Địa lí là một bộ môn khoa học với lượng kiến thức rộng bao gồm Khoa học tựnhiên và Khoa học xã hội là môn khoa học xuất phát từ thực tế và trở về phục vụcho đời sống khoa học và đời sống
Trang 1MỤC LỤC
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 32.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo 17-18
dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Trang 21 MỞ ĐẦU
1.1.Lý do chọn đề tài.
Địa lí là một bộ môn khoa học với lượng kiến thức rộng bao gồm Khoa học tựnhiên và Khoa học xã hội là môn khoa học xuất phát từ thực tế và trở về phục vụcho đời sống khoa học và đời sống xã hội vì vậy trong quá trình biên soạn ngoàiphần kiến thức lí thuyết thì trong bộ môn còn được thể hiện kiến thức Địa lí thôngqua các bài thực hành được thể hiện cụ thể qua các bảng số liệu các bài tập, sơ đồ ,biểu đồ Vì vậy rèn luyện các kỹ năng làm các dạng bài tập biểu đồ là một yêu cầurất quan trọng của việc học tập môn Địa lí đặc biệt là đối với các em học sinh khốilớp 9 càng quan trọng hơn nữa, bởi ở lớp 9 không chỉ đòi hỏi các em làm các bước
cơ bản mà đòi hỏi các em phải hình thành được kỹ năng Địa lí thuần thục để từ đóhọc tốt bộ môn Địa lí
Trong chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 9 hiện hành gồm có 52 tiết học,thì trong đó đã có tới 11 tiết thực hành; trong đó có 6 tiết về vẽ biểu đồ và có 13bài tập về rèn luyện kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ sau các bài học của học sinh,trong phần câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa Như vậy chúng ta thấy đượcmôn Địa lí lớp 9 hiện nay không chỉ chú trọng đến việc cung cấp cho học sinhnhững kiến thức lí thuyết, mà còn giúp các em rèn luyện những kỹ năng địa lí cầnthiết, đặc biệt như kỹ năng tính toán xử lí bảng số liệu, vẽ biểu đồ, nhận xét và giảithích các nguyên nhân dựa vào biểu đồ và bảng số liệu Bởi thông qua biểu đồ các
em sẽ thấy được các mối liên hệ giữa những đối tượng địa lí đã học, từ đó giảithích được và thấy được tình hình, xu hướng phát triển hoặc không phát triển củacác đối tượng §ịa lí Hoặc từ các bảng số liệu, các biểu đồ mà các em vừa sử lí,phân tích, nhận xét sẽ cho các em những hiểu biết mới những kiến thức mới từ đócác em sẽ học tập ngày một tốt hơn và đặc biệt hơn nữa là sẽ tạo ra những conngười có tri thức mới, năng động sáng tạo, nhạy bén, sử dụng tốt kiến thức Địa lícủa mình vào các tình huống mới và giải quyết tốt các vấn đề trong thực tiễn cuộcsống hàng ngày và nắm bắt được xu thế phát triển của xã hội đang sinh sống và sựphát triển của thế giới
Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy tại trường THCS Ngọc Khêbản thân tôi nhận thấy, với nhiều em học sinh lớp 9 của trường trong đó có cả họcsinh khá, giỏi khi làm các bài thực hành, các bài tập liên quan đến kĩ năng biểu đồthì đa số các em còn lúng túng và gặp nhiều khó khăn dẫn tới em không làm đượchoặc không chịu tìm tòi để làm các bài tập liên quan đến biểu đồ Đứng trướcthực trạng đó là một giáo viên trực tiếp giảng dạy các em bản thân tôi luôn trăn trởmong muốn các em học sinh đặc biệt là các em học sinh khối lớp 9 phải có một kỹnăng Địa lí thật vững để trong học tập các em có thể và sẽ làm tốt các bài tập làdạng bài biểu đồ, các bài tập có liên quan đến kỹ năng làm các bài tập biểu đồ từ
đó hình thành một kỹ nằn địa lí một cách thuần thục giúp các em học tập tốt vàngày càng yêu thích bộ môn Địa lí
Trang 3Như vậy với mong muốn tìm tòi thêm ngững giải pháp nhằm góp phần ngàymột nâng cao hơn nữa về chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, đó là lí do tôithực hiện đề tài:
“Phương pháp rèn luyện kỹ năng làm các dạng bài biểu đồ Địa lí lớp 9 ở trường THCS Ngọc Khê” Nhằm giáo dục toàn diện kiến thức lí thuyết và kỹ năng
làm các dạng bài biểu đồ cho học sinh, khắc phục những khó khăn trên và gópphần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường
Trong bài viết này, tôi xin đưa ra một số phương pháp nhằm giải quyết vấn đề
cụ thể mà bản thân tôi đã áp dụng trong quá trình dạy học với các tiết học bài họcĐịa lí 9 cụ thể
1.2.Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Rèn luện các kỹ năng làm các dạng bài tập biểu đồ trong sách giáo khoa địa lílớp 9 nhằm giúp cho giáo viên và học sinh có những biện pháp để nâng cao chấtlượng, hiệu quả giảng dạy và học tập, đặc biệt tạo cho các em sự hứng thú trong họtập, yêu thích, say mê, tìm tòi những điều thú vị từ môn Địa lí từ việc yêu thích bộmôn sẽ giúp các em học tập ngày một tốt hơn đó củng cố, nâng cao việc rèn luyện
kỹ năng làm các dạng bài biểu đồ cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học bộ môn Địa lí trong nhà trường
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Các bài thực hành, các dạng bài tập biểu đồ trongsách giáo khoa địa lí lớp 9 và các đề kiểm tra 45 phút, bài thi học kỳ, bộ đề thi họcsinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh qua các năm
- Khách thể nghiên cứu: 90 em học sinh lớp 9 - Trường THCS Ngọc Khê – Ngọc Lặc
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
- Phương pháp quan sát: nhằm tìm hiểu việc rèn luyện kỹ năng làm các dạng bài tập biểu đồ của học sinh trong giờ học
- Phương pháp điều tra: nhằm đánh giá thực trạng có bao nhiêu học sinh cònyếu - kém khi thực hành kỹ năng làm các dạng biểu đồ
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Thông qua kết quả các bàikiểm tra có thể đánh giá chất lượng và hiệu quả các bài tập về kỹ năng vẽ biểu đồcủa học sinh
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế ngày nay, giáo dục được coi là một lĩnhvực rất quan trọng và luôn đi trước một bước trong sự nghiệp phát triển kinh tế củamỗi quốc gia Vì vậy, vấn đề chất lượng dạy và học nói chung và dạy học địa lí nóiriêng ngày càng trở thành mối quan tâm chung của các nhà sư phạm cũng như cácnhà quản lý giáo dục và xã hội
Đảng và nhà nước ta đã khẳng định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tưcho giáo dục là đầu tư cho phát triển" điều đó đã thể hiện trong các nghị quyết TW;
Trang 4nghị quyết TW 4 khóa VII đã chỉ rõ " Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả cáccấp học, bậc học Kết hợp học với hành, học tập với lao động động sản xuất, thựcnghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội, áp dụng nhữngphương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng học sinh năng lực tư duy sáng tạo,năng lực giải quyết vấn đề"
Môn Địa lí có khả năng cung cấp cho học sinh một khối lượng tri thức phongphú về mặt tự nhiên, về kinh tế - xã hội và những kĩ năng , kĩ xảo Môn Địa lí cungcấp cho học sinh những kiến thức về khoa học tự nhiên, dân cư, chế độ xã hội vàcác hoạt động kinh tế của con người ở khắp nơi trên Trái đất Môn Địa lí
Cũng trang bị cho học sinh một số kĩ năng kĩ xảo để học sinh vận dụng các kiếnthức của khoa học địa lí vào thực tiễn, làm quen với các phương pháp nghiên cứu,quan sát, điều tra, làm việc với bản đồ, số liệu thống kê để các có thể vân dụngtrong thực tiễn
Đối với môn Địa lý lớp 9 hiện hành có những kiến thức cơ bản về địa lí dân
cư, địa lí các nghành kinh tế, sự phân hoá lãnh thổ bao gồm 7 vùng về tự nhiên,kinh tế xã hội của nước ta và địa lí địa phương nơi các em đang sinh sống và họctập Bộ môn Địa lí 9 góp phần hình thành cho học sinh thế giới quan khoa học,giúp các em có kiến thức về tkhoa học tự nhiên và khoa học xã hội từ đó vận dụngnhững kiến thức mình đã học vào trong thực tiễn cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày
và có những ứng xử phù hợp với những yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay.Trong dạy học nói chung và giảng dạy bộ môn địa lí nói riềng mỗi một mônhọc đều có những phương pháp đặc trưng riêng của bộ môn mình nhưng trong đókhông thể thiếu được phương ph¸p dạy học theo định hướng tÝch cực hóa hoạtđộng học tập của học sinh từ phương pháp này các em sẽ tự mình được tìm tòi, tưduy sáng tạo để bài học đạt kết quả cao Vì vậy để hình thành được kĩ năng địa lícho các em học sinh đó chính là các bảng số liệu thống kê, các bài tập biểu đồ Từcác dạng biểu đồ, lược đồ đó được xem là phương tiện trực quan giúp học sinh tìmtòi khám phá khai thác và lĩnh hội kiến thức, các em có thể nhận xét, giải thích,chứng minh của các sự vật hiện tượng địa lí, tìm ra mối liên hệ mật thiết giữa các
sự vật và hiện tượng đó với nhau từ đó rút ra được những tri thức mới Tuy nhiên
để đạt được kết quả cao đòi hỏi giáo viên phải có các phương pháp rèn luyện chohọc sinh các kỹ năng nhận biết, nhận xét biểu đồ, từ đó hình thành cho các em cóđược những kĩ năng địa lí một cách tốt nhất
Từ những vấn đề nêu trên bản thân tôi nhận thấy trong quá trình dạy học Địa
lí việc rèn các kỹ năng cho học sinh làm các bài tập biểu đồ là vô cùng cần thiết
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1 Về giáo viên.
Thông qua thực tiễn dạy học, qua tìm hiểu một số giáo viên dạy địa lí ở cácbạn đồng nghiệp và một số trường trong cụm chuyên môn cho thấy hầu hết cácgiáo viên đều thấy rằng việc hình thành kĩ năng cho học sinh thực sự chưa đượcchú trọng đúng mức do thực tiễn vẫn còn có tình trạng giáo viên phải dạy chéomôn học chưa thực sự hiểu thấu đáo tinh thần đổi mới phương pháp phù hợp vớiđặc trưng từng bộ môn, cũng có giáo viên dạy đúng chuyên môn của mình nhưng
Trang 5chưa thật sự chú trọng trong việc hình thành kĩ năng địa lí cho học sinh nên trongquá trình giảng dạy thường không giành nhiều thời gian cho các bài kĩ năng, hoặcthậm trí có những giáo viên còn xác định sai cách vẽ biểu đồ hoặc sử lí số liệu dẫntới việc lúng túng trong soạn giảng cũng như thực hiện giờ dạy trên lớp làm chogiờ học trở nên nặng nề, nhàm chán Đặc biệt là các tiết thực hành có các bài tập về
vẽ và nhận xét biểu đồ giáo viên còn xem nhẹ việc rèn kĩ năng cho học sinh, hoặcchỉ hướng dẫn qua loa rồi tự cho học sinh làm, chưa kiểm tra đầy đủ và uốn nắnkịp thời
2.2.2 Về học sinh.
Trên thực tế giảng dạy, phần lớn học sinh lớp 9 còn bản thân tôi nhận thấy đa sốcác em học sinh lúng túng trong cách xứ lí số liệu, chọn biểu đồ không đúng; vẽ các dạng biểu đồ chưa khao học, đa số các em không có hứng thú và thậm trí các
em cho biết là thường bỏ qua các bài tập biểu đồ, một số em thì cho rằng đó là các bài tập biểu đồ chỉ giành cho đối tượng học sinh giỏi Kết quả khảo sát về nội dunglàm các bài tập biểu đồ về vẽ và nhận xét biểu đồ thường đạt kết quả thấp cụ thể:
* Kết quả khảo sát học tập của học sinh trường THCS Ngọc Khê trước khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm.
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 “Biểu đồ” là gì?
- Biểu đồ là một hình vẽ, cho phép mô tả một cách dễ dàng động thái pháttriển của một hiện tượng (như quá trình phát triển công nghệ qua các năm, dân sốqua các năm, mối tương quan về độ lớn giữa các đại lượng (như so sánh sản lượnglương thực giữa các vừng…) hoặc cơ cấu thành phần của một tổng thể (ví dụ như
cơ cấu của nền kinh tế )
- Các loại biểu đồ rất phong phú, đa dạng Mỗi loại biểu đồ lại có thể đượcdùng để biểu hiện nhiều chủ đề khác nhau Vì vậy, khi vẽ biểu đồ, việc đầu tiên làphải đọc kỹ đề bài để tìm hiểu chủ đề định thể hiện trên biểu đồ sau đó căn cứ vàochủ đề đã được xác định để lựa chọn loại biểu đồ thích hợp nhất để vẽ
2.3.2 Các dạng bài tập biểu đồ và cách lựa chọn thích hợp.
a.Các dạng bài tập biểu đồ cơ bản trong sách giáo khôa địa lí 9: Biểu đồ
cột, biểu đồ cột chồng, biểu đồ kết hợp biểu đồ tròn, biểu đồ đường, biểu đồ miền
b.Cách lựa chọn biểu đồ thích hợp:
5
Trang 6* Khi nào vẽ biểu đồ cột?
- Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ cột hay vẽ biểu đồ thể hiện quy mô, tình hìnhphát triển của một hay một số đối tượng địa lí hoặc để so sánh độ lớn của các đốitượng
- Đề bài thường có các từ: Tình hình, sự phát triển, so sánh( sản lượng, số
lượng, khối lượng, diện tích )
- Một số dạng biểu đồ thường gặp gồm: Biểu đồ cột đơn, biểu đồ cột chồng, biểu đồ nhóm cột, biểu đồ thanh ngang
* Khi nào vẽ biểu đồ tròn?
- Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ tròn hay biểu đồ cơ cấu, tỉ lệ các thánh phầntrong 1-3 mốc thời gian Biểu đồ tròn có thể vừa thể hiện quy mô, vừa thể hiện cơcấu đối tượng
- Dấu hiệu nhận biết: đề bài thường có từ: Cơ cấu, tỉ trọng, tỉ lệ
* Khi nào vẽ biểu đồ đường?
- Vẽ biểu đồ đường khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ đường hay biểu đồ thể hiện
sự phát triển, tốc độ tăng trưởng qua các mốc thời gian
- Đề bài thường có các cụm từ: Tốc độ phát triển, tăng trưởng, biến động, pháttriển
- Các loại biểu đồ dạng đường gồm: đường theo giá trị tuyệt đối, và đường theo giá trị tương đối
* Khi nào vẽ biểu đồ miền?
- Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ miền hay biểu đồ cần thể hiện cơ cấu tỉ lệ của các thành phần đại lượng qua 4 mốc thời gian trở lên
Lưu ý khi vẽ biểu đồ là: Đối với mỗi dạng biểu đồ đều có phương pháp vẽ
khác nhau Tuy nhiên yêu cầu chung cho các dạng biểu đồ là:
- Biểu đồ gồm đơn vị, năm, tên biểu đồ, bảng chú giải
- Biểu đồ phải có tính mỹ quan và đảm bảo chính xác
-Trong khi làm bài tập, bài kiểm tra nếu đề bài yêu cầu vẽ cụ thể là biểu đồtròn, cột thì chúng ta theo thứ tự các bước để thực hiện, còn nếu đề bài chưa yêucầu vẽ cụ thể thì học sinh phải căn cứ vào bảng số liệu để lựa chọn biểu đồ sao chophù hợp với nội dung, yêu cầu của đề bài
2.3.3 Nội dung cụ thể từng loại bài tập biểu đồ.
Đối với mỗi bài tập biểu đồ khi hướng dẫn cho học sinh giáo viên cần lần lượtthực hiện các nội dung sau:
2.3.3.1 Biểu đồ cột: là dạng biểu đồ mà học sinh đã được học ở các lớp
dưới * Biểu đồ cột đơn
- Ý nghĩa: So sánh các đại lượng, động thái theo thời gian của một đối tượng địa lí.
VD: Tình hình dân số qua một số năm, thu nhập bình quân đầu người một số nướcĐông Nam Á
Trang 7+ Chọn gốc toạ độ
+ Vẽ các cột theo số liệu: Bề rộng các cột bằng nhau, giá trị ghi trên đầu cột, khôngnối đỉnh cột
- Lưu ý: Các biểu đồ cột đơn biểu hiện các đối tượng khác nhau có thể vẽ cạnh
nhau để dễ so sánh (cần làm kí hiệu khác nhau)
Ví dụ: So sánh diện tích cây công nghiệp và cây lương thực qua một số năm
* Biểu đồ cột
chồng - Ý nghĩa:
+ Vẽ theo giá trị tuyệt đối: Thể hiện quy mô và các thành phần của tổng thể
+ Vẽ theo giá trị tương đối: Thể hiện cơ cấu và sự thay đổi cơ cấu theo thời gian, không gian
- Cách vẽ:
+ Vẽ hệ thống trục: Như trường hợp biểu đồ cột đơn
+ Vẽ chồng nối tiếp giá trị các thành phần của tổng thể trên một cột (theo thời gian,không gian)
Ví dụ: Sản lượng tôm nuôi năm 1995 và 2002 phân theo vùng
* Biểu đồ thanh ngang
- Ý nghĩa: Để so sánh các đại lượng
- Cách vẽ: Đây là dạng biểu đồ cột được vẽ trên hệ thống trục ngược với biểu đồ
cột đơn:
+ Trục ngang: Biểu hiện giá trị
+ Trục dọc: Biểu hiện các đối tượng vùng so sánh
Ví dụ: Tỉ lệ thất nghiệp các vùng
* Yêu cầu chung:
- Biểu đồ gồm hệ trục tọa độ ox, oy vuông góc với nhau: ox biểu thị đơn vị,
oy biểu thị năm hoặc vùng miền
- Tên biểu đồ
- Bảng chú giải
Cụ thể: Ví dụ: Dựa vào bảng 18.1 vẽ biểu đồ hình cột và nhận xét về giá
trị sản xuất công nghiệp ở hai ti ều vïng Đông Bắc và Tây Bắc.
Bảng 18.1: Giá trị sản xuất công nghiệp ở Trung Du và miền
Trang 8Dựng kớ hiệu riờng để phõn biệt hai tiểu vựng Đụng Bắc và Tõy
Bắc Bước 3: Viết tờn biểu đồ; Lập bảng chỳ giải
BIỂU ĐỒ GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CễNG NGHIỆP GIỮA HAI TIỂU VÙNG
ĐễNG BẮC VÀ TÂY BẮC GIAI ĐOẠN NĂM 1995 - 2000
Nhận xột : Khi nhận xột GV cần cho HS nhận xột về sự biến động về số liệu
của cả hai vựng trước bằng cỏc cõu hỏi: tăng hay giảm?, tăng giảm nhanh haychậm? Cú vừa tăng lại vừa giảm khụng? Sau đú mới cho HS so sỏnh sự khỏc nhaugiữa hai vựng bằng cỏch quan sỏt biểu đồ và bảng số liệu, tớnh toỏn để cú đượcnhận xột cụ thể (hơn kộm nhau bao nhiờu lần), cú thể hỏi thờm về nguyờn nhõn dẫnđến sự khỏc nhau đú để củng cố kiến thức cũ Cụ thể:
- Từ 1995 – 2002 giỏ trị sản xuất cụng nghiệp ở hai tiều vựng Đụng Bắc và Tõy Bắc đều liờn tục tăng , tính đến năm 2002
+ Đụng bắc tăng gấp 2,17 lần so với năm 1995
+ Tõy Bắc tăng gấp 2,3 lần so với năm 1995
- Giỏ trị sản xuất cụng nghiệp ở tiểu vựng Đụng Bắc luôn cao hơn giỏ trịsản xuất cụng nghiệp ở Tõy Bắc
+ Năm 1995 gấp 19,3 Năm 2000 gấp 19,7 lần Năm 2002 gấp 20,5 lần
Kết luận: Biều đồ cột là dạng biểu đồ dễ vẽ và dễ hiểu Thụng qua biều đồ cột
học sinh cú thề nhận xột cỏc đối tượng, yếu tố địa lý một cỏch trực quan nhất, nhận xột và so sỏnh dễ dàng hơn bảng số liệu
2.3.3.2.Biểu đồ trũn
8
Trang 9- Ý nghĩa: So sánh các thành phần trong một cơ cấu (tính theo %) Hai hay nhiều
biểu đồ tròn so sánh quy mô, sự thay đổi tỉ trọng các thành phần trong cơ cấu theothời gian (hoặc không gian)
Ví dụ: Biểu đồ cơ cấu công nghiệp qua 2 năm 1989, 1993 hoặc biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt
- Cách vẽ: Một vòng tròn biểu hiện 100% Bắt đầu vẽ đường bán kính thẳng đứng.
Vẽ các thành phần theo đúng tỉ lệ (1% tương ứng 3.60) theo thứ tự đề bài và chiều
kim đồng hồ Ghi chú: Giải thích các kí hiệu đã vẽ, ghi số liệu ngay trên hình vẽ.
- Lưu ý: Khi vẽ từ 2 vòng tròn trở lên, cần chú ý vẽ độ lớn các vòng tròn theo giá
trị so sánh (quy mô, cơ cấu)
Cụ thề:
Cho bảng số liệu sau:
Giá trị xuất khẩu hàng hoá phân theo nhóm hàng
của nước ta năm 2010 và năm 2014
( Đơn vị: Triệu USD)
Nhóm hàng
Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản 22402,9 66546,2
Hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp 33336,9 57983,8
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2014, Nhà xuất bản thống kê năm 2015)
1 Vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể hiện cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng hoá
phân theo nhóm hàng của nước ta năm 2010 và năm 2014
2 Từ bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ rút ra nhận xét.
Bước 1: GV yêu cầu, hướng dẫn học sinh sử lí số
liệu - Xử lí số liệu:
Bảng số liệu cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng hoá phân theo nhóm hàng của nước ta
năm 2010 và năm 2014 (Đơn vị: %)
m Nhóm hàng
Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản 31,0 44,3
Hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công 46,2 38,6
Trang 10đo bán kính 20mm vào thước sau đó đặt compa vào giấy quay thì khi quay thường compa không được độ chính xác như ta kẻ bán kính trước + Biểu đồ tròn Có thể tham khảo biểu đồ sau:
Biểu đồ thể hiện cơ cấu giá trị xuất khẩu hàng hoá phân theo nhóm
hàng của nước ta năm 2010 và năm 2014
+ Yêu cầu: Chính xác, khoa học, có tên biểu đồ, năm, chú giải, số liệu ghi trên biểu đồ…
*Nhận xÐt:
- Đây là những mặt hàng chính trong xuất khẩu của nước ta hiện nay
- Tổng giá trị hàng xuất khẩu tăng (dẫn chứng)
+ Giá trị xuất khẩu theo nhóm hàng ở nước ta đều tăng nhanh, tuy nhiên có sự khác nhau
∙ Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng (gấp 2,97 lần); Hàng công nghiệpnhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng (1,74 lần); Hàng nông, lâm, thuỷ sản tăng (1,56lần)
∙ Tăng nhanh nhất là hàng công nghiệp nặng và khoáng sản; hàng nông, lâm, thuỷ sản tăng chậm nhất
- Trong cơ cấu giá trị xuất khẩu phân theo nhóm hàng ở nước ta có sự thay đổi.+ Năm 2010 tỉ trọng hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp chiếm tỉtrọng cao nhất; thấp nhất là tỉ trọng nhóm hàng nông, lâm, thủy sản Năm 2014 tỉ