SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT NHƯ THANH 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI KHƠI DẬY HỨNG THÚ TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN CHO HỌC SINH LỚP 11 TRƯỜNG THPT NHƯ THANH II QUA HOẠT ĐỘ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NHƯ THANH 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI KHƠI DẬY HỨNG THÚ TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN
CHO HỌC SINH LỚP 11 TRƯỜNG THPT NHƯ THANH
II QUA HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG BÀI HỌC
NHẬP CẢM
Người thực hiện: Lê Thị Thùy Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2018
Trang 22.1.1 Phần “ Khởi động” trong lí luận dạy học 22.1.2 Hứng thú – Những tác động của hứng thú 32.1.3 Từ góc độ của lí thuyết tiếp nhận và tâm thế trong giờ 4học ngữ văn
2.2.2 Đối với thực tiễn ở đơn vị giáo dục 62.3 Những “ Hoạt động khởi động nhập cảm” để khơi dậy hứng 7thú trong giờ học ngữ văn
2.3.1 Hoạt động dò bài cũ mang tính định hướng, giới thiệu bài 7học mới
2.3.1.2 Tiến trình cụ thể qua ví dụ minh họa 72.3.1.3 Phân tích dẫn chứng và hiệu quả đem lại 92.3.2 Hình thức “ Viết mở bài” - kết hợp lời bình của giáo viên 9
Trang 33 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Dạy học giảng văn ở trường ptth - Nguyễn Đức Ân – nxb Đồng Tháp 1997
2 Giáo trình Phương pháp dạy học Ngữ văn- Trương Dĩnh – NXB Thuận Hóa 2000
3 Chia sẻ tâm hồn và quà tặng cuộc sống – Jack Canfield và Mark Victo hasen, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2005
4.Bài viết “ Thiết kế giờ dạy theo định hướng đổi mới phương pháp giáo dục”
-Tiến Sĩ Nguyễn Thúy Hồng Báo GDTĐ 2016
5.Bài viết “ Từ lý thuyết tiếp nhận đến giảng dạy tác phẩm văn chương ở trường THPT” – Lê Thị Phú- tạp chí NCGD TPHCM - 2015
DANH MỤCSÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC XẾP LOẠI.
Kết
“ Con đường hình thành ý thức
1 xây dựng tập thể đoàn kết, tiến bộ Sở giáo dục B
trường THPT Như Thanh II”
1 PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 41.1 Lí do chọn đề tài
Khi quyết định nộp hồ sơ vào Đại học sư phạm với chuyên nghành Ngữ văn,
cô giáo chủ nhiệm dạy môn văn của tôi đã chia sẻ : “ Đậu vào đại học sư phạm đã khó, song để trở thành một giáo viên dạy văn đích thực không phải chuyện dễ dàng đâu” Qủa thực, ai trong số chúng ta, nếu đã lựa chon đều có thể “ dạy văn” song
để trở thành giáo viên dạy văn “ đích thực” như lời cô đã nói không đơn giản chút nào Có lẽ, bới đó không chỉ là một bộ môn mang tính “ khoa học” mà còn mang tính “ nghệ thuật ” nên giáo viên không dễ thành công khị “chạm” được đến
“ ngưỡng” của vấn đề Đến với tác phẩm văn chương, không chỉ để tìm hiểu thêm
về các tri thức liên quan đến xã hội, con người, đến giá trị nhận thức của tác phẩmvăn chương mà còn là để lắng nghe, thấu hiểu và đồng điệu, để gặp gỡ chính tâmhồn mình để rung động thẩm mĩ và thanh lọc tâm hồn biết hướng tới chân- thiện-
mĩ… Văn chương vừa có tính thực tế lại cũng vừa là chuyện “ trời mây non nước” , có lẽ vì thế đôi lúc nó trở nên “chàng màng” ,“khó hiểu”, “khó tiếp nhận”
… (như những lời tâm sự rất chân thành của học sinh)
Trong xu thế hiện tại, khi học sinh (HS) ngày càng không còn hứng thú học
văn , thậm chí giờ học ngữ văn trở nên nhàm chán, gây buồn ngủ và thành “ nỗi sợ” với học sinh… thì việc tìm cách để đem lại niềm đam mê đối với môn học là
nỗi trăn trở của mỗi giáo viên (GV) văn tâm huyết, và cũng là nỗi niềm trăn trở củariêng tôi Nỗ lực trong từng bài giảng, từng bước đi của bài học, ở mỗi thao tácnhỏ và trong mỗi lời giảng… là điều mà tôi luôn tự nhủ với mình
Tháng 5, khi sân trường ngập nắng, và ve đã râm ran, khi những bài kiểm trahọc kì đã kết thúc và không khí học đã trở nên rệu rã ở hầu hết các lớp học thì lũ “
chuột bạch” của tôi vẫn còn hăng say trong những bài giảng cuối năm Có lẽ đó
cũng là cơ sở để một lần nữa tôi khẳng định rằng: chìa khóa để mở ra cánh cửa văn
chương là thế giới của tâm hồn và cảm xúc, mà để có được nó ta phải “ xây nền đặt móng” từ ban đầu Phải tạo cho học sinh tâm thế tốt nhất, phải khơi dậy được
niềm hứng thú, đam mê… mới nhen được ngọn lửa cảm xúc trong giờ văn Đócũng là lí do mà tôi lựa chọn vấn đề trao đổi cùng đồng nghiệp qua sáng kiến kinh
Trang 5nghiệm được mang tên “ KHƠI DẬY HỨNG THÚ TRONG GIỜ HỌC NGỮVĂN CHO HỌC SINH LỚP 11 Ở TRƯỜNG THPT NHƯ THANH II QUAHOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG BÀI HỌC NHẬP CẢM”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu là quá trình tổng hợp, đúc rút lại những phương pháp màbản thân người viết đã sử dụng và nhận thấy có hiệu quả thực tế trong tiến trìnhdạy học
Là sự giải bày một phần nhỏ những phương pháp của bản thân trên tinh thầncầu thị mong nhận được sự góp ý và trao đổi của đồng nghiệp để bản thân hoànthiện hơn trong từng bài giảng
Bản thân còn mong muốn góp một phần nhỏ tiếng nói của mình để giảiquyết bài toán khó mà những “đồng môn” còn trăn trở : Tìm lại niềm cảm hứngcho học sinh trong mỗi giờ học ngữ văn
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Những giờ dạy học ngữ văn lớp 11 và đặc biệt là ở những tiếtgiảng văn (Những bài học liên quan nhiều đến cảm xúc)
Phạm vi: sáng kiến kinh nghiệm của tôi chỉ dừng lại ở một phần rất nhỏtrong toàn bộ tiến trình của giờ học: Phần “khởi động” giờ học
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Thu thập, nghiên cứu những lí luận bàn
về các vấn đề liên quan đến lý thuyết dạy học phần “ nhập cảm”
- Phương pháp quan sát thực tế: Quan sát thực tể những biểu hiện của HS trong quá trình học tập, từ đó có thể đánh giá được thái độ và hứng thú học tập của HS.
- Phương pháp điều tra, đối sánh
2 PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề
2 1.1 Phần “ Khởi động” trong lí luận dạy học
Trang 6- Tiến sĩ Nguyễn Thúy Hồng (viện CL và CTGD) trong bài viết “ Thiết kế giờ dạy theo định hướng đổi mới phương pháp giáo dục” đã đề xuất các bước
chuẩn cơ bản của một tiết dạy như sau:
Bước 1: Kiểm tra sự chuẩn bị của HS
Bước 2: Tổ chức dạy học bài mới
- GV giới thiệu bài mới :
- Tổ chức, hướng dẫn HS suy nghĩ, tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội nội dung bài học
Bước 3: Luyện tập, củng cố
Bước 4: Đánh giá
Bước 5: hướng dẫn HS học bài, làm việc ở nhà
Như vậy, ở tất cả các môn học lý thuyết về dạy học luôn đặt bước giới thiệubài học là một phần “cứng” trong tiến trình dạy học
Đối với môn Ngữ văn đó là một bước không thể nào thiếu được tuy nhiênnhư đã nói đó là một môn học không chỉ là “khoa học” mà còn mang tính “nghệthuật” đậm nét, vì vậy mỗi giáo viên dạy văn đôi khi cũng trở thành những người
“nghệ sĩ” không chỉ là người định hướng, dẫn đường mà còn là sự hóa thân vào tácgiả, vào nhân vật, vào dư luận… không chỉ là ở khâu giảng dạy mà còn là ở tiếntrình lên lớp luôn phải biến hóa linh hoạt phù hợp với từng bài giảng, từng “ngữcảnh” cụ thể … sao cho hài hòa nhất, tạo tâm thế tiếp nhận tốt nhất cho bài học
Lí thuyết về phương pháp giảng dạy môn ngữ văn đề cao vai trò của phần
“khởi động” với tư cách là sự “dẫn nhập” mang tính cảm xúc và đồng thời là sựđịnh hướng cho học sinh về mặt kiến thức, tình cảm và còn là quá trình hoàn thiện
về nhân cách GS Trương Dĩnh ,Thạc sĩ Lê Khánh Tùng - những nhà nghiên cứu
về phương pháp dạy học môn ngữ văn đều khẳng định “ Không thể có giờ dạy học ngữ văn hiệu quả nếu thiếu đi phần khới động ấn tượng”.
2.1.2 Hứng thú – Những tác động của hứng thú
* Hứng thú trong cuộc sống
Trang 7Hứng thú có tác dụng chống lại sự mệt nhọc và những cảm xúc tiêu cực,duy trì trạng thái tỉnh táo ở con người Hứng thú định hướng và duy trì tính tíchcực của con người, làm con người chịu khó tìm tòi và sáng tạo.
* Hứng thú trong dạy học
Dạy học là một nghệ thuật, người dạy – giáo viên là những “kỹ sư tâm hồn”,
sản phẩm tạo ra của quá trình dạy học là sản phẩm đặc biệt – con người (nhâncách) Nó không hề giống với bất kỳ một ngành nghề nào Điều đó đặt ra những
yêu cầu khắt khe đối với giáo viên Theo William A Ward thì: “ Người thầy trung bình chỉ biết nói, Người thầy giỏi biết giải thích, Người thầy xuất chúng biết minh họa, Người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng”.Từ đó ta thấy việc truyền cảm
hứng (gây hứng thú) học tập cho học sinh, người học là điều cực kì quan trọng vàcần thiết
Luận ngữ có câu: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng say mà học” Yếu tố cảm xúc, say mê chính là động lực lớn thúc đẩy,
nuôi dưỡng sự cố gắng, nỗ lực học tập không ngừng của mỗi chúng ta Cho nên,
nếu khơi dậy được sự hứng thú, say mê cho học sinh thì sẽ tạo ra động cơ học tậptích cực, giúp các em hăng say, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để đạt kếtquả học tập tốt nhất, và từ đó người học sẽ tiếp nhận tri thức một cách chủ động và
tự giác, không bị ép buộc…Đặc biệt hơn, hứng thú là cơ sở để khơi nguồn của cảmxúc , giờ học văn lại là giờ giao lưu về mặt tâm hồn, cảm xúc, là thế giới của tâm
tư tình cảm Người học không thể tiếp nhận tích cực khi không có cảm xúc vàhứng thú Lại càng không thể học tập hiệu quả nếu không thể có cảm hứng với giờvăn
2.1.3 Từ góc độ của lí thuyết tiếp nhận và tâm thế trong giờ học ngữ văn
Lý thuyết tiếp nhận văn học cho rằng tâm lí có vai trò cực kì quan trọngtrong việc tiếp nhận tác phẩm văn học Mỗi tâm trạng trong mỗi hoàn cảnh đều cótác động khác nhau đến việc hình thành kiến thức và sự hiểu hiểu biết về tác phẩmvăn học Để có thể tiếp cận văn học tốt nhất thì phải chuẩn bị tâm lí tiếp nhận tốt
Trang 8nhất, khi đó mỗi chủ thể tiếp nhận mới có thể trở thành một bạn đọc “ đồng sáng tạo”.
Tâm thế tiếp nhận của chủ thể HS được GS Trương Dĩnh khái quát thành 3 dạng chủ yếu như sau:
+ Hân hoan chờ đón, sẵn sàng nhập cuộc: Đây là trạng thái tiếp nhận lí
tưởng nhất, là niềm mong ước của mỗi giáo viên nói chung và gv dạy ngữ văn nóiriêng Có được tâm thế này cả giáo viên và Hs sẽ có được tiền đề cho một giờ họcđầy hứng khởi, say mê và hiệu quả
+ Trạng thái tĩnh tại: HS trong tâm trạng bình thường, nói như cách nói
của dân gian là “ bặt chăng hay chớ” Với tâm lí này, để nhen lên ngọn lửa say mêcủa HS là điều vô cùng khó khăn với giáo viên HS học bài thụ động và đôi lúc sẽkhiến ngay cả GV cũng rơi vào trạng thái nhàm chán
+ Thụ động, chán nản: Đây là tình trạng phổ biến của Hs bây giờ đối với
môn ngữ văn Cảm giác buồn ngủ, thậm chí ngủ gật trong giờ học, sự mệt mỏibuông xuôi thấy rất rõ… Chứng kiến điều này, ngay cả với những GV tâm huyếtcũng nản chí và đôi lúc chỉ muốn dạy cho chóng hết giờ Đây chính là “ thảm họa”với cả GV và Hs
2.2 Cơ sở thực tiễn đề tài
2.2.1 Đối với bộ môn nói chung
Việc đổi mới phương pháp dạy học là một nhiệm vụ, yêu cầu bắt buộc đốivới giáo dục nước ta hiện nay, đặc biệt đối với hệ thống giáo dục phổ thông, trong
đó có việc dạy và học môn Ngữ văn Những năm gần đây, việc tích cực đổi mới,đổi mới căn bản, toàn diện trong giáo dục của chúng ta đã đem lại nhiều kết quảkhả quan Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều khó khăn, bất cập bởi sự đổi mới diễn rathường xuyên và liên tục về chương trình, thi cử, phương pháp…
Hứng thú học môn ngữ văn của HS vẫn là chuyện “ Biết rồi, khổ lắm…” bởi
xu thế hiện nay HS chỉ học bộ môn để đối phó, hoặc để thi cử… rất ít tìm được HShọc môn ngữ văn bằng niềm đam mê Ở hầu hết các nhà trường, ngữ văn vẫn là
môn bị HS kêu ca, là môn học “ buồn ngủ ”, đem lại cảm giác “sợ” cho đa số HS.
Trang 9Nhiều GV còn xem nhẹ bước
“rườm rà”… còn chưa nói đến việc
vì vậy HS cũng không có điều kiện được tham khảo tài liệu, hay được hỗ trợ, tiếp xúccác phương tiện đọc, học, nghe nhìn trực quan để nâng cao hứng thú
Một vài HS có điểm đầu vào trội hơn so với mặt bằng không chọn môn vănlàm môn thi khối theo xu thế thi cử hiện nay điều này ảnh hưởng tâm lí đám đông về
xu thế học bộ môn với tập thể, ảnh hưởng ngay cả đến hứng thú dạy học của GV
* Thuận lợi
Đa số HS ở đây đều được xác định là “ lành” biết nghe lời thầy cô và nếuđược khơi dậy sẽ có thể nhen nhóm lên ngọn lửa Các em không được tiếp cậnnhiều với những phương tiện thông tin,vì vậy mỗi bài học mới lạ, mỗi câu chuyệnthú vị nếu biết khơi gợi ,dẫn dắt có thể tạo nên sự cuốn hút đối với các em Đặcbiệt, với số đông HS là người dân tộc thiểu số, với tình cảm yêu – ghét rạch ròi
HS thường có những tình cảm, cảm xúc rất mãnh liệt, là những tâm hồn mềm mại,
dễ rung động trước cuộc sống cũng là một điều kiện thuận lợi để khơi dậy niềmhứng thú với một bộ môn mang tính cảm xúc, tâm hồn
Nếu như đại đa số HS ở các trường khác trên toàn tỉnh đều tập trung vào các khối
“hot” như : A,B,D thì HS ở đây, do đầu vào quá thấp, chất lượng quá yếu nên
các em lựa chọn môn văn thi khối như một lựa chọn không thể khác Với sự xácđịnh ấy, gv bộ môn ở đây có thể định hướng ngay từ đầu khuyến khích HS bằngtâm lí, kết hợp với một số bài giảng trên lớp để thuyết phục các em
Trang 10Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi
để phát triển chuyên môn của nhà trường
2 3 NHỮNG “ HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG NHẬP CẢM” ĐỂ KHƠI DẬY HỨNG THÚ TRONG GIỜ HỌC NGỮ VĂN
2.3.1 Hoạt động dò bài cũ mang tính định hướng, giới thiệu bài học mới
Thực ra nếu dẫn dắt bài học bằng cách này có lẽ nhiều đồng nghiệp cũng từng làm,thậm chí là phổ biến Tuy nhiên, để tạo thành một hệ thống logic, chỉnh thể đồng
thời vừa kết hợp kiểm tra kiến thức cũ, vừa giới thiệu bài mới một cách ấn tượngtrong mối liên quan và tạo được hứng thú thì tôi nghĩ không phải là đơn giản Kỹthuật vào bài này cần có sự đầu tư, sáng tạo một cách nghiêm túc và tâm huyết của
GV Dưới đây là một số trải nghiệm của bản thân tôi
2.3.1.1 Ưu điểm
Đối với cách dẫn nhập này, ta không cần tốn thời gian để chia cắt làm 2
bước (kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới như thông thường), là cách làm “hai trong một” mà vẫn khá ấn tượng
Hệ thống kiến thức trong cái nhìn tổng thể, đối chiếu, so sánh, tương liên tri thức sẽ vững vàng và sâu sắc hơn
Lưu ý:
Việc kiểm tra bài cũ kết hợp giới thiệu bài mới mà có thể tạo ta “ hứng thú”
và “tâm thế” thì dĩ nhiên GV không thể tùy hứng được, mà đương nhiên phải có
“kịch bản” rõ ràng cho tiến trình, bước đi, thậm chí từng câu hỏi gợi mở cụ thể đểhướng đến bài học mới một cách ấn tượng
2.3.1.2 Tiến trình cụ thể qua ví dụ minh họa
* Câu hỏi và đáp án chuẩn bị
- Câu hỏi:
Câu hỏi 1: Hãy khái quát lại những đặc trưng cơ bản nhất của chủ nghĩa lãng mạn?
Những đặc trưng ấy được thể hiện như thế nào trong tác phẩm của Thạch Lam?
Đáp án chuẩn bị:
Trang 11+ Về nội dung: Nếu văn học hiện thực viết về cuộc sống “như nó vốn có” thì văn học lãng mạn lại viết về cuộc sống “như nó ước mơ”
+ Về nghệ thuật: tập trung xây dựng hình ảnh những con người phi thường tronghoàn cảnh phi thường ; Sử dụng nghệ thật đối lập như một nguyên tắc cơ bản (cóphân tích ngắn gọn kèm theo: Đối lập ánh sáng và bóng tối, Hà Nội và Phố huyện)
Câu hỏi 2: Đặc điểm nào của văn học lãng mạn chưa thể hiện rõ nét trong tác phẩm của Thạch Lam? Giải thích?
Đáp án chuẩn bị:
+ Nội dung: có thể hiện được ước mơ, hướng về một cuộc sống tốt đẹp hơn Ôngkêu gọi, thúc dục con người hãy biết ước mơ, hãy biết khát khao song nhìn chungcuộc sống ấy vẫn tàn lụi, đượm buồn
+ Nghệ thuật: Đã sử dụng thành công nghệ thuật đối lập như một nguyên tắc cơbản, song thế giới nhân vật trong tác phẩm của Thạch Lam là thế giới nhân vật bé
nhỏ, đáng thương nhuốm sắc màu hiện thực chưa mang rõ nét “ Con người phi thường trong hoàn cảnh phi thường”
* Dẫn nhập tạo tâm thế và cảm xúc
Bước 1: Nhận xét phần trả lời của HS
Bước 2: Lồng ghép để dẫn dắt: Cũng là một nhà văn lãng mạn, cũng là nhà văn tiêu
biểu của “ Tự lực văn đoàn” song nếu Thạch Lam chọn thế giới của những con người yếu đuối, bé nhỏ và tội nghiệp man mác sắc màu hiện thực thì Nguyễn Tuân đã “ xây dựng được những con người phi thường trong hoàn cảnh phi thường” Nếu Thạch Lam lại là nhà văn “duy cảm” với những dòng cảm xúc lấp lánh về số phận và sự bé nhỏ của con người và niềm hi vọng rất mong manh, thì Nguyễn Tuân lại là nhà văn “ duy mĩ” tôn thờ thế giới của cái đẹp và thể hiện niềm tin mãnh liệt rằng cái đẹp luôn
chiến thắng như ông đã ước mơ Có thể nói, tác phẩm của Nguyễn Tuân là một đạidiện đầy đủ cho chủ nghĩa lãng mạn Vậy những con người ấy là ai? Họ đã phi thườngnhư thế nào? Nguyễn Tuân đã gửi gắm những mơ ước gì trong tác phẩm? Và cái đẹptrong tác phẩm của ông được khai thác ở phương diện nào Câu hỏi ấy sẽ được giải
Trang 12đáp trong bài học ngày hôm nay với tác phẩm tiêu biểu của ông trước cách mạng
tháng Tám:“ Chữ người tử tù”.
2.3.1.3 Phân tích dẫn chứng và hiệu quả đem lại
Định hướng nội dung tác phẩm: thế giới của cái đẹp, tư tưởng của tác phẩm,đặc trưng của văn học lãng mạn
Tâm thế tiếp nhận: Hs sẽ tò mò, háo hức với những vấn đề được đặt ra:những con người phi thường ấy là ai? Hoàn cảnh phi thường như thế nào? Tại saoNguyễn Tuân được mệnh danh là nhà văn duy mĩ?
Cảm xúc của HS: sự chờ đợi khai thác nội dung bài học, hơn nữa, ngay từđầu với cách giới thiệu ở trên HS sẽ có thể hình dung ra được “ không khí” của tácphẩm và chuẩn bị tâm thế “ nhập cuộc”
Với sự khơi gợi như vậy, cộng với sự linh hoạt của GV trong những bướctiếp theo của bài học tôi tin rằng chúng ta sẽ có một giò học như mong đợi
2 3.2 Hình thức “ Viết mở bài” – kết hợp lời bình của GV
2.3.2.1: Ưu điểm:
Đây là cách giới thiệu khá linh hoạt và thoải mái, dễ ấn tượng, không gò bó Giới
thiệu bài học tách rời kiểm tra bài cũ ,ta hoàn toàn chọn cách dẫn dắt trọng tâmnhất mà không phải khuôn ép, phụ thuộc nội dung nào khác
Sự chuẩn bị linh hoạt không chỉ là chuẩn bị cho từng buổi lên lớp cụ thể mà
để có được những “ mở bài” ấn tượng cho bài học, khơi dậy sự tích cực của HS làquá trình học hỏi và tích lũy lâu dài trong quá trình trau dồi, học hỏi chuyên môn
và ngay cả trong đời sống