Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển của quan hệ này, các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đã được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt N
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐỨC TRƯỜNG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐỨC TRƯỜNG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã sử dụng trong luận văn là trung thực Những kết luận nêu trong luận văn chưa có công bố ở bất
kỳ công trình khoa học nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng ngân hàng 7 1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng 10 1.3 Nguyên nhân và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng 18 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tòa án 28
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 30
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng 30 2.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ thành phố Hà Nội 48
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 64
3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân 64 3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng 67
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số liệu tranh chấp kinh doanh thương mại TAND huyện Phúc Thọ thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết giai đoạn 2014-2018 51 Bảng 2.2 Số liệu vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng thụ lý trong giai đoạn 2014 – 2018 52
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước ta đang trong quá trình đổi mới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, chính trị, xã hội và các lĩnh vực khác góp phần tạo nên những bước tiến đáng kể vào công cuộc cải tiến đất nước Các giao dịch trong xã hội diễn ra hàng ngày rất đa dạng, pháp luật khó có thể điều chỉnh được toàn bộ các quan hệ trong cuộc sống Thông thường các bên lựa chọn hình thức giao dịch thông qua hợp đồng – hợp đồng ghi nhận
sự thỏa thuận giữa các bên, là cơ sở để pháp luật bảo vệ quyền lợi của các bên khi có tranh chấp Trong lĩnh vực ta nhận thấy hợp đồng tín dụng có nhiều trong các giao dịch với các đối tác cho nhu cầu vay vốn trong phát triển kinh doanh, sản xuất Bởi hợp đồng tín dụng chứa nhiều yếu tố phức tạp và nhạy cảm nên nó rất dễ dẫn đến tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng Khi lợi ích giữa các bên bị ảnh hưởng quyền đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp sẽ làm thủ tục khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài thương mại để được pháp luật bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng của Tòa án đóng vai trò rất quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, các nhân, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và đặc biệt góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, trong nên kinh tế thị trường hiện nay các giao dịch dân sự, đặc biệt là giao dịch thông qua hợp đồng tín dụng diễn ra ngày càng nhiều trên phạm vi rộng, gây nhiều khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp này ở Tòa án Trước tình hình đó cần phải hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng nhằm tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực này cũng nhằm đảm quyền và lợi ích của các bên tham gia hợp đồng
Trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thì hoạt động cấp tín dụng trong đó có cấp tín dụng thông qua hợp đồng tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất Thông qua hợp đồng tín dụng được xác lập giữa tổ chức tín dụng và bên vay tiền, quan hệ tín dụng đã được hình thành Hợp đồng tín dụng phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của Bộ luật dân sự, Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của Ngân hàng nhà nước…
Trong thực tế, cùng với sự phức tạp của quan hệ tín dụng nói chung và quan
hệ hợp đồng tín dụng nói riêng, các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong quá trình
Trang 8thực hiện hợp đồng tín dụng xảy ra tương đối nhiều Điều này đã ảnh hưởng lớn tới
sự ổn định của thị trường tín dụng, ảnh hướng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các
tổ chức và cá nhân có liên quan
Trên cơ sở đó, việc hệ thống pháp luật có những quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng là rất cần thiết Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển của quan hệ này, các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đã được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt Nam được thể hiện qua các văn bản nhưng: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, Bộ luật dân sự năm 2005, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và đặc biệt gần đây là việc Quốc hội đã ban hành Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự mới vào năm 2015
Các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng về cơ bản đã tương đối đầy đủ về hình thức cũng như nội dung Tuy nhiên, những quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng còn chưa thực sự đồng bộ giữa Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự với Luật các tổ chức tín dụng, trong khi BLDS, BLTTDS mới được ban hành mới thì Luật các tổ chức tín dụng 2010 chưa được sửa đổi, bổ sung Những quy định đặc thù về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng chưa thực sự cụ thể, còn có sự chồng chéo về chủ thể, quyền hạn giải quyết… Điều này dẫn đến hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng chưa thực sự cao, có nhiều vụ việc bị kháng cáo, kháng nghị thậm chí có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ
Huyện Phúc Thọ thành phố Hà Nội là một huyện ngoại thành có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, có tình hình kinh tế xã hội phát triển nhanh trên địa bàn thành phố, quy mô kinh tế ngày một lớn, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội thì những tranh chấp phát sinh từ hoạt động tín dụng nói chung và hợp đồng tín dụng nói riêng trên địa bàn huyện Phúc Thọ ngày một lớn Các tranh chấp này đã được Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ thụ lý giải quyết góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng trên địa bàn còn nhiều hạn chế, tồn tại, cần phải có những nghiên cứu để góp phàn nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp này hơn nữa
Trang 9Đó cũng là lý do học viên quyết định chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp
hợp đồng tín dụng ngân hàng từ thực tiễn xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu, thông qua đó giúp học
viên học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm, nâng cao kiến thức pháp luật của mình về lĩnh vực hợp đồng tín dụng trên thực tế Từ đó đề ra những giải pháp nâng cao các quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng con đường Tòa án
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực tín dụng ngân hàng nói chung và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng nói riêng như:
- Tác giả Nguyễn Thị Thu Hồng “Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín
dụng qua thực tiễn xét xử tại Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội,
Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội năm 2013;
- Tác giả Hoàng Văn Bích “Giải quyết tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản
qua thực tiễn xét xử tại Vĩnh Phúc” Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã
hội, Năm 2014;
- Tác giả Hồ Thị Khuyên “Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội” Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại
học Quốc gia Hà Nội, năm 2016
- Một số bài báo khoa học như:“ Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng tín dụng
và thời hiệu khởi kiện vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng tín dụng”, của Th.s
Nguyễn Quỳnh Chi đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 3/2005; “Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Nguyễn Như
Phát, TS Lê Thị Thu Thủy đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6/2010;
“Tranh chấp hợp đồng và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng” của
TS Phan Chí Hiếu đăng trên tạp chí Luật học, số 2/2008;
- Một số Sách chuyên khảo như: “Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài
sản của các tổ chức tín dụng” do TS Lê Thị Thu Thủy làm chủ biên, Nhà Xuất bản
Tư pháp 2006, Cuốn sách “Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Ngân hàng
Thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của TS Ngô Quốc Kỳ, Nhà
Xuất bản Tư pháp, năm 2005
Các công trình nghiên cứu này đã góp phần tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho
Trang 10việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nói chung
và hợp đồng tín dụng nói riêng Tuy nhiên, việc nghiên cứu đề tài pháp luật về hợp đồng tín dụng vẫn còn là cấp thiết, bởi lẽ các quy định pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn
Với luận văn này, tôi mong muốn làm rõ hơn những vấn đề cơ bản về hợp đồng tín dụng, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng, chỉ ra những bất cập của việc thực hiện các quy định pháp luật trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng Từ đó, đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Với luận văn này, tôi mong muốn làm rõ hơn những vấn đề cơ bản về hợp đồng tín dụng ngân hàng, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng, chỉ ra những bất cập của việc thực hiện các quy định pháp luật trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng Từ đó, đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng bằng con đường Tòa án ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tranh chấp hợp đồng tín dụng và giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng như khái niệm, đặc điểm; để từ đó xác định khái niệm, nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng;
- Nghiên cứu làm sáng tỏ quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng để từ đó đánh giá được những hạn chế, tồn tại trong hệ thống quy định này;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại các Tòa án nhân dân trên địa bàn huyện Phúc Thọ thành phố Hà Nội, đưa ra được những hạn chế, bất cập trong thực tiễn giải quyết này;
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu những vấn đề phát sinh từ thực trạng giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng bằng con đường tòa án ở Việt Nam Qua đó, đề ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án ở Việt Nam hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các văn bản pháp
luật Việt Nam có quy định về vấn đề nghiên cứu như: Bộ luật dân sự (2005, 2015),
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật thương mại 2005, Luật các tổ chức tín dụng 2010… cùng các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành, sửa đổi, bổ sung, làm rõ các điều khoản có liên quan Bên cạnh đó, luận văn còn nghiên cứu các số liệu, báo cáo thống kê, tổng kết về thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ thành phố Hà Nội
- Phạm vi không gian: huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp như: phương pháp thống kê, khảo sát; phương pháp tổng hợp, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án
6 Ý nghĩa lý luận và những đóng góp mới của đề tài
Đề tài là công trình nghiên cứu toàn diện ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học
về hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ở Việt Nam hiện này Đề tài có ý nghĩa lý luận như sau:
- Đưa ra được những phân tích lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng như khái niệm, đặc điểm, nội dung;
Trang 12- Đánh giá được thực trạng quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ thành phố Hà Nội;
- Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trong các cơ sở đào tạo luật, các viện nghiên cứu và các cơ quan thực tiễn như Tòa án; Viện kiểm sát; Thi hành án…
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp hợp đồng tín dụng và pháp
luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
và thực tiễn áp dụng tại các tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
Chương 3: Quang điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng ngân hàng
Hợp đồng tín dụng là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản đã được quy định trong BLDS 2015 Tuy nhiên, chỉ gọi là HĐTD trong trường hợp bên cho vay
là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng Theo quy định tại điều
463 BLDS 2005: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên
cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” Hợp đồng tín dụng về bản chất là hợp đồng
cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Còn những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá được gọi chung là hợp đồng cấp tín dụng
Hợp đồng tín dụng là một căn cứ pháp lý mà qua đó, ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay Hoạt động tín dụng luôn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng diễn ra ngày một nhiều, gây thiệt hại không nhỏ cho các chủ thể, song, cho đến nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào của nước ta đưa ra một khái niệm chính thức về hợp đồng tín dụng mà chỉ liệt kê những nội dung chủ yếu của hợp đồng tín dụng Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận Như vậy, ngay trong quy chế cho vay của TCTD cũng chỉ qui định việc cho vay phải xác lập bằng hợp đồng tín dụng
Từ các phân tích trên, cho thấy pháp luật chuyên ngành chỉ đưa ra quy định
về những nội dung cơ bản HĐTD phải có mà không đưa ra định nghĩa cụ thể về HĐTD Quan hệ tín dụng về bản chất là một quan hệ dân sự nên HĐTD cũng là một
Trang 14dạng cụ thể của hợp đồng Từ khái niệm hợp đồng được quy định theo điều 385
BLDS 2015: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”, có thể hiểu “HĐTD là sự thỏa thuận bằng
văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện luật định (bên vay), theo đó TCTD chuyển giao một số tiền cho bên vay sử dụng vào mục đích và trong một thời hạn được xác định, khi đến hạn, bên vay phải trả cả gốc
và lãi được xác định theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận”
Như vậy, hợp đồng tín dụng ngân hàng là văn bản phản ánh thỏa thuận trực tiếp của tổ chức tín dụng và khách hàng trong việc xác lập một quan hệ cho vay, xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các bên đó trong việc vay và hoàn trả vốn vay
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng ngân hàng
HĐTD mang những đặc điểm chung của hợp đồng nhưng vẫn có những nét khác biệt cụ thể như sau:
- Hợp đồng tín dụng ngân hàng phải luôn được ký kết dưới hình thức văn bản Sau khi TCTD quyết định cho khách hàng vay vốn, sự thoả thuận cho vay và vay của TCTD với khách hàng phải thành lập bằng văn bản Với HĐTD bằng văn bản, các bên có thể thực hiện hợp đồng trong sự đảm bảo an toàn pháp lý và khi có tranh chấp xảy ra, HĐTD sẽ là căn cứ xác thực nhất để các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp Đa phần các HĐTD là hợp đồng theo mẫu, chủ thể cho vay là TCTD soạn thảo dựa trên quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của TCTD Bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản trong hợp đồng mà không phải ai cũng có thể yêu cầu sửa đổi điều khoản theo hướng có lợi hơn cho mình Sự tự do ý chí được thể hiện thông qua việc khách hàng chấp nhận những điều khoản trong đó thì đồng ý giao kết hợp đồng, ngược lại thì không giao kết Thực tế cho thấy việc thỏa thuận sửa một số điều khoản trong HĐTD theo mẫu ít xảy ra và chỉ xảy ra với những tổ chức, cá nhân có uy tín, khoản vay lớn và TCTD
có thể thu được lợi nhuận lớn từ hợp đồng này
Theo khoản 2, khoản 3 điều 405 BLDS 2015: “Trường hợp hợp đồng theo
mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại
Trang 15bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Như vậy, pháp luật cũng có cơ chế để bảo vệ
khách hàng trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có những điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó hoặc điều khoản gây bất lợi cho khách hàng thì điều khoản này không có hiệu lực khi không có thỏa thuận khác
Tuy nhiên, hợp đồng tín dụng ngân hàng được ký kết dưới các hình thức pháp lý là văn bản bao gồm cả văn bản viết và văn bản điện tử dưới dạng thông điệp
dữ liệu Căn cứ khoản 1 điều 119 BLDS 2015, “Giao dịch dân sự được thể hiện
bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật
về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản”; và điều 11, 12, 13, 14
Luật Giao dịch điện tử năm 2005 thì dù hợp đồng tín dụng ngân hàng ký kết dưới hình thức nào trên đây đều có giá trị pháp lý ngang nhau và đều là chứng cứ trong quá trình giao dịch Trên thực tế thì hợp đồng tín dụng được ký kết dưới hình thức văn bản điện tử dạng thông điệp dữ liệu thường ít xảy ra
- HĐTD có đối tượng là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức tiền
tệ Vốn tiền tệ trong HĐTD có thể là tiền đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Nhờ đó, hoạt động cho vay đã trở thành hoạt động sinh lời chủ yếu của các TCTD và trở thành một hình thức tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị trường Về nguyên tắc đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là một số tiền xác định, được các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng
- Một bên chủ thể của HĐTD bắt buộc là TCTD được thành lập và hoạt động cho vay theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các văn bản liên quan; có chức năng hoạt động, kinh doanh tín dụng TCTD bao gồm ngân hàng và TCTD phi ngân hàng Bên cho vay có thể là một hoặc nhiều TCTD (trường hợp cho vay hợp vốn) thỏa mãn điều kiện luật định
- HĐTD phải được tuân thủ chặt chẽ về các nội dung bắt buộc, năng lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, giới hạn vốn vay, lãi suất vay và bảo đảm thực hiện hợp đồng, phương pháp giải quyết tranh
Trang 16chấp TCTD không được cho vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu bị cấm theo quy định của pháp luật Tổ chức tín dụng không được cho vay các nhu cầu vốn sau đây:
để mua sắm các tài sản và các chi phí hình thành nên tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi; để thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm; để đáp ứng các nhu cầu chính của các giao dịch mà pháp luật cấm” Tổ chức tín dụng không được cho vay đối với khách hàng trong các trường hợp sau đây: Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng; Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết định cho vay; Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc)” Đối với người vay
là bố, mẹ, vợ, chồng, con của Giám đốc, Phó Giám đốc chi nhánh của tổ chức tín dụng do tổ chức tín dụng xem xét quyết định”
Với vai trò đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia vào quan hệ tín dụng, HĐTD trở nên rất quan trọng Đặc biệt, các bên phải chú ý đến nội dung của hợp đồng, hợp đồng với những điều khoản chặt chẽ sẽ ràng buộc các bên thực hiện đúng trách nhiệm của mình, từ đó cũng góp phần giảm bớt các tranh chấp phát sinh
và thúc đẩy sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của cả TCTD và khách hàng
1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.2.1 Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Cùng với sự tồn tại và phát triển của các HĐTD là những tranh chấp trong HĐTD phát sinh từ sự mâu thuẫn hay không thống nhất về quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng của các bên tham gia Một hợp đồng tín dụng chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài thông qua những bằng chứng cụ thể và xác định được Theo TS Bùi Ngọc Cường, tranh chấp kinh tế được hiểu là những mâu thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích kinh tế giữa các bên chủ thể khi tham gia kinh doanh
Tranh chấp hợp đồng khác biệt với vi phạm hợp đồng Vi phạm hợp đồng là hành vi pháp lý của các bên đã xử sự trái với các điều khoản được cam kết trong hợp đồng Còn tranh chấp hợp đồng là ý kiến không thống nhất của các bên về hành
vi vi phạm đó hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ sự vi phạm đó và được
Trang 17thể hiện ra bên ngoài Cho nên, không phải cứ khi nào vi phạm hợp đồng thì khi đó
có tranh chấp mà đôi khi sự vi phạm hợp đồng diễn ra trước và tranh chấp hợp đồng lại là sự kiện diễn ra sau đó một khoảng thời gian nhất định Và đôi khi có sự vi phạm hợp đồng tín dụng nhưng không thể có sự tranh chấp bởi các bên không bày tỏ ra bên ngoài về sự bất đồng hay xung đột lợi ích giữa họ với nhau bằng các hành vi phản kháng cụ thể có giá trị chứng cứ
Như vậy, tranh chấp HĐTD là những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ quyền
và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên vay (khách hàng) Đó là những tranh chấp về lãi suất, nợ gốc, nợ lãi, việc giải ngân, xử
lý tài sản đảm bảo, thế chấp…
1.2.2 Đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Vì tranh chấp HĐTD ngân hàng cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nói chung, do đó có đầy đủ những đặc điểm vốn có của một tranh chấp hợp đồng Tuy nhiên, với bản chất đặc thù của HĐTD, tranh chấp HĐTD mang một số đặc trưng riêng biệt để có thể phân biệt với các loại tranh chấp hợp đồng khác
Thứ nhất, giá trị của tranh chấp HĐTD thường có giá trị lớn hoặc thậm chí
Về phía bên cho vay là ngân hàng, bên cạnh vai trò là chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế thì TCTD còn đóng vai trò là người đi vay của các chủ thể khác để cho vay lại Để đạt được lợi nhuận cao thì các TCTD thường kí kết các HĐTD có giá trị lớn dựa trên định giá tài sản đảm bảo tại thời điểm cho vay Do bên vay vốn dùng khoản vay này phần lớn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nếu bên vay không tuân thủ các cam kết trong hợp đồng, không trả nợ cho các TCTD sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của TCTD đó Thực tế không hiếm các trường hợp các TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả do “nợ xấu’ Một khi khách hàng vay không thể thanh toán được nợ, tranh chấp xảy ra thì TCTD sẽ là chủ thể bị thiệt hại lớn vì nguồn vốn bị ứ đọng, phải thực hiện các biện pháp khắc phục, mục
Trang 18đích lợi nhuận ban đầu không còn hoặc bị gián đoạn Đặc biệt, nếu tranh chấp HĐTD phải khởi kiện tại Tòa án thì càng gây khó khăn cho TCTD khi muốn thu hồi vốn Bởi khi đã bị khởi kiện tại Tòa án thì thường là người đi vay không còn có khả năng trả nợ cho TCTD Mặt khác, khi tranh chấp HĐTD xảy ra thì TCTD sẽ mất lòng tin với khách hàng vay vốn, các HĐTD tiếp theo sẽ khó mà thực hiện, kể cả khi bên đi vay chứng minh lại được khả năng tài chính của mình Do đó, có thể nói tranh chấp HĐTD là loại tranh chấp có giá trị thiệt hại lớn, không chỉ ảnh hưởng đến bên cho vay mà còn cả đối với bên đi vay Thậm chí nếu tranh chấp xảy ra nhiều thì ảnh hưởng đó không chỉ ảnh hưởng đến một TCTD mà có thể ảnh hưởng dây chuyền đến các TCTD khác trong nền kinh tế
Thứ hai, tranh chấp HĐTD ngân hàng được giải quyết dựa trên nguyên tắc tự do thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật của các bên tham gia tranh chấp
Pháp luật Việt Nam tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, cụ thể, Điều 3 Bộ
Luật dân sự 2015 ghi nhận: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.”
HĐTD về bản chất là hợp đồng dân sự mà quan hệ dân sự là quan hệ mang tính thỏa thuận, tự định đoạt giữa các bên Do đó, kể cả đối với việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD thì các bên cũng có quyền thỏa thuận để đạt được hiệu quả tối
ưu nhất trong trường hợp có tranh chấp xảy ra Việc tôn trọng quyền định đoạt này
có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì quan hệ dân sự giữa các bên mang tính bình đẳng, không phải là mối quan hệ mệnh lệnh - phục tùng như các quan hệ hành chính nhà nước khác Khi các bên tham gia tranh chấp có thể thỏa thuận được với nhau thì việc giải quyết tranh chấp sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi hơn, đồng thời giảm thiểu được thiệt hại về thời gian, tiền bạc, công sức của các bên Về phía các cơ quan tài phán, thi hành án thì việc thỏa thuận này cũng có ý nghĩa trong việc giảm nhẹ khối lượng, áp lực công việc trong điều kiện các tranh chấp ngày càng xảy ra nhiều và phức tạp như hiện nay
Đặc biệt, vấn đề thỏa thuận về phương thức giải quyết tranh chấp đối với các TCTD là ngân hàng nước ngoài, ngân hàng nước ngoài có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Bởi các chủ thể này khác với các TCTD trong nước, chịu sự điều chỉnh
Trang 19của cả pháp luật nước ngoài lẫn pháp luật Việt Nam và sự khác nhau trong quy định của pháp luật giữa Việt Nam và nước khác là điều không thể tránh khỏi Vì vậy, việc cho phép, tôn trọng quyền tự thỏa thuận của các bên khi có tranh chấp xảy ra sẽ giảm thiểu tối đa những xung đột pháp luật có thể xảy ra trong quá trình giải quyết các tranh chấp Tuy nhiên, nguyên tắc đối với các thỏa thuận này là phải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam
Nguyên tắc tự do thỏa thuận khi giải quyết tranh chấp giữa các bên cũng được Bộ Luật tố tụng dân sự thể hiện ở chế định hòa giải Theo đó, hòa giải là trách nhiệm của cơ quan tài phán khi có tranh chấp xảy ra và khi đó các bên có thể thỏa thuận về việc giải quyết vụ án Ngay cả trước khi diễn ra hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bên cũng vẫn có quyền thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp miễn sao thỏa thuận đó phù hợp với các quy định của pháp luật
Thứ ba, tranh chấp HĐTD luôn có sự tham gia của một bên là TCTD và phần lớn các tranh chấp HĐTD thì nguyên đơn là tổ chức tín dụng cho vay, bị đơn
là bên đi vay
Với đặc thù của hoạt động tín dụng là sự cung ứng nguồn vốn đến những tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn trên cơ sở huy động của các tổ chức, cá nhân có thừa nguồn vốn trong xã hội nên TCTD luôn đóng vai trò trung gian trong mối quan
hệ này Sự tham gia của TCTD là một dấu hiệu đặc trưng nhằm phân biệt giữa tranh chấp HĐTD và tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường giữa các tổ chức, cá nhân khác mà không phải là TCTD
Đồng thời, về mặt lý thuyết, khi tham gia ký kết HĐTD, các TCTD và khách hàng có địa vị ngang bằng nhau tham gia thỏa thuận Nhưng với tư cách là chủ thể
có nguồn vốn dồi dào, việc áp đặt các điều kiện cho vay đối với khách hàng là điều không hiếm xảy ra Hơn nữa, khi tham gia kí kết hợp đồng thì hợp đồng thường do bên cho vay là các TCTD soạn thảo với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn về mặt pháp lý nhất định Trong khi đó, chủ thể đi vay là khách hàng thường là các tổ chức, cá nhân, trình độ chuyên môn về mặt pháp lý của họ còn thấp và nhiều khi không được chú trọng đúng mức Và như vậy là hợp đồng được kí kết với các điều khoản chặt chẽ nhằm bảo đảm cho quyền lợi của TCTD khi bên vay không trả nợ hay trả không đúng nghĩa vụ Do đó, khi tranh chấp xảy ra thì TCTD luôn nắm đằng chuôi với các điều khoản được ghi nhận một cách chặt chẽ, rõ ràng trong hợp đồng
Trang 20được sự đồng thuận của cả hai bên Vì vậy, nếu có tranh chấp xảy ra thì là do bên đi vay vi phạm, chứ ít khi TCTD lại vi phạm chính những điều khoản do chính mình soạn thảo
Mặt khác, trong mối quan hệ HĐTD, các nghĩa vụ chính của bên đi vay thường phát sinh sau thời điểm giải ngân Trong khi đó, tại thời điểm hoàn tất việc giải ngân cho khách hàng thì TCTD đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình Các nghĩa vụ khác của bên cho vay như bảo mật thông tin, lưu trữ hồ sơ tín dụng, nghĩa
vụ thông báo, bảo quản tài sản bảo đảm, giải chấp tài sản đảm bảo là ít quan trọng
và là nghĩa vụ phát sinh từ quyền của bên vay Vì lý do đó nên nếu có tranh chấp xảy ra thì thường là do bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, rất hiếm gặp trường hợp bên đi vay khởi kiện TCTD
Thứ tư, đa phần các tranh chấp liên quan đến HĐTD ngân hàng chính là các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn, lãi của bên vay cho TCTD, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong HĐTD
Có rất nhiều loại tranh chấp phát sinh từ HĐTD như: tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện HĐTD, tranh chấp liên quan đến bảo lãnh vay vốn, tranh chấp liên quan đến mục đích sử dụng vốn vay Tuy nhiên, tranh chấp xảy ra nhiều nhất
là tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi, về mức lãi suất vay, về vấn
đề bảo đảm Sở dĩ như vậy là bởi vì những nghĩa vụ này chính là những nghĩa vụ chính nhất, đóng vai trò nòng cốt trong quá trình thực hiện HĐTD của các bên và việc thực hiện này có tác động trực tiếp đến quyền lợi của TCTD Các tranh chấp khác cũng có tác động đến các TCTD nhưng không phải là cơ bản nên ít xảy ra hơn
so với tranh chấp về nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi hay tranh chấp về lãi suất, về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Thứ năm, tranh chấp HĐTD ngân hàng thường là tiền đề làm phát sinh và gắn liền với một quan hệ hợp đồng khác: hợp đồng bảo đảm tiền vay thông qua hình thức cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Các TCTD khi tham gia vào HĐTD đều có mục đích lợi nhuận từ việc cho vay đó vì bản chất của TCTD là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ Để giảm thiểu rủi
ro trong trường hợp bên vay không trả được nợ, thông thường TCTD chỉ đồng ý cho bên đi vay được vay vốn khi họ có cầm cố, thế chấp bằng tài sản hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba Các biện pháp bảo đảm này đóng vai trò là phương pháp dự phòng
Trang 21của TCTD khi rủi ro xảy ra Khi đó, để đảm bảo cho nghĩa vụ được đảm bảo trong HĐTD thì các bên kí kết hợp đồng bảo đảm cho khoản vay Tùy trường hợp mà đó
có thể là hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp hay là dưới hình thức chứng thư bảo lãnh của bên thứ ba Những điều khoản về quyền và nghĩa vụ trong các hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn là để bảo đảm cho việc vay vốn, xuất phát từ hợp đồng tín dụng đã được kí kết và mục đích cuối cùng là bảo đảm cho việc trả nợ của bên đi vay
Như vậy, không có trường hợp nào, hợp đồng bảo đảm lại tách rời ra khỏi HĐTD với tư cách là một hợp đồng độc lập mà giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau Có thể ví mối quan hệ này như là mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ Sự vô hiệu loại hợp đồng này có ảnh hưởng đến loại
hợp đồng kia tùy trường hợp “Trong trường hợp hợp đồng có nghĩa vụ được bảo
đảm vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng thì giao dịch bảo đảm chấm dứt, nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Ngược
lại, “giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Như vậy, có thể khẳng định rằng tranh chấp HĐTD, với tư cách là hợp đồng chính, luôn gắn liền và làm cơ sở phát sinh tranh chấp hợp đồng bảo đảm - hợp đồng phụ trong quan hệ tín dụng giữa các bên
Thứ sáu, tranh chấp HĐTD phát sinh từ sự xung đột về lợi ích giữa các bên tham gia tranh chấp
Vì tranh chấp HĐTD cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nên phải xuất phát từ xung đột lợi ích của các bên trong hợp đồng Mặc dù vậy trong quan hệ dân
sự, pháp luật hiện hành quy định một số cơ quan đoàn thể có thể khởi kiện để đảm bảo quyền lợi cho tổ chức, cá nhân khác mà không phải là lợi ích của chính cơ quan, đoàn thể đó Tuy nhiên, đối với tranh chấp phát sinh từ HĐTD thì chỉ có chính các bên hay người đại diện hợp pháp của họ mới có quyền khởi kiện để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên đi vay hay TCTD Không có trường hợp nào
mà tranh chấp HĐTD phát sinh do tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia HĐTD Như vậy, tranh chấp phát sinh từ HĐTD chỉ phát sinh khi các bên khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ tín dụng, hay nói cách khác, tranh chấp HĐTD thường gắn liền với lợi ích của các bên tranh chấp
Trang 221.2.3 Phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Khách hàng vay vốn có thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh hoặc không đăng ký kinh doanh và mục đích vay vốn để kinh doanh, sản xuất hoặc tiêu dùng, sinh hoạt Vậy, tranh chấp hợp đồng tín dụng có thể là tranh chấp về hợp đồng dân sự và cũng có thể là tranh chấp kinh doanh, thương mại Vậy khi nào tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp về hợp đồng dân sự và khi nào là tranh chấp kinh doanh, thương mại? Để trả lời câu hỏi này, ta cần nhận định rằng bản chất hợp đồng tín dụng là hợp đồng vay tài sản Vì vậy, HĐTD ngân hàng là một dạng đặc biệt của hợp đồng dân sự xuất phát từ hoạt động cho vay của ngân hàng Nếu ngân hàng thực hiện cho vay mà bên vay là cá nhân, tổ chức và mục đích vay nhằm đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt và tiêu dùng thì hợp đồng tín dụng ngân hàng mang tính chất là một hợp đồng dân sự theo đúng nghĩa Nếu ngân hàng thực hiện cho vay
mà bên vay là các cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh và mục đích nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, thương mại thì hợp đồng tín dụng ngân hàng mang tính chất là hợp đồng kinh doanh, thương mại Do đó, tuỳ theo đối tượng và mục đích trong hoạt động cho vay của ngân hàng mà chúng ta nhìn nhận hợp đồng tín dụng ngân hàng ở gốc độ thích hợp
Từ phân tích trên tác giả cho rằng tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng
có hai loại:
- Thứ nhất, tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp về hợp đồng dân sự khi bên vay vốn là hộ gia đình, cá nhân hay tổ chức không có đăng ký kinh doanh
và không có mục đích lợi nhuận
- Thứ hai, tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp kinh doanh - thương mại khi bên vay vốn là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận
* Các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng:
- Tranh chấp do các bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng:
+ Hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên cho vay (ngân hàng) khi HĐTD có hiệu lực, vì một lý do nào đó bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ nghĩa vụ giải ngân Điều này, làm ảnh hưởng xấu tới quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay
+ Hành vi vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi của bên vay Rõ ràng khi cần tiền
Trang 23để thực hiện kế hoạch, mục tiêu của mình thì khách hàng mới đi vay Cũng vì lý do này nên ban đầu thông thường thì khách hàng chấp nhận với lãi suất của ngân hàng đưa ra nhưng sau một thời gian thực hiện hợp đồng phía khách hàng nhận thấy lãi suất đó cao quá nên không đồng ý Đồng thời, quá trình sử dụng vốn vay không hiệu quả nên dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ gốc và lãi Đây là dạng tranh chấp xảy ra nhiều nhất trong các tranh chấp HĐTD
- Tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng Tranh chấp này trên thực tế tương đối đa dạng và phức tạp nhất là trong những trường hợp có yếu tố nước ngoài Điều này gây không ít khó khăn cho cơ quan giải quyết tranh chấp Trong quá trình ký kết hợp đồng tín dụng, việc xem xét tư cách chủ thể của bên vay vốn là một vấn đề quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực của HĐTD Trên thực tế, nếu tổ chức tín dụng xem nhẹ vấn đề này, không xác định đúng tư cách chủ thể (đặc biệt là trường hợp khách hàng vay là tổ chức, doanh nghiệp) dẫn đến việc
ký hợp đồng tín dụng với chủ thể không có thẩm quyền ký kết Hợp đồng bị tuyên
bố vô hiệu gây thiệt hại nặng nề cho các tổ chức tín dụng
- Tranh chấp xảy ra từ việc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với HĐTD có bảo đảm bằng tài sản và xử lý tài sản bảo đảm
Chính bởi bản chất hợp đồng tín dụng mang tính rủi ro cao nên các tổ chức tín dụng coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất (các lưu chuyển tiền tệ) không thể thanh toán được nợ Hiện nay, theo quy định của pháp luật có ba hình thức bảo đảm tín dụng là cầm cố, thế chấp, bảo đảm tài sản bằng bảo lãnh Quá trình xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm được quy định tại Bộ luật Dân sự 2005, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện không phải khi nào các bên cũng tuân thủ nghiêm túc những quy định của pháp luật, nên trên thực tế, các tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tương đối nhiều
Các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng này chủ yếu liên quan đến việc xử
lý tài sản bảo đảm Khi thẩm định hồ sơ vay vốn, nếu như nhân viên ngân hàng thẩm định không kỹ, kết quả thẩm định không chính xác dẫn đến chấp nhận những
Trang 24tài sản bảo đảm không đúng quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm thì sẽ dẫn đến những tranh chấp phát sinh khi ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm Chẳng hạn, nếu không xác định được tài sản bảo đảm thuộc sở hữu chung hay riêng của vợ chồng hoặc tài sản bảo đảm không thuộc của người cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh thì cũng gây khó khăn khi xử lý tài sản bảo đảm, đặc biệt là tài sản của Hộ gia đình
- Tranh chấp về pháp luật giải quyết tranh chấp HĐTD : Nếu như khi ký hợp đồng tín dụng mà các bên đã không thoả thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng (nếu như có yếu tố nước ngoài) thì sau này có nhiều khả năng xảy ra việc tranh chấp về luật áp dụng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng Thực tiễn cho thấy tranh chấp này ít xảy ra
Hiện nay, khi nền kinh tế Việt Nam ít nhiều chịu sự ảnh hưởng không nhỏ bởi các cuộc khủng hoảng của các nước trên Thế giới dẫn đến việc xảy ra tranh chấp trong hợp đồng tín dụng ngày càng nhiều và diễn biến phức tạp Do đó, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là hết sức cần thiết Từ đó, có những biện pháp, đường lối, chính sách nhằm khắc phục tình trạng tranh chấp để
tiến tới giảm thiểu đáng kể số lượng tranh chấp
1.3 Nguyên nhân và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
1.3.1 Nguyên nhân của tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Về bản chất, cũng như bất kỳ một tranh chấp thuộc lĩnh vực khác, tranh chấp HĐTD là sự phản ánh những mâu thuẫn, bất đồng của các chủ thể trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ theo HĐTD, hay nói cách khác, chỉ khi có sự vi phạm nghĩa
vụ theo hợp đồng của một bên hoặc cả hai bên thì tranh chấp mới phát sinh Ở đây, bên cạnh thuật ngữ “tranh chấp HĐTD” còn xuất hiện thuật ngữ “vi phạm HĐTD” Hai thuật ngữ này có sự khác biệt về mặt nội dung nhưng lại có mối quan hệ thống nhất và phụ thuộc lẫn nhau
“Vi phạm HĐTD” có thể được hiểu là hành vi bất hợp pháp của một hoặc cả hai bên giao kết không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng “Tranh chấp HĐTD” có thể hiểu là tình trạng pháp lý phát sinh do một bên hoặc cả hai bên đã có hành vi vi phạm hợp đồng Như vậy, trong mối liên hệ giữa hành vi vi phạm hợp đồng với tranh chấp hợp đồng thì vi phạm HĐTD được coi là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp HĐTD Theo đó, tranh
Trang 25chấp HĐTD thường bao gồm ba yếu tố: (1) Có quan hệ HĐTD tồn tại giữa các bên tranh chấp; (2) Có sự vi phạm của một bên làm ảnh hưởng tới lợi ích của bên kia; (3) Có sự mâu thuẫn, xung đột, bất đồng quan điểm, lợi ích giữa các bên về sự vi phạm hoặc xử lý hậu quả phát sinh từ sự vi phạm
Trên thực tế, hầu hết các tranh chấp HĐTD phát sinh đều có nguyên nhân từ các hành vi vi phạm HĐTD như bên đi vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng dẫn đến tranh chấp, tổ chức tín dụng không giải ngân theo đúng kế hoạch trong hợp đồng gây thiệt hại cho khách hàng… Tuy nhiên, nếu khẳng định tất cả tranh chấp đều phát sinh từ hành vi vi phạm hợp đồng thì sẽ không đầy đủ và thiếu chính xác vì tranh chấp HĐTD còn có thể xuất phát từ một dạng vi phạm khác, đó
là những vi phạm liên quan đến các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật và các bên hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên
bố hợp đồng vô hiệu để khôi phục lại trình trạng ban đầu Mặc khác, nhiều khi mâu thuẫn, bất đồng xảy ra do các bên còn có quan điểm trái ngược nhau về cùng một vấn đề Điển hình của loại tranh chấp này là hai bên hiểu không thống nhất về điều khoản cụ thể nào đó trong hợp đồng và tranh chấp này chỉ đơn thuần là tranh chấp liên quan đến vấn đề giải thích hợp đồng
Nguyên nhân gây ra tranh chấp HĐTD rất đa dạng, song có thể khái quát với những nguyên nhân từ phía bên vay, bên cho vay và cả những hạn chế của quy định pháp luật
Về nguyên nhân từ phía bên cho vay: Thông thường phía ngân hàng vi
phạm nghĩa vụ giải ngân cho khách hàng như quy định trong hợp đồng Các tổ chức tín dụng không tuân thủ chế độ tín dụng và điều kiện cho vay Đôi khi ngân hàng cho vay mà không tiến hành quy trình thẩm định theo nguyên tắc phân tích tín dụng, điều mà các định chế tài chính quốc tế luôn cảnh báo là: Tính cách người vay, năng lực trả nợ, dòng tiền mặt, tài sản thế chấp, các điều kiện môi trường, sự kiểm soát
mà ngân hàng lại dựa vào nhận định của các nhân viên của mình Trên thực tế, khi tiến hành thẩm định bên cho vay không thể kiểm tra được bên vay có thông qua một
tổ chức tín dụng đen nào hay không Ở Việt Nam, ngân hàng chưa có chính sách hợp
lý và quy trình cho vay hiệu quả, cơ chế phân tích và quản lý rủi ro còn hạn chế Việc đánh giá biện pháp bảo đảm tiền vay còn hạn chế, chưa phân tích, đánh giá các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay Tổ chức tín dụng đánh giá về biện pháp bảo
Trang 26đảm tiền vay còn dựa vào tài liệu do bên vay xuất trình mà chưa có sự kiểm tra thực tiễn Trình độ thẩm định của nhân viên ngân hàng còn chưa cao, nên có những sai xót và thiếu chặt chẽ - kết quả thẩm định chưa đạt yêu cầu
Mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng còn hạn chế Trong thực tế bên ngân hàng không nắm rõ ràng các thông tin chính xác về khách hàng, không biết chính xác là khách hàng vay vốn và có sử dụng vốn vay đúng mục đích trong hợp đồng hay không Một số nhân viên ngân hàng còn thiếu phẩm chất đạo đức cũng như thiếu năng lực nên trong việc cho vay có đảm bảo nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế chấp mà bên vay vẫn được giữ cả giấy tờ gốc chứng minh tài sản thế chấp của mình Điều này dẫn đến có thể bên vay lại đem bán tài sản đã thế chấp ở ngân hàng cho người thứ ba Lúc này ngân hàng và người thứ ba có sự tranh chấp về quyền tài sản – tài sản đã được thế chấp bằng danh nghĩa ở ngân hàng
Do đó để đảm bảo an toàn tín dụng các ngân hàng cần tuân thủ nghiêm túc quy trình, điều kiện cho vay, các quy định của pháp luật liên quan, cần nâng cao hơn nữa đội ngũ nhân viên ngân hàng, xây dựng và nâng cao hệ thống thông tin tín dụng, có biện pháp để kiểm tra, giám sát hữu hiệu các hoạt động của bên vay theo những cam kết trong hợp đồng
Về nguyên nhân từ phía bên vay:
Bên vay không đảm bảo nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ của mình Thông thường do hai nguyên nhân: nguyên nhân khách quan
và chủ quan
Nguyên nhân khách quan: là những nguyên nhân tác động ngoài ý chí, tầm
kiểm soát của khách hàng như: do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh tế, do thiên tai, hoả hoạn, điều chỉnh quy hoạch, do thị trường biến động, quan hệ cung cầu hàng hoá thay đổi… làm cho hoạt động của bên vay không thực hiện như kế hoạch đề ra
Nguyên nhân chủ quan: Cá nhân vay vốn không nắm được thông tin cần
thiết về kế hoạch đầu tư, sản xuất khi vay vốn dẫn đến tình trạng vay vốn về đầu tư không có hiệu quả Có thể là do vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không đáp ứng nhu cầu, năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường và thông tin về các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất, công nghệ chưa được cải thiện nên sản phẩm tạo ra chưa có tính cạnh tranh cao,
Trang 27hiệu quả kinh doanh kém, hậu quả là doanh nghiệp thua lỗ lâm vào tình trạng phá sản Cũng có trường hợp do bên vay cố tình đưa ra những thông tin sai sự thật ngay từ khi vay vốn nên khi về đầu tư hay sử dụng vào mục đích của mình không có hiệu quả
Nguyên nhân nữa là do bên vay còn thiếu hiểu biết về pháp luật, trình độ hiểu biết của bên vay còn hạn chế về những kiến thức pháp luật liên quan Có trường hợp bên vay ký hợp đồng trong khi bản thân không hiểu rõ về pháp luật nên khả năng xảy ra những bất lợi cho mình là rất lớn Đơn cử như trường hợp của ông Phùng Hữu Phú ở thị trấn Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, năm 2014 ông đã thế chấp ngôi nhà của mình để vay vốn Ngân hàng nông nghiệp, phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Phúc Thọ số tiền 500 triệu đồng để đầu tư cho cơ sở chế biến nông sản Nhưng sau đó do không có hiểu biết về những quy định của pháp luật ông Phú
đã ký hợp đồng bán nhà để đảm bảo cho khoản vay mới Hiện tại, khoản tín dụng mới không vay được, khoản tín dụng trước thì chưa có khả năng thanh toán và bên vay còn phải đối mặt với nguy cơ mất nhà do chủ nợ đang khởi kiện ra toà yêu cầu thực hiện hợp đồng bán nhà trên Trong tình huống trên, nếu ông Phú có kiến thức
về pháp luật nhất là pháp luật ngân hàng thì sẽ không dẫn đến ký hợp đồng bán nhà
để đảm bảo cho khoản vay Hiện nay, sự hiểu biết những quy định pháp luật của một bộ phận người dân còn nhiều hạn chế, sự hạn chế đó không chỉ gây tổn thất cho chính người vay mà còn ảnh hưởng tới quyền lợi của ngân hàng và đặc biệt là những hệ lụy về mặt xã hội
Nguyên nhân từ quy định của pháp luật: Xã hội luôn thay đổi theo nhiều
chiều hướng khác nhau, các mối quan hệ xã hội cũng đổi mới không ngừng kéo theo các giao dịch trong xã hội cũng có thêm nhiều yếu tố phức tạp và đa dạng hơn Trái lại, trên thực tế pháp luật nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, pháp luật chưa thể dự kiến và điều chỉnh được các mối quan hệ xã hội sắp diễn ra Một điều đáng lưu ý là sự hiểu biết về pháp luật của các bên trong hợp đồng còn chưa rõ ràng, mâu thuẫn với nhau về lợi ích giữa các bên dẫn đến nảy sinh tranh chấp Pháp luật nước ta quy định bên cho vay bắt buộc phải đưa ra các căn cứ pháp lý hay những lý do chính đáng nếu muốn từ chối khách hàng, vấn đề này chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Nên bên cho vay cho rằng cho vay là quyền của mình còn bên đi vay thì có quan điểm ngược lại, điều đó dễ dẫn đến mâu thuẫn
Trang 28Những HĐTD ngân hàng theo mẫu do ngân hàng đưa ra đa phần là rất chặt chẽ cả về hình thức và nội dung Thông thường những hợp đồng theo mẫu này gắn liền với lợi ích của ngân hàng
Các quy định của pháp luật còn chưa thống nhất, chồng chéo lẫn nhau đặc biệt là các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm Hiện nay, hành lang pháp lý cho hoạt động giao dịch bảo đảm chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và nhiều quy định không thể thực hiện được trên thực tế Việc đăng ký giao dịch bảo đảm thực hiện phân tán
ở nhiều cơ quan khác nhau tạo kẽ hở trong quản lý Theo Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi nghị định 163/2006/NĐ-
CP của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, cho phép các tổ chức tín dụng được lựa chọn hình thức xử lý đa dạng như bán tài sản thế chấp, nhận các khoản tiền và tài sản từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ, phương thức khác do các bên thoả thuận Trường hợp các bên không thoả thuận được phương thức xử lý tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì các tài sản này được đem bán đấu giá nhưng để thực hiện được các bên lại phải ký hợp đồng uỷ quyền tại đơn vị bán đấu giá có thẩm quyền Điều này thường không thực hiện được
do bên thế chấp không đồng ý và khi đó các tổ chức cho vay không có cơ chế nào
để bảo vệ được quyền lợi của mình
1.3.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Giống như các phương thức giải quyết tranh chấp khác, pháp luật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cụ thể như: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án Theo đó, khi xảy ra tranh chấp kinh doanh các bên có thể giải quyết tranh chấp thông qua việc trực tiếp thương lượng với nhau Trong trường hợp không thương lượng được, việc giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua phương thức hòa giải, trọng tài hoặc tòa án Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng dựa trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên Cơ quan Nhà nước và Trọng tài thương mại chỉ can thiệp theo yêu cầu của các bên tranh chấp
Để đảm bảo phát triển và duy trì sự phát triển, vấn đề lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng được các bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp dựa trên các yếu tố như mục tiêu đạt được, bản chất của tranh chấp, mối quan hệ làm ăn giữa các bên, thời gian và chi phí dành cho việc giải quyết tranh
Trang 29chấp Chính vì vậy, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên cần hiểu rõ bản chất và cân nhắc các ưu điểm, nhược điểm của một phương thức để có quyết định hợp lý
- Đối với phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng thương lượng:
Phương thức thương lượng là phương thức được các bên tranh chấp lựa chọn trước tiên và trong thực tiễn phần lớn các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng được giải quyết bằng phương thức này Thông qua phương thức này, các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp
mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào Nhà nước khuyến khích áp dụng phương thức tự thương lượng để giải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên Chính vì điều này, pháp luật không đưa ra bất cứ quy định nào cho phương thức giải quyết này
Phương pháp thương lượng là phương thức được các bên tiến hành đầu tiên bởi các ưu điểm của nó như: thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, linh hoạt, ít tốn kém về thời gian, về tiền bạc, không ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp, đảm bảo bí mật, uy tín của các bên Nếu thương lượng thành công thì ít gây phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên thậm chí còn được tăng cường về sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau khi kết thúc cuộc thương lượng
Tuy vậy, bên cạnh các ưu điểm trên, thương lượng cũng có những nhược điểm như: thương lượng thành công phụ thuộc vào các bên có thiện chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp Nếu bên vay muốn dùng hình thức thương lượng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ thì thương lượng chỉ làm tốn kém và kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp hơn Sự thực thi kết quả thương lượng phụ thuộc vào
ý chí tự nguyện thi hành của các bên tham gia Cũng chính vì, phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng không bị ràng buộc bởi bất kỳ các cơ chế pháp lý nào nên kết quả thương lượng cũng không được bảo đảm bởi bất kỳ cơ chế pháp lý nào dẫn đến tính bắt buộc thực hiện không cao Mặt khác, hình thức giải quyết khép kín, không công khai có khi lại nảy sinh những tiêu cực, trái pháp luật
- Đối với phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng hoà giải:
Cũng giống như thương lượng, hoà giải là các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để giải quyết các vấn đề tranh chấp nhưng khác là hoà giải có sự hỗ
Trang 30trợ của bên thứ ba là hòa giải viên Người trung gian có thể là cá nhân, tổ chức luật
sư, tư vấn, hoặc các tổ chức khác do các bên thỏa thuận lựa chọn Bên thứ ba trung lập chỉ hỗ trợ các bên đưa ra thoả thuận, không có thẩm quyền phán xét, điều này khác với phương pháp giải quyết bằng Trọng tài thương mại Kết quả hòa giải phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp và uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng của trung gian hòa giải, quyết định cuối cùng của việc giải quyết tranh chấp không phải của trung gian hòa giải mà hoàn toàn phụ thuộc các bên tranh chấp Trên thực tế, phương thức hòa giải đã được sử dụng, nhưng phạm vi và hiệu quả áp dụng còn ở mức khiêm tốn
Với phương pháp giải quyết tranh chấp bằng hoà giải, chúng ta có thể thấy các ưu điểm như: thủ tục, thời gian, địa điểm hoà giải có thể được thỏa thuận và điều chỉnh do các bên tham gia giải quyết tranh chấp, các bên có quyền tự định đoạt, lựa chọn bất kỳ người nào làm trung gian hòa giải Hòa giải mang tính thân mật nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vì lợi ích của cả hai bên Tính thân mật trong hòa giải được thể thiện qua không gian và môi trường, phong thái và ngôn ngữ trong hòa giải, hành vi giao tiếp và ứng xử của những người tham gia Giá trị của tính thân mật là ở chỗ nó có thể làm cho quá trình trung gian hòa giải gần gũi và thân thiện với các bên tranh chấp hơn, không tạo ra sự lo lắng và căng thẳng so với hoạt động xét xử tại Tòa án Trong hòa giải, các bên tranh chấp
có thể nói chuyện, trao đổi, đàm phán và thảo luận về các giải pháp trong toàn bộ quá trình Quá trình hòa giải tạo cơ hội cho mỗi bên bày tỏ quan điểm của mình về tranh chấp, không dẫn đến tình trạng đối đầu, thắng thua như quá trình kiện tụng tại tòa án, duy trì được mối quan hệ vốn có của các bên Do hòa giải xuất phát từ sự tự nguyện tham gia và tự do thỏa thuận của các bên, nên nội dung thỏa thuận luôn hướng tới lợi ích của tất cả các bên Mặt khác, là khi giải quyết bằng con đường này các bên kiểm soát được những bí mật của mình bởi phiên họp hòa giải được tổ chức kín, trong khi giải quyết tại Tòa án thì các yêu cầu này không được đảm bảo do tòa án thực hiện xét xử theo nguyên tắc công khai
Bên cạnh những ưa điểm trên, giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng phương pháp hòa giải vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định: việc hòa giải có được tiến hành hay không phụ thuộc vào sự nhất trí của các bên, hòa giải viên không
có quyền đưa ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với các bên
Trang 31tranh chấp thỏa thuận hòa giải, không có tính bắt buộc thi hành như phán quyết của Trọng tài thương mại hay của Tòa án Các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự
tự nguyện của các bên Vì vậy, phương pháp này ít được sử dụng nếu các bên không
có sự tin tưởng với nhau
- Đối với phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng trọng tài thương mại:
Phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD bằng trọng tài thương mại cũng bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện và được tiến hành theo quy định của Luật Trọng tài thương mại Các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn một Trọng tài phù hợp, chỉ định trọng tài viên để thành lập Hội đồng (hoặc Ủy ban) Trọng tài giải quyết tranh chấp với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành Điều này khác với phương thức thương lượng và hòa giải
Thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại cho thấy có một số ưu điểm sau: Thứ nhất, phương pháp trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp có nguyên tắc xử kín nếu các bên không có thỏa thuận khác Thoả thuận phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thường được sử dụng trong hợp đồng tín dụng mà bên vay là các doanh nghiệp Nguyên tắc xử kín trong phương pháp này là một ưu điểm mà các bên tranh chấp luôn coi trọng bởi các bên không muốn các chi tiết của vụ tranh chấp bị đem ra công khai trước Tòa án, điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình Việc xét xử tranh chấp bằng trọng tài thương mại trên thực tế đã làm giảm đáng kể mức độ xung đột, căng thẳng của những bất đồng bởi nó diễn ra trong một không gian kín, nhẹ nhàng, mang nặng tính trao đổi
để tìm ra sự thật khách quan của vụ việc Đó chính là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau Thứ hai, quyết định của Trọng tài thương mại là chung thẩm và vì vậy nó có giá trị bắt buộc đối với các bên, các bên không có quyền chống án hay kháng cáo Việc xét xử tại Trọng tài thương mại chỉ diễn ra ở một cấp xét xử, đó cũng chính là điều khác biệt cơ bản so với xét xử tại Tòa án bởi thông thường xét xử tại Tòa án diễn ra ở hai cấp Hội đồng trọng tài sau khi tuyên phán quyết xong là đã hoàn thành nhiệm vụ của mình và chấm
Trang 32dứt sự tồn tại Thứ ba, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thể hiện tính năng động, linh hoạt và mềm dẻo, tạo quyền chủ động cho các bên về địa điểm, thời gian giải quyết tranh chấp, tiết kiệm được thời gian có thể rút ngắn thủ tục tố tụng trọng tài trong khi tòa án khi xét xử phải tuân thủ một cách đầy đủ và nghiêm ngặt các quy định có tính chất quy trình, thủ tục, trình tự được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn liên quan Thứ tư, giải quyết trọng tài không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho mình
Tuy nhiên, bên cạnh đó phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có những nhược điểm đáng kể như là: Quyết định trọng tài thương mại không có tính cưỡng chế cao như quyết định của toà án; việc thi hành quyết định trọng tài thương mại không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi như việc thi hành bản án mà phụ thuộc chủ yếu vào thiện chí và sự hợp tác giải quyết của các bên Giải quyết bằng phương thức trọng tài đòi hỏi chi phí tương đối cao, vụ việc giải quyết càng kéo dài thì phí trọng tài càng cao
- Đối với phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng tòa án:
Vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng là vấn đề mang tính thường xuyên trong giai đoạn hiện nay, việc tự giải quyết tranh chấp của các bên gặp nhiều khó khăn vì nhiều nguyên nhân khác nhau và vì vậy cần thiết có sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà phổ biến là Tòa án nhân dân Phương thức giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng tín dụng thông qua Tòa án là hình thức cuối cùng mà các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp khi không còn lựa chọn nào khác Thông thường thì hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án được tiến hành khi mà việc áp dụng cơ chế thương lượng và hoà giải không có hiệu quả và các bên tranh chấp cũng không thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tranh chấp tại Trọng tài thương mại
Như vậy, có thể hiểu giải quyết tranh chấp HĐTD bằng tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán Nhà nước thực hiện Tòa án nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc bên có nghĩa vụ phải thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Do đó, các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của Tòa án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hòa
Trang 33giải và cũng không muốn đưa vụ tranh chấp của họ để giải quyết bằng trọng tài thương mại
Việc đưa tranh chấp ra xét xử tại tòa án có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm nhất định, ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thông qua tòa án là: đặc trưng cơ bản của thủ tục giải quyết tranh chấp bằng tòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa
ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành Vì vậy, quyết định của tòa án có tính cưỡng chế cao, quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện có tài sản để thi hành án Nhờ đó, việc giải quyết tranh chấp thông qua tòa
án còn trực tiếp góp phần vào việc nâng cao ý thức, tôn trọng pháp luật cho các bên tham gia So với phương thức trọng tài thương mại, việc giải quyết tranh chấp bằng toà án được thực hiện qua hai cấp xét xử, nhờ vậy mà những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện, khắc phục đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên tham gia Chi phí giải quyết tranh chấp bằng toà án ít hơn nhiều so với chi phí giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại và chi phí này không tỷ lệ thuận với thời gian giải quyết tranh chấp như ở phương pháp trọng tài thương mại Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng toà án có tính bắt buộc tham gia cao đối với các bên tranh chấp không như các phương thức khác chỉ
có tính tự nguyện
Trước khi đưa vụ án tranh chấp ra xét xử, toà án phải tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật Hoà giải ở đây được gọi là hoà giải trong tố tụng Một thẩm phán đã được phân công xét xử vụ án sẽ đóng vai trò là bên thứ ba độc lập để giúp các bên tranh chấp tự thoả thuận cách giải quyết vấn đề mà không cần phán quyết của toà án Tại phương thức giải quyết tranh chấp bằng toà án các bên tranh chấp có quyền lựa chọn việc tham gia hoà giải Sau khi thẩm phán ra quyết định công nhận các bên hoà giải thành thì các thoả thuận sẽ có giá trị thực hiện như một bản án hiệu lực Đây là điều khác biệt đối với hoà giải ngoài tố tụng như phương thức hoà giải tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng hoà giải đã phân tích ở trên
Tuy vậy, việc lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường tòa án cũng có những nhược điểm nhất định so với các hình thức khác như: thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua tòa án thường dài hơn
so với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại Hơn nữa, nguyên tắc xét xử
Trang 34công khai tại tòa án có thể làm sụt giảm uy tín của các bên trên thương trường; lộ lọt các bí mật kinh doanh cản trở hoạt động đối với các chủ thể bên vay là doanh nghiệp Ngoài ra, bản án xét xử xong chưa được thi hành ngay mà các bên có quyền kháng cáo, khiếu nại nên thời gian kéo dài ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của các bên tranh chấp
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tòa án
Việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tòa án chịu ảnh hưởng chặt chẽ bởi các yếu tố bên ngoài cũng như bên trong Điều này đóng góp tích cực vào việc xây dựng và kiện toàn hệ thống pháp luật về lĩnh vực này
1.4.1 Tình hình kinh tế, xã hội của đất nước
Đây chính là yếu tố đầu tiên, cơ bản và quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, và pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng nói riêng Theo lý thuyết về cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng mà sự ảnh hưởng của nền kinh tế, và xã hội tới giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tòa án là hoàn toàn có thể xảy ra Bởi lẽ, trên thực tế, với
sự pháp triển ngày càng tăng của nền kinh tế, thì các giao dịch tín dụng, ngân hàng ngày càng phát triển, do đó, số lượng tranh chấp ngày một nhiều Điều này là cơ sở,
là tiền đề để chúng ta phải hoàn thiện hơn nữa pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng con đường Tòa án
1.4.2 Vấn đề chiến lược cải cách tư pháp và cải cách hệ thống pháp luật
hư chúng ta đã biết, việc cải cách tư pháp và cải cách hệ thống pháp luật Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước đề cập đến từ những năm 2002 và năm 2005 bằng các nghị quyết của Đảng Việc hoàn thiện bất kỳ hệ thống pháp luật chuyên ngành nào đều phải bám sát, lấy các Nghị quyết của Đảng làm trọng tâm làm cơ sở Trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân sự - kinh tế, Nghị quyết của Đảng đã chỉ
rõ, cần phải lấy nguyên tắc tự nguyện, tự định đoạt làm cơ sở, làm gốc của mọi quan hệ pháp luật tư Nhà nước cần tránh và hạn chế tối đa sự can thiệp vào các quan hệ dân sự - kinh tế, không được hình sự hóa các quan hệ dân sự Đây là cơ sở,
là định hướng cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín dụng và pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ở Việt Nam hiện nay
Trang 351.4.3 Yếu tố về tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án
Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tòa án Bởi lẽ, giải quyết được các tranh chấp này, cần phải có tổ chức bộ máy cán bộ Tòa án đủ mạnh, đủ năng lực, có kinh nghiệm về giải quyết tranh chấp tín dụng Trên thực tế, trong những năm vừa qua, ngành Tòa án nhân dân ngày một lớn mạnh, có sự phát triển vượt bậc về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, trên thực tế, chất lượng này chưa tương xứng với lượng công việc giải quyết các tranh chấp đặc biệt là tranh chấp trong lĩnh vực kinh
tế Do đó, trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tòa án cần phải đặt trong mỗi quan hệ với hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án nhân dân
Tiểu kết chương 1
Tranh chấp phát sinh từ hoạt động tín dụng là một hiện tượng tất yếu khách quan, có thể xảy ra trong bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình thực hiện các nội dung của hợp đồng tín dụng do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Điều quan trọng là làm thế nào có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về nó để đưa ra các biện pháp hạn chế đến mức thấp nhất việc phát sinh tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng
Trong chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề
cơ bản về hợp đồng tín dụng và các nguyên nhân, phương pháp giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng (chủ yếu là phương pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường toà án), các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tòa án… Từ đó cho thấy sự cần thiết trong xây dựng và áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng để làm cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng ở Chương 2 và đề ra giải pháp ở Chương 3
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
Hợp đồng tín dụng chính là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Còn những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá được gọi chung là hợp đồng cấp tín dụng
Nếu bên vay là doanh nghiệp và hộ kinh doanh, thì hợp đồng tín dụng sẽ là hợp đồng thương mại Nếu bên vay là cá nhân, thì hợp đồng tín dụng sẽ là hợp đồng dân sự
Cho vay vốn được ví như việc bán chịu một loại hàng hóa đặc biệt, đó là tiền
tệ Vì vậy, trong quan hệ tín dụng, trước khi giải ngân, thì thế mạnh hoàn toàn thuộc
về ngân hàng và ngân hàng là người quyết định có hay không cho vay Dấu ấn vẫn đang hiện hữu trong Luật các TCTD năm 1997 để chỉ quá trình chuẩn bị giao kết hợp đồng, đó là những cụm từ “cấp tín dụng” và “xét duyệt cho vay” hay là “yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh” tính khả thi của phương án vay vốn và khả năng trả nợ Tuy nhiên, ngay sau khi thực hiện hợp đồng, tức là sau khi ngân hàng giải ngân, thì xu thế lại hoàn toàn đảo ngược Khi ấy, bên vay là người nắm vai trò chủ động trong việc trả nợ Mặc dù ngân hàng có khá nhiều quyền chi phối theo quy định của pháp luật về hợp đồng tín dụng, nhưng vẫn trở thành bên thụ động
Nhìn chung pháp luật liên quan là BLDS, Luật các TCTD và Quy chế Cho vay của TCTD đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành
Trang 37(hiện nay là Thông tư 39/2016/TT-NHNN), đã quy định khá cụ thể, chi tiết các điều kiện, điều khoản có trong một hợp đồng tín dụng Vì vậy chỉ cần lưu ý đến một số điểm đặc biệt trong hợp đồng tín dụng
Về nguyên tắc, bên vay vốn được sử dụng vốn vay vào bất kỳ mục đích nào, nếu không bị pháp luật cấm Tuy nhiên, có những trường hợp không bị pháp luật cấm, như việc vay vốn để trả nợ ngân hàng khác hoặc trả nợ chính ngân hàng vay, nhưng lại rất khó được chấp nhận, vì nó được coi như một hoạt động đảo nợ Trước
đây, việc đảo nợ bị cấm, sau đó được quy định trong Luật các TCTD là “Việc đảo
nợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ” Tuy nhiên từ năm 1997 đến nay,
vẫn không có văn bản nào của Chính phủ hay NHNN giải thích về nội dung này
Đối với vay vốn dân sự hoặc thương mại thông thường, thì hầu như bên cho vay không quan tâm đến mục đích sử dụng vốn vay, trong khi đối với hợp đồng tín dụng thì lại là một trong điều kiện quan trọng nhất
Trong cả thời hạn vay vốn, nếu bên vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã thỏa thuận, thì ngân hàng lập tức được quyền chấm dứt hợp đồng, phạt vi phạm và thu hồi nợ trước hạn Đó luôn là quy định của pháp luật, cũng đồng thời là điều quan tâm hàng đầu của các ngân hàng trong nghiệp vụ xét duyệt và quản lý các khoản vay Để bảo đảm được việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và việc trả nợ đúng hạn, ngân hàng được quyền kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và trả nợ Đây cũng là điều hầu như không xuất hiện trong các hợp đồng vay vốn trong các quan hệ giữa cá nhân và các doanh nghiệp
Để bảo đảm việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và khả năng trả nợ của bên vay, Luật các TCTD quy định, ngân hàng có trách nhiệm và có quyền kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của bên vay
Hợp đồng tín dụng phải được lập thành văn bản, trong đó có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận (Điều 51 Luật các TCTD)
Mẫu hợp đồng mà các ngân hàng đưa ra không phải là hợp đồng mẫu theo quy định của BLDS, mà chỉ là bản thảo để thuận tiện trong quá trình đàm phán ký kết hợp đồng Bên vay hoàn toàn có thể thoả thuận với ngân hàng thay đổi bất kỳ nội dung
Trang 38nào Tuy nhiên, trên thực tế thì bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản thiên
về ràng buộc chặt chẽ đối với bên vay và có lợi hơn cho ngân hàng
So với hợp đồng thương mại, hợp đồng tín dụng thường có điểm khác là thường rất nhiều văn bản có các yếu tố như một hợp đồng, như đơn đề nghị vay vốn, hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ (giấy nhận nợ), Chẳng hạn trong đơn đề nghị vay vốn có nhiều nội dung cơ bản của hợp đồng tín dụng như số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất vay và cam kết của bên vay Trường hợp ngân hàng
ký chấp thuận những nội dung đó, thì hoàn toàn có thể thay thế cho một bản hợp đồng tín dụng Tương tự, khế ước nhận nợ cũng thường liệt kê lại một cách đầy đủ những điểm chủ yếu của hợp đồng tín dụng, nên trong nhiều trường hợp cũng đồng nghĩa với một hợp đồng tín dụng Do hợp đồng tín dụng được làm kỹ như vậy, nên rất ít khi xảy ra tranh chấp về chính hợp đồng tín dụng, mà thường là tranh chấp liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm để trả nợ
Theo quy định của pháp luật, thì chỉ có hợp đồng tín dụng Nhưng trên thực
tế, vừa do truyền thống, vừa do yêu cầu thực tế, nên bên cạnh hợp đồng tín dụng, các ngân hàng thường đưa ra thêm một loại văn bản nữa là khế ước nhận nợ, là một loại giấy nhận nợ Khế ước nhận nợ thường cũng đủ các yếu tố chủ yếu của hợp đồng tín dụng
Trong thực tế, nhiều ngân hàng ký hợp đồng tín dụng nguyên tắc với bên vay, trong đó xác định các nguyên tắc chung và các nội dung thoả thuận sơ bộ về việc cho vay một số vốn nhất định khi hai bên vay đáp ứng được đầy đủ những điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật cũng như của ngân hàng cho vay Hợp đồng tín dụng nguyên tắc là căn cứ để ngân hàng và bên vay tiếp tục ký các hợp đồng tín dụng cụ thể Khi ấy, hợp đồng tín dụng cụ thể có thể không cần nhắc lại những thoả thuận chung như quyền, nghĩa vụ của các bên chẳng hạn
Các bên thường sử dụng hợp đồng tín dụng nguyên tắc trong trường hợp bên vay có nhiều tài sản bảo đảm đưa vào ngân hàng để vay vốn nhiều lần và diễn ra trong một thời gian dài Khi đó hợp đồng bảo đảm tiền vay được thiết lập để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng nguyên tắc, thay vì cứ mỗi hợp đồng tín dụng lại phải
ký một hợp đồng bảo đảm tiền vay, vừa mất chủ động trong giao dịch vay vốn, vừa tốn kém chi phí định giá, công chứng, đăng ký thế chấp lại
Trang 39Hợp đồng tín dụng hạn mức là hợp đồng tín dụng cụ thể nhưng có thêm điều khoản cho phép bên vay rút vốn và trả nợ nhiều lần, miễn là bảo đảm dư nợ vay trong mọi thời điểm không quá mức tiền vay cao nhất mà hai bên đã thoả thuận Mỗi lần vay vốn, bên vay chỉ cần ký khế ước nhận nợ thay vì phải ký nhiều hợp đồng tín dụng với những điều kiện tương tự nhau
Thời hạn cho vay trong hợp đồng tín dụng được phân thành hai loại cơ bản là ngắn hạn và trung, dài hạn, trong đó: Khoản vay vay ngắn hạn là không quá 12 tháng (1 năm); Khoản vay trung hạn là từ trên 12 tháng đến 60 tháng (1 - 5 năm); Khoản vay dài hạn là trên 60 tháng (5 năm)
Giữa các khoản vay ngắn hạn và khoản vay trung, dài hạn, thường có những đòi hỏi khác biệt, được xem xét thẩm định theo những quy trình, thủ tục khác nhau
và áp dụng lãi suất khác nhau theo nguyên tắc: thời hạn càng lâu thì càng tiềm tàng rủi ro, và sự nguy hiểm sẽ tăng theo lãi suất
Đối với hợp đồng kinh doanh thương mại, thời hạn được tính theo nhiều cách khác nhau, thường là từ ngày ký hợp đồng Còn đối với hợp đồng tín dụng, thì thời hạn hợp đồng thường cũng chính là thời hạn cho vay, cho nên luôn được tính theo mốc từ thời điểm bắt đầu nhận khoản tiền vay đầu tiên (ngày rút vốn hay ngày giải ngân) cho đến khi trả hết khoản nợ cuối cùng theo thoả thuận ban đầu
* Lãi suất cho vay trong hợp đồng tín dụng
Trước đây, tại Điều 476 BLDS năm 2005 quy định các bên trong hợp đồng cho vay có quyền thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng và trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ Nay, BLDS năm
2015 quy định hạn mức lãi suất tối đa mà các bên được thỏa thuận đã được hạ xuống, đồng thời pháp luật đã mở rộng quyền thỏa thuận cho các bên trong trường hợp hợp đồng cho vay có tính lãi nhưng không xác định lãi cụ thể Điều 468 của Bộ
luật này quy định: “1 Lãi suất vay do các bên thỏa thuận Trường hợp các bên có
thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết
Trang 40định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực
2 Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định
rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
Quy định tại Điều 468 BLDS năm 2015, là một trong những thay đổi quan trọng và được đánh giá là có thể hạn chế được những bất cập trong việc áp dụng quy định về lãi xuất theo BLDS năm 2005 Theo đó, lãi suất vay là do chính các bên thỏa thuận, nếu vay có lãi thì lãi xuất thỏa thuận không được quá 20%/năm của
khoản tiền vay, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, không như cách tính lãi
suất thỏa thuận theo mức tham chiếu là lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước
được quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2005 “Lãi suất vay do các bên thoả
thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.”
Về mức lãi suất: Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015,
trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực Như vậy, lãi suất tối đa trong các hợp đồng vay tài sản các bên được thỏa thuận theo BLDS năm 2015 không quá 20%/năm (tức 1,7%/tháng)
Về lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố theo quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2005 Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, về lãi suất cơ bản của Việt Nam đồng để tính lãi suất, thì mức lãi suất cơ bản là 9%/01 năm, tức là 0,75%/01 tháng Lãi suất cao nhất các bên đương sự được thỏa thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS năm 2015 là 1,125%/01 tháng (tức 13,5%/01 năm)
So sánh quy định về lãi suất giữa BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 thấy: BLDS năm 2015 quy định luôn mức lãi suất cao nhất được thỏa thuận trong các hợp đồng dân sự vay tài sản là 20%, không phụ thuộc vào mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định Mức lãi suất theo BLDS năm 2015 cao hơn so với BLDS năm 2005 mục đích giảm thiểu sự chênh lệch về mức lãi suất trong các hợp đồng