1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN phương pháp tạo hứng thú học văn bản nghị luận cho học sinh qua phần đọc – hiểu ngữ văn

27 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 417,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình giảng dạy, nghiêncứu, tìm hiểu và dạy thử thành công, từ kinh nghiệm của bản thân tôi xin mạnh dạngiới thiệu để các đồng nghiệp cùng tham khảo và giúp học sinh học văn ng

Trang 1

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5

2.3. Tái hiện không khí lịch sử, thời đại, tình huống tạo nên tác phẩm 5

Trang 2

1 Mở đầu.

1.1 Lí do chọn đề tài

Việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay đã và đang thực sự là yếu

tố quyết định hiệu quả giờ dạy Phương pháp dạy học đổi mới chú trọng đến việcphát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh, làm cho học sinh ham thíchmôn học Dạy văn và học văn, điều cơ bản là ở sự hứng thú Tuy nhiên hiện naytrong chương trình Ngữ văn THCS việc dạy và học phần văn bản nghị luận gặpnhiều khó khăn Vì giáo viên và học sinh không mấy hứng thú nên hiệu quả giờ dạykhông cao Xuất phát từ đặc trưng của thể loại:

Mục đích của văn bản nghị luận: Phát ngôn cho một quan điểm, một tư tưởng,một chủ trương, một lập trường xã hội nhất định Vì thế, nội dung thường là cácvấn đề có tính chất thời sự, chính trị, những chủ trương lớn của dân tộc, thời kì lịchsử tương đối rộng với tầm hiểu biết của học sinh

Về hình thức: Văn nghị luận thường sử dụng hệ thống lập luận chặt chẽ, nhiều lí

lẽ, đa dạng về phương thức biểu hiện và các phương tiện nghệ thuật

Về đặc điểm: Khô khan, ít phù hợp với tâm lí và nhận thức của học sinh; ít tínhvăn chương, khó đi vào cảm xúc người đọc; ý tưởng cao sâu thâm thúy khó nắmbắt

Về nguồn tư liệu bổ trợ cho dạy và học không nhiều

Quan niệm tác phẩm nghị luận vừa khó vừa khô, hình như đã ít nhiều ám ảnhtrong nhận thức của người dạy và người học Bản thân tôi thời điểm mới vào ngànhcũng có ý ngần ngại không mấy hứng thú với văn nghị luận Để ý quan sát đồngnghiệp, tôi cũng dễ nhận ra sự "đồng cảm" không đáng có này Dạy thì vẫn dạy,nhưng khi chọn bài để thao giảng hay để nhóm chuyên môn của trường mình,trường bạn và cấp trên về dự, tỉ lệ các bài được chọn là văn nghị luận thường là rất

ít, mọi người hay né tránh Chẳng hạn giữa hai bài "Ngắm trăng" (Vọng nguyệt) vàbài "Chiếu dời đô" (Thiên đô chiếu) ít người chọn bài thứ hai để thao giảng

Từ thực tế này, tôi muốn tìm ra hứng thú để dạy và đặc biệt giúp cho học sinh

có hứng thú để học phần tác phẩm nghị luận Trong quá trình giảng dạy, nghiêncứu, tìm hiểu và dạy thử thành công, từ kinh nghiệm của bản thân tôi xin mạnh dạngiới thiệu để các đồng nghiệp cùng tham khảo và giúp học sinh học văn nghị luậncũng say sưa, thích thú như học các thể loại khác Đó chính là lí do tôi chọn đề tài:

“Phương pháp tạo hứng thú học văn bản nghị luận cho học sinh qua phần Đọc – hiểu Ngữ văn 8”.

Trang 3

nghị luận ở lớp 8 Từ đó giúp các em nắm vững kiến thức, yêu thích môn học, rènluyện cho học sinh tư duy lô gíc; kĩ năng lập luận sắc bén, năng lực biểu đạt nhữngquan niệm, tư tưởng một cách sâu sắc và bản lĩnh, tinh thần tự chủ trước đời sốngnhờ vậy mà nâng cao chất lượng dạy và học Đồng thời đề tài này có thể chia sẻcùng giáo viên dạy Ngữ văn khi tiếp cận với các văn bản nghị luận ở lớp 8 và cáclớp khác qua các bài cụ thể.

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài hướng tới đối tượng là: “Phương pháp tạo hứng thú học văn bản nghị luận cho học sinh qua phần Đọc – hiểu Ngữ văn 8” Nghiên cứu hứng thú,

kết quả học tập phần văn bản nghị luận của học sinh qua tiết Đọc – hiểu Ngữ văn 8

1.4 Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng kết hợp nhiềuphương pháp:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra sư phạm

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết; khảo sát thực tế, thu thập thông tin; thống kê, xử lý số liệu

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009, Điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục

phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phùhợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rènluyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lạiniềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Hứng thú là thái độ cảm xúc đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó,

nó có ý nghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trìnhhoạt động Khi học sinh có hứng thú thì trong giờ học biểu hiện ở sự say mê, chămchú nghe giảng; ghi chép bài đầy đủ, cẩn thận; tích cực suy nghĩ, hăng hái phát biểuxây dựng bài, hay nêu thắc mắc với giáo viên; tích cực làm việc cùng nhóm đểhoàn thành nhiệm vụ Ở ngoài lớp và về nhà, các em tự giác học bài và làm bài đầyđủ; tự sưu tầm, đọc thêm nhiều tài liệu, sách báo có liên quan đến môn học

Văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 8, đa số là những tácphẩm có lịch sử lâu đời, nó không chỉ có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn lao củadân tộc như công cuộc dựng nước, giữ nước, canh tân đất nước, mà còn rất gần gũi

và có ý nghĩa trong đời sống con người hiện nay Vì vậy, văn bản nghị luận đượctuyển chọn dạy trong chương trình Ngữ văn 8 rất phong phú về đề tài và đa dạng vềthể loại như chiếu, hịch, cáo, tấu Giáo viên dạy những tác phẩm nghị luận đó như

Trang 4

thế nào trong những giờ Đọc – hiểu để trả lại vẻ hấp dẫn thẩm mỹ đích thực củanhững tá phẩm này.

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về đọc – hiểu văn bản, song đọc – hiểuđược dùng trong sách giáo khoa Ngữ văn mới bao gồm toàn bộ hoạt động cảm thụ,phân tích và tiếp nhận văn bản Đọc – hiểu ở đây không chỉ là đọc và thông hiểunội dung của văn bản mà còn bao gồm đọc, phát hiện, tưởng tượng, liên tưởng, cắtnghĩa, lí giải, phân tích, đánh giá, khái quát Đọc – hiểu nhấn mạnh đến vai trò chủđộng, sáng tạo của người học

Tất cả những kiến thức lí thuyết trên là cơ sở để tôi thực hiện đề tài sángkiến kinh nghiệm này Bên cạnh đó, tôi cũng khảo sát thực trạng Đọc – hiểu vănbản nghị luận lớp 8 ở đơn vị trường để có giải pháp thực hiện hợp lí, hiệu quả

cổ, nhiều hình ảnh giàu tính ước lệ, câu văn biền ngẫu sóng đôi nhịp nhàng, dùngnhiều điển tích, điển cố Với đối tượng là học sinh lớp 8 đây là kiến thức vừa mớilại vừa khó nên khó khăn trong việc tổ chức cho học sinh tiếp nhận và cảm thụ mộtcách sâu sắc giá trị nội dung và nghệ thuật của các văn bản đó

Về phía giáo viên, trong thực tế giảng dạy, qua thăm dò ý kiến, dự giờ củađồng nghiệp cho thấy giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận đôi khi được tiến hành nhưmột giờ lí thuyết Tập làm văn về văn nghị luận Điều này khiến cho việc đọc – hiểuvăn bản nghị luận vốn đã nặng nề, kém hứng thú lại càng nặng nề, khô khan hơn

Đối với học sinh, tình trạng các em chưa chăm chú nghe thầy cô giảng dạy,chưa tích cực suy nghĩ, phát biểu xây dựng bài, có làm bài tập nhưng còn sơ sài đốiphó, còn ngại đọc sách, đọc tài liệu, không say mê với việc tìm hiểu những vấn đềthuộc lĩnh vực trừu tượng, khó hiểu của văn bản nghị luận còn nhiều Phong tràohọc tập, thời gian cũng như sự quan tâm của phụ huynh còn quá hạn chế Học sinhchưa có điều kiện giao lưu học hỏi kiến thức của các bạn trong địa phương cũngnhư các xã bạn nên ảnh hưởng không nhỏ đến sự cập nhật, mở rộng, nâng cao tầmnhận thức, hiểu biết, đặc biệt là khả năng tư duy ở các em

Ở lớp 7, các em đã được học 4 văn bản nghị luận hiện đại, còn lại chủ yếu làhọc các văn bản tự sự, trữ tình Tuy đã được học nhưng do thực trạng dạy vàhọc của học sinh như đã nói ở trên nên thói quen của các em vẫn chỉ là tư duyhình ảnh theo phản ánh một chiều đối với hiện thực khách quan Vì vậy mà tư duylập luận lôgic của các em chưa được định hình, trong khi đó văn bản nghị luận đòihỏi yêu cầu cao hơn về tính khoa học, tính lôgic, tính biện chứng Đây là khó khăn

Trang 5

lớn nhất từ phía học sinh khi học văn bản này Bởi vậy, sự tiếp nhận kiến thức mới

về văn bản nghị luận đối với các em là rất khó, ảnh hưởng rất nhiều đến sự lắngđọng kiến thức mà giáo viên muốn truyền thụ đến các em, đặc biệt là ảnh hưởngđến tâm lí ngại và sợ học văn bản nghị luận

Từ thực trạng trên, tôi đã tiến hành phát phiếu thăm dò ý kiến học sinh vềquan điểm, hứng thú đối với việc học các văn bản nghị luận ở lớp 8A, 8C củatrường năm học 2015 – 2016 Phiếu trắc nghiệm đối với số học sinh là: 65 em Nộidung thăm dò

Trong sáu kiểu văn bản các em đã được học: miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính – công vụ Em thích, không thích học những kiểu văn bản nào? Đánh dấu (x) vào các cột tương ứng trong bảng sau:

Kiểu văn bản Thích học Có giờ thích học, có Không

Nhìn vào bảng kết quả trên, so với các kiểu văn bản khác, văn bản nghị luận

có tỉ lệ học sinh thích học thấp nhất, học sinh không thích học chiếm tỉ lệ cao

Từ mức độ hứng thú học tập của học sinh đối với kiểu văn bản nghị luận, tôitiến hành khảo sát chất lượng học tập của các em Đề khảo sát tôi đưa ra như sau:

Em nắm được những nội dung và đặc điểm nghệ thuật gì của các văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 8?

Cụ thể kết quả:

Trang 6

Nắm vững Nắm khá Chưa nắm Không hiểu

2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện:

Để tạo nên sự hứng thú cho học sinh học văn bản nghị luận, ngoài nhữngphương pháp cơ bản, đặc thù của môn dạy, bản thân tôi đã nghiên cứu, áp dụngmột số phương pháp sau:

- Tái hiện không khí lịch sử, thời đại, tình huống tạo nên tác phẩm

- Hướng dẫn học sinh đọc tốt văn bản nghị luận

- Giảng bình trong giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận

- Liên hệ với thực tế

- Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm khi dạy đọc – hiểu văn bản

- Kiểm tra, đánh giá trong dạy học đọc – hiểu văn bản nghị luận

Với mỗi giải pháp đã nêu, tôi đã xác định rõ cơ sở lí luận và thực tiễn củamỗi giải pháp, từ đó, căn cứ vào mục tiêu của bài học để đưa ra các biện pháp tổchức dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh của từng lớp, từng văn bản

2.3.1 Tái hiện không khí lịch sử, thời đại, tình huống tạo nên tác phẩm

Mỗi văn bản nghị luận thường được ra đời trong những tình huống, hoàncảnh khá đặc biệt Những chi tiết xúc động về tác giả, những câu chuyện lịch sử thú

vị liên quan đến tác phẩm và sự ra đời của tác phẩm thường rất dễ gây được sự tò

mò, hứng thú của học sinh Vì vậy, để tạo tâm thế cho học sinh sẵn sàng đi vào tácphẩm cần tái hiện sinh động không khí lịch sử, thời đại, tình huống đã sản sinh ratác phẩm Các hình thức tái hiện này, tôi sử dụng vào quá trình kiểm tra bài cũ, giớithiệu bài mới Với mỗi văn bản cụ thể, tôi có cách thức thực hiện khác nhau Sưutầm những hình ảnh minh họa để học sinh dễ hình dung

Ví dụ: Dạy văn bản Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn.

Trước khi vào bài học mới tôi giới thiệu câu chuyện lịch sử liên quan đến sự

ra đời của tác phẩm: Tháng 12 năm Giáp Thân 1284, niên hiệu Thiệu Bảo năm thứ

6, đời Trần Nhân Tông, đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng, Hưng ĐạoVương Trần Quốc Tuấn thất thế đưa quân chạy về Vạn Kiếp Vua Nhân Tông thấythế giặc mạnh, cho mời Hưng Đạo Vương về Hải Dương mà phán rằng:

"Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa

bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân ?"

Trang 7

Hưng Đạo Vương tâu: "Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn miếu Xã tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng!” Vua Trần Nhân Tông nghe thế yên lòng Hưng Đạo Vương trở về VạnKiếp hiệu triệu 20 vạn quân Nam và thảo bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn (gọi là Hịch

tướng sĩ) để khuyên răn tướng sĩ, đại ý khuyên binh sĩ học tập và rèn luyện võnghệ, khuyên các tướng học tập trận pháp theo sách Binh thư yếu lược, chuẩn bịcho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2

Ví dụ: Dạy văn bản Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô đại cáo) của Nguyễn Trãi

Với văn bản này, tôi đưa ra câu hỏi kiểm tra bài cũ để dẫn dắt học sinh tiếpnhận kiến thức văn bản mới bằng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:

Trong lịch sử văn học dân tộc, những tác phẩm nào được coi là Tuyên ngônđộc lập của nước Việt Nam? Em đã được học những tác phẩm đó chưa?

Sau khi học sinh trả lời, giáo viên nhận xét, chuẩn kiến thức và định hướngvấn đề: Những tác phẩm được coi là Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam:

“Nam quốc sơn hà” (Ngữ văn lớp 7), “Bình Ngô đại cáo”, “Bản tuyên ngôn độc lập

do Hồ Chí Minh viết, đọc tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, ngày 2 tháng 9 năm

1945 (học trong môn lịch sử)

Cuối năm 1427, Vương Thông, tên tổng chỉ huy quân đội nhà Minh ở ĐạiViệt đã phải mở cửa thành Ðông Quan đầu hàng Cuộc kháng chiến 10 năm đã kếtthúc vẻ vang Mùa xuân năm 1428 thừa lệnh vua Lê, Nguyễn Trãi viết bài cáo(Bình Ngô đại cáo) nhằm tổng kết quá trình kháng chiến và tuyên cáo thành lập

triều đại mới Văn bản Nước Đại Việt ta là phần đầu của bài cáo.

Tôi thực hiện cách thức như trên sẽ thu hút mạnh mẽ trí tò mò, sự thích thú,

độ tập trung chú ý của học sinh; xoá bớt khoảng cách quá xa về không gian, thờigian; tạo sự quan tâm, chia sẻ giữa học sinh với tác giả và những vấn đề được đặt ratrong tác phẩm và mọi sự phân tích, giảng giải của giáo viên về sau là không ápđặt, hình thức

2.3.2 Hướng dẫn học sinh đọc tốt văn bản nghị luận

Đọc là con đường đầu tiên và quan trọng nhất để đến với một tác phẩm vănhọc Đọc văn bản nghị luận không giống với đọc văn bản tự sự, trữ tình Tác phẩmvăn chương hình tượng thường có tính mơ hồ, đa nghĩa, tính mở Thông tin trongvăn bản văn chương hình tượng chủ yếu là thông tin hình tượng, hình ảnh, cảmxúc Ngôn ngữ tác phẩm văn chương hình tượng có tính hàm ngôn, đa nghĩa vàluôn chuyển nghĩa trong văn cảnh Tư tưởng chủ đề của tác phẩm; quan điểm, thái

độ, tình cảm của tác giả càng được bộc lộ kín đáo bao nhiêu thì tác phẩm càng trởnên ý nhị, sâu sắc bấy nhiêu

Ngược lại, đặc điểm cơ bản của văn nghị luận ở lớp 8 là: các tư tưởng, quanđiểm, thái độ của người viết được xác lập, thể hiện một cách rõ ràng, trực tiếp quangôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu Ngôn ngữ trong văn bản nghị luận có tính kháchquan, chính xác, tính đơn nghĩa tương đối Vì vậy mà mục đích chính, yêu cầu cơbản, hình thức biện pháp chủ yểu, yêu cầu về giọng đọc, yêu cầu và thái độ, tình

Trang 8

cảm của việc đọc văn bản nghị luận là khác so với đọc các văn bản văn chương hình tượng Có thể thấy rõ qua bảng

so sánh sau:

Loại văn bản Văn bản văn chương hình Văn bản nghị luận

Mục đích chính Thu nhận thông tin, hình ảnh, Thu nhận thông tin, lí lẽ, tư

của việc đọc cảm xúc, tư tưởng tưởng, quan điểm

Yêu cầu cơ bản Đọc đúng, đọc hay, có khả Đọc đúng, dõng dạc, có khả

năng truyền cảm đến người năng thuyết phục người nghe.nghe

Hình thức, biện Đọc diễn cảm, đọc phân vai, Đọc thành tiếng, đọc thầm

đọc kết hợp với bình giảng từ gắn với việc phát hiện luận

pháp chủ yếu

ngữ, hình ảnh, biểu tượng, điểm, luận cứ, luận chứng.Phát huy tối đa ưu thế về chất Giọng đọc dõng dạc, mạch

Yêu cầu về giọng giọng, sức vang ngân của ngôn lạc, làm sáng rõ thông tin, lí

đọc từ; thay đổi linh hoạt ngữ điệu lẽ, quan điểm của tác giả.

đọc theo sự biến đổi giọngđiệu của tác giả

Yêu cầu về thái Bộc lộ tình cảm, cảm xúc chủ Giữ thái độ khách quan, sắc

quan trong khi đọc; có khả thái trung hòa trong khi đọc

độ, tình cảm khi

năng truyền cảm đến người để có thể chuyển tải đúng nội

đọc

Tuỳ thuộc vào đặc điểm, thể loại của từng văn bản nghị luận mà tôi xác định,lựa chọn hình thức đọc, biện pháp đọc phù hợp Việc hướng dẫn đọc tốt văn bản vàgiáo viên đọc mẫu thật tốt là rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sựtiếp nhận của học sinh

Ví dụ:

* Dạy văn bản Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu), tôi hướng dẫn học sinh đọc: Giọng

dõng dạc, khoan thai, hùng hồn; Làm rõ những câu văn biền ngẫu, đối xứng nhau(ví dụ: “Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông tựa núi Địathế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng” làm cho lời văn cân xứng, nhịp nhàng

* Dạy văn bản Thuế máu (trích Bản án chế độ thực dân Pháp), tôi hướng dẫn học

sinh đọc: Thể hiện giọng mỉa mai, châm biếm, đả kích khi vạch trần thủ đoạn củathực dân; Thể hiện giọng xót xa, thương cảm khi phơi bày nỗi thống khổ của ngườidân nô lệ

Khi có học sinh đọc không đúng yêu cầu, tôi cho học sinh nhận xét, sau đó tôi chỉ rõ đúng sai, hướng dẫn để học sinh nắm vững cách đọc để đọc tốt văn bản

Như vậy, đọc tốt vừa gợi được không khí, vừa tạo được sự truyền cảm, gây hứng thú cho học sinh, xoá đi trong các em cảm tưởng văn cổ khó hiểu, ít hấp dẫn

2.3.3 Giảng bình trong giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận

Trang 9

Giảng bình là một phương pháp giảng văn truyền thống lâu đời trong nhàtrường Việt Nam Cái hay của một giờ giảng văn không chỉ phụ thuộc vào bài văn

mà còn phụ thuộc vào lời giảng, bài giảng, chất giọng, nghệ thuật giảng, cung bậctrầm bỗng của ngô ngữ Giảng bình vừa có tác dụng khơi gợi cảm xúc, sự rungđộng mạnh mẽ trong tâm hồn, tình cảm của học sinh, vừa có tác dụng khắc sâu ấntượng, hình ảnh; lắng đọng cảm xúc, khắc sâu kiến thức Giảng bình hay là làm chohọc sinh yêu văn, thích văn, đồng thời là cơ sở cho sự cảm thụ sáng tạo ở học sinhphát triển

Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp giảng bình tôi luôn ý thức về mức độ:gợi dẫn, tạo đường viền, định hướng hoặc tổng kết, khắc sâu và mở rộng kiến thứcchứ không lạm dụng Bởi lẽ, lạm dụng phương pháp này sẽ rơi vào dạy học văntruyền thụ – tiếp nhận thụ động Việc lựa chọn phương pháp bình tôi phải căn cứvào đặc điểm của từng văn bản Tùy vào giá trị nội dung, nghệ thuật, đặc trưng thểloại của văn bản mà sử dụng lời bình cho phù hợp

Ví dụ: Dạy văn bản Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn.

Khi kết thúc phần tìm hiểu chung văn bản, để khắc sâu về tác giả Lí Công

Uẩn tôi có lời bình như sau: “Hơn một 1.000 năm đã trôi qua, kể từ ngày Lí Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La “Mưu toan việc lớn, tính kế muôn đời cho con cháu” Quyết định táo bạo, sáng suốt đó của ông không chỉ đặt nền móng vững chắc cho sự tồn tại và phát triển rực rỡ của tám vương triều nhà

Lý kéo dài suốt 214 năm trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam mà Quyết định ấy còn là một cống hiến vĩ đại cho dân tộc, đất nước và có giá trị tới hàng nghìn năm sau Bởi từ Năm Canh Tuất 1010 đến nay, Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, luôn vững vàng trước những thử thách của lịch sử Phải là người có tầm nhìn xa trông rộng, một tầm nhìn thấu cả tương lai mới có thể có được quyết định đúng đắn đến như vậy!”

Ví dụ: Dạy văn bản Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi.

Sau khi hướng dẫn học sinh nắm được những yếu tố mà Nguyễn Trãi đưa ra

để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc và so sánh với “Sông núi nước Nam”của Lí Thường Kiệt vì có sự kế thừa và phát triển, tôi có lời bình như sau để khắcsâu kiến thức, thấy được quan niệm của Nguyễn Trãi là đúng đắn, toàn diện, sâu

sắc và mới mẻ: Ngoài chủ quyền và lãnh thổ, để khẳng định nền độc lập của một dân tộc, Bình Ngô Đại Cáo còn bổ sung thêm ba phương diện quan trọng: Văn hiến, phong tục tập quán và lịch sử Với những yếu tố căn bản này, Nguyễn Trãi đã phát biểu một cách khá hoàn chỉnh quan niệm về quốc gia, dân tộc So với thời Lí, nhận thức về vấn đề dân tộc đã phát triển cao hơn nhiều bởi tính toàn diện và sâu sắc của nó Văn hiến, phong tục tập quán và lịch sử là linh hồn của một quốc gia Quan niệm của Nguyễn Trãi, vì thế, sâu sắc và rất mới so với đương thời.

Như vậy, phương pháp giảng bình mà tôi vận dụng đã khuyến khích, gâydựng được niềm đam mê, sự hứng khởi cho học sinh khi tiếp nhận kiến thức củavăn bản

Trang 10

2.3.4 Liên hệ với thực tế.

Để rút ngắn khoảng cách quá xa giữa văn học nhà trường và đời sống xã hội,gắn tác phẩm với đời sống của cá nhân học sinh là một quan điểm lớn của chươngtrình, sách giáo khoa Ngữ văn Cùng với các văn bản nhật dụng, các văn bản nghịluận được chọn đọc – hiểu góp phần quan trọng vào việc hiện thực hoá quan điểmtrên Kể cả các văn bản nghị luận trung đại đã cách xa chúng ta nhiều thế kỉ, songnhững vấn đề mà tác phẩm đặt ra vẫn có ý nghĩa thời sự đối với thời đại chúng ta

Để giờ học thực sự sinh động và có ý nghĩa giáo dục, giáo viên cần hướngmối quan tâm của học sinh vào những vấn đề có ý nghĩa thiết thực với đời sốnghôm nay, tổ chức cho học sinh trao đổi, tranh luận về những vấn đề phức tạp

Ví dụ:

- Từ lối học xưa, em có liên tưởng, suy nghĩ gì về mục đích và phương pháp

học của chúng ta ngày nay? (Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp)

- Từ việc đọc – hiểu văn bản, em hãy bày tỏ suy nghĩ của bản thân về việc

bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước ta hiện nay? (Nước Đại Việt ta của Nguyễn

Trãi)

Liên hệ như vậy vừa giúp học sinh hiểu tác phẩm hơn, vừa gắn với thực tế,vừa tạo điều kiện cho học sinh bộc lộ quan điểm, tư tưởng, chính kiến riêng, qua đógóp phần hình thành kĩ năng sống, bản lĩnh đối mặt với những vấn đề đang đặt ratrong cuộc sống

2.3.5 Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm khi dạy đọc – hiểu văn bản

Hoạt động nhóm hay học hợp tác là biện pháp tích cực hóa hoạt động nhậnthức của học sinh, một hình thức dạy học phổ biến ở các môn học Trong dạy họcNgữ văn nói chung, các văn bản nghị luận lớp 8 nói riêng hoạt động nhóm là hìnhthức tổ chức cho học sinh đọc, cảm thụ tác phẩm theo từng nhóm, cùng nhau traođổi, thảo luận về một yếu tố, hình tượng, chi tiết phức tạp trong tác phẩm; cùngnhau giải quyết một câu hỏi, một tình huống có vấn đề đặt ra từ văn bản, qua đógiúp các em tự khám phá, chiếm lĩnh các giá trị văn học, phát triển các kĩ năng họcvăn một cách sáng tạo dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên

Căn cứ vào mục tiêu, bản chất, quy trình thực hiện của phương pháp hoạtđộng nhóm, tôi đã áp dụng vào trong dạy đọc – hiểu văn bản nghị luận lớp 8 Hoạtđộng nhóm được tôi tổ chức dưới nhiều hình thức: Giải thích, cắt nghĩa, phân tíchtheo nhóm; luyện tập theo nhóm; ngoại khoá theo nhóm …

Tổ chức cho học sinh học theo nhóm có ý nghĩa nhiều mặt, học sinh sẽ thấy

có thể có nhiều câu trả lời, nhiều giải pháp, nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khácnhau cho cùng một vấn đề Từ đó sẽ khuyến khích phát triển tư duy độc lập, sángtạo của học sinh Ngoài ra, hoạt động nhóm dựa trên nguyên tắc dân chủ và tương

hỗ nên tất cả học sinh từ giỏi, khá, trung bình, yếu và kém đều có thể tham gia

Cách thức, biện pháp chủ yếu để tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm làthông qua một hệ thống câu hỏi, bài tập, tình huống có vấn đề… Số lượng học sinhtrong nhóm tuỳ thuộc vào mức độ yêu cầu của câu hỏi, bài tập, có nhóm từ 3 – 4học sinh trở lên, có nhóm đôi (từng cặp) Nhưng nhóm đôi sử dụng thường xuyên

Trang 11

hơn, vừa tạo được môi trường học tích cực, vừa gìn giữ được mạch cảm xúc của một giờ văn.

Ví dụ: Dạy văn bản "Chiếu dời đô" tôi đưa ra câu hỏi yêu cầu học sinh thảo luận:

* Thảo luận theo nhóm lớn: Lẽ ra, kết thúc bài chiếu phải là một mệnh lệnh, vì

chiếu là để ban bố mệnh lệnh Nhưng kết thúc "Chiếu dời đô" lại là một câu hỏi.

Cách kết thúc như vậy có làm hỏng giá trị và chức năng của bài chiếu không? Vìsao?

* Thảo luận theo nhóm đôi (từng cặp): Vì sao nói "Chiếu dời đô" ra đời đã phản ánh

ý chí độc lập, tự cường và sự phát triển lớn mạnh của dân tộc Đại Việt?

Ngoài hình thức thảo luận nhóm trên lớp, tôi còn tổ chức cho học sinh ngoạikhóa theo nhóm về vấn đề đặt ra trong tác phẩm để hình thành năng lực tự học, tựnghiên cứu cho học sinh

Ví dụ: Sau khi dạy xong văn bản "Đi bộ ngao du", tôi tổ chức cho các em đi bộ ngao

du theo nhóm (nhóm học sinh ở theo làng) và ghi chép về những điều tâm đắc nhất

mà các em thu nhận được

Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm khi dạy đọc – hiểu văn bản, việc học trở nên nhẹ nhàng mà thú vị, sâu sắc, hiệu quả hơn

2.3.6 Kiểm tra, đánh giá trong dạy học đọc – hiểu văn bản nghị luận

Kiểm tra, đánh giá là khâu then chốt cuối cùng của quá trình dạy học, là “lựcnắn” hữu hiệu cách dạy cách học Theo tinh thần đổi mới, việc kiểm tra, đánh giácần đa dạng hoá về hình thức, cách thức ra đề theo hướng vừa kiểm tra được kiếnthức cơ bản, vừa tạo điều kiện cho người học bày tỏ được cảm xúc, suy nghĩ, ýkiến, quan điểm riêng của mình trước vấn đề đặt ra Để đạt được yêu cầu đó, phải

sử dụng cả hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận

Mỗi giờ học tôi đều hướng đến ba mục tiêu cụ thể về kiến thức, kĩ năng vàthái độ Mục tiêu kiến thức của giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận là những giá trị cơbản về nội dung và nghệ thuật mà học sinh cần ghi nhớ và thông hiểu Trắc nghiệmkhách quan chính là hình thức hữu hiệu để kiểm tra kiến thức văn học đảm bảo tínhtoàn diện, chính xác và khách quan hơn

Ví dụ: Học văn bản "Chiếu dời đô", học sinh cần nắm vững nội dung chủ đề, phép

lập luận chính, … Trắc nghiệm khách quan giúp tôi có thể kiểm tra được các đơn vịkiến thức này một cách dễ dàng, chính xác Cụ thể:

1 Nhận định nào trong các nhận định sau đây thể hiện khái quát nhất giá trị tư

tưởng của "Chiếu dời đô"?

A "Chiếu dời đô" phản ánh khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống

nhất, vững mạnh và phồn thịnh

B "Chiếu dời đô" đã chứng minh rằng, việc dời đô của nhà Lí cần thiết và đúng đắn.

2 Những lí do nào khiến "Chiếu dời đô" có sức thuyết phục người nghe?

A "Chiếu dời đô" có sự kết hợp hài hoà giữa lí lẽ chặt chẽ và tình cảm chân thành

B "Chiếu dời đô" có nhiều hình ảnh, hình tượng đẹp.

Trang 12

C "Chiếu dời đô" là một lời răn dạy phải – trái, nên – không nên hết sức xác đáng.

Tuy nhiên, để đánh giá được năng lực tư duy độc lập, sáng tạo; khả năng giải quyết

vấn đề; kĩ năng lập luận, thuyết trình, kĩ năng diễn đạt của học sinh thì hìnhthức tự luận có khả năng cung cấp những thông tin phản hồi đáng tin cậy hơn

cả Ví dụ: Tại sao nói, Hịch tướng sĩ là một áng văn nghị luận xuất sắc?

Bên cạnh những đề văn tự luận như ở trên, tôi còn đưa ra các dạng đề cho phép học sinh được bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, quan điểm của riêng mình

Ví dụ:

- Đề 1: "Chiếu dời đô" là một bài văn nghị luận đặc sắc Ý kiến của em về vấn đề này

như thế nào?

- Đề 2: Có ý kiến cho rằng, "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn “xứng đáng là một

mẫu mực bất hủ của văn nghị luận muôn đời” Ý kiến của em về vấn đề này nhưthế nào?

Trong quá trình tổ chức dạy – học, tôi đánh giá học sinh trên ba mặt: sự hiểubiết, khả năng vận dụng, kĩ năng và thái độ từ đó giúp bản thân tôi đánh giá mức độđạt được so với yêu cầu, mục tiêu bài học đã đề ra để phấn đấu, để khắc phục.Không chỉ có mình bản thân tôi đánh giá kết quả học tập của học sinh mà tôi còn tổchức cho học sinh tự kiểm tra đánh giá với nhận xét của tập thể học sinh và củagiáo viên Có như vậy mới tạo được sự hứng thú trong giờ học cho học sinh, tạonên sự bình đẳng tập trung làm việc và hiểu bài từ phía học sinh Từ đó việc đọc –hiểu văn bản mới đạt được hiệu quả cao

Qua nghiên cứu, thử nghiệm và tuỳ từng đối tượng học sinh mà tôi đã lựachọn các giải pháp, biện pháp tổ chức phù hợp không máy móc, áp đặt Sau đây, tôixin minh hoạ một tiết dạy để cụ thể hoá các biện pháp tôi đã lựa chọn:

(Luận học pháp)

Nguyễn Thiếp

(I) MỤC TIÊU BÀI HỌC: Qua bài học, HS đạt được

1 Kiến thức: Thấy được mục đích, tác dụng của việc học chân chính: học để làm

người, học để biết và làm cho đất nước hưng thịnh, đồng thời thấy được tác hại củalối học chuộng hình thức, cầu danh lợi

2 Kĩ năng: Rèn kĩ năng đọc – hiểu văn bản tấu, học tập cách lập luận của tác giả.

3 Thái độ: Nhận thức và lựa chọn được phương pháp học tập đúng, kết hợp học

với hành

(II) CHUẨN BỊ CỦA THẦY VÀ TRÒ:

HS: SGK Ngữ văn 8, vở ghi, tài liệu tham khảo, đồ dùng học tập

GV: SGK, chuẩn kiến thức – kĩ năng Ngữ văn 8, máy chiếu, …

Trang 13

(III) TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐÔNG DẠY HỌC

2 Dạy học bài mới:

Hoạt động của thầy và trò Nội dung cần đạt

H: Nêu hiểu biết của em về tác giả I Tìm hiểu chung

1 Tác giả

HS làm việc độc lập, trả lời, nhận xét - Là người thông minh sáng suốt, họcGV: nhận xét, nhấn mạnh những nét rộng hiểu sâu

dụng

- Khi vua Quang Trung mất, ông về ở

ẩn, không hợp tác với nhà Nguyễn

- Ông luôn được người dân kính trọnggọi là La Sơn Phu Tử

2 Tác phẩm:

H: Nêu xuất xứ của văn bản?a Xuất xứ: Văn bản là phần trích (phần

H: Xác định vấn đề nghị luận của đoạn 3) từ bài tấu của Nguyễn Thiếp gửi vua

hưởng, nhịp điệu của câu văn biền ngẫu

GV đọc mẫu một đoạn, yêu cầu HS đọc,

GV kiểm tra sự hiểu nghĩa các từ khó

Ngày đăng: 21/07/2020, 06:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w