Kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng để thi hành án dân sự theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố hưng yên tỉnh hưng yên Kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng để thi hành án dân sự theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố hưng yên tỉnh hưng yên Kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng để thi hành án dân sự theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố hưng yên tỉnh hưng yên Kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng để thi hành án dân sự theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố hưng yên tỉnh hưng yênKê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng để thi hành án dân sự theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố hưng yên tỉnh hưng yênKê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng để thi hành án dân sự theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố hưng yên tỉnh hưng yênKê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng để thi hành án dân sự theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố hưng yên tỉnh hưng yên
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN GIA PHONG
KÊ BIÊN TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG
ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN GIA PHONG
KÊ BIÊN TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG
ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đã sử dụng trong luận văn là trung thực Những kết luận nêu trong luận văn chưa có công bố ở bất
kỳ công trình khoa học nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng 6 1.2 Cơ sở và phân loại kê biên kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng 21 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng 28
Chương 2; QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN KÊ BIÊN TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN 31
2.1 Quy định của pháp luật về kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng theo pháp luật thi hành án dân sự 31 2.2 Thực tiễn kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng theo pháp luật thi hành án dân sự tại thành phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên 41
Chương 3; ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN KÊ BIÊN TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN 56
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng tại thành phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên 56 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng 60
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự THADS Thi hành án dân sự CHV Chấp hành viên THA Thi hành án
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thi hành án dân sự (THADS) thì cưỡng chế thi hành án là một trong những biện pháp mà Chấp hành viên lựa chọn để đảm bảo thi hành các Bản án, Quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nướcpháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật Vì vậy, hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững
kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế, tại Điều 106, Hiếp pháp năm
2013 khẳng định: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lựcpháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.”
Thi hành án dân sự là một hoạt động đã, đang và sẽ là “vấn đề nóng” của xã hội, do đó đòi hỏi các ngành, các cơ quan chức năng phải có sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời để tìm ra giải pháp đúng đắn cho lĩnh vực còn gặp nhiều trắc trở này Tầm quan trọng của hoạt động thi hành án còn được thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 như sau: “xây dựng cơ chế đảm bảo mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành” Trong các biện pháp cưỡng chế mà Luật thi hành án dân sự 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì biện pháp kê biên tài sản là phức tạp và thường gặp khó khăn nhất khi áp dụng Việc ban hành Luật thi hành án dân
sự - Một văn bản chuyên ngành có giá trị pháp lý cao với cơ chế mới và chặt chẽ cho thấy công tác thi hành án dân sự đã dần đi vào lề lối
Thể hiện tính răn đe và nghiêm minh của pháp luật Tuy nhiên bên cạnh các kết quả đạt được vấn đề áp dụng biện pháp kê biên tài sản từ thực tiễn thành phố Hưng Yên vẫn còn những khó khăn vướng mắc, bất cập nhất định, như nhiều bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng chậm tổ chức thi hành; việc áp dụng
Trang 7biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản còn tồn tại , các nguyên nhân chủ quan và khách quan liên quan đến vấn đề này có thể xuất phát từ những bất cập của pháp luật về kê biên tài sản Hay công tác phối hợp kê biên tài sản còn chưa được chính quyền địa phương chú trọng; điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành thi hành án dân sự chưa được quan tâm tốt
Trong quá trình THADS, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thoả thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo Bản án, Quyết định của Tòa án nhưng khi người phải thi hành án đã được giải thích, thuyết phục, mặc
dù có điều kiện thi hành án mà tìm mọi cách trì hoãn, trốn tránh nghĩa vụ, không tự nguyện thi hành thì buộc cơ quan thi hành án phải tổ chức cưỡng chế để thi hành án
Kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế kê biên phức tạp đòi hỏi Chấp hành viên phụ trách hồ sơ thi hành án phải có kỹ năng toàn diện mới có thể thực hiện được công việc này Mặt khác việc áp dụng biện pháp cưỡng chế cần phải có sự phối hợp của các ngành, các cấp, nếu thiếu một thành phần theo quy định thì buổi cưỡng chế
kê biên đó phải dừng hoặc hoãn, gây tổn thất lớn về công sức, kinh tế và tài sản cho các bên đương sự, tổ chức và Nhà nước
Chính vì những lập luận trên, học viên quyết định chọn vấn đề: Kê biên tài
sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam từ thự tiễn thành phố Hưng Yên, làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các biện pháp cưỡng chế THADS trong đó có biện pháp kê biên tài sản, nội dung của luận văn có liên quan đến nhiều công trình nghiên cứu, nhưng cần quan tâm chú trọng đến các công trình bài viết sau:
“Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự” của tác giả Phan Huy Hiếu
năm 2011 “Cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án” của tác
giả Lê Anh Tuấn trong Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề THADS năm
2010; “Về kê kiên, xử lý tài sản” của TS Nguyễn Thanh Thủy và Th.S Lê Thị Kim Dung trong cuốn “Xử lý tình huống trong thi hành án dân sự và các văn bản pháp
luật về thi hành dân sự”, nhà xuất bản Tư pháp năm 2010; “Vấn đề cưỡng chế đối với người thứ ba” của tác giả Bùi Văn Yên và “Cần xử lý triệt để hành vi chiếm lại đất sau cưỡng chế thi hành án” của tác giả Trần Hoàng Đoán trong số chuyên đề về
THADS của Tạp chí Dân chủ và pháp luật tháng 5 năm 2012
Trang 8- Luận văn Tiến sỹ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh “Hoàn thiện pháp luật THADS ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn
Thanh Thủy
- Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, “Thực hiện pháp luật về THADS ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” tác giả Lại Anh Thắng
- Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, “Đổi mới thủ tục
thi hành án dân sự Việt Nam” tác giả Lê Anh Tuấn năm 2014
- Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội, “Áp dụng biện pháp
cưỡng chế kê biên tài sản nhằm thi hành các bản án, quyết định của tòa án qua thực tiễn thực hiện tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” của tác giả Châu Vũ
Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách hệ thống
và toàn diện các vấn đề về kê biên tài sản bảo đảm tiền vay theo pháp luật thi hành
án dân sự Luận văn là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề liên quan về kê biên tài sản bảo đảm tiền vay theo pháp luật thi hành
án dân sự hiện hành của Việt Nam đặc biệt với thực tiễn áp dụng tại một địa phương là thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn cho việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong thi hành án dân sự từ thực tiễn thành phố Hưng Yên tỉnh Hưng yên trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ những cơ sở lý luận về thi hành án và kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong thi hành án dân sự
- Phân tích về pháp luật kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong thi hành án dân sự, thực tiễn thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên và tìm ra nguyên nhân của thực trạng đó
- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong thi hành án dân sự
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuân khổ luận văn thạc sĩ luật học, tôi tập trung nguyên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong thi hành án dân sự, từ đó rút ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự nhằm nâng cao hiệu quả về kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong thi hành án dân sự tại thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng như khái niệm, đặc điểm kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng, vai trò của kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng; các quy định của Luật THADS về kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng và thực tiễn thực hiện biện pháp này trong những năm gần đây trên địa bàn thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay về kê biên tài sản theo pháp luật thi hành án dân sự
Để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu, trong chương 1 luận văn, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp luận duy vật lịch sử cùng các phương pháp khoa học cụ thể như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp logic
Trong chương 2 và chương 3, luận văn nghiên cứu chủ yếu bằng phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng xuyên suốt để nêu, phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong luận văn
- Phương pháp so sánh, thống kê được sử dụng để cung cấp các số liệu cần thiết, đối chiếu, so sánh, làm rõ thực trạng thực hiện cưỡng chế kê biên tài sản, tìm hiểu các giải pháp hoàn thiện pháp luật
Trang 10- Phương pháp khảo sát thực tế được sử dụng để góp phần tổng kết thực tiễn sâu sắc về cưỡng chế kê biên tài sản
- Phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn cũng được sử dụng trong tiến trình thực hiện luận văn để đưa ra những bình luận, quan điểm, kết luận
về những nội dung nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn đặt ra và luận giải một số quan điểm cơ bản về khái niệm kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong thi hành án dân sự, tìm hiểu đặc điểm, bản chất của kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong thi hành án dân sự, góp phần bổ sung làm phong phú thêm cho hoạt động nghiên cứu khoa học về pháp luật thi hành án dân sự
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ việc đánh giá thực trạng pháp luật kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong thi hành án dân sự, tác giả đã đưa ra được những bất cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành án dân sự
Từ việc đánh giá thực tiễn kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong thi hành án dân sự, tác giả đã phân tích những nguyên nhân và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kê biên tài sản trong thi hành án dân sự tại thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương chính sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về kê biên tài sản bảo đảm tiền vay
ngân hàng theo pháp luật thi hành án dân sự
Chương 2: Quy định của pháp luật và thực tiễn kê biên tài sản bảo đảm tiền vay
ngân hàng theo pháp luật thi hành án dân sự tại thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao
hiệu quả thực hiện kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng tại thành phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN
BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG THEO PHÁP LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng
1.1.1 Khái niệm tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng
Quan hệ tín dụng phát sinh trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng vay Thông thường, để được vay vốn tại các TCTD, khách hàng phải có tài sản hoặc có người bảo lãnh để đảm bảo, dự phòng cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, và người bảo lãnh cũng phải có tài sản để cho nghĩa vụ bảo lãnh, tài sản đó được hiểu là tài sản bảo đảm
Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “tài sản là vật, tiền,
giấy tờ có giá và quyền tài sản” Theo quy định tại điều 174 BLDS 2015 thì tài sản
được quy định bổ sung thêm là bất động sản và động sản Để nhận diện được tài sản thì cần chỉ ra các đặc điểm pháp lý của chúng, theo đó tài sản có các đặc điểm pháp
lý cơ bản như sau: (i) Tài sản phải trị giá được bằng tiền; (ii) Tài sản là những đối tượng mà con người có thể kiểm soát được Nếu là vật hữu hình thì con người phải nắm giữ hoặc chiếm giữ được; nếu là vật vô hình thì phải có cách thức để quản lý
Theo Từ điển Luật học, tài sản bảo đảm là “tài sản được bên bảo đảm dùng
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm thông qua các biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, kí cược, kí quỹ, đặt cọc …”
Điều 295 Bộ luật dân sự năm 2015 đã đề cập đến khái niệm tài sản bảo đảm, theo đó tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu Cụ thể hóa quy định này, Khoản 7 Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm do Chính phủ ban hành ngày 29/12/2006 và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, có hiệu lực kể từ ngày 10
Trang 12tháng 4 năm 2012 đã quy định “Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm.” Tài sản bảo đảm
là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai mà pháp luật không cấm giao dịch Như vậy có thể thấy phạm vi tài sản có thể đem bảo đảm được mở rộng, không chỉ là những tài sản phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm rồi mà còn bao gồm cả những tài sản hình thành trong tương lai, hoa lợi thu được từ cây trồng, hoặc các khoản
có thể thu khác.… chính là những tài sản mà tại thời điểm giao dịch bảo đảm được xác lập, thì những tài sản này chưa hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm
Tài sản bảo đảm tiền vay có những nét đặc trưng cơ bản Thực chất của bảo đảm tiền vay là sử dụng những giá trị của tài sản làm bảo đảm để trả nợ thay cho các khoản vay không có khả năng trả nợ ngân hàng Vậy, tài sản bảo đảm tiền vay phải có giá trị, bản thân nó phải trở thành hàng hoá, có nghĩa là khi chuyển giao quyền sở hữu thì đồng thời cũng phải đạt được sự chuyển đổi từ hiện vật thành giá trị để trả nợ ngân hàng Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với các khoản cho vay có tài sản làm bảo đảm nợ vay là tài sản đó phải là hàng hóa, có giá trị lớn hơn giá trị khoản vay, có thị trường tiêu thụ cho hàng hoá đó để thực hiện nghĩa vụ trả nợ Hay nói cách khác, để ngân hàng chấp thuận một loại bảo đảm tín dụng nào đó, nó phải thoả mãn các điều kiện sau: Phải dễ dàng xác định; Phải có giá trị và tuổi thọ tương đối dài; Ngân hàng phải có khả năng định giá phù hợp với giá trị của tài sản; Phải
dễ bán; Phải có một thị trường hiện tại của nó
Việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự trước hết là dựa vào sự tự giác của các bên nhưng trong thực tế không phải bất cứ ai khi tham gia giao dịch đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình Để nghĩa vụ cam kết được đảm bảo thực hiện và bên có quyền trong quan hệ đó có được thế chủ động trong viêc được hưởng quyền đó, pháp luật cho phép các bên có thể thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự Trong các biện pháp bảo đảm tiền vay thì biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản là biện pháp có tính phổ biến nhất bởi khi bảo đảm bằng tài sản bên cho vay sẽ có được độ an toàn cao hơn, tránh được rủi ro bị thất thoát khoản vay
Trang 13Thứ nhất: Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp
Theo điều 317 Bộ luật dân sự 2015 thì “thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)" Như vậy, thế chấp tài sản là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ do hai bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định
Thế chấp tài sản là hình thức theo đó bên đi vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng các tài sản bảo đảm cho bên cho vay nắm giữ trong thời gian thỏa thuận để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay Tuy nhiên không phải tất cả các loại tài sản đều có thể đem đi thế chấp mà nó phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định, tùy thuộc vào quy định của pháp luật Tài sản là động sản, bất động sản, quyền sử dụng đất có thể thế chấp để bảo đảm tiền vay theo quy định tại Điều 318 Bộ luật dân sự năm 2015
Thứ hai: Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố
Theo điều 309 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Cầm cố tài sản là việcầmột bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ” Như vậy, bản chất của cầm cố là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Theo đó bên
có nghĩa vụ giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên có quyền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ; nếu tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu thì các bên có thể thỏa thuận bên cầm cố vẫn giữ tài sản hoặc giao cho bên thứ ba giữ
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, cầm cố tài sản được hiểu là việc khách hàng (bên vay vốn) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình giao cho tổ chức tín dụng (bên cho vay) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Thứ ba: Bảo đảm tiền vay bằng tài sản của người thứ ba
Bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba là biện pháp bảo đảm trong đó bên thứ
ba sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình thế chấp hoặc cầm cố cho Ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay
Bản chất của bảo đảm bằng tài sản của người thứ ba cũng chính là biện pháp bằng thế chấp hoặc cầm cố tài sản nhưng chủ thể đưa tài sản vào thế chấp hoặc cầm
cố không phải là bên vay vốn mà là người khác
Trang 14Thứ tư: Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành trong tương lai
Thế chấp tài sản hình thành trong tương lai là một biện pháp bảo đảm phổ biến áp dụng trong hoạt động kinh doanh dự án bất động sản, theo đó tài sản hình thành trong tương lại được thế chấp cho Ngân hàng để vay vốn thực hiện dự án Do
đó, pháp luật quy định quyền huy động vốn của chủ đầu tư phải đáp ứng một số quy định tại Điều 147 Luật nhà ở 2014, theo đó Tổ chức, cá nhân xây dựng nhà ở hình thành trong tương lai trên thửa đất ở hợp pháp của mình; tổ chức, cá nhân mua nhà
ở hình thành trong tương lai trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở của chủ đầu tư được thế chấp nhà ở này tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam để vay vốn phục vụ cho xây dựng nhà ở hoặc để mua chính nhà ở đó
Việc thế chấp dự án đầu tư xây dựng nhà ở và thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai chỉ được thực hiện theo quy định tại Luật này; các trường hợp thế chấp tài sản là dự án đầu tư xây dựng nhà ở hoặcầnhà ở hình thành trong tương lai không đúng với quy định tại Luật này thì không có giá trị pháp lý Tài sản hình thành trong tương lai có thể hiểu là loại tài sản tồn tại hoặc chưa tồn tại ở tại thời điểm giao dịch Tuy nhiên, nó được đảm bảo thuộc quyền sở hữu của cá nhân hoặc
tổ chứcầnhất định trong giao dịch về tài sản đó Có nghĩa là tài sản hình thành trong tương lai gồm cả tài sản chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng việc chuyển giao quyền sở hữu cho bên bảo đảm chưa được hoàn thành
1.1.2 Khái niệm kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng
Trong lịch sử hình thành, phát triển của loài người đã trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau Giai đoạn chưa có Nhà nước đó là thời kỳ Công xã nguyên thủy Con người sống từng bầy đàn, xã hội chưa phân chia thành giai cấp, việc quản
lý xã hội bằng uy tín, tự giác trong xã hội Các quan hệ xã hội được giải quyết bằng cách noi gương, giải thích, thuyết phục các thành viên trong xã hội tự nguyện thực hiện, việc cưỡng chế trong giai đoạn này không đặt ra Đến giai đoạn xuất hiện Nhà nước (Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư bản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa) đồng thời xuất hiện các giai cấp trong xã hội, các quan hệ xã hội ngày càng nhiều, các mâu thuẫn, tranh chấp trong xã hội gia tăng Giai cấp thống trị xây dựng nên Bộ máy nhà nước, trước tiên để bảo vệ cho lợi ích của gia cấp mình,
Trang 15đồng thời để quản lý xã hội đi theo một mục tiêu nhất định Đến giai đoạn này nhiều quan hệ xã hội không thể giải quyết bằng biện pháp giáo dục, thuyết phụcầmà phải giải quyết bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước để duy trì trật tự xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển
Như vậy Nhà nước xuất hiện thì cưỡng chế cũng xuất hiện để Nhà nước sử dụng biện pháp cưỡng chế nhằm quản lý, điều hành đất nước và bảo vệ Nhà nước
đó Theo từ điển Chữ nôm Tập 1 thì cưỡng là thúc ép, buộc tuân theo ý trí mình; chế là kìm giữ, nén lại, tạo ra Vậy cưỡng chế là một từ được ghép bởi hai từ cưỡng
và từ chế để tạo thành từ cưỡng chế Theo từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học
do Nhà xuất giáo dục xuất bản năm 1994 viết: " Cưỡng chế là dùng quyền lựcầnhà nước bắt phải tuân theo" Nhưng Theo cuốn từ điển Tiếng việt, Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa năm 2012 làm rõ hơn khái niệm cưỡng chế là thêm hai từ pháp luật: "Cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước bắt phải tuân theo pháp luật" Trong tiếng Anh cưỡng chế là Coerce, có nghĩa là buộc ai phải làm cái gì
Tựu chung lại cưỡng chế được hiểu là Nhà nước dùng quyền lực của mình buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện một hành vi hoặc nghĩa vụ nhất định, theo quy định của pháp luật hoặc là quyền lực xã hội buộcầmọi người phải tuân theo luật, lệ đã đặt ra
Cưỡng chế gằn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là một trong những phương pháp chủ yếu trong hoạt động quản lý nhà nước Trong nhà nước pháp quyền, việc cưỡng chế nhằm mục đích thi hành pháp luật của nhà nước, duy trì trật
tự xã hội Nhà nước thực hiện cưỡng chế thông qua nhiều biện pháp cưỡng chế, những biện pháp cưỡng chế này được nhà nước trao quyền cho các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện như: cưỡng chế hành chính, cưỡng chế trong hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra và cơ quan tòa án và cưỡng chế thi hành án
Trong hoạt động quản lý hành chính và xử lý vi phạm hành chính, cưỡng chế hành chính đượcầuBND và các cơ quan hành chính thực hiện như: cưỡng chế hành chính đối với những đối tượng chống đối không di dời tài sản để giải phóng mặt bằng phục vụ cho quốc phòng hoặc các cá nhân, cơ quan, tổ chức vi phạm hành chính thì các cơ quan có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được
Trang 16quy định tại Khoản 2 Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành chính như kê biên tài sản, khấu trừ tài khoản của cá nhân, tổ chức… Các biện pháp cưỡng chế của cơ quan điều tra được trao quyền cho thủ trưởng cơ quan điều tra thực hiện được quy định tại Điều 128 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về biện pháp kê biên tài sản
áp dụng đối với bị can, bị cáo Trong hoạt động tố tụng cơ quan tòa án cũng được nhà nước trao quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Điều
111 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về các biện pháp khẩn cấp tạm thời như: kê biên tài sản tranh chấp, phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác Ngoài ra cơ quan THADS cũng được nhà nước trao quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS được quy định tại Điều 71 Luật THADS trong đó có biện pháp kê biên, xử lý tài sản …
Theo Giáo trình kỹ năng về thi hành án dân sự của Học viện Tư pháp viết cưỡng chế THADS là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan THADS, do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định Cưỡng chế thi hành án được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án
mà không tự nguyện thi hành án, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc chốn tránh viện thi hành án
Theo Tài liệu bồi dưỡng Chấp hành viên trung cấp định nghĩa cưỡng chế THADS là biện pháp sử dụng quyền lựcầnhà nước để buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa án Biện pháp cưỡng chế do Chấp hành viên quyết định trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án
Qua hai định nghĩa trên chúng ta thấy cưỡng chế THADS đều có những đặc điểm chung đó là chủ thể thực hiện phải là Chấp hành viên là người trực tiếp ra quyết định cưỡng chế; người phải thi hành án phải có điều kiện thi hành án; người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án
Qua đó biện pháp cưỡng chế là phương thức, cách thức dùng quyền lựcầnhà nước buộc các cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của
Trang 17pháp luật, do người có thẩm quyền áp dụng trong các trường hợp cần thiết nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức và xã hội bị xâm hại
Biện pháp cưỡng chế THADS cũng là một trong những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước trao quyền áp dụng trong trường hợp khi bản án, quyết định của tòa
án đã có hiệu lực pháp luật mà các đương sự không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án và chỉ do Chấp hành viện thực hiện Do đó Biện pháp cưỡng chế THADS được hiểu là biện pháp cưỡng chế THADS dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ, do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án
mà không tự nguyện thi hành án
Công tác THADS chỉ là một bộ phận của thi hành án nói chung Ở nước ta hiện nay được phân ra làm hai bộ phận, thi hành án hình sự và THADS Thi hành án hình sự được Chính phủ giao cho Bộ công an quản lý, công tác THADS được Chính phủ giao cho Bộ Tư pháp quản lý Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án hình sự hà khắc hơn biện pháp cưỡng chế THADS Sự khác biệt giữa thi hành án hình sự và THADS được thể hiện ở căn cứ và tính chất của cưỡng chế thi hành án Nếu như căn cứ cưỡng chế thi hành án hình sự là phần hình phạt được tuyên trong quyết định của bản án hình sự đó là hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân và hình phạt tử hình Ngược lại cưỡng chế THADS căn cứ cưỡng chế chủ yếu là các bản án, quyết định dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế và lao động liên quan đến nghĩa vụ tài sản hoặc những hành vi Về tính chất cưỡng chế hình sự có hiệu lực thi hành án ngay sau khi bản án hình sự có hiệu lực pháp luật, tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hình sự đối với người phải thi hành án, họ không có thời gian tự nguyện thi hành án Ngay sau có quyết định thi hành án, người phải thi hành án hình sự phải chấp hành ngay tức khắc, nếu không cơ quan công an tiến hành cưỡng chế bằng việc bắt hoặc dẫn giải người phải thi hành án đến các trại giam để thi hành
án Nhưng đối với việc cưỡng chế THADS chỉ đặt ra khi đương sự có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan THADS ra quyết định thi hành án, giao cho Chấp hành viên thực hiện, Chấp hành viên định cho người phải thi hành án một thời hạn không quá
10 ngày, hết thời hạn trên người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án, mặc
Trang 18dù có điều kiện thi hành án thì lúc này Chấp hành viên mới có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với người phải thi hành án Tuy nhiên trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp cưỡng chế thi hành án mà không cần áp dụng thời gian tự nguyện thi hành án
Kê biên là một động từ ghép bởi hai từ kê và biên Theo từ điển Tiếng việt
của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất giáo dục xuất bản năm 1994 viết: “Kê là viết ra
theo thứ tự từng tên, từng nhóm để ghi nhớ hoặc thông báo” “Biên viết lên trang giấy” Hiện nay, kê biên được hiểu là tạm thời cấm vận chuyển, chuyển đổi, định
đoạt hoặc chuyển dịch tài sản của người vi phạm pháp luật Điều này có nghĩa khi
kê biên một tài sản của một người nào đó thì quyền sở hữu tài sản của họ bị hạn chế, họ không được chuyển đổi, chuyển dịch, định đoạt tài sản bị kê biên đó Mặt khác tài sản bị kê biên phải là của người vi phạm pháp luật, nếu một người không vi phạm pháp luật thì sẽ không bị kê biên
Theo cuốn Từ điển luật học kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm việc thi hành án hình sự, chỉ áp dụng với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định Với nội dung định nghĩa này khái niệm kê biên chỉ ở nghĩa hẹp trong lĩnh vực điều tra hình sự Trên thực tế trong hoạt động quản lý Nhà nước có một số cơ quan Nhà nước được nhà nước được trao quyền thực hiện việc kê biên tài sản đó là cơ quan điều tra của Công an, tòa án nhân dân các cấp, cơ quan quản lý hành chính và cơ quan THADS thì khái niệm đó chưa đầy đủ
Tuy nhiên trong lĩnh vực THADS thì không hoàn toàn đúng theo nghĩa trên theo khoản 3 Điều 71 Luật THADS năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì
kê biên được hiểu là một trong số các biện pháp cưỡng chế THADS, khi Chấp hành viên áp dụng biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án Ở đây yếu tố không tự nguyện thi hành án không đồng nghĩa với việc, người phải thi hành án vi phạm pháp luật thi hành án, bởi vì nhiều trường hợp người phải thi hành án rất muốn bán được tài sản
để trả nợ nhưng không thể bán được vì yếu tố khách quan
Trang 19Vậy, kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ tài sản, đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Trong hoạt động THADS kê biên được hiểu là một trong những biện pháp cưỡng chế THADS Công tác THADS nói riêng và công tác thi hành án nói chung
là một trong những hoạt động quan trọng nhằm khôi phục và bảo vệ các quan hệ xã hội bị xâm hại THADS là hoạt động thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản,
án phí, tiền phạt và quyết định dân sự trong bản án hình sự, phần tài sản trong bản
án, quyết định hành chính và toà án, quyết định của tòa án giải quyết pháp sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý các vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án và phán quyết, quyết định của trọng tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định của tòa án) Việc cưỡng chế chỉ đặt ra khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án và đã hết thời gian tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên mới áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án để buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của mình
Khái niệm kê biên luôn đi cùng với khái niệm các biện pháp cưỡng chế Kê biên tài sản tài sản là một biện pháp cưỡng chế hữu hiện để Nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước của mình Cũng giống như cưỡng chế, kê biên tài sản Nhà nước cũng trao cho các cơ quan khác nhau thực hiện như: Thủ trưởng cơ quan điều tra công
an, Thẩm phán tòa án nhân các cấp… trong đó có Chấp hành viên cơ quan THADS Sự khác biệt này được thể hiện ở những khía cạnh chính là chủ thể áp dụng kê biên và mục đích kê biên Ví dụ chủ thể thực hiện kê biên trong giai đoạn xét xử là thẩm phán giải quyết vụ việc, chủ thể thực hiện kê biên trong giai đoạn thi hành án là do Chấp hành viên Về mục đích kê biên của các cơ quan điều tra và cơ quan tòa án nhằm bảo đảm việc thi hành án, tránh việc tẩu tán, hủy hoại tài sản của bị can, bị cáo, đương sự Nhưng mục đích áp dụng biện pháp kê biên của các cơ quan hành chính và cơ quan THADS là ngoài mục đích như trên còn mục đích xử lý tài sản thanh toán trả tiền cho khoản tiền phạt, khoản thu cho ngân sách nhà nước và chủ nợ
Trang 201.1.3 Đặc điểm của kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng
Cũng như kê biên tài sản nói chung, kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng phải đáp ứng đủ các điều kiện như: Theo bản án, quyết định của tòa án, người phải thi hành án phải có nghĩa vụ trả tiền cho người phải thi hành án; người phải thi hành án phải có tài sản để thi hànhữnghĩa vụ trả tiền cho người được thi hành án Tài sản bị kê biên có thể là tài sản thuộc sử hữu chung, sở hữu riêng của người phải thi hành án, tài sản này có thể do người phải thi hành án hoặc do người thứ ba quản
lý, sử dụng; đã hết thời gian tự nguyện do Chấp hành viên ấn định nhưng người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án hoặc chưa hết thời gian tự nguyện, nhưng cần phải ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản
Kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam có một số đặc điểm như sau:
* Mang tính quyền lực của Nhà nước, chủ thể áp dụng biện pháp kê biên là cá nhân, cơ quan được nhà nước trao quyền thực hiện quyền lực của Nhà nước
Ở bất cứ một Nhà nước nào trên thế giới đều có Bộ máy Nhà nước được phân chia thành ba phân nhánh quyền lực, quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Để thực hiện quyền lực nhà nước, các cơ quan Nhà nước được lập ra
để thực hiện quyền lực nhà nước Hệ thống cơ quan THADS được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo ngành dọc từ Trung ương xuống địa phương bao gồm: Tổng cục THADS thuộc Bộ Tư Pháp, cấp thành phố có Cục THADS tỉnh, cấp huyện có Chi cục THADS huyện Ngoài ra còn có cơ quan THADS trong Quân đội đó là Cục thi hành án thuộc Bộ quốc phòng, Phòng thi hành án thuộc Quân khu Hệ thống cơ quan THADS này thuộc phân nhánh các cơ quan hành pháp thực hiện quyền hành pháp Nhà nước trao cho Hệ thống cơ quan THADS thi hành về phần dân sự của bản án, quyết định của Tòa án Hệ thống cơ quan thi hành án này hoạt động thông qua đội ngũ các bộ, công chức và người lao động Tuy nhiên không phải ai cũng được nhà nước trao quyền thực hiện việc kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng nói riêng và thực hiện các biện pháp cưỡng chế THADS nói chung, Nhà nước chỉ trao cho người có chức danh, trong đó có chức danh Chấp hành viên
Trang 21Chấp hành viên là người được nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định (Điều 17 Luật THADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014) Nội dung của Điều này chỉ ra rằng chỉ có Chấp hành viên mới được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Điều 71 Luật THADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 trong đó có việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng Chấp hành viên là một chức danh tư pháp được Bộ trưởng Bộ
tư pháp bổ nhiệm Điều kiện để được bổ nhiệm Chấp hành viên, phải là Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân luật trở lên, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao,
có thời gian làm công tác pháp luật từ 03 năm trở lên, đã được đào tạo nghiệp vụ THADS, trúng tuyển kỳ thi tuyển thì có thể được bổ nhiệm làm Chấp hành viên Điều 18 Luật THADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 Chấp hành viên được phân thành Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp, sự phân cấp Chấp hành viên này cho phù hợp với từng trình độ của mỗi ngạch Chấp hành viên để thủ trưởng cơ quan thi hành án giao việc cho phù hợp với từng Chấp hành viên trong đơn vị
* Khi bị kê biên tài sản bảo đảm tiền vay của người sử dụng đất bị đặt vào tình trạng bị hạn chế giao dịch
Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng mục đích trước tiên là hạn chế một số quyền sử dụng đất của người phải thi hành án, mà Nhà nước giao cho Khi Chấp hành viên ban hành quyết định cưỡng chế kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng, thì kể từ thời điểm này người phải thi hành án không được tự mình chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, tặng cho, góp vốn và thừa kế tài sản bảo đảm tiền vay, nếu người phải thi hành muốn thực hiện các quyền trên phải thông qua Chấp hành viên phụ trách vụ việc và phải được sự cho phép của Chấp hành viên, đồng thời phải làm theo những điều kiện theo quy định của pháp luật THADS Việc hạn chế một số quyền này chấm dứt khi người phải thi hành án hoàn thànhữnghĩa vụ tài sản của mình đối với người được thi hành án, bằng quyết định giải tỏa kê biên tài sản bảo đảm tiền vay của Chấp hành viên, đến thời điểm này tài sản bảo đảm tiền vay của người phải thi hành án mới không bị hạn chế giao dịch
Trang 22* Cơ sở pháp lý của cưỡng chế kê biên tài sản bảo đảm tiền vay
Kê biên tài sản bảo đảm tiền vay là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự có tính nghiêm khắc nhất trong các biện pháp cưỡng chế THADS, là một hoạt động dựa trên các cơ sở pháp lý được pháp luật qui định chặt chẽ Cơ sở pháp lý ban đầu chính xác, chặt chẽ sẽ làm tiền đề cho thực hiện các thủ tục tiếp theo Kê biên tài sản bảo đảm tiền vay còn là hoạt động nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người phải thi hành án Nếu thực hiện không dựa trên một cơ
sở pháp lý, các thủ tục không được thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật, thì khi có khiếu nại phát sinh mà cơ quan thi hành án không có cơ sở bác đơn khiếu nại của đương sự, buộc phải công nhận khiếu nại là đúng thì cả một quá trình thi hành án bị ngưng trệ, thậm trí có thể phải làm lại từ đầu, gây tốn kém về thời gian, tiền bạc của Nhà nước, tổ chức, công dân Chính vì vậy, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng phải đảm bảo các cơ sở pháp lý sau:
Thứ nhất, theo Bản án, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc
của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, người phải thi hành án
có nghĩa vụ trả tiền cho người được thi hành án Như vậy, khi Bản án, Quyết định
có hiệu lực trên thực tế là cơ sở pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất để chấp hành viên căn cứ vào đó để thực hiện cưỡng chế Kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng đối với người phải thi hành án và người này phải có nghĩa vụ trả tiền đối với người được thi hành án
Thứ hai, đã hết thời gian tự nguyện thi hành án do Chấp hành viên ấn
địnhữngười phải thi hành án không tự nguyện thi hành Do tính chất của THADS khác với thi hành án hình sự là lấy trừng phạt làm đầu Trong THADS cần thiết phải
có thời gian để người phải thi hành án tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình Chính vì vậy tại khoản 1, điều 46 quy đinh “Hết thời gian quy định tại khoản 1 Điều
45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế” Luật THADS đã quy định thời gian tự nguyện
cố định đối với mọi trường hợp là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án
Trang 23Thứ ba, chưa hết thời gian tự nguyện thi hành án nhưng người phải thi hành
án có dấu hiệu tẩu tán, hủy hoại tài sản (tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng) Theo quy định tại khoản 2 Điều 45 LTHADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: “Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp quy định tại Chương IV của luật này” Như vậy, ngay cả khi đang trong thời gian tự nguyện thi hành án, nếu Chấp hành viên phát hiện thấy người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc thực hiện các biện pháp khác nhằm trốn tránh nghĩa vụ phải thi hành án, thì Chấp hành viên cũng có thể áp dụng ngay biện pháp kê biên Tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng để ngăn chặn hành vi nhằm trốn tránh nghĩa vụ của người phải thi hành án
Khi áp dụng biện pháp kê biên Tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng Chấp hành viên nhất thiết phải căn cứ vào các điều kiện nêu trên để áp dụng một cách tốt nhất trong công tác thi hành án của mình đảm bảo được quyền, lợi ích của các chủ thể
* Quyền sử dụng đất là một tài sản đặc biệt trong cưỡng chế kê biên tài sản
để thi hành án dân sự
Theo Hiến pháp năm 2013, Luật đất đai năm 2013 quy định chế độ sở hữu đất đai: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” Như vậy, với tư cách là đại diện chủ sở hữu, Nhà nướcầmới có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với đất đai Tuy nhiên, trên thực tế Nhà nước không trực tiếp quản lý và khai thác lợi ích trên từng mảnh đất mà phần lớn giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài Quyền sử dụng đất ở Việt Nam có tính chất đặc thù, có quan điểm cho rằng: “Nhà nước có quyền sở hữu đất đai, người
sử dụng đất cũng có quyền sở hữu đất đai bằng việc nhà nước ghi nhận quyền chuyển quyền sử dụng đất bao gồm các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất Việc thừa nhận này chính là Nhà nước
đã thừa nhận hình thức sở hữu đất đai có điều kiện, nói cách khác đây gọi là hình thức sở hữu kép đối với đất đai” Tuy nhiên, không thể đồng nhất quyền sở hữu đất đai với quyền sử dụng đất bởi sự khác nhau cả về nội dung và ý nghĩa
Trang 24Quyền sở hữu đất đai là quyền nguyên thủy (có trước), còn quyền sử dụng đất là quyền phái sinh (có sau) xuất hiện khi được nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hay công nhận quyền sử dụng đất
Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ còn quyền sử dụng đất lại không trọn vẹn, đầy đủ Bởi vì, người sử dụng đất không có đầy đủ các quyền năng như Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu Mặt khác, không phải chủ sử dụng đất nào cứ có quyền sử dụng đất hợp pháp là có các quyền chuyển quyền của người sử dụng đất
Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền tồn tại độc lập còn quyền sử dụng đất lại là quyền phụ thuộc Sự phụ thuộc này thể hiện là người sử dụng đất chỉ được sử dụng đất trong phạm vi nhất định (về diện tích đất, thời gian sử dụng đất, mục đích
sử dụng đất) Như vậy, quyền sử dụng đất được hiểu là quyền của người sử dụng đất khai thác các thuộc tính của đất đai, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức
từ tài sản một cách hợp pháp phục vụ cho mục đích của mình và quyền chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
* Đặc điểm về chủ thể áp dụng
Việc quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế, ra quyết định cưỡng chế và tổ chức thực hiện cưỡng chế kê biên Tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng thuộc thẩm quyền của một Chấp hành viên được giao nhiệm vụ thi hành vụ việc thi hành án.Theo qui định của luật thi hành án năm 2008: Chấp hành viên là người được nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các Bản án, Quyết định do Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm Công dân Việt Nam có trình độ cử nhân luật trở lên và một số điều kiện khác như trung thực, phẩm chất, đạo đức tốt và có thời gian công tác pháp luật thì
có thể được bổ nhiệm làm chấp hành viên trong cơ quan thi hành án dân sự ở các địa phương
Chấp hành viên được giao nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án của thủ trưởng cơ quan thi hành án ban hành và là người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng đối với vụ việc thi hành án
đó Dựa trên kết quả sự tự nguyện của người phải thi hành án và điều kiện về tài sản hiện có là tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng của người phải thi hành án Chấp hành
Trang 25viên ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng để đảm bảo thi hành án nghĩa vụ theo Bản án, Quyết định của cơ quan có thẩm quyền
1.1.4 Vai trò của kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng
* Kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng là biện pháp thi hành triệt để bản án, quyết định của Tòa án
Tài sản đem bảo đảm tiền vay ngân hàng thường là là tài sản có giá trị lớn, vì vậy khi Chấp hành viên thực hiện biện pháp cưỡng chế này phần lớn thi hành triệt
để bản án, quyết định của tòa án có nghĩa vụ tài sản có giá trị lớn mà các biện pháp cưỡng chế khác không mang lại hiệu quả như biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, kê biên tài sản có giá trị không lớn, Thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án… Mặt khác đối với người phải thi hành
án, phải thi hành nhiều bản án, quyết định của tòa án, do đó họ phải thực hiện nhiều nghĩa vụ về trả tiền thì việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ bảo đảm thi hành triệt để không những một bản án, quyết định mà còn thi hành triệt để nhiều bản án, quyết định của Tòa án
* Kê biên tài sản bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành
án và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án
Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng vì lý do hoặc lợi ích cá nhân nào đó người phải thi hành án không muốn tự nguyện thi hành án, họ nại ra nhiều lý do bất hợp pháp để chốn tránh hoặc kéo dài việc thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người được thi hành án Trong trường hợp này Chấp hành viên thực hiện biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản bảo đảm nhằm bảo đảm cho việc thi hành án, đảm bảo cho lợi ích cả hai bên người phải thi hành án và người được thi hành án, bởi vì kể từ thời điểm Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế kê biên tài sản bảo đảm của người phải thi hành án thì các khoản nợ có đến thời điểm này đều được bảo đảm thanh toán trước Người phải thi hành án không thể kéo dài thêm thời gian thực hiện nghĩa vụ của mình, nhằm mục đích kéo dài thời gian thi hành án chờ thời cơ có lợi cho mình Người được thi hành án thì nhận được lợi ích vật chất mình được hưởng theo bản án, quyết định của tòa án với thời giam nhanh nhất Việc thực
Trang 26hiện xong bản án, quyết định của tòa án tránh được tổn thất về vật chất và tinh thần cho cả hai bên, người được thi hành án và người phải thi hành án
* Kê biên tài sản bảo đảm tiền vay còn nhiệm vụ là ngăn ngừa tình trạng tẩu tán tài sản bảo đảm, giáo dục ý thức pháp luật cho công dân
Kê biên tài sản bảo đảm tiền vay là một biện pháp cưỡng chế lớn phải huy động nhiều lực lượng, liên quan đến nhiều ngành, cấp và được đưa lên thông tin đại chúng Vì vậy thông qua buổi cưỡng chế kê biên tài sản bảo đảm tiền vay nhằm ngăn ngừa những đối tượng đã vay ngân hàng trây ỳ, chống đối không thực hiện nghĩa vụ của mình Mặt khác thông qua buổi cưỡng chế nhằm giáo dục ý thức pháp luật cho mỗi công dân hiểu biết thêm pháp luật về THADS để họ tự điều chỉnh hành
vi của mình trong những trường hợp tương tự
1.2 Cơ sở và phân loại kê biên kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng
1.2.1 Cơ sở của việc kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng
Tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng là một loại tài sản nên có thể được giao dịch dân sự, điều này được quy định trong Bộ luật dân sự, tài sản bảo đảm được thực hiện trong các giao dịch dân sự như chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, tặng cho, góp vốn và thừa kế Hiện nay ở khắp nơi trên cả nước việc chuyển nhượng và chuyển đổi mục đích sử dụng tài sản bảo đảm tiền vay gia tăng với lượng lớn mang lại nhiều nguồn lợi lớn cho Nhà nước, tổ chức và cá nhân Với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta coi tài sản bảo đảm tiền vay là một nguồn lực cho đầu tư công nghiệp hóa và hiện hóa đất nước Cùng với sự phát triển của đất nước việc kê biên tài sản bảo đảm tiền vay trong những năm gần đây ngày càng gia tăng về số vụ việc trong các cơ quan THADS
Tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng là một loại tài sản có thể quy ra bằng tiền, việc kê biên bán đấu giá có tính khả thi cao trong việc thi hành nhiều nghĩa vụ THADS
Kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế được quy định trong Luật thi hành
án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 tại Điều 71 là một trong hai biện pháp của cơ quan thi hành án dân sự, biện pháp còn lại của cơ quan thi hành án dân sự là tự nguyện thi hành án Cơ sở của việc kê biên tài sản thể hiện ở những nội dung như
Trang 27Trước hết kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và khôi phục lại những quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ Trong quá trình giải quyết một vụ án tranh chấp tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng thì chỉ kết thúc khi bản án quyết định của Tòa án được thi hành đúng kịp thời đầy
đủ theo quy định của Toà án Công tác thi hành án dân sự không được các bên quan tâm và không có hiệu quả thì sẽ có nhiều khả năng ảnh hưởng tiêu cực lớn, tác động đến toàn bộ hoạt động của Cơ quan Điều tra công an; Truy tố của Viện kiểm sát; Xét xử của Toà án, trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực nhà nước giảm sút không được coi trọng, quyền lời và lợi ích hợp pháp của công dân, các đương sự bị xâm hại
Thi hành án dân sự đạt được hiệu quả sẽ mang lại niềm tin cho nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật trong công tác thi hành án nói riêng và pháp luật nói chung, góp phần khôi phục lại nh ng quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ
Thi hành án là thước đo hiệu quả hoạt động xét xử nhân danh của Tòa án và hoạt động tư pháp khác Hoạt động điều tra, truy tố và xét xử diễn ra rất phức tạp, kéo dài và tốn kém của nhà nước, song nh ng hoạt động đó có thể chỉ là con số không nếu như bản án, quyết định của Tòa án không được đưa ra thi hành trên thực
tế một cách nghiêm minh đúng quy định Với ý nghĩa đó, thi hành án dân sự là một hoạt động không thể thiếu được trong quá trình bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của đương sự nh ng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
1.2.2 Phân loại kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng
CHV chỉ kê biên tài sản của người phải THA tương ứng với nghĩa vụ THA
và các chi phí cần thiết Đó là các chi phí do người phải THA chịu theo qui định tại Điều 73 LTHADS 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 Vì vậy khi kê biên tài sản của người phải THA, CHV phải tạm tính giá trị các tài sản định kê biên và các chi phí để kê biên tương ứng với mức vừa đủ để THA CHV có thể dựa vào giá thị trường của tài sản tại thời điểm tiến hành việc kê biên, hay có thể tham khảo ý kiến của các cơ quan chức năng có liên quan và của cả các bên đương sự để tạm tính giá trị tài sản kê biên
Trang 28Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên sẽ tác động trực tiếp đến các chủ thể sau: Người được THA, người phải THA, người có quyền và nghĩa vụ liên quan Những người này có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức Tùy theo chủ thể là người được hay người phải THA mà họ sẽ được hưởng những quyền lợi cũng như phải thực hiện những nghĩa vụ khác nhau Nhưng dù được hưởng quyền lợi hay phải thực hiện nghĩa vụ thì chỉ có một loại đối tượng phải chịu tác động đó là tài sản kê biên Tài sản này có thể là động sản hay bất động sản nhưng nó phải thuộc quyền sở hữu của người phải THA Để tránh sự tùy tiện, áp đặt của CHV, đảm bảo nguyên tắc người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản của chính mình, không xâm phạm đến tài sản của người khác Khi kê biên phải đảm bảo nguyên tắc tài sản
kê biên tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành và các chi phí có liên quan, trừ trường hợp đặc biệt là tài sản này lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành Tuy nhiên không phải tất
cả các loại tài sản đều có thể bị kê biên, có những loại tài sản do tính chất đặc thù của chính nó qui định hoặc do ý thức chủ quan của con người qui định mà nó sẽ không phải là đối tượng bị kê biên
Thứ nhất, kê biên tài sản thuộc sở hữu chung
Với những qui định cụ thể của LTHADS 2008 được sửa đổi bổ sung năm
2014 so với PLTHADS 2004 về cưỡng chế tài sản thuộc sở hữu chung đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho CHV cũng như bảo đảm được quyền lợi cho các đương sự
LTHADS năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 qui định: “Trường hợp chưa
xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
LTHADS năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 đã phân định rõ ràng hai trường hợp kê biên tài sản thuộc sở hữu chung với người khác và tài sản thuộc
sở hữu chung với vợ chồng ra riêng hai phần giúp cho CHV dễ dàng xác định phần
sở hữu của người phải THA trong khối tài sản chung Đây là một điểm tiến bộ vượt bậc so với PLTHADS 2004 Ở PLTHADS 2004 chỉ qui định: “khi không có tài sản
Trang 29riêng thì CHV mới được kê biên phần tài sản của người phải THA trong khối tài sản thuộc sở hữu chung với người khác” Bởi lẽ, cả hai loại tài sản thuộc sở hữu chung này đều được xác định theo qui định của BLDS 2004, nhưng riêng tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng còn dựa theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình
Luật qui định cho phép chủ sở hữu chung được quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho mình Điều này thể hiện tính dân chủ đồng thời có thể bảo vệ lợi ích của các đồng sở hữu chung trong trường hợp tài sản bị kê biên để THA Tuy nhiên, trên thực tế nếu đương sự khởi kiện để yêu cầu Tòa án xác định phần sở hữu của mình thì việc THA sẽ rất kéo dài Bởi lẽ, việc THA phải chờ vào kết quả phân chia của Tòa án Mà quá trình tố tụng của một vụ án dân sự phải m t nhiều năm, chưa kể có nhiều vụ phải xử đi xử lại hàng chục lần Đây cũng đang là vấn đề nan giải, bởi nếu không cho chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện là không đúng với nguyên tắc đương sự có “quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo Bộ luật tố tụng dân sự
Bởi những tài sản phải đăng kí quyền sở hữu thường là những tài sản có giá trị rất lớn, tài sản có thể bảo đảm khả năng thanh toán cao cho chủ sở hữu trong trường hợp chủ sở hữu phải thực hiện nghĩa vụ theo qui định của pháp luật Căn cứ vào qui định trên khi kê biên tài sản chung của vợ chồng CHV cần lưu ý:
+ Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên buộc vợ hoặc chồng phải THA thì CHV chỉ được kê biên tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng Nếu người phải THA không có tài sản riêng hoặc có nhưng không đủ để thi hành thì kê biên phần tài sản của người đó trong khối tài sản chung của vợ chồng Qui định nhằm đảm bảo quyền lợi cho vợ hoặc chồng còn lại và giữ nguyên tắc nghĩa vụ của
ai thì người đó chịu Nếu tài sản chung không thể phân chia, CHV có quyền kê biên toàn bộ tài sản và giải thích cho vợ hoặc chồng còn lại quyền ưu tiên mua phần tài sản của người kia Nếu vợ hoặc chồng không mua thì sau khi bán tài sản, CHV thanh toán lại cho họ 1/2 giá trị tài sản và trích lại cho người phải THA số tiền cần trợ cấp cho việc nuôi con chưa thành niên, người tàn tật hoặc người khácầmà người phải THA đang có trách nhiệm nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng nuôi con khi chưa đủ 18 tuổi theo qui định của pháp luật Đồng thời cũng đảm bảo được tính nhân đạo trong việc trích lại số tiền
đủ để thực hiện trợ cấp cho những đối tượng theo qui định của pháp luật
Trang 30Vai trò của Nhà nước là nhằm an sinh xã hội, đảm bảo cuộc sống của người dân luôn được ấm no, do đó trong mọi hoàn cảnh kể cả khi đương sự phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án vẫn phải tính đến việc đảm bảo cho cuộc sống cho người phải THA và gia đình đủ điều kiện để tiếp tục sinh sống
+ Trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng gồm nhiều loại tài sản thì CHV căn cứ vào giá trị của từng tài sản để kê biên loại tài sản có giá trị tương ứng với số tiền và chi phí để THA Đây là cơ sở để CHV kê biên tài sản của đương sự trong điều kiện đương sự có rất nhiều loại tài sản Song song đó qui định này còn ngăn chặn được tình trạng “vượt quyền của CHV”, bởi nếu không qui định như vậy thì CHV có thể kê biên tài sản nào cũng được, bất kể tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ phải THA rất nhiều
Theo khoản 2 Điều 74 LTHADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì: Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định đượcấphần sở hữu của các chủ
sở hữu chung được xử lý Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên
áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án; Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ
Như vậy, đối với tài sản chung thì mỗi chủ sở hữu chung sẽ có quyền và nghĩa vụ tương ứng với phần quyền sở hữu của mình Khi đó, nếu một chủ sở hữu chung bị áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên thì CHV chỉ được kê biên phần tài sản thuộc sở hữu của người này trong khối tài sản chung Từ đó cho thấy, việc xác định khối tài sản chung này phụ thuộc vào ý chí chủ quan của CHV Vì vậy, không thể tránh khỏi trường hợp có những tài sản có thể chia được nhưng CHV lại tiến hành kê biên toàn bộ tài sản làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các chủ sở hữu khác
Thứ hai, kê biên đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản đặc biệt bởi nó không phải là tài sản hữu hình mà là tài sản vô hình, tài sản do trí tuệ của con người tạo ra Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ bao gồm: Quyền tác giả
Trang 31và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng (khoản 1 điều 4 Luật SHTT)
Trường hợp người phải THA là chủ sở hữu quyền SHTT chuyển QSD quyền SHTT cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền SHTT vẫn bị kê biên Theo qui định tại BLDS năm 2005 thì quyền sở hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền
sử dụng, quyền định đoạt tài sản Do đó, khi người phải THA chỉ chuyển QSD cho đối tượng khác thì tài sản đó vẫn bị kê biên vì chủ sở hữu chỉ chuyển quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản nhưng vẫn còn quyền chiếm hữu và quyền định đoạt tài sản
Tuy nhiên, đối với trường hợp nhằm đảm bảo mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích nhà nước, xã hội mà Nhà nước qui định chủ SHTT phải chuyển giao quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất định thì CHV không được kê biên quyền SHTT của người phải THA trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao
Thứ ba, kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng kí quyền sở
hữu hoặc đăng kí giao dịch bảo đảm
Một là, kê biên tài sản là quyền sử dụng đất: Để giải quyết được những vướng mắc trên, PLTHADS 2004 và LTHADS năm 2008 được sưả đổi, bổ sung năm 2014 đã đưa QSD trở thành một trong những loại tài sản được phép kê biên để THA Theo qui định tại Điều 89 LTHADS năm 2008 thì “CHV yêu cầu cơ quan đăng kí cung cấp thông tin về tài sản” Các cơ quan này phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản cho CHV trong thời hạn 5 ngày làm việc để CHV quyết định có kê biên tài sản hay không
Hai là, kê biên tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm: Trước khi kê biên tài sản phải đăng kí quyền sử hữu hoặc đăng kí giao dịch bảo đảm, CHV phải yêu cầu cơ quan đăng kí quyền sở hữu cung cấp thông tin về quyền sở hữu của người phải THA, yêu cầu cơ quan đăng kí giao dịch bảo đảm cung cấp thông tin về tài sản dự định kê biên có đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người phải THA đối với người có quyền hay không Trên cơ sở
đó, CHV mới có căn cứ để tiến hành áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản
Trang 32Sau khi kê biên CHV phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng kí về việc kê biên tài sản để xử lý theo qui định tại khoản 2 điều 89 LTHADS 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014
Thứ tư, kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp
Trường hợp người phải THA không còn tài sản nào khác hoặc có nhưng không đủ để THA thì CHV có quyền kê biên xử lý tài sản của người phải THA đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và các chi phí cưỡng chế THA Đối với các tài sản của người phải THA đang được cầm cố, thế chấp hợp pháp trong các giao dịch dân sự mà có giá trị lớn hơn toàn bộ các nghĩa vụ được bảo đảm theo hợp đồng thế chấp, cầm cố cộng với các chi phí cho việc kê biên, xử lý tài sản thì CHV được quyền kê biên tài sản của người phải THA để bảo đảm THA mặc dù hợp đồng cầm cố, thế chấp chưa đến hạn Quy định này gây ảnh hưởng bất lợi quyền chủ nợ hợp pháp của tổ chức tín dụng vì khi tổ chức tín dụng buộc phải thực hiện thu nợ trước hạn đối với khoản vay được bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp đã bị kê biên, thì số tiền tổ chức tín dụng thu được từ giao dịch này có thể ít hơn số tiền dự tính thu được theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng do thời gian cho vay bị rút ngắn và giá trị thu hồi tài sản bảo đảm thường giảm đáng kể do bị kê biên
Tuy nhiên để đảm bảo lợi ích hợp pháp cho người nhận cầm cố, thế chấp LTHADS 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 qui định khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp phải thông báo cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp biết để những người này tự bảo vệ quyền lợi cho chính mình và kịp thời tham gia khi kê biên tài sản
Thứ năm, kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
CHV có quyền kê biên tài sản của người phải THA đang do người thứ ba giữ, kể cả trường hợp tài sản được xác định bằng bản án, quyết định khác Người thứ ba có thể giữ tài sản của người phải THA bằng phương thức sau: Thuê, mượn, sửa chữa, bảo quản, sử dụng.Tài sản được xác định bằng bản án, quyết định có thể
là các khoản nợ mà người thứ ba đang nợ người phải THA và khoản nợ này đã được xác định bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Khi có căn cứ xác định tài sản đó là của người phải THA thì CHV ra quyết định kê biên tài sản đó để THA Điều này có thể tránh được khả năng người phải THA tẩu tán, hủy hoại tài sản
Trang 33Để đảm bảo quyền lợi của người thuê trong trường hợp tài sản thuê bị kê biên thì LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 cho phép người thuê được tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê trong thời gian còn lại của hợp đồng với người trúng đấu giá tài sản bị kê biên
Thứ sáu, kê biên vốn góp
LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã qui định vốn góp cũng là tài sản có thể bị kê biên để THA Thật vậy, vốn góp là một loại tài sản có giá trị rất lớn, khả năng đảm bảo THA của loại tài sản này được đánh giá cao trong thời điểm hiện nay Khi đó, CHV có quyền yêu cầu “cá nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải THA có vốn góp cung cấp thông tin về phần vốn góp của người phải THA” để kê biên phần vốn góp đó, để CHV dễ dàng tiến hành kê biên Cần phải qui định thêm trường hợp những cá nhân, cơ quan, tổ chức này phải chịu trách nhiệm khi không cung cấp thông tin hoặc cố tình cung cấp thông tin sai sự thật để người phải THA có cơ hội tẩu tán tài sản bằng những giao dịch khác; Trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn xác định phần giá trị vốn góp của người phải THA để THA Tiếp tục phát huy nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, trong trường hợp đương sự không tin tưởng vào kết quả xác định về giá trị phần vốn góp của CHV thì pháp luật cho phép đương
sự được quyền yêu cầu Tòa án xác định theo khoản 2 điều 92 LTHADS 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng
1.3.1 Yếu tố pháp luật
Yếu tố chính trị, pháp luật có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, đặc biệt là các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật, vì nó củng cố ý thức và niềm tin chính trị của cán bộ, đảng viên, và quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của đảng, gia tăng lập trường chính trị - tư tưởng của các cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật nói chung và kê biên tài sản để thi hành án nói riêng
Muốn cho pháp luật được tôn trọng và thưc hiện nghiêm túc thì cán bộ đảng viên phải là những người đi trước, gương mẫu thực hiện và có “năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của đảng pháp luật của nhà nước, công tâm,
Trang 34thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân” Chính vì vậy, đảng ta luôn quan tâm và chỉ đạo sâu sát đối với cácầmặt hoạt động pháp luật trong đó có thực hiện pháp luật
Nhưng bên cạnh đó cũng có một số cán bộ lãnh đạo đảng lợi dụng sự lãnh đạo của mình can thiệp sâu vào việc kê biên tài sản của đương sự để thi hành án Đặc biệt đương sự là người thân người quen của đồng chí từ thực tế nêu trên cán
bộ thi hành án còn nễ nang dung túng làm cho công tác kê biên tài sản bảo đảm để thi hành án ảnh hưởng đến quyền lợi của người được thi hành án
1.3.2 Yếu tố về năng lực tổ chức và thực hiện
Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, lãnh đạo Bộ tư pháp thì đội ngũ CHV cũng được đào tạo một cách cơ bản Tuy nhiên, vẫn còn có một số CHV làm công tác THA chất lượng chưa cao, phần lớn mới vào ngành nên còn thiếu bản lĩnh nghề nghiệp, kiến thức xã hội chưa đủ tiêu chuẩn, điều kiện để đề bạc
bổ nhiệm vào các chức danh, chức vụ Vẫn còn một số cá nhân thiếu nỗ lực phần đấu, học tập tu dưỡng rèn luyện kỹ năng đạo đức nghề nghiệp nên đã không theo kịp sự phát triển của ngành, năng lực làm việc chưa đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ đặt ra Chính vì vậy, chất lượng THA chưa đạt được kết quả như mong muốn, trong công tác kê biên tài sản còn nhiều hạn chế, số lượng án tồn đọng ngày càng nhiều chưa thể giải quyết dứt điểm “một sớm, một chiều”
Lãnh đạo một vài cơ quan THA chưa thực sự chủ động, tích cực trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, thiếu tập trung trong quản lý điều hành dẫn đến hậu quả là các CHV cũng chậm trong khi thi hành công vụ Thế nhưng hiện nay, trong công tác THA, lãnh đạo một vài cơ quan còn chưa làm việc hết lòng, chưa đủ tư cách, phẩm chất của một người lãnh đạo Bên cạnh đó, do nội bộ chưa có sự đoàn kết chặt chẽ, thống nhất hướng vào mục đích chung nên hiệu quả THA không cao
Do còn thiếu phương pháp, từng nơi, từng lúc chưa đi sâu tìm hiểu nội dung, nguyên nhân khiếu nại từ đó dẫn đến việc giải quyết khiếu nại chưa thỏa đáng, không phù hợp với lòng dân kéo theo tình trạng án tồn đọng cao Nhiều CHV chưa thực sự tích cực, quyết liệt đối với những vụ việc phức tạp, khó khăn, còn ngại khó, ngại va chạm Do ngại khó nên những người này đã không thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực
Trang 35đạo đức của một CHV, không vô tư, khách quan trong khi tiến hành kê biên tài sản làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người được THA Gây mất lòng tin trong nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của ngành THADS
1.3.3 Yếu tố nhận thức
Yếu tố địa lý, văn hoá, trình độ dân trí, có một số địa phương còn có kinh tế
xã hội tương đối khó khan, văn hoá chậm phát triển trình độ dân trí của một số bộ phận đương sự ít hiểu biết, tiết cận pháp luật khó khăn, không biết gì đến pháp luật, chỉ hành xử theo tập tục tập quán trong cuộc sông hàng ngày, từ thực tế nêu trên cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc kê biên tài sản để thi hành án
Một số địa phương tình trạng quá tải công việc của cơ quan thi hành án ngày càng nhiều, quá tải về số lượng vụ việc phải thi hành án nhưng biên chế không tăng
Pháp luật thi hành án dân sự được bảo đảm thực hiện trong đời sống xã hội, phát huy được tác dụng, đòi hỏi các chủ thể thực hiện phải nhận thức đ y đủ vị trí, vai trò và ý nghĩa thiết thực của nó, từ đó chủ động có các biện pháp thích hợp để
tổ chức thực hiện tốt nh ng qui định của pháp luật về kê biên tài sản để thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự Chương 1 – Những vấn đề lý luận về kê biên tài sản bảo đảm tiền vay - Trên nền tảng lý luận đó, tác giả vận dụng vào thực tiễn của thành phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên, đánh giá thực trạng kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng trong phần tiếp theo của luận văn
Trang 36Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN KÊ BIÊN TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY NGÂN HÀNG THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ TẠI THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN
2.1 Quy định của pháp luật về kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng theo pháp luật thi hành án dân sự
2.1.1 Quy định về nguyên tắc kê biên
* Chấp hành viên mới có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên
Chấp hành viên phải là công dân Việt Nam có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, được đào tạo lớp nghiệp vụ Chấp hành viên
và phải qua kỳ thi tuyển Chấp hành viên Chấp hành viên gồm Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp; Chấp hành viên được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm; Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm
vụ thi hành các bản án, quyết định của toà án Theo quy định của Điều 17 Luật THADS chỉ có Chức danh Chấp hành viên mới có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế, trong đó có biện pháp kê biên tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng
* Chỉ được kê biên tài sản bảo đảm tiền vay tương ứng với nghĩa vụ thi hành án
Về nguyên tắc Chấp hành viên chỉ kê biên tài sản bảo đảm tiền vay tương ứng với nghĩa của người phải thi hành án, vì vậy Chấp hành viên phụ trách vụ việc cần phải cân nhắc kỹ trước khi kê biên tài sản bảo đảm tiền vay của người phải thi hành án làm sao tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án Để thực hiện đúng nguyên tắc này Chấp hành viên phải đáng giá sơ bộ giá trị của tài sản bảm đảm tiền vay trước khi kê biên bằng cách trưng cầu các cơ quan chức năng thẩm định giá Giá trị của tài sản bảo đảm tiền vay kê biên sau khi trừ đi các chi phí và phần nghĩa
vụ phải thực hiện phải bảo đảm ngang bằng, tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành
án tránh trường hợp kê biên tài sản bảo đảm tiền vay với giá quá lớn gây tổn hại đến quyền lợi của người phải thi hành án Nguyên tắc này không những bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án mà còn bảo vệ về quyền tài sản của người phải thi hành án, tránh những tổn thất cho các bên đương sự Tuy nhiên trường hợp người
Trang 37phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê tài sản bảo đảm tiền vay của người phải thi hành án để thi hành án
* Không tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản bảo đảm tiền vay trong những thời gian mà pháp luật quy định không được cưỡng chế thi hành án
Nhà nước Việt nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,
do Nhân dân và vì Nhân dân; do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với gia cấp nông dân và đội ngũ trí thức Với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể hiện tính nhân đạo trong hoạt động quản lý Nhà nước, Điều 13 khoản 2 Nghị định số 62 ngày 18/7/2015 quy định cơ quan THADS không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án Nguyên tắc này thể hiện tính nhân đạo ở chỗ tránh cho người phải thi hành án không bị cưỡng chế kê biên tài sản bảo đảm tiền vay trong các ngày tết, ngày lễ và những ngày truyền thống của họ được hưởng như ngày thương binh, liệt sĩ mà họ là đối tượng được hưởng …
* Không tổ chức cưỡng chế kê biên tài sản bảo đảm tiền vay thuộc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên
Cơ quan THADS trước khi kê biên quyền sử đất Chấp hành viên cần phải xácầminh kỹ lưỡng, chi tiết nguồn gốc của tài sản bảo đảm tiền vay xem có phải là những đất đai có nguồn gốc Nhà nước giao cho các tổ chức quản lý, sử dụng vì mục đíchấphục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách Nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức Ví dụ như tài sản bảo đảm tiền vay giao cho quân đội làm doanh trại, làm nhà máy, nhà xưởng, kho bãi, trường bắn… cũng như tài sản bảo đảm tiền vay được cấp cho các cơ quan đảng, cơ quan Nhà nước trong bộ máy Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội làm trụ sở làm việc
Ngoài ra, Chấp hành viên còn phải xác định những tài sản bảo đảm tiền vay Nhà nước giao cho tổ chức là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xây dựng nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản
Trang 38khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh Đây là những tài sản gắn liền với tài sản bảo đảm tiền vay của các sở sản xuất, kinh doanh nhằm phục vụ cho người lao động an tâm công tác, tận tâm, tận lực hết sứcầmình phục vụ cho doanh nghiệp, gắn với doanh nghiệp vì mục tiêu phát triển bền vững của doanh nghiệp Tất cả những bất động sản nêu trên đều được Nhà nước bảo đảm không được kê biên để thi hành án
* Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong cưỡng chế kê biên tài sản bảo đảm tiền vay
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và
cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan THADS trong việc thi hành án Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan THADS, Chấp hành viên theo quy định của pháp luật THADS Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan THADS đều bị xử lý theo quy định của pháp luật
2.1.2 Quy định về xử lý tài sản kê biên
Các khoản chi phí kê biên
Trong quá trình xử lý kê biên tài sản bảo đảm tiền vay Chấp hành viên phải chi các khoản chi phí trong quá trình như thẩm định giá, bán đấu giá, chi phí cho đoàn cưỡng chế kê biên QSDĐ, chi phí cho việc thuê nơi gửi, gữi tài sản và giao QSDĐ cho người trúng bán đấu giá QSDĐ
Ngoài ra trong trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm
Thanh toán các khoản ưu tiên
Thứ nhất: Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố,
thế chấp không phải là người được thi hành án thì người nhận cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán trước khi trừ các chi phí và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014
Trang 39Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, bị kê biên được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm sau khi trừ các chi phí và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014
Thứ hai: Những khoản ưu tiên thanh toán đó là tiền cấp dưỡng; tiền lương,
tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần Đây là những khoản tiền cần thiết cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày của người lao động nên thứ
tự ưu tiên hàng đầu mặc dù những khoản tiền không có những hợp đồng bảo đảm cho những khoản tiền họ được hưởng
Thanh toán những khoản nộp Ngân sách Nhà nước
Ngoài những khoản ưu tiên trên khi thanh toán trên Chấp hành viên phải tính đến những khoản tiền nộp ngân sách Nhà nước như:
- Án phí, lệ phí tòa án là khoản tiền được xác định trong bản án, quyết định của tòa án gồm án phí không có giá ngạch và án phí có giá ngạch, lệ phí chi cho định giá QSDĐ trước khi xét xử Khoản tiền này thu để bù đáp một phần ngân sách Nhà nước chi cho công tác xét xử cho nên pháp luật THADS xếp vào những khoản
ưu tiên chi trả trước;
- Tiền phạt là khoản tiền xác định trong bản án, quyết định của tòa án bao gồm cả tiền phạt trong hình phạt chính và hình phạt bổ sung được quy định trong một số tội được quy định trong Bộ luật hình sự;
- Khoản tiền tịch thu sung quỹ Nhà nước và khoản truy thu thu tiền thu lợi bất chính cũng là những khoản tiền xác định trong bản án, quyết định của tòa án, đây là những khoản tiền do bị cáo thu lợi trong quá trình phạm tội có được
Thanh toán các khoản thi hành án khác
Khoản tiền còn lại được thanh toán là khoản bồi thường, các khoản vay, khoản tiền đóng góp công sức, khoản đóng góp phí tổn nuôi con, và các khoản khác
Trường hợp có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành
án được thực hiện như sau:
Trang 40- Trường hợp trong cùng một hàng ưu tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được thi hành án;
- Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho những người được thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó; số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán;
- Sau khi thanh toán các khoản chi phí, thuê nhà và các khoản theo bản án, quyết định, số tiền còn lại được trả cho người phải thi hành án
2.1.3 Quy định về trình tự, thủ tục kê biên tài sản
Về nguyên tắc khi một người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên thì CHV phải kê biên tài sản thuộc sở hữu riêng của người này trước, khi không đủ mới tiến hành kê biên tài sản thuộc sở hữu của người này trong khối tài sản chung với người khác Nhằm cụ thể hóa qui định của BLDS về tài sản chung và để giải quyết vướng mắc trong các trường hợp xác định đương sự có tài sản chung nhưng tài sản chung không xác định được hoặc các bên không thỏa thuận được về phần sở hữu của người phải THA, Điều 74 LTHADS 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 qui
định: “Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử
dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thoả thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo
mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự Chấp hành