1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế tư nhân (chiến lược, văn hóa kinh doanh, năng lực)

12 61 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 43,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua cách hiểu trên, chúng ta có thể đi đến cái nhìn mang tính cụ thể, rõ ràng về kinh tế tư nhân như một khu vực kinh tế gắn liền với loại hình sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất,

Trang 1

Tổng quan về kinh tế tư nhân

1 Khái niệm

Hiện tại, vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất về định nghĩa chính xác của kinh tế tư nhân Thông thường, ‘kinh tế tư nhân’ được hiểu theo hai cấp độ khác nhau

Trên cấp độ khái quát, tức xem xét theo góc độ khu vực nhà nước và khu vực ngoài quốc doanh, Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế nằm ngoài quốc doanh (nằm ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước, thỏa mãn tư nhân nắm trên 50% vốn đầu tư Kinh tế tư nhân cần được hiểu là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không dựa trên sở hữu, nguồn lực nhà nước ở các yếu tố của quá trình sản xuất [ CITATION Lie09 \l 2057 ] Đặc trưng nổi bật của các doanh nghiệp thuộc khối kinh tế tư nhân là nguồn vốn doanh nghiệp thuộc về chính họ và có quyền được hưởng toàn bộ thành quả lao động mà họ tạo ra Nói một cách đơn giản, một doanh nghiệp được coi là thuộc kinh tế tư nhân khi doanh nghiệp tư nhân hoạt động bằng tiền túi và cho túi của mình Đó là điểm khác biệt mấu chốt, quan trọng nhất giữa khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước trong các mô hình nền kinh tế Có thể khái quát nguyên tắc doanh nghiệp tư nhân hoạt động thành “bốn tự”: tự bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ trong kinh doanh

và tự bù lỗ Đây là cơ chế gắn kết quả hoạt động (lợi ich) với năng lực hoạt động của người lao động, một cơ chế hiệu quả, hoạt động tốt, hướng đến kết quả cao Vì thế, cần làm rõ bản chất, cũng như tối ưu hóa, tạo ra chuỗi giá trị của mô hình kinh tế tư nhân

Trên một góc độ hẹp hơn, Kinh tế tư nhân gồm có kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản cá nhân Thông qua cách hiểu trên, chúng ta có thể đi đến cái nhìn mang tính cụ thể, rõ ràng về kinh

tế tư nhân như một khu vực kinh tế gắn liền với loại hình sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất, tồn tại dứi các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần và các hộ kinh doanh cá thể

Liên kết kinh tế tư nhân được hiểu là kết nối các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân,

cả lớn và nhỏ, trong nước và ngoài nước lại với nhau để tạo ra chuỗi giá trị, tạo ra sản phẩm với giá trị cũng như chất lượng cao, đáp ứng được các tiêu chuẩn nội địa và quốc tế, cắt giảm chi phí, tối đa hóa được lợi nhuận mang lại cho mỗi doanh nghiệp [ CITATION Lor06 \l 2057 ]

2 Vai trò của kinh tế tư nhân

Trang 2

Kinh tế tư nhân có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nhiều ngành, nghề ở nông thôn cũng như thành thị, có điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động

Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, trong đó các chủ thể của nó được tiến hành sản xuất, kinh doanh một cách tự chủ vì lợi ích của bản thân và thông qua đó tiến hành thực hiện lợi ích xã hội Cho đến nay, Kinh tế tư nhân được coi là khu vực cung cấp khối lượng sản phẩm lớn nhất cho xã hội Sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu, thành phần kinh

tế, trong đó có kinh tế tư nhân là vấn đề tất yếu bắt nguồn từ quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đây là khu vực kinh tế nhạy cảm với đặc trưng của nền kinh tế thị trường, có tiềm lực lớn trong việc nâng cao năng lực nội sinh của đất nước, tăng trưởng kinh tế [ CITATION Chr09 \l 2057 ]

Trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam chiếm khoảng 40% GDP và thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Đặc biệt, khu vực doanh nghiệp của kinh tế tư nhân cho thấy xu thế đóng góp ngày càng tăng trong tỷ trọng GDP, từ 6,9% năm

2010 lên khoảng 8,2% năm 2017 Mặc dù vậy, tỷ trọng của khu vực này không có nhiều thay đổi trong khi tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước trong GDP liên tục giảm, từ 35,6% năm 2005 xuống còn 27,1% năm 2017 và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ khoảng hơn 15% năm 2005 lên khoảng 18,5% năm 2017 [ CITATION Tổn182 \l 2057 ]

Bảng 1- Tỷ trọng của các thành phần kinh tế trong GDP giai đoạn 2010 - 2017

Kinh tế nhà

Kinh tế tư

Khu vực

Kinh tế tập

Trang 3

phẩm trừ trợ

cấp sản phẩm

Tổng 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0

Nguồn: [ CITATION Tổn182 \l 2057 ]

Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy rằng, mặc dù khu vực kinh tế tư nhân đã và vẫn có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt xét ở khía cạn tỷ trọng đóng góp trong GDP Tuy nhiên, tỷ trọng này lại không có nhiều sự thay đổi trong nhiều năm qua Nếu xét ở góc

độ đóng góp của khu vực doanh nghiệp của tư nhân thì tỷ trọng của khu vực này có xu hường ngày càng cao, từ 6,9% năm 2010 lên khoảng 8,2% năm 2017

Khu vực kinh tế tư nhân góp phần khơi dậy một bộ phận quan trọng tiềm năng của đất nước, tăng cường nội lực, tham gia phát triển nền kinh tế quốc dân Khu vực này góp phần xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp thúc đẩy lực lượng sảng xuất phát triển Khu vực kinh tế tư nhân phát triển làm cho các quan hệ sản xuất đã kéo theo sự biến đổi tương ứng của quan hệ quản lý

và phân phối làm cho quan hệ sản xuất trở nên linh hoạt, phù hợp với trình độ phát triển

[CITATION Dia17 \l 2057 ] Nhờ vậy đã khơi dậy và phát huy tiềm năng về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất của toàn xã hội.Khu vực kinh tế tư nhân phát triển đã góp phần quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội và sử dụng tối ưu các nguồn lực Môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi đã tạo điều kiện cho việc huy động các nguồn lực, trong đó có nguồn vốn trong cộng đồng trở nên dễ dàng và linh hoạt hơn

Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước Mặc dù đóng góp vào ngân sách của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tuy còn nhỏ (chưa tới 10%) nhưng đang có xu hướng tăng lên So với đóng góp vào ngân sách Trung ương thì đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào nguồn thu ngân sách địa phương lớn hơn nhiều Ngoài đóng góp vào nguồn thu ngân sách, các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân còn có sự đóng góp đáng

kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học, thể dục thể thao, đường sá, cầu cống, nhà tình nghĩa và các công trình phúc lợi khác

Đồng thời, khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực kinh tế tư nhân đều đặn và xấp xỉ với tốc độ tăng GDP của toàn bộ nền kinh tế Sự phát triển nhanh của kinh tế tư nhân đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy tăng trưởng nền

Trang 4

kinh tế của cả nước Khu vực kinh tế tư nhân phát triển góp phần thu hút số lượng lớn lao động cũng như góp phần đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động Hiện nay ở nước ta, khu vực kinh tế nhà nước chỉ giải quyết việc làm được cho khoảng 45 triệu lao động (bao gồm cả khu vực doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể), trong đó khu vực doanh nghiệp của tư nhân tạo việc làm cho khoảng 9 triệu lao động, chiếm 61,2% tổng số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp của nền kinh tế [ CITATION Tổn182 \l 2057 ] Mỗi năm khu vực này tạo thêm khoảng trên

500 nghìn việc làm mới (giai đoạn 2011- 2017)

Bảng 2-Tốc độ tăng trưởng kinh tế VN giai đoạn 2011-2015

Nguồn: [ CITATION Tổn182 \l 2057 ]

Ngoài ra, khu vực kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy đất nước hội nhập kinh tế quốc tế Một số doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân trở thành những tập đoàn kinh tế lớn và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng như tham gia vào các hợp đồng kinh doanh với nhiều đối tác lớn của các nước phát triển Thông qua hình thức liên doanh, liên kết, các doanh nghiệp tư nhân đã thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế của nền kinh tế, đặc biệt là trong việc nhận chuyển giao các công nghệ tiên tiến, phù hợp với Việt Nam cũng như mở rộng thị trường, đặc biệt là đối với một số sản phẩm có ưu thế, sản phẩm đặc trưng của Việt Nam ra thị trường thế giới Với sự năng động của mình, khu vực kinh tế tư nhân cho thấy sự vượt trội so với khu vực doanh nghiệp nhà nước ở khía cạnh này

3 Liên kết doanh nghiệp

Liên kết doanh nghiệp (Business Linkage) được định nghĩa là “mối quan hệ thương mại cùng

có lợi giữa các chủ thể kinh doanh vì lợi nhuận độc lập” Từ định nghĩa này, có thể chỉ ra rằng bất cứ mối quan hệ nào giữa các chủ thể kinh doanh mà mang lại lợi ích cho các bên tham gia đều có thể được coi là liên kết doanh nghiệp [ CITATION UNC06 \l 2057 ]

a Phân loại các mô hình liên kết doanh nghiệp

Trang 5

Theo Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), có thể chia liên kết doanh nghiệp thành ba nhóm chính, bao gồm liên kết theo chiều dọc ngược chiều, liên kết chiều dọc xuôi chiều và liên kết chiều ngang Mỗi loại liên kết doanh nghiệp này đều sở hữu những đặc điểm riêng biệt, khác nhau, không trùng lặp, đem lại các lợi ích khác nhau cho các bên tham gia [ CITATION ICF08 \l 2057 ]

Liên kết theo chiều dọc ngược chiều thường được thấy khi một doanh nghiệp mua các bộ phận, nguyên vật liệu hoặc dịch vụ từ một doanh nghiệp khác để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình Ví dụ điển hình là mối liên kết giữa Tập đoàn Vingroup, một công ty kinh doanh đa lĩnh vực, nổi bật với các dự án bất động sản như nhà ở, trung tâm thương mại, khu nghỉ dưỡng trên cả nước với Công ty Cổ phần Xây dựng

Coteccons chuyên về xây dựng với nhiều kinh nghiệm trong 15 năm

Liên kết theo chiều dọc xuôi chiều xuất hiện khi một doanh nghiệp ủy quyền cho một (hoặc nhiều) doanh nghiệp khác thực hiện hoạt động phân phối sản phẩm sản xuất bởi doanh nghiệp đó Một biển thể khác của liên kết dọc xuôi chiều là các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ hậu bán hàng (những dịch vụ nằm ngoài chế độ bảo hành thông thường) cho một doanh nghiệp đã mua sản phẩm của mình Điển hình cho mô hình liên kết này là sự hợp tác giữa Công ty VinEco và Công ty Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An Theo đó, công ty Trung An sẽ cung cấp, phân phối và bán độc quyền sản phẩm gạo do công ty sản xuất tại hệ thống chuỗi siêu thị VinMart nhờ vào một hợp đồng hợp tác chiến lược với VinEco Toàn bộ những sản phẩm này sẽ được mang nhãn hiệu VinEco

Liên kết theo chiều ngang thường được gặp giữa những doanh nghiệp có những điểm tương đồng tương đối trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh Hình thức liên kết theo chiều ngang thường đem lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhờ vào việc xóa bỏ, giảm thiểu những hạn chế gây ra bởi quy mô kinh tế như khả năng cải tiến công nghệ, cung cấp, sản xuất sản phẩm, dịch vụ cho các đối tác lớn hoặc tham gia vào thị trường toàn cầu Liên kết theo chiều ngang có thể góp phần cải thiện năng suất và khả năng cạnh tranh của toàn ngành nếu được thực hiện tốt và có chính sách hỗ trợ đúng đắn, Một ví dụ ở Việt Nam là Hiệp hội dệt may Việt Nam, được hình thành từ năm 1999 Hiệp hội đã liên kết, hỗ trợ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành dệt may, trao đổi thông tin trong nước và quốc tế về thương mại ngành dệt may, góp phần giúp dệt may Việt Nam phát triển

Trang 6

nhanh chóng, ổn định và nắm bắt được nhiều cơ hội trong quá trình hội nhập hóa, hiện đại hóa

b Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết tư nhân

Theo các chuyên gia, bốn yếu tố chính tạo nên sự thành công của một liên kết doanh nghiệp bao gồm cơ hội, thông tin, khả năng và vốn Yếu tố đầu tiên, cơ hội, là điều kiện bắt buộc để các doanh nghiệp lựa chọn liên kết Các chính sách hiện tại của Việt Nam, bao gồm chính sách khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân và mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, đã tạo ra cơ hội để các doanh nghiệp nói chung và khu vực kinh tế tư nhân nói riêng khai thác tiềm năng của thị trường trong nước và tham gia sâu hơn vào thị trường thế giới Yếu tố thứ hai, thông tin, chính là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá khả năng của các bên cùng tham gia liên kết Ngoài ra, việc nắm bắt các thông tin về thị trường một cách chính xác và kịp thời sẽ giúp các bên cùng nhau lập và thực hiện những kế hoạch liên kết hợp lý nhằm đạt được những lợi ích theo mong muốn của các bên Yếu tố thứ ba, khả năng, là việc các bên tham gia liên kết phải có khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ mà mình đã cam kết và đáp ứng được sự kỳ vọng của các bên còn lại đối với các yếu tố như chất lượng, số lượng, tính chính xác về thời gian, chi phí … Yếu tố cuối cùng, vốn, là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp trong liên kết có thể tận dụng được các cơ hội [ CITATION Sei19 \l 2057 ]

Khi đánh giá môi trường vĩ mô hiện nay, doanh nghiệp tư nhân phải đối mặt với rào cản phát triển xuất phát chủ yếu từ yếu tố chính trị - pháp luật Hệ thống pháp luật liên quan đến doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay vẫn chưa hoàn chỉnh, nhiều tình huống phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp vẫn chưa được luật Thay vào đó, các cơ quan Nhà nước thường xuyên ban hành quy định hoặc áp dụng biện pháp hành chính để giải quyết phát sinh Hệ quả của hành vi này là một hệ thống pháp luật chồng chéo, thiếu nhất quán, khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc chấp hành luật Các thủ tục liên quan đến đăng ký, quản lý doanh nghiệp có thời gian thực hiện kéo dài, khiến chi phí tuân thủ của doanh nghiệp tăng cao Ngoài ra, doanh nghiệp tư nhân còn gặp phải rào cản từ sự bất bình đẳng trong cơ chế chính sách trong tương quan với khu vực kinh tế nhà nước (ưu đãi trong việc tiếp cận vốn và đất đai, sự độc quyền trong một số lĩnh vực) và khu vực FDI (ưu đãi trong việc tiếp cận vốn, đất đai và ưu đãi thuế quan) [CITATION UNC10 \t \l 2057 ]

Trang 7

Bên cạnh các yếu tố vĩ mô, các yếu tố vi mô và nội bộ cũng là nguyên nhân khiến liên kết doanh nghiệp tư nhân phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Số lượng lớn doanh nghiệp thành lập hàng năm khiến cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tư nhân vô cùng gay gắt Đa phần doanh nghiệp tư nhân hiện tại có quy mô vừa và nhỏ, chính vì vậy, hầu như không có khả năng đầu tư vào Nghiên cứu và phát triển (R&D) nhằm tạo ra thay đổi đáng kể trong NSLĐ Nhưng đặc biệt, những vấn đề về chiến lược, văn hóa kinh doanh, năng lực của doanh nghiệp chính là 3 nguyên nhân khiến cho một số lượng lớn các doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn trong liên kết kinh tế tư nhân [ CITATION Kob99 \l 2057 ]

Yếu tố chiến lược

Chiến lược của doanh nghiệp là một điều quan trọng khi xem xét khả năng liên kết trong khu vực kinh tế tư nhân của doanh nghiệp Dễ dàng nhận thấy, so với một doanh nghiệp có chiến lược thu hẹp, giữ thị phần, duy trì vị thế hiện có trên thị trường, một doanh nghiệp có chiến lược tìm kiếm, hợp tác sẽ có xu hướng chủ động liên kết hơn Chiến lược của doanh nghiệp

là một quy trình liên tục chứ không phải là sự kiện xảy ra chỉ một lần Chiến lược hợp tác kinh doanh là một phần không thể tách rời của chiến lược kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển công ty bền vững [ CITATION

McD09 \l 2057 ]

Quy trình hoạch định chiến lược kinh doanh gồm có từ tầm nhìn doanh nghiệp, với những phân tích có cơ sở về cơ hội, rủi ro, xác định chỉ tiêu kinh doanh chính yếu với các chiến lược ưu tiên nhằm xây dựng kế hoạch thực hiện một cách khả thi Và với sự biến đổi liên tục của thế giới hiện nay, sự thay đổi và kiểm soát quản trị doanh nghiệp luôn luôn là một phần trong quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, từ sự phân tích các cơ hội và rủi ro để thấy các mặt mạnh và yếu về ngoại vi và nội vi của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể xác lập được các chiến lược về sự hợp tác qua các vấn đề về thương hiệu, phân phối, bán hàng, sản xuất, tài chính dựa vào các mối quan hệ tương quan qua sự hợp tác của các bên liên quan, từ người tiêu dùng, khách hàng, nhà cung cấp, chính quyền, truyền thông, NGOs Đặc biệt về các mối quan hệ nội vi, đó là nguồn nhân lực và tổ chức của chính doanh nghiệp

Ở Việt Nam, ví dụ điển hình của sự trái ngược trong chiến lược kinh doanh ảnh hưởng đến

sự liên kết trong kinh tế tư nhân là khu vực ngành nông nghiệp, dệt may, da giày, điện tử,…

Trang 8

vốn là khu vực truyền thống của doanh nghiệp kinh tế nhà nước mang tính bao cấp Những ngành này vẫn chưa có được thương hiệu mạnh, lợi nhuận chia sẻ trong chuỗi giá trị từ nguồn nguyên liệu đến sản xuất chế biến và phân phối đến tay người tiêu dùng là một tỷ lệ rất nhỏ so với lợi nhuận của các doanh nghiệp ở các nước trong khu vực và thế giới mà Việt Nam hội nhập Ngược lại, những doanh nghiệp hiện đại thuộc các lĩnh vực tài chính, công nghiệp hỗ trợ, FMCG với chiến lược mở rộng tìm kiếm đối tác để cải thiện chuỗi giá trị đã chủ động đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu Có thể kể đến trường hợp của tập đoàn TH với thương hiệu sữa TH True Milk là một trong những doanh nghiệp lớn có thế mạnh về sản xuất chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa Tuy vậy, dù nguồn lực lớn đến đâu, TH cũng khó có thể tự mình làm hết mọi công đoạn sản xuất, đặc biệt là những công đoạn không phải thế mạnh của công ty như sản xuất thức ăn chăn nuôi hay vận tải Đó là lý do TH phải chủ động đặt hàng các doanh nghiệp nhỏ để hình thành chuỗi liên kết ngành

Văn hóa kinh doanh

Văn hoá kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hoá mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ Nó là một phương diện của văn hoá trong xã hội, là văn hoá trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, những phương thức và kết quả hoạt động của con người được tạo ra và

sử dụng trong quá trình kinh doanh

Văn hóa kinh doanh được tạo nên bởi nhiều yếu tố Đầu tiên là triết lí kinh doanh Triết lý kinh doanh là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng dẫn dắt hoạt động kinh doanh Yếu tố cấu thành của triết lý kinh doanh bao gồm lý tưởng, phương châm hoạt động, hệ giá trị và các mục tiêu của doanh nghiệp [ CITATION Gui13 \l 2057 ] Triết lý kinh doanh được hình thành từ thực tiễn kinh doanh và khả năng khái quát hóa, sự suy ngẫm, trải nghiệm của chủ thể kinh doanh Triết lý kinh doanh là yếu tố cấu thành nên văn hóa kinh doanh Nó thể hiện tầm nhìn,

sứ mệnh và giá trị cốt lõi của doanh nghiệp đó Một doanh nghiệp có nền tảng văn hóa mạnh thì trước hết phải có triết lý kinh doanh mạnh, có tầm ảnh hưởng sâu sắc Mỗi doanh nghiệp muốn có văn hóa kinh doanh bền vững phải bắt đầu từ yếu tố cơ bản nhất là quan niệm kinh doanh đúng đắn Đồng thời, qua quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp, văn hóa của

Trang 9

người lãnh đạo sẽ phản chiếu lên văn hóa kinh doanh Những gì nhà lãnh đạo quan tâm, khuyến khích thực hiện, cách thức mà người lãnh đạo đánh giá, khen thưởng hoặc khiển trách nhân viên sẽ thể hiện cách suy nghĩ và hành vi của họ và điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi của toàn bộ nhân viên dưới quyền Doanh nhân là những người có vai trò quyết định văn hóa kinh doanh thông qua việc kết hợp hài hòa các lợi ích để doanh nghiệp trở thành ngôi nhà và là vận mệnh chung của tất cả mọi người Ngoài ra và quan trọng nhất, văn hóa doanh nghiệp tạo nên nét đặc trưng của văn hóa kinh doanh: mỗi doanh nghiệp có một đặc trưng kinh doanh riêng và chính văn hóa doanh nghiệp tạo nên nét khác biệt đó Các giá trị cốt lõi, các thói quen hay cách họp hành, đào tạo, thậm chí đến cả đồng phục, giao tiếp…

đã tạo nên văn hóa kinh doanh riêng biệt cho từng doanh nghiệp Rõ ràng việc có được điều này là vô cùng quan trọng, giữa hàng ngàn, hàng vạn doanh nghiệp trên thị trường thì có một đặc trưng riêng sẽ giúp doanh nghiệp nổi bật, dễ nhận biết và có một định vị tốt trong tâm trí khách hàng và đối tác Khả năng kinh doanh, cũng như uy tín của doanh nghiệp theo đó cũng được đẩy mạnh [ CITATION Kwo05 \l 2057 ]

Từ những điểm đã nêu trên, không khó để nhận định, một doanh nghiệp có văn hóa hợp tác, văn hóa cộng tác và tìm kiếm những giá trị từ đối tác thì sẽ có khả năng liên kết hợp tác trong khu vực doanh nghiệp tư nhân cao hơn Điều này đặc biệt sẽ càng đúng hơn nếu là trường hợp của hai doanh nghiệp có văn hóa cộng tác hợp tác với nhau Trái ngược lại sẽ là xu thế từ chối hợp tác, thu mình của những doanh nghiệp không có văn hóa hợp tác, cộng tác

Năng lực

Năng lực là khái niệm do Michael Porter đưa ra đầu tiên khi bàn về quản trị chiến lược Theo ông, một doanh nghiệp muốn thành công khi hoạch định chiến lược kinh doanh phải dựa trên những năng lực cốt lõi của mình để tận dụng những cơ hội và vượt qua những thách thức của môi trường kinh doanh Nếu mục đích của Công ty là tạo ra những khoản lợi nhuận lớn thì Công ty cần có những sản phẩm có sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh và được khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn [ CITATION Mic87 \l 2057 ] Theo đó, năng lực có thể định nghĩa là khả năng làm tốt nhất một việc nào đó, khả năng kinh doanh có hiệu quả nhất trong một lĩnh vực hoặc theo một phương thức nào đó Nói một cách nôm na, có thể diễn đạt năng lực như là sở trường, là thế mạnh của doanh nghiệp Nó bao gồm cả phần “mềm” lẫn phần “cứng”, nghĩa

là cả những nguồn lực vật chất lẫn nguồn lực chất xám, ở đây không thể hiểu bằng số lượng

Trang 10

hay bằng cấp của lực lượng nhân sự, mà phải hiểu là khả năng, kỹ năng của những nhân sự

đó Năng lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất để tạo nên sự độc quyền và đây

là một lợi thế mang tính chất nền tảng giúp Công ty đứng vững trên thị trường vì nó rất khó

bị các đối thủ cạnh tranh sao chép nhằm gây ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh của Công ty

Về vấn đề liên kết doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp có năng lực, sản phẩm cốt lõi chất lượng cao, tiêu chuẩn tương ứng thì sẽ sẵn sàng hơn khi hợp tác với các doanh nghiệp Ngược lại, nếu doanh nghiệp sợ hại, doanh nghiệp yếu về nội tại, nhiều khả năng doanh nghiệp đó sẽ không tự tin hợp tác, liên kết với các doanh nghiệp khác

Ngày đăng: 21/07/2020, 05:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w