nguồn vốn trong xã hội nên TCTD luôn đóng vai trò trung gian trong mối quan
hệ này Sự tham gia của TCTD là một dấu hiệu đặc trưng nhằm phân biệt giữa tranh chấp HĐTD ngân hàngvà tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường giữa các tổ chức, cá nhân khác mà không phải là TCTD
Đồng thời, về mặt lý thuyết, khi tham gia ký kết HĐTD ngân hàng, các TCTD và khách hàng có địa vị ngang bằng nhau tham gia thỏa thuận Nhưng với tư cách là chủ thể có nguồn vốn dồi dào, việc áp đặt các điều kiện cho vay đối với khách hàng là điều không hiếm xảy ra Hơn nữa, khi tham gia kí kết hợp đồng thì hợp đồng thường do bên cho vay là các TCTD soạn thảo với đội ngũ cán bộ có trình
độ chuyên môn về mặt pháp lý nhất định Trong khi đó, chủ thể đi vay là khách hàng thường là các tổ chức, cá nhân, trình độ chuyên môn về mặt pháp lý của họ
Trang 22còn thấp và nhiều khi không được chú trọng đúng mức Và như vậy là hợp đồng được kí kết với các điều khoản chặt chẽ nhằm bảo đảm cho quyền lợi của TCTD khi bên vay không trả nợ hay trả không đúng nghĩa vụ Do đó, khi tranh chấp xảy ra thì TCTD luôn nắm đằng chuôi với các điều khoản được ghi nhận một cách chặt chẽ,
rõ ràng trong hợp đồng được sự đồng thuận của cả hai bên Vì vậy, nếu có tranh chấp xảy ra thì là do bên đi vay vi phạm, chứ ít khi TCTD lại vi phạm chính những điều khoản do chính mình soạn thảo
Mặt khác, trong mối quan hệ HĐTD ngân hàng, các nghĩa vụ chính của bên
đi vay thường phát sinh sau thời điểm giải ngân Trong khi đó, tại thời điểm hoàn tất việc giải ngân cho khách hàng thì TCTD đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình Các nghĩa vụ khác của bên cho vay như bảo mật thông tin, lưu trữ hồ sơ tín dụng, nghĩa vụ thông báo, bảo quản tài sản bảo đảm, giải chấp tài sản đảm bảo là ít quan trọng và là nghĩa vụ phát sinh từ quyền của bên vay Vì lý do đó nên nếu có tranh chấp xảy ra thì thường là do bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, rất hiếm gặp trường hợp bên đi vay khởi kiện TCTD [6]
Thứ tư, đa phần các tranh chấp liên quan đếnHĐTD ngân hàng ngân hàng chính là các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn, lãi của bên vay cho TCTD, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong HĐTD ngân hàng
Có rất nhiều loại tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng như: tranh chấp
về chủ thể xác lập, thực hiện HĐTD ngân hàng, tranh chấp liên quan đến bảo lãnh vay vốn, tranh chấp liên quan đến mục đích sử dụng vốn vay Tuy nhiên, tranh chấp xảy ra nhiều nhất là tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm Sở dĩ như vậy là bởi vì những nghĩa vụ này chính là những nghĩa vụ chính nhất, đóng vai trò nòng cốt trong quá trình thực hiện HĐTD ngân hàngcủa các bên và việc thực hiện này có tác động trực tiếp đến quyền lợi của TCTD Các tranh chấp khác cũng có tác động đến các TCTD nhưng không phải là cơ bản nên ít xảy ra hơn so với tranh chấp về nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi hay tranh chấp về lãi suất, về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Thứ năm, tranh chấp HĐTD ngân hàngngân hàng thường là tiền đề làm phát sinh và gắn liền với một quan hệ hợp đồng khác: hợp đồng bảo đảm tiền vay thông qua hình thức cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Trang 23Các TCTD khi tham gia vào HĐTD ngân hàngđều có mục đích lợi nhuận từ việc cho vay đó vì bản chất của TCTD là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ Để giảm thiểu rủi ro trong trường hợp bên vay không trả được nợ, thông thường TCTD chỉ đồng ý cho bên đi vay được vay vốn khi họ có cầm cố, thế chấp bằng tài sản hoặc
có bảo lãnh của bên thứ ba Các biện pháp bảo đảm này đóng vai trò là phương pháp dự phòng của TCTD khi rủi ro xảy ra Khi đó, để đảm bảo cho nghĩa vụ được đảm bảo trong HĐTD ngân hàngthì các bên kí kết hợp đồng bảo đảm cho khoản vay Tùy trường hợp mà đó có thể là hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp hay là dưới hình thức chứng thư bảo lãnh của bên thứ ba Những điều khoản về quyền và nghĩa vụ trong các hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn là để bảo đảm cho việc vay vốn, xuất phát từ HĐTD ngân hàng đã được kí kết và mục đích cuối cùng là bảo đảm cho việc trả nợ của bên đi vay
Như vậy, không có trường hợp nào, hợp đồng bảo đảm lại tách rời ra khỏi HĐTD ngân hàngvới tư cách là một hợp đồng độc lập mà giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau Có thể ví mối quan hệ này như là mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ Sự vô hiệu loại hợp đồng này có ảnh hưởng
đến loại hợp đồng kia tùy trường hợp “Trong trường hợp hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng thì giao dịch bảo đảm chấm dứt, nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”
[4] Ngược lại, “giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa
vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Như vậy, có thể khẳng định rằng tranh chấp HĐTD ngân hàng, với tư cách là hợp đồng chính, luôn gắn liền và làm cơ sở phát sinh tranh chấp hợp đồng bảo đảm - hợp đồng phụ trong quan hệ tín dụng giữa các bên
Thứ sáu, tranh chấp HĐTD ngân hàngphát sinh từ sự xung đột về lợi ích giữa các bên tham gia tranh chấp
Vì tranh chấp HĐTD ngân hàngcũng là một loại tranh chấp hợp đồng nên phải xuất phát từ xung đột lợi ích của các bên trong hợp đồng Mặc dù vậy trong quan hệ dân sự, pháp luật hiện hành quy định một số cơ quan đoàn thể có thể khởi kiện để đảm bảo quyền lợi cho tổ chức, cá nhân khác mà không phải là lợi ích của chính cơ quan, đoàn thể đó Tuy nhiên, đối với tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàngthì chỉ có chính các bên hay người đại diện hợp pháp của họ mới có quyền khởi
Trang 24kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên đi vay hay TCTD Không có trường hợp nào mà tranh chấp HĐTD ngân hàngphát sinh do tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia HĐTD ngân hàng Như vậy, tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng chỉ phát sinh khi các bên khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ tín dụng, hay nói cách khác, tranh chấp HĐTD ngân hàngthường gắn liền với lợi ích của các bên tranh chấp [24]
1.2.3 Phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Khách hàng vay vốn có thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh hoặc không đăng ký kinh doanh và mục đích vay vốn để kinh doanh, sản xuất hoặc tiêu dùng, sinh hoạt Vậy, tranh chấp HĐTD ngân hàng có thể là tranh chấp về hợp đồng dân sự và cũng có thể là tranh chấp kinh doanh, thương mại Vậy khi nào tranh chấp HĐTD ngân hàng là tranh chấp về hợp đồng dân sự và khi nào là tranh chấp kinh doanh, thương mại? Để trả lời câu hỏi này, ta cần nhận định rằng bản chất HĐTD ngân hàng là hợp đồng vay tài sản Vì vậy, HĐTD ngân hàngngân hàng là một dạng đặc biệt của hợp đồng dân sự xuất phát từ hoạt động cho vay của ngân hàng Nếu ngân hàng thực hiện cho vay mà bên vay là cá nhân, tổ chức và mục đích vay nhằm đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt và tiêu dùng thì HĐTD ngân hàng ngân hàng mang tính chất là một hợp đồng dân sự theo đúng nghĩa Nếu ngân hàng thực hiện cho vay
mà bên vay là các cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh và mục đích nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, thương mại thì HĐTD ngân hàng ngân hàng mang tính chất là hợp đồng kinh doanh, thương mại Do đó, tuỳ theo đối tượng và mục đích trong hoạt động cho vay của ngân hàng mà chúng ta nhìn nhận HĐTD ngân hàng ngân hàng ở gốc độ thích hợp
Từ phân tích trên tác giả cho rằng tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng
có hai loại:
- Thứ nhất, tranh chấp HĐTD ngân hàng là tranh chấp về hợp đồng dân sự khi bên vay vốn là hộ gia đình, cá nhân hay tổ chức không có đăng ký kinh doanh
và không có mục đích lợi nhuận
- Thứ hai, tranh chấp HĐTD ngân hàng là tranh chấp kinh doanh - thương mại khi bên vay vốn là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận
Trang 25* Các dạng tranh chấp HĐTD ngân hàng:
- Tranh chấp do các bên vi phạm nghĩa vụ trong HĐTD ngân hàng:
+ Hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên cho vay (ngân hàng) khi HĐTD ngân hàngcó hiệu lực, vì một lý do nào đó bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân Điều này, làm ảnh hưởng xấu tới quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay
+ Hành vi vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi của bên vay Rõ ràng khi cần tiền
để thực hiện kế hoạch, mục tiêu của mình thì khách hàng mới đi vay Cũng vì lý do này nên ban đầu thông thường thì khách hàng chấp nhận với lãi suất của ngân hàng đưa ra nhưng sau một thời gian thực hiện hợp đồng phía khách hàng nhận thấy lãi suất đó cao quá nên không đồng ý Đồng thời, quá trình sử dụng vốn vay không hiệu quả nên dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ gốc và lãi Đây là dạng tranh chấp xảy ra nhiều nhất trong các tranh chấp HĐTD ngân hàng
- Tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng Tranh chấp này trên thực tế tương đối đa dạng và phức tạp nhất là trong những trường hợp có yếu tố nước ngoài Điều này gây không ít khó khăn cho cơ quan giải quyết tranh chấp Trong quá trình ký kết HĐTD ngân hàng, việc xem xét tư cách chủ thể của bên vay vốn là một vấn đề quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực của HĐTD ngân hàng Trên thực tế, nếu TCTD xem nhẹ vấn đề này, không xác định đúng tư cách chủ thể (đặc biệt là trường hợp khách hàng vay là tổ chức, doanh nghiệp) dẫn đến việc ký HĐTD ngân hàng với chủ thể không có thẩm quyền ký kết Hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu gây thiệt hại nặng nề cho các TCTD
- Tranh chấp xảy ra từ việc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với HĐTD ngân hàngcó bảo đảm bằng tài sản và xử lý tài sản bảo đảm
Chính bởi bản chất HĐTD ngân hàng mang tính rủi ro cao nên các TCTD coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất (các lưu chuyển tiền tệ) không thể thanh toán được nợ Hiện nay, theo quy định của pháp luật có ba hình thức bảo đảm tín dụng là cầm cố, thế chấp, bảo đảm tài sản bằng bảo lãnh Quá trình xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm được quy định tại BLDS 2005, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện không
Trang 26phải khi nào các bên cũng tuân thủ nghiêm túc những quy định của pháp luật, nên trên thực tế, các tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tương đối nhiều
Các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng này chủ yếu liên quan đến việc xử
lý tài sản bảo đảm Khi thẩm định hồ sơ vay vốn, nếu như nhân viên ngân hàng thẩm định không kỹ, kết quả thẩm định không chính xác dẫn đến chấp nhận những tài sản bảo đảm không đúng quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm thì sẽ dẫn đến những tranh chấp phát sinh khi ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm Chẳng hạn, nếu không xác định được tài sản bảo đảm thuộc sở hữu chung hay riêng của vợ chồng hoặc tài sản bảo đảm không thuộc của người cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh thì cũng gây khó khăn khi xử lý tài sản bảo đảm, đặc biệt là tài sản của Hộ gia đình
- Tranh chấp về pháp luật giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng: Nếu như khi ký HĐTD ngân hàng mà các bên đã không thoả thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng (nếu như có yếu tố nước ngoài) thì sau này
có nhiều khả năng xảy ra việc tranh chấp về luật áp dụng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng Thực tiễn cho thấy tranh chấp này ít xảy ra
Hiện nay, khi nền kinh tế Việt Nam ít nhiều chịu sự ảnh hưởng không nhỏ bởi các cuộc khủng hoảng của các nước trên Thế giới dẫn đến việc xảy ra tranh chấp trong HĐTD ngân hàng ngày càng nhiều và diễn biến phức tạp Do đó, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là hết sức cần thiết Từ đó, có những biện pháp, đường lối, chính sách nhằm khắc phục tình trạng tranh chấp để tiến tới giảm thiểu đáng kể số lượng tranh chấp
1.2.4 Nguyên nhân của tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ngân hàng
Nguyên nhân gây ra tranh chấp HĐTD ngân hàngrất đa dạng, song có thể khái quát với những nguyên nhân từ phía bên vay, bên cho vay và cả những hạn chế của quy định pháp luật
Về nguyên nhân từ phía bên cho vay: Thông thường phía ngân hàng vi phạm
nghĩa vụ giải ngân cho khách hàng như quy định trong hợp đồng Các TCTD không tuân thủ chế độ tín dụng và điều kiện cho vay Đôi khi ngân hàng cho vay mà không tiến hành quy trình thẩm định theo nguyên tắc phân tích tín dụng, điều mà các định chế tài chính quốc tế luôn cảnh báo là: Tính cách người vay, năng lực trả nợ, dòng tiền mặt, tài sản thế chấp, các điều kiện môi trường, sự kiểm soát mà ngân hàng lại dựa vào nhận định của các nhân viên của mình Trên thực tế, khi tiến hành thẩm định bên cho vay không thể kiểm tra được bên vay có thông qua một TCTD đen nào
Trang 27hay không Ở Việt Nam, ngân hàng chưa có chính sách hợp lý và quy trình cho vay hiệu quả, cơ chế phân tích và quản lý rủi ro còn hạn chế Việc đánh giá biện pháp bảo đảm tiền vay còn hạn chế, chưa phân tích, đánh giá các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay TCTD đánh giá về biện pháp bảo đảm tiền vay còn dựa vào tài liệu do bên vay xuất trình mà chưa có sự kiểm tra thực tiễn.Trình độ thẩm định của nhân viên ngân hàng còn chưa cao, nên có những sai xót và thiếu chặt chẽ - kết quả thẩm định chưa đạt yêu cầu
Mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng còn hạn chế Trong thực tế bên ngân hàng không nắm rõ ràng các thông tin chính xác về khách hàng, không biết chính xác là khách hàng vay vốn và có sử dụng vốn vay đúng mục đích trong hợp đồng hay không Một số nhân viên ngân hàng còn thiếu phẩm chất đạo đức cũng như thiếu năng lực nên trong việc cho vay có đảm bảo nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế chấp mà bên vay vẫn được giữ cả giấy tờ gốc chứng minh tài sản thế chấp của mình Điều này dẫn đến có thể bên vay lại đem bán tài sản đã thế chấp ở ngân hàng cho người thứ ba Lúc này ngân hàng và người thứ ba có sự tranh chấp về quyền tài sản – tài sản đã được thế chấp bằng danh nghĩa ở ngân hàng
Do đó để đảm bảo an toàn tín dụng các ngân hàng cần tuân thủ nghiêm túc quy trình, điều kiện cho vay, các quy định của pháp luật liên quan, cần nâng cao hơn nữa đội ngũ nhân viên ngân hàng, xây dựng và nâng cao hệ thống thông tin tín dụng, có biện pháp để kiểm tra, giám sát hữu hiệu các hoạt động của bên vay theo những cam kết trong hợp đồng
Về nguyên nhân từ phía bên vay: Bên vay không đảm bảo nghĩa vụ hoặc
thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ của mình Thông thường do hai nguyên nhân: nguyên nhân khách quan và chủ quan
Nguyên nhân khách quan: là những nguyên nhân tác động ngoài ý chí, tầm kiểm soát của khách hàng như: do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh tế, do thiên tai, hoả hoạn, điều chỉnh quy hoạch, do thị trường biến động, quan hệ cung cầu hàng hoá thay đổi… làm cho hoạt động của bên vay không thực hiện như kế hoạch đề ra
Nguyên nhân chủ quan: Cá nhân vay vốn không nắm được thông tin cần thiết
về kế hoạch đầu tư, sản xuất khi vay vốn dẫn đến tình trạng vay vốn về đầu tư không có hiệu quả Có thể là do vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không đáp ứng nhu cầu, năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị
Trang 28trường và thông tin về các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất, công nghệ chưa được cải thiện nên sản phẩm tạo ra chưa có tính cạnh tranh cao, hiệu quả kinh doanh kém, hậu quả là doanh nghiệp thua lỗ lâm vào tình trạng phá sản Cũng có trường hợp do bên vay cố tình đưa ra những thông tin sai sự thật ngay từ khi vay vốn nên khi về đầu tư hay sử dụng vào mục đích của mình không có hiệu quả
Nguyên nhân nữa là do bên vay còn thiếu hiểu biết về pháp luật, trình độ hiểu biết của bên vay còn hạn chế về những kiến thức pháp luật liên quan Có trường hợp bên vay ký hợp đồng trong khi bản thân không hiểu rõ về pháp luật nên khả năng xảy ra những bất lợi cho mình là rất lớn Đơn cử như trường hợp của bà Phan Ngọc Dung ở Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004 bà thế chấp ngôi nhà của mình để vay vốn Ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh Tân Tạo số tiền hai trăm bốn mươi triệu Đồng để đầu tư cho cơ sở may gia công Nhưng sau đó do không có hiểu biết về những quy định của pháp luật bà Dung đã ký hợp đồng bán nhà để đảm bảo cho khoản vay mới Hiện tại, khoản tín dụng mới không vay được, khoản tín dụng trước thì chưa có khả năng thanh toán và bên vay còn phải đối mặt với nguy cơ mất nhà do chủ nợ đang khởi kiện ra toà yêu cầu thực hiện hợp đồng bán nhà trên Trong tình huống trên, nếu bà Dung có kiến thức về pháp luật nhất là pháp luật ngân hàng thì sẽ không dẫn đến ký hợp đồng bán nhà để đảm bảo cho khoản vay Hiện nay, sự hiểu biết những quy định pháp luật của một bộ phận người dân còn nhiều hạn chế, sự hạn chế đó không chỉ gây tổn thất cho chính người vay
mà còn ảnh hưởng tới quyền lợi của ngân hàng và đặc biệt là những hệ lụy về mặt
xã hội
Nguyên nhân từ quy định của pháp luật: Xã hội luôn thay đổi theo nhiều
chiều hướng khác nhau, các mối quan hệ xã hội cũng đổi mới không ngừng kéo theo các giao dịch trong xã hội cũng có thêm nhiều yếu tố phức tạp và đa dạng hơn Trái lại, trên thực tế pháp luật nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, pháp luật chưa thể dự kiến và điều chỉnh được các mối quan hệ xã hội sắp diễn ra Một điều đáng lưu ý là sự hiểu biết về pháp luật của các bên trong hợp đồng còn chưa rõ ràng, mâu thuẫn với nhau về lợi ích giữa các bên dẫn đến nảy sinh tranh chấp Pháp luật nước ta quy định bên cho vay bắt buộc phải đưa ra các căn cứ pháp lý hay những lý do chính đáng nếu muốn từ chối khách hàng, vấn đề này chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Nên bên cho vay cho rằng cho vay là quyền của mình còn bên đi vay thì có quan điểm ngược lại, điều đó dễ dẫn đến mâu thuẫn
Trang 29Những HĐTD ngân hàngngân hàng theo mẫu do ngân hàng đưa ra đa phần là rất chặt chẽ cả về hình thức và nội dung Thông thường những hợp đồng theo mẫu này gắn liền với lợi ích của ngân hàng
Các quy định của pháp luật còn chưa thống nhất, chồng chéo lẫn nhau đặc biệt là các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm Hiện nay, hành lang pháp lý cho hoạt động giao dịch bảo đảm chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và nhiều quy định không thể thực hiện được trên thực tế Việc đăng ký giao dịch bảo đảm thực hiện phân tán
ở nhiều cơ quan khác nhau tạo kẽ hở trong quản lý
1.3 Khái quát về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án cấp phúc thẩm
1.3.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân tại Tòa án cấp phúc thẩm
Trên thực tế, việc giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng ngân hàng cũng như các tranh chấp khác đều có rất nhiều phương thức khác nhau để giải quyết
Ở đâu có hoạt động kinh doanh thương mại thì ở đó có khả năng phát sinh tranh chấp Tranh chấp là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng nói riêng, vì vậy giải quyết các tranh chấp phát sinh được coi là tự thân của các quan hệ kinh tế Ở góc độ khái quát chung, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh chính là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải toả các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tồn tại bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại phổ biến bao gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và Tòa án
Về phương thức thương lượng: Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo
gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kì bên thứ ba nào Phương pháp thương lượng được biết đến bởi một số đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất là phương thức giải quyết tranh chấp này được thực hiện bởi cơ chế
tự giải quyết thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba
để trợ giúp hay phán quyết
Trang 30Thứ hai là quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự ràng buộc của bất kì nguyên tắc pháp lí hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp Pháp luật của Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại mà không có bất kì quy định nào chi phối đến cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng
Thứ ba là việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của mỗi bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lí nào đảm bảo việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng
Quá trình thương lượng để giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp và kết hợp thương lượng trực tiếp với thương lượng gián tiếp Thương lượng trực tiếp là cách thức mà các bên tranh chấp trực tiếp gặp nhau bàn bạc, trao đổi và đề xuất ý kiến của mỗi bên nhằm tìm kiếm giải pháp loại trừ tranh chấp Thương lượng gián tiếp là cách thức các bên tranh chấp gửi cho nhau tài liệu giao dịch thể hiện quan điểm và yêu cầu của mình nhằm tìm kiếm giải pháp loại trừ tranh chấp
Ưu điểm nổi bật nhất của phương pháp thương lượng chính là sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém Mặt khác thương lượng còn bảo vệ được uy tín cho các bên tranh chấp cũng như bí mật kinh doanh của các nhà kinh doanh Các nhà kinh doanh hơn ai hết tự biết bảo vệ quyền lợi của bản thân mình, hiểu rõ những bất đồng và nguyên nhân phát sinh tranh chấp nên quá trình đàm phán thương lượng để hiểu và thông cảm với nhau hơn để có thể thỏa thuận được các giải pháp tối ưu theo đúng nguyện vọng của mỗi bên mà không phải một cơ quan tài phán nào cũng có thể làm được Bởi vậy, một khi thương lượng thành công, các bên vừa loại bỏ được những bất đồng đã phát sinh mà mức độ phương hại đến mối quan hệ kinh doanh giữa các bên cũng thấp, tăng cường sự hiểu biết và hợp tác trong tương lai
Về phương thức hòa giải: Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với
sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh
Hòa giải được thực hiện dưới các hình thức: hòa giải ngoài thủ tục tố tụng và hòa giải trong thủ tục tố tụng Hòa giải ngoài thủ tục tố tụng là việc hòa giải được các bên tiến hành trước khi đưa đơn khởi kiện ra Tòa án hoặc trọng tài Hòa giải
Trang 31trong thủ tục tố tụng là hoạt động được tiến hành tại Tòa án, tại cơ quan trọng tài khi các cơ quan này giải quyết tranh chấp theo đơn kiện của một bên Khác với hòa giải ngoài thủ tục tố tụng, hòa giải trong thủ tục tố tụng được tiến hành dưới sự trợ giúp của Tòa án hoặc trọng tài Khi các bên hòa giải được với nhau, Tòa án hoặc trọng tài sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự và quyết định này
có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên
Về phương thức trọng tài thương mại: Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách
là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột trong quá trình tiến hành các hoạt động thương mại bằng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện Tại Luật trọng tài thương mại năm 2010 cũng quy định: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của luật này”
Khác với việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại không nhân danh quyền lực nhà nước, trọng tài thương mại được các bên lựa chọn theo thủ tục linh hoạt, mềm dẻo Ngoài ra, phương thức giải quyết tranh chấp thương mại này còn đảm bảo tối đa uy tín cũng như bí mật của các bên tranh chấp, góp phần củng cố và duy trì mối quan
hệ hợp tác lâu dài giữa các bên
Về phương thức giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án: Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước
Do đó, các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của Tòa án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hòa giải và cũng không muốn vụ tranh chấp giữa họ được giải quyết bằng con đường trọng tài
Giống như các phương thức giải quyết tranh chấp khác, pháp luật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng cụ thể như: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án Theo đó, khi xảy ra tranh chấp kinh doanh các bên có thể giải quyết tranh chấp thông qua việc trực tiếp thương lượng với nhau Trong trường hợp không thương lượng được, việc giải quyết tranh
Trang 32chấp có thể được thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua phương thức hòa giải, trọng tài hoặc tòa án Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng dựa trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên Cơ quan Nhà nước và Trọng tài thương mại chỉ can thiệp theo yêu cầu của các bên tranh chấp
Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án là một phương thức mang ý chí quyền lực nhà nước, Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước để giải quyết tranh chấp trên cơ sở các quy định của pháp luật Quyết định của Tòa án có hiệu lực khiến các bên bắt buộc phải thực thi và có thể kèm theo các biện pháp cưỡng chế thi hành Bên cạnh đó, việc giải quyết tranh chấp của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức cũng như các quy định về thẩm quyền, thủ tục, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại của pháp luật tố tụng nhất là các quy định của BLTTDS năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của BLTTDS năm 2004; Tòa án giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc xét xử công khai; Việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án có thể thực hiện qua hai cấp xét xử:
sơ thẩm và phúc thẩm, bản án có hiệu lực pháp luật còn có thể được xét lại theo thủ tục: giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; Tòa án giải quyết theo nguyên tắc xét xử tập thể
và quyết định theo đa số
Như vậy, để đảm bảo phát triển và duy trì sự phát triển, vấn đề lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng được các bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp dựa trên các yếu tố như mục tiêu đạt được, bản chất của tranh chấp, mối quan hệ làm ăn giữa các bên, thời gian và chi phí dành cho việc giải quyết tranh chấp Chính vì vậy, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên cần hiểu rõ bản chất và cân nhắc các ưu điểm, nhược điểm của một phương thức để có quyết định hợp lý
Vấn đề giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng là vấn đề mang tính thường xuyên trong giai đoạn hiện nay, việc tự giải quyết tranh chấp của các bên gặp nhiều khó khăn vì nhiều nguyên nhân khác nhau và vì vậy cần thiết có sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà phổ biến là TAND Phương thức giải quyết tranh chấp liên quan đến HĐTD ngân hàng thông qua Tòa án là hình thức cuối cùng mà các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp khi không còn lựa chọn nào khác Thông thường thì hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án được tiến hành khi mà việc áp dụng cơ chế thương lượng và hoà giải không có hiệu quả
Trang 33và các bên tranh chấp cũng không thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tranh chấp tại Trọng tài thương mại
Như vậy, có thể hiểu giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng bằng tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán Nhà nước thực hiện Tòa án nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc bên có nghĩa vụ phải thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Do đó, các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của Tòa án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hòa giải và cũng không muốn đưa vụ tranh chấp của họ để giải quyết bằng trọng tài thương mại
1.3.2 Đặc điểm của giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ngân hàng tại tòa án cấp phúc thẩm
Việc đưa tranh chấp ra xét xử tại tòa án có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm nhất định, ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thông qua tòa án là: đặc trưng cơ bản của thủ tục giải quyết tranh chấp bằng tòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa
ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành Vì vậy, quyết định của tòa án có tính cưỡng chế cao, quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện có tài sản để thi hành án Nhờ đó, việc giải quyết tranh chấp thông qua tòa
án còn trực tiếp góp phần vào việc nâng cao ý thức, tôn trọng pháp luật cho các bên tham gia So với phương thức trọng tài thương mại, việc giải quyết tranh chấp bằng toà án được thực hiện qua hai cấp xét xử, nhờ vậy mà những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện, khắc phục đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên tham gia Chi phí giải quyết tranh chấp bằng toà án ít hơn nhiều so với chi phí giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại và chi phí này không tỷ lệ thuận với thời gian giải quyết tranh chấp như ở phương pháp trọng tài thương mại Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàngbằng toà án
có tính bắt buộc tham gia cao đối với các bên tranh chấp không như các phương thức khác chỉ có tính tự nguyện
Trước khi đưa vụ án tranh chấp ra xét xử, toà án phải tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật Hoà giải ở đây được gọi là hoà giải trong tố tụng Một thẩm phán đã được phân công xét xử vụ án sẽ đóng vai trò là bên thứ ba độc lập để giúp các bên tranh chấp tự thoả thuận cách giải quyết vấn đề mà không cần phán quyết
Trang 34của toà án Tại phương thức giải quyết tranh chấp bằng toà án các bên tranh chấp có quyền lựa chọn việc tham gia hoà giải Sau khi thẩm phán ra quyết định công nhận các bên hoà giải thành thì các thoả thuận sẽ có giá trị thực hiện như một bản án hiệu lực Đây là điều khác biệt đối với hoà giải ngoài tố tụng như phương thức hoà giải tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàngbằng hoà giải đã phân tích ở trên
Tuy vậy, việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng bằng con đường tòa án cũng có những nhược điểm nhất định so với các hình thức khác như: thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua tòa án thường dài hơn
so với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại Hơn nữa, nguyên tắc xét xử công khai tại tòa án có thể làm sụt giảm uy tín của các bên trên thương trường; lộ lọt các bí mật kinh doanh cản trở hoạt động đối với các chủ thể bên vay là doanh nghiệp Ngoài ra, bản án xét xử xong chưa được thi hành ngay mà các bên có quyền kháng cáo, khiếu nại nên thời gian kéo dài ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của các bên tranh chấp
1.3.3 Ý nghĩa của giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án cấp phúc thẩm
- Thứ nhất, hoạt động giải quyết tranh chấp của Tòa án góp phần đảm bảo ổn định trật tự tình hình kinh tế, xã hội Tạo điều kiện để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện hiệu quả các đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Khi các tranh chấp xảy ra mà được giải quyết một cách kịp thời, triệt để thì có thể tạo dựng được niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta trong hoạt động quản lý đất đai
- Thứ hai, hoạt động giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng là một trong những công việc thúc đầy kinh tế Việt Nam phát triển Bởi lẽ, khi xảy ra tranh chấp các bên chủ thể sẽ phải bỏ ra rất nhiều thời gian, tiền bạc, công sức để có thể giải quyết được Nếu hoạt động giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng có thể giải quyết thì hoạt động của thị trường tín dụng sẽ không bị ngưng trệ Quyền lợi của người đi vay cũng như phía TCTD cũng không bị ảnh hưởng, việc khai thác lợi ích
từ đất đau cũng từ đó mà hiệu quả hơn
Việc đưa tranh chấp HĐTD ngân hàng ngân hàng ra giải quyết tại Tòa án có nhiều ưu điểm như:
Thứ nhất, hòa giải trong tố tụng là một thủ tục bắt buộc Các thẩm phán có nghĩa vụ đứng ra hòa giải cho các bên đương sự trong quá trình xét xử, kể cả khi
Trang 35mức độ tranh chấp gay gắt tới mức ngay từ đầu đã dễ dàng nhận thấy không có khả năng hòa giải Nếu vi phạm nguyên tắc này, bản án, quyết định đưa ra sẽ bị hủy vì
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Như vậy, kể cả khi đứng trước Tòa án, quyền
tự định đoạt của các đương sự vẫn được bảo đảm Với sự giúp đỡ của những người tiến hành tố tụng, họ vẫn có thể tự mình đưa ra hướng giải quyết sau cùng trên cơ sở không trái pháp luật và đạo đức xã hội Các thỏa thuận này sau đó sẽ được pháp luật tôn trọng, công nhận và bảo vệ
Thứ hai, Tòa án là cơ quan đại diện cho quyền lực tư pháp của Nhà nước nên các bản án, quyết định của Tòa án mang tính cưỡng chế thi hành Đây chính là ưu thế lớn nhất, tác động quyết định đến sự lựa chọn của các bên, đặc biệt là TCTD, vì nếu không có sự cưỡng chế này thì TCTD rất khó thu hồi vốn
Thứ ba, với nguyên tắc xét xử hai cấp cùng thủ tục đặc biệt để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật những sai sót và vi phạm trong quá trình giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện và khắc phục tốt nhất, góp phần đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên
Thứ tư, quyền khởi kiện ra Tòa án chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định đó là thời hiệu khởi kiện Do đó, tâm lý của các bên – chủ yếu là bên có quyền lợi vi phạm nhiều khi không muốn mất thời gian cho thương lượng, hòa giải trong khi không có gì hứa hẹn rằng chúng sẽ giải quyết được vấn đề, hoặc nếu thương lượng, hòa giải đạt kết quả cũng không có gì bảo đảm rằng phương án đưa
ra sẽ được thực thi một cách thiện chí, để cuối cùng nhờ đến Tòa án lại rơi vào tình cảnh bị trả lại đơn do đã hết thời hiệu khởi kiện
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án cấp phúc thẩm
Việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng bằng Tòa án chịu ảnh hưởng chặt chẽ bởi các yếu tố bên ngoài cũng như bên trong Điều này đóng góp tích cực vào việc xây dựng và kiện toàn hệ thống pháp luật về lĩnh vực này
1.4.1 Tình hình kinh tế, xã hội của đất nước
Đây chính là yếu tố đầu tiên, cơ bản và quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, và pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng nói riêng Theo lý thuyết về cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng mà sự ảnh hưởng của nền kinh tế, và xã hội tới giải quyết tranh chấp
Trang 36HĐTD ngân hàng bằng Tòa án là hoàn toàn có thể xảy ra Bởi lẽ, trên thực tế, với
sự pháp triển ngày càng tăng của nền kinh tế, thì các giao dịch tín dụng, ngân hàng ngày càng phát triển, do đó, số lượng tranh chấp ngày một nhiều Điều này là cơ sở,
là tiền đề để chúng ta phải hoàn thiện hơn nữa pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng bằng con đường Tòa án
1.4.2 Vấn đề chiến lược cải cách tư pháp và cải cách hệ thống pháp luật
Như chúng ta đã biết, việc cải cách tư pháp và cải cách hệ thống pháp luật Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước đề cập đến từ những năm 2002 và năm 2005 bằng các nghị quyết của Đảng Việc hoàn thiện bất kỳ hệ thống pháp luật chuyên ngành nào đều phải bám sát, lấy các Nghị quyết của Đảng làm trọng tâm làm cơ sở Trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân sự - kinh tế, Nghị quyết của Đảng
đã chỉ rõ, cần phải lấy nguyên tắc tự nguyện, tự định đoạt làm cơ sở, làm gốc của mọi quan hệ pháp luật tư Nhà nước cần tránh và hạn chế tối đa sự can thiệp vào các quan hệ dân sự - kinh tế, không được hình sự hóa các quan hệ dân sự Đây là cơ sở,
là định hướng cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín dụng và pháp luật về
giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng ở Việt Nam hiện nay
1.4.3 Yếu tố về tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án
Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng bằng Tòa án Bởi lẽ, giải quyết được các tranh chấp này, cần phải có tổ chức bộ máy cán bộ Tòa án đủ mạnh, đủ năng lực, có kinh nghiệm về giải quyết tranh chấp tín dụng Trên thực tế, trong những năm vừa qua, ngành TAND ngày một lớn mạnh, có sự phát triển vượt bậc về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, trên thực tế, chất lượng này chưa tương xứng với lượng công việc giải quyết các tranh chấp đặc biệt là tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế Do đó, trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng bằng Tòa án cần phải đặt trong mỗi quan hệ với hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của ngành TAND
Trang 37Kết luận chương 1
Trong chương 1 của luận văn, học viên phân tích những nội dung liên quan đến khái niệm đặc điểm của hợp đồng tín dụng và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng theo quy định của pháp luật Việt Nam
Thứ nhất, về hợp đồng tín dụng ngân hàng cho thấy, hợp đồng tín dụng ngân hàng là một loại hợp đồng điển hình của hợp đồng vay tài sản được quy định trong BLDS cũng như quy định trong Luật các TCTD Hợp đồng tín dụng ngân hàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nên kinh tế thị trường, bởi lẽ, đây là kênh lưu thông tiền tệ, và tạo cơ sở để các doanh nghiệp có nhu cầu về vốn có thể tiếp cận với số tiền cần thiết
Thứ hai, về khái niệm tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng cho thấy, tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng là một loại tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế nói chung, có sinh lời và một bên chủ thể là ngân hàng thương mại Pháp luật quy định có nhiều phương thức khác nhau để giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng nhưng phương thức Tòa án vẫn là một phương thức phổ biến nhất
Thứ ba, ý nghĩa của giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng cho thấy vai trò vị trí của nó trong nền kinh tế, giải quyết tranh chấp nói chung thực tế là một trong những yêu cầu quan trọng trong giai đoạn hiện nay, tuy nhiên với quan hệ tín dụng ngân hàng thì việc giải quyết tranh chấp này ngày càng có ý nghĩa quan trọng hơn
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM TẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án cấp phúc thẩm
2.1.1 Các quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng
HĐTD về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của BLDS
2015 Tuy nhiên, chỉ gọi là HĐTD trong trường hợp bên cho vay là các TCTD (TCTD), trong đó chủ yếu là các ngân hàng (sau đây gọi chung là ngân hàng)
HĐTD chính là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Còn những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá được gọi chung là hợp đồng cấp tín dụng
Nếu bên vay là doanh nghiệp và hộ kinh doanh, thì HĐTD sẽ là hợp đồng thương mại Nếu bên vay là cá nhân, thì HĐTD sẽ là hợp đồng dân sự
Cho vay vốn được ví như việc bán chịu một loại hàng hóa đặc biệt, đó là tiền
tệ Vì vậy, trong quan hệ tín dụng, trước khi giải ngân, thì thế mạnh hoàn toàn thuộc
về ngân hàng và ngân hàng là người quyết định có hay không cho vay Dấu ấn vẫn đang hiện hữu trong Luật các TCTD năm 1997 để chỉ quá trình chuẩn bị giao kết hợp đồng, đó là những cụm từ “cấp tín dụng” và “xét duyệt cho vay” hay là “yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh” tính khả thi của phương án vay vốn
và khả năng trả nợ Tuy nhiên, ngay sau khi thực hiện hợp đồng, tức là sau khi ngân hàng giải ngân, thì xu thế lại hoàn toàn đảo ngược Khi ấy, bên vay là người nắm vai trò chủ động trong việc trả nợ Mặc dù ngân hàng có khá nhiều quyền chi phối theo quy định của pháp luật về HĐTD, nhưng vẫn trở thành bên thụ động
Nhìn chung pháp luật liên quan là BLDS, Luật các TCTD và Quy chế Cho vay của TCTD đối với khách hàng do NHNN ban hành (hiện nay là Thông tư 39/2016/TT-NHNN), đã quy định khá cụ thể, chi tiết các điều kiện, điều khoản có trong một HĐTD Vì vậy chỉ cần lưu ý đến một số điểm đặc biệt trong HĐTD
Trang 39Về nguyên tắc, bên vay vốn được sử dụng vốn vay vào bất kỳ mục đích nào, nếu không bị pháp luật cấm Tuy nhiên, có những trường hợp không bị pháp luật cấm, như việc vay vốn để trả nợ ngân hàng khác hoặc trả nợ chính ngân hàng vay, nhưng lại rất khó được chấp nhận, vì nó được coi như một hoạt động đảo nợ Trước
đây, việc đảo nợ bị cấm, sau đó được quy định trong Luật các TCTD là “Việc đảo
nợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ” Tuy nhiên từ năm 1997 đến nay,
vẫn không có văn bản nào của Chính phủ hay NHNN giải thích về nội dung này
Đối với vay vốn dân sự hoặc thương mại thông thường, thì hầu như bên cho vay không quan tâm đến mục đích sử dụng vốn vay, trong khi đối với HĐTD thì lại
là một trong điều kiện quan trọng nhất
Trong cả thời hạn vay vốn, nếu bên vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã thỏa thuận, thì ngân hàng lập tức được quyền chấm dứt hợp đồng, phạt vi phạm và thu hồi nợ trước hạn Đó luôn là quy định của pháp luật, cũng đồng thời là điều quan tâm hàng đầu của các ngân hàng trong nghiệp vụ xét duyệt và quản lý các khoản vay Để bảo đảm được việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và việc trả nợ đúng hạn, ngân hàng được quyền kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và trả nợ Đây cũng là điều hầu như không xuất hiện trong các hợp đồng vay vốn trong các quan hệ giữa cá nhân và các doanh nghiệp
Để bảo đảm việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và khả năng trả nợ của bên vay, Luật các TCTD quy định, ngân hàng có trách nhiệm và có quyền kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của bên vay
HĐTD phải được lập thành văn bản, trong đó có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận (§ 51 Luật các TCTD)
Mẫu hợp đồng mà các ngân hàng đưa ra không phải là hợp đồng mẫu theo quy định của BLDS, mà chỉ là bản thảo để thuận tiện trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng Bên vay hoàn toàn có thể thoả thuận với ngân hàng thay đổi bất kỳ nội dung nào Tuy nhiên, trên thực tế thì bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản thiên về ràng buộc chặt chẽ đối với bên vay và có lợi hơn cho ngân hàng
Trong thực tế, nhiều ngân hàng ký HĐTD nguyên tắc với bên vay, trong đó xác định các nguyên tắc chung và các nội dung thoả thuận sơ bộ về việc cho vay một số vốn nhất định khi hai bên vay đáp ứng được đầy đủ những điều kiện vay vốn
Trang 40theo quy định của pháp luật cũng như của ngân hàng cho vay HĐTD nguyên tắc là căn cứ để ngân hàng và bên vay tiếp tục ký các HĐTD cụ thể Khi ấy, HĐTD cụ thể
có thể không cần nhắc lại những thoả thuận chung như quyền, nghĩa vụ của các bên chẳng hạn
Các bên thường sử dụng HĐTD nguyên tắc trong trường hợp bên vay có nhiều tài sản bảo đảm đưa vào ngân hàng để vay vốn nhiều lần và diễn ra trong một thời gian dài Khi đó hợp đồng bảo đảm tiền vay được thiết lập để bảo đảm cho HĐTD nguyên tắc, thay vì cứ mỗi HĐTD lại phải ký một hợp đồng bảo đảm tiền vay, vừa mất chủ động trong giao dịch vay vốn, vừa tốn kém chi phí định giá, công chứng, đăng ký thế chấp lại
HĐTD hạn mức là HĐTD cụ thể nhưng có thêm điều khoản cho phép bên vay rút vốn và trả nợ nhiều lần, miễn là bảo đảm dư nợ vay trong mọi thời điểm không quá mức tiền vay cao nhất mà hai bên đã thoả thuận Mỗi lần vay vốn, bên vay chỉ cần ký khế ước nhận nợ thay vì phải ký nhiều HĐTD với những điều kiện tương tự nhau
Thời hạn cho vay trong HĐTD được phân thành hai loại cơ bản là ngắn hạn
và trung, dài hạn, trong đó: Khoản vay vay ngắn hạn là không quá 12 tháng (1 năm); Khoản vay trung hạn là từ trên 12 tháng đến 60 tháng (1 - 5 năm); Khoản vay dài hạn là trên 60 tháng (5 năm)
Giữa các khoản vay ngắn hạn và khoản vay trung, dài hạn, thường có những đòi hỏi khác biệt, được xem xét thẩm định theo những quy trình, thủ tục khác nhau
và áp dụng lãi suất khác nhau theo nguyên tắc: thời hạn càng lâu thì càng tiềm tàng rủi ro, và sự nguy hiểm sẽ tăng theo lãi suất
Đối với hợp đồng kinh doanh thương mại, thời hạn được tính theo nhiều cách khác nhau, thường là từ ngày ký hợp đồng Còn đối với HĐTD, thì thời hạn hợp đồng thường cũng chính là thời hạn cho vay, cho nên luôn được tính theo mốc từ thời điểm bắt đầu nhận khoản tiền vay đầu tiên (ngày rút vốn hay ngày giải ngân) cho đến khi trả hết khoản nợ cuối cùng theo thoả thuận ban đầu
* Lãi suất cho vay trong HĐTD
Trước đây, tại Điều 476 BLDS năm 2005 quy định các bên trong hợp đồng cho vay có quyền thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng và trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh