1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận sở hữu trí tuệ xác định chủ sở hữu phát minh case study autopart

17 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 103,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập đoàn AutoPart là nhà cung cấp phụ tùng ô tô Tier Two, một vài năm trước đây đã quyết định hợp tác với phòng thí nghiệm của giáo sư Tùng để giúp phòng thí nghiệm này giải quyết một vấ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Ý nghĩa của đề tài:

Ngày nay, tài sản trí tuệ ngày càng được coi trọng và được bảo vệ trên phạm vi toàn cầu Không chỉ các nước phát triển mà các nhóm quốc gia khác cũng dần ý thức được tầm quan trọng của việc bảo hộ các tài sản vô hình này Tài sản trí tuệ là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên giá trị và tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Nó ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định của các nhà đầu tư và một cách gián tiếp đến quyết định sự thành bại của một thương hiệu hay một doanh nghiệp

Với một quốc gia đang phát triển và hội nhập như Việt Nam, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ càng đóng một vai trò quan trọng trong việc thâm nhập thị trường thế giới, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Chính vì vậy, bảo hộ sở hữu trí tuệ còn là chìa khóa cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và nói rộng ra là cho mỗi quốc gia

Ngày nay trong thực tế sự sáng tạo của con người ngày càng phát triển và trong đó có rất nhiều những phát minh của thế hệ trẻ đặc biệt là học sinh và sinh viên Tuy nhiên những tác giả phát minh này còn chưa ý thức rõ ràng được sự quan trọng của việc bảo hộ các tài sản trí tuệ này

Vì vậy xuất phát từ sự quan trọng của việc bảo hộ các tài sản trí tuệ và từ thực tế trên là những lí do để chúng em đưa ra tình huống nghiên cứu này nhằm góp phần tạo nên sự hiểu biết rõ ràng hơn về sự bảo hộ các phát minh sáng chế cho cá nhân và tập thể có liên quan đến quyền bảo hộ này

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Hiểu được phát minh là gì, giải pháp kĩ thuật hữu ích là gì, quyền của tác giả phát minh, quyền của chủ sở hữu phát minh là gì và hiểu sâu hơn những kiến thức về bảo hộ tài sản trí tuệ này của Việt Nam Để từ đó đưa ra cách giải quyết tình hướng nghiên cứu đã đưa ra một cách hợp lí nhất

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Nội dung tiểu luận tập trung nghiên cứu về sự bảo hộ về bằng độc quyền sáng chế, giải pháp kĩ thuật của luật Sở hữu trí tuệ việt Nam và kết hợp với Luật dân sự Việt Nam về quyền sở hữu tài sản

4 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài này được thực hiện dựa trên những phương pháp cơ bản như sau: Phương pháp thu thập tài liệu, thông tin

Phương pháp phân tích: tổng hợp các tài liệu có được để đưa ra cách giải quyết

Trang 2

5 Bố cục của đề tài:

Nội dung đề tài gồm 2 chương như sau:

Phần 1: Tình huống nghiên cứu

Phần 2: Giải quyết tình huống

Với những lí do trên chúng em đã chọn đề tài này để nghiên cứu nhưng do

sự hạn chế về kiến thức nên chúng em mong cô sẽ góp ý, sửa đổi để bài tiểu luận của chúng em được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn cô

Trang 3

NỘI DUNG

I Nội dung tình huống

Lê Mai rất vui mừng về thành tích mà cô mới đạt được Mặc dù, Mai vừa mới bắt đầu tham gia khóa học kỹ sư tại trường đại học PTU vào mùa thu, và vẫn chưa đủ 18 tuổi cho đến ngày 3/9 này, nhưng cô đã làm việc trong suốt mùa

hè ở một phòng thí nghiệm nghiên cứu kỹ thuật của trường

Vào những ngày cuối tháng 8, Mai đã nhận được lời khen ngợi hết sức ý nghĩa từ nhà nghiên cứu chính của phòng thí nghiệm – giáo sư Nguyễn Tùng Ông ấy chúc mừng Mai về ý tưởng cô đã cung cấp cho một dự án mà phòng thí nghiệm này đang thực hiện cho tập đoàn AutoPart

Tập đoàn AutoPart là nhà cung cấp phụ tùng ô tô Tier Two, một vài năm trước đây đã quyết định hợp tác với phòng thí nghiệm của giáo sư Tùng để giúp phòng thí nghiệm này giải quyết một vấn đề mà họ đang gặp phải, đó là việc tạo ra những chiếc quạt làm mát cho các động cơ nhỏ hơn Vấn đề này liên quan đến máy móc của quạt Bởi những chiếc quạt này phải chạy ở tốc độ cao mà quan trọng là máy móc của chúng không để lại nguyên liệu thêm vào, bao gồm những bộ phận nhỏ mà có thể khó được phát hiện ra bằng mắt

Thách thức là mặc dù tập đoàn AutoPart đã có được một mức tự động hóa cao trong quy trình sản xuất, nhưng nó vẫn gặp phải khó khăn trong việc thực hiện kỹ thuật nhìn bằng máy để theo dõi chất lượng của các sản phẩm đã hoàn thành Phần lớn khó khăn là bởi vì tập đoàn AutoPart không có nhiều chuyên môn trong nội bộ công ty do việc mở rộng kinh doanh Giống như nhiều công

ty tương tự, được khởi nghiệp bởi một doanh nhân chỉ với những xưởng chế tạo máy đơn giản nhưng đã nhanh chóng phát triển đến quy mô hiện tại Theo thời gian, công ty đã phát triển tính chuyên môn quan trọng trong kỹ thuật tự động hóa, nhưng do một vài lý do họ đã không đạt được sự thành thạo trong việc mô tả tự động, thứ sẽ giúp cho công ty quản lý được chất lượng của các sản phẩm hoàn thành

Tập đoàn AutoPart đã giải quyết sự thiếu chuyên môn này bằng cách hợp tác với PTU cùng vời Giáo sư Tùng Mối quan hệ này đã trở thành một việc có ý nghĩa tích cực Giáo sư Tùng đóng vai trò như một phòng Nghiên cứu và Phát triển thực sự của tập đoàn AutoPart Tập đoàn này đã tài trợ rộng rãi về mặt tài chính cho cả phòng thí nghiệm của giáo sư Tùng nói chung cũng như các chương trình kỹ thuật khác nói riêng Trong thực tế, ông chủ của tập đoàn AutoPart gần đây đã có những đóng góp đáng kể trong việc xây dựng một trung tâm sinh viên kỹ thuật mới

Trang 4

Mai đã thể hiện sự say mê đối với các thiết bị quang học Ngay từ khi còn rất nhỏ, cô đã bị thu hút bởi kính thiên văn và máy ảnh Cô ấy đã tháo rời một cái máy ảnh cũ khi mới 5 tuổi chỉ để xem nó hoạt động như thế nào Khi lớn hơn, niềm đam mê cũng lớn hơn, và các dự án của cô ấy lại càng lớn hơn nữa Từ lớp 6 trở đi, Mai đã tham gia vào các cuộc thi khoa học hàng năm cấp thành phố và cấp tỉnh; các dự án khoa học của cô ấy luôn có thứ gì đó liên quan đến quang học và ánh sáng

Sự tham gia của Mai vào phòng thí nghiệm của giáo sư tiến sĩ Tùng một phần

là do sự yêu thích đối với kỹ thuật quang học và một phần cũng do mối quan

hệ bạn bè thân thiết giữa mẹ cô và giáo sư Tùng Mẹ của Mai là một giáo sư Lịch sử tại PTU, bà ấy và giáo sư Tùng đã cùng làm việc trên một số Uỷ ban hành chính và trở thành bạn thân Khi Mai nói với mẹ rằng cô ấy muốn học tại trường kỹ thuật của PTU, mẹ cô ấy đã gợi ý rằng Mai nên gọi cho tiến sĩ Tùng để nhận được lời khuyên từ ông

Mai ở gần với khuôn viên của PTU nên vào một ngày tháng ba, cô đã đến thăm giáo sư Tùng Ông khá bị ấn tượng bởi sự quan tâm của cô đối với ngành kỹ thuật Cô tỏ ra thích thú với công việc được thực hiện ở trong phòng thí nghiệm

Giáo sư Tùng quyết định sẽ cho Mai một cơ hội được làm việc trong phòng thí nghiệm của ông, mặc dù trước đây ông chưa bao giờ thuê một sinh viên dưới năm thứ 3 Họ đồng ý rằng Mai có thể bắt đầu đến phòng thí nghiệm vào hai buổi chiều mỗi tuần, và kỳ nghỉ hè từ tháng 6, cô có thể đến phòng thí nghiệm toàn thời gian Ông trả cô 10$ mỗi giờ, lấy từ tiền nghiên cứu sẵn có

Không có một hợp đồng nào liên quan đến công việc của Mai Cô chỉ được trả lương như một công nhân bình thường Do là một công nhân bình thường nên cô sẽ không được hiển thị trên hệ thống như là một nhân viên chính thức.

Mai không có nhiệm vụ được phân công cụ thể bên trong phòng thí nghiệm Hơn nữa cô được các nhân viên phòng thí nghiệm coi như trợ lý chung phụ giúp nhiều nhiệm vụ Cô có thể đối chiếu thông tin trong một ngày, soát lỗi báo cáo vào ngày kế tiếp, hoặc giúp một trong các nhà nghiên cứu vào ngày thứ ba Mai không phiền khi không được thực sự bắt tay vào nghiên cứu; cô chỉ cảm thấy hạnh phúc khi có cơ hội được tiếp xúc với phòng thí nghiệm Có một đội ngũ nhân viên lớn trong phòng thí nghiệm, bao gồm: một kỹ sư nghiên cứu, ba kỹ thuật viên nghiên cứu full-time, hai nghiên cứu sinh Tiến

sỹ, sáu nghiên cứu sinh Thạc sỹ và hai sinh viên tốt ngiệp đại học, tất cả đều làm việc ở các dự án liên quan đến việc kiểm soát quy trình Khoảng 40%

Trang 5

công việc phòng thí nghiệm là các dự án của tập đoàn AutoParts, phần còn lại

là các dự án kiểm soát quy trình được tài trợ bởi các công ty khác và Hội đồng Nghiên cứu Kỹ thuật và khoa học quốc gia (NSERC) Phòng thí nghiệm

đã tiếp cận với một số các thiết bị sẵn có tốt nhất trong lĩnh vực và chuyên ngành về sự tạo ảnh thông số cao trong quy trình sản xuất Để hỗ trợ cho công việc sau này, phòng thí nghiệm đã mở rộng các thiết bị và phần mềm Một phần công việc của Mai là theo dõi những nơi mà các thiết bị tạo ảnh khác nhau đang được sử dụng và giúp mọi người tìm ra các thiết bị mà họ muốn dùng Trong mùa hè đó, cô đã trở nên quen thuộc với tất cả các thiết bị, cách thức hoạt động và những đặc điểm của chúng

Vào đầu tháng Tám, Mai đã sử dụng kiến thức chuyên môn của cô về các thiết bị tạo ảnh để giúp thúc đẩy dự án một cách đáng kể.

Dự án này là để xác định xem sau khi tự động hóa gia công lắp ráp quạt, liệu

có thể phát hiện ra bất cứ cái gờ nào trên các cạnh của lưỡi gia công hay không Vấn đề khó khăn bởi vì một cái gờ nhỏ chỉ 0,5 mm thôi cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu suất của chiếc quạt này và chỉ một khoảng thời gian 20 giây mà dữ liệu tạo ảnh có thể được tập hợp cho mỗi phần được chế tạo bằng máy

Các kỹ sư nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã thử một số giải pháp tiềm năng khác nhau và vẫn còn gặp khó khăn để tìm ra một giải pháp hợp lý Thách thức là phải đảm bảo phát hiện được chính xác khi có đoạn gờ lên mà không tạo ra bất kỳ lỗi sai rõ ràng nào mà các thiết bị tạo ảnh phải có độ phân giải đủ cao tại đó thì tần số ánh sáng hồng ngoại lại dường như không làm được việc này Tất cả các giải pháp đã thử đều tạo ra lỗi sai rõ ràng ở một mức độ không thể được chấp nhận Giải pháp mà Mai đưa ra tương đối đơn giản và thích hợp Cô tự hỏi tại sao các hình ảnh lại phải được thực hiện trong ánh sáng hồng ngoại Cô được biết có một số thiết bị trong kho đã được điều chỉnh để phát ra ánh sáng màu đỏ có thể nhìn thấy, như là được sản xuất bởi một con trỏ laser (bước sóng 650 nm) Ánh sáng này có thể được tạo ra trong một biên độ hẹp hơn nhiều so với ánh sáng hồng ngoại đang được sử dụng và

sẽ tạo ra một thiết bị tạo hình ảnh đặc biệt có thể đáp ứng tốt với các biên độ hẹp

Do gợi ý đơn giản của Mai mà vấn đề lỗi sai rõ ràng đã được loại bỏ Chỉ mất một vài ngày để thực hiện các giải pháp trên dây chuyền sản xuất của tập đoàn AutoParts.

Họ đã vui mừng với các hệ thống mới và do có một số các nhà sản xuất phụ tùng ô tô khác cũng cùng gặp vấn đề mà chưa có giải pháp, tập đoàn Auto

Trang 6

Parts muốn nộp một bằng sáng chế phát minh này càng nhanh càng tốt Đó là

lý do giáo sư Tùng đã gọi Mai vào văn phòng của ông: ông muốn chúc mừng

và nói với cô về việc cô sẽ được đặt tên là nhà phát minh trên bằng sáng chế ứng dụng (phát minh đáp ứng yêu cầu về tính mới, tính tiện ích và sự khéo léo

đã sử dụng để xác định được cấp bằng sáng chế) Mai rất vui mừng bởi không

có nhiều học sinh trung học mới tốt nghiệp đã được đặt tên như một nhà sáng chế cho một sáng kiến sản xuất hợp pháp

Dĩ nhiên cô đã nói với mẹ mình những tin tức này Bà đã rất tự hào về Mai và nói chuyện với một số đồng nghiệp của mình tại CLB giảng viên về thành tích của con gái mình vào ngày hôm sau

Trong vòng một tuần sau cuộc nói chuyện với giáo sư Tùng, Mai đã tự hỏi cô

sẽ nhận được những gì cho bản thân mình Như một phần của quy trình trong PTU, văn phòng quản trị nghiên cứu của nó bắt đầu tìm hiểu cách bằng sáng chế sẽ được chuyển giao cho tập đoàn AutoParts như thế nào

Thỏa thuận với tập đoàn AutoParts nói rằng tất cả các phát minh do PTU và phòng thí nghiệm của giáo sư Tùng trong suốt quá trình làm dự án sẽ được

sở hữu bởi PTU và một giấy phép bản quyền miễn phí sẽ được đưa cho tập đoàn AutoParts.

PTU cũng có một chính sách liên quan đến sở hữu trí tuệ được tạo ra theo một hợp đồng nghiên cứu như thế này Nó nói rằng mọi sáng chế được thực hiện bởi một nghiên cứu sinh hoặc một nhân viên làm việc toàn thời gian của PTU

sẽ được sở hữu bởi PTU Tuy nhiên, nó không nói rõ ràng việc liệu trường hợp của Mai có được nằm trong chính sách này hay không

Văn phòng quản lý nghiên cứu đã yêu cầu Mai ký vào một số tài liệu nhằm chuyển giao quyền của mình cho PTU Cô đã chỉ ra cho người yêu cầu mình

ký các văn bản này là cô vẫn chưa đủ 18 tuổi Mai đã đọc ở đâu đó rằng cô còn quá trẻ để ký hợp các đồng ràng buộc hợp pháp, do đó cô tự hỏi vấn đề này sẽ được giải quyết như thế nào Người được cử đi để gặp cô ấy thấy rằng vấn đề này không quan trọng và chỉ tự hỏi tại sao Mai không thể ký tất cả mọi thứ để anh ta có thể mang đi nộp

II Giải quyết tình huống

1.Tại sao ý tưởng của Mai lại là một phát minh sáng chế dù nó sử dụng công nghệ đã có sẵn?

Căn cứ vào Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2009

Điều 58 Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ

1 Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

Trang 7

a) Có tính mới;

b) Có trình độ sáng tạo;

c) Có khả năng áp dụng công nghiệp

2 Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có tính mới;

b) Có khả năng áp dụng công nghiệp

Điều 59 Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế

Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:

1 Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;

2 Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;

3 Cách thức thể hiện thông tin;

4 Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;

5 Giống thực vật, giống động vật;

6 Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;

7 Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật

Điều 60 Tính mới của sáng chế

1 Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên

2 Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó

3 Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:

a) Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này;

b) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này công bố dưới dạng báo cáo khoa học;

Trang 8

c) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức

Điều 61 Trình độ sáng tạo của sáng chế

Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng

Điều 62 Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế

Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định

Ý tưởng của Mai là một phát minh sáng chế vì đáp ứng các điều kiên sau:

* Tính mới: Vấn đề liên quan đến máy móc của quạt mà tập đoàn AutoPart gặp phải chưa được giải quyết cho đến khi có ý tưởng của Mai Ý tưởng sử dụng một loại thiết bị phát ra ánh sáng phù hợp với yêu cầu, và thiết bị này là

có sẵn trong kho ở thời điểm hiện tại, song nó chưa bao giờ được ứng dụng vào giải quyết rắc rối mà các kỹ sư phòng thí nghiệm đang gặp phải Mặc dù Mai đã kể với mẹ, sau đó mẹ cô kể lại với các giáo viên trong câu lạc bộ giáo viên của trường nhưng Mai không tiết lộ chi tiết đến mức một người có trình

độ trung bình trong cùng lĩnh vực kỹ thuật có thể tìm ra sáng chế đó, chưa nói đến mẹ cô không làm việc trong cùng lĩnh vực (bà là giáo viên Lịch sử) Ý tưởng của Mai chỉ có các đồng nghiệp trong phòng thí nghiệm nắm đầy đủ nhưng chưa có ai công bố Vì thế sáng chế của Mai chưa bị bộc lộ công khai

* Trình độ sáng tạo: ý tưởng của Mai bắt nguồn từ sáng chế khác nhưng không nảy sinh một cách hiển nhiên từ trình độ kỹ thuật hiện tại đối với một người có kỹ năng thông thường (trình độ trung bình) trong cùng lĩnh vực kỹ thuật tương ứng

* Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế: ý tưởng của Mai có khả năng

áp dụng trong dây chuyền sản xuất

2 Mai có nên ký các văn bản ấy không? Nếu có, các văn bản này sẽ chịu những ràng buộc về mặt pháp lý nào?

Mai không nên ký vào các văn bản ấy trước khi xem xét cẩn thận vì:

Trang 9

Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ 2009.

Điều 20 Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi

1 Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác

2 Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Theo nghị định 63 của Thủ tưởng chính phủ:

Điều 14 khoản B về Quyền nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ:: Đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp được tạo ra khi tác giả thi hành nhiệm vụ do tổ chức mà tác giả là thành viên giao cho hoặc được tác giả tạo ra chủ yếu do sử dụng kinh phí, phương tiện vật chất của tổ chức thì quyền nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ thuộc về tổ chức giao việc hoặc cung cấp kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả

Theo đó, trường hợp người lao động được người sử dụng lao động thuê hoặc giao việc nghiên cứu để tạo ra một sáng chế thì người sử dụng lao động có quyền nộp đơn xin cấp bằng sáng chế Một khi đã có văn bằng bảo hộ, người sử dụng lao động được pháp luật công nhận là chủ sở hữu của sáng chế này Người lao động trong trường hợp nêu trên có thể hưởng các quyền nhân thân liên quan đến sáng chế như được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế hay được nêu tên là tác giả trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế và có thể được trả thù lao cho sáng chế mà mình tạo ra

Tuy nhiên, đối với trường hợp người sử dụng lao động không thuê hay giao nhiệm vụ cho người sử dụng lao động mà người lao động nghiên cứu sáng tạo ra sáng chế thì lại chưa có quy định nào đề cập

Trong trường hợp: sáng chế do người lao động tạo ra ngoài quan hệ lao động nhưng lại nhờ sử dụng những công cụ, phương tiện và tiện ích của người sử dụng lao động thì tùy thuộc vào nội quy lao động của người sử dụng lao động, các bên có thể thỏa thuận để xác định quyền sở hữu đối với sáng chế

Dựa vào những điều trên ta thấy:

Trang 10

Thứ 1: Mai đến 3/9 năm 2016 mới đủ mười tám tuổi, vì vậy khi Mai kí vào văn bản chuyển giao thì cần có người đại diện theo pháp luật đồng ý Mặc dù phát minh sáng chế đó là dựa trên ý tưởng của Mai nhưng Mai mới chỉ có năng lực hành vi dân sự một phần nên chưa đủ khả năng xem xét các điều trong hợp đồng ví dụ như giá chuyển nhượng, quyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng

Thứ hai: Mai được nhận tiền lương trả từ phòng thí nghiệm tuy nhiên lại không

có hợp đồng lao động chính thức thuê mai làm nhân viên cho PTU Sáng chế của Mai dựa trên cơ sở vật chất của Phòng thì nghiệm nên Trường hợp của Mai

là sáng chế do người lao động tạo ra ngoài quan hệ lao động nhưng lại nhờ công

cụ, phương tiện của người sử dụng lao động Nên giữa Mai và PTU có thể thỏa thuận để xác định quyền sở hữu sáng chế một cách hợp lí Mai không ký thì cả Mai, PTU và AutoPart đều không là chủ sở hữu sáng chế, Mai ký thì cô sẽ được nhận tiền thù lao, có tên trên bằng đăng ký sáng chế, PTU và AutoPart được phép sử dụng sáng chế đó trong sản xuất

→ Vì thế, xem xét lợi ích từ việc không ký và ký, kết luận rằng lợi ích mang lại

từ việc Mai ký lớn hơn, Mai nên ký vào các văn bản này

Văn bản chuyển nhượng mà PTU yêu cầu Mai kí như là một sự thỏa thuận để làm hợp pháp hóa quyền sở hữu sáng chế của PTU

Vì vậy nếu như Mai chưa có sự xem xét kĩ nội dung của tài liệu chuyển giao và chưa có sự đồng ý của Người đại diện thì Mai không nên kí

Vì thế, trước khi quyết định có kí vào các văn bản đó hay không Mai nên

để người đại diện hợp pháp của mình xem xét các điều khoản hợp đồng và có thể chỉnh sưả nội dung đến khi có sự đồng ý của cả PTU, Mai và người đại diện hợp pháp và các bên kí thì các văn bản chuyển nhượng này mới có giá trị pháp lí

Điều 140: Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định về nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

1 Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng

2 Căn cứ chuyển nhượng

3 Quyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng

Khi Mai kí vào những văn bản đó thì sẽ xuất hiện các quyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng như trong hợp đồng chuyển nhượng sở hữu quy định:

Ngày đăng: 21/07/2020, 05:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w