1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận sở hữu trí tuệ vai trò của SHTT trong phát triển du lịch tại việt nam

35 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 64,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về Sở hữu trí tuệ:1.1 Khái quát các lĩnh vực của quyền SHTT: Theo Điều 2 8 của Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giớiWIPO -Sở hữu trí tuệ hay tài sản trí tuệ nhằm c

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Sở hữu trí tuệ đang trở thành một trong những vấn đề được quan tâm hàngđầu hiện nay tại Việt Nam, khi chúng ta hội nhập ngày một sâu rộng hơn với nềnkinh tế quốc tế Trong một thế giới “phẳng”, khi mà mọi quốc gia, mọi dân tộc

có xu hướng xích lại ngày một gần nhau hơn, thì vấn đề về sở hữu trí tuệ, khaithác các tài sản trí tuệ sao cho hợp lý càng trở nên cấp thiết và vô cùng quantrọng Trong khi các nước phát triển trên thế giới đã áp dụng và nghiên cứu sởhữu trí tuệ từ rất lâu, và đã có những quy định tiến bộ, thì tại Việt Nam, ngànhnày còn khá non trẻ và ít được mọi người chú ý đến Khi đất nước hội nhập, thìyêu cầu của các nước phát triển đối với Việt Nam về các vấn đề của sở hữu trítuệ càng cao hơn, buộc chúng ta phải chú ý hơn nữa cho lĩnh vực này

Từ lâu nay, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọngcủa nhiều nước công nghiệp phát triển Mạng lưới du lịch đã được thiết lập ởhầu hết các quốc gia trên thế giới Các lợi ích kinh tế mang lại từ du lịch là điềukhông thể phủ nhận, thông qua việc tiêu dùng của du khách đối với các sảnphẩm của du lịch Nhu cầu của du khách bên cạnh việc tiêu dùng các hàng hoáthông thường còn có những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt: nhu cầu nâng cao kiếnthức, học hỏi, vãn cảnh, chữa bệnh, nghỉ ngơi, thư giãn…Trên bình diện chung,hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cán cân thu chi của đất nước Dukhách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước có địa điểm du lịch, làm tăng thêmnguồn thu ngoại tệ của đất nước đó Ngược lại, phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đốivới những quốc gia có nhiều người đi du lịch ở nước ngoài Trong phạm vi mộtquốc gia, hoạt động du lịch làm xáo trộn hoạt động luân chuyển tiền tệ, hànghoá, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém pháttriển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa…Du lịchViệt Nam trong thời gian qua cũng đã đóng góp rất nhiều cho sự tăng trưởng vàphát triển kinh tế của đất nước Tốc độ tăng trưởng hơn 14%/năm gần gấp hailần tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Tóm lại, du lịch đóng góp một

Trang 2

phần rất quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc gia nói riêng và bảnthân quốc gia đó nói chung.

Việc hiểu và áp dụng tốt các vấn đề của sở hữu trí tuệ sẽ thúc đẩy ngành dulịch tăng trưởng và phát triển một cách mạnh mẽ Nhận biết được vấn đề đó,

nhóm chúng em quyết định lựa chọn đề tài: Vai trò của SHTT trong phát triển du lịch tại Việt Nam Dù đã có nhiều cố gắng trong tìm hiểu và nghiên

cứu nhưng không thể tránh khỏi thiếu sót, mong cô và các bạn cùng góp ý để bàitiểu luận của nhóm chúng em hoàn thiện hơn

Trang 3

I Tổng quan về Sở hữu trí tuệ:

1.1 Khái quát các lĩnh vực của quyền SHTT:

(Theo Điều 2 (8) của Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới(WIPO))

-Sở hữu trí tuệ (hay tài sản trí tuệ) nhằm chỉ những sáng tạo của trí tuệ: sángchế, tác phẩm văn học và nghệ thuật và những biểu tượng, tên gọi và hình ảnhđược sử dụng trong thương mại

(Theo WIPO-What is Intellectual Property-trang 1)

+Khái niệm quyền SHTT:

Quyền SHTT là quyền của các tổ chức và cá nhân đối với các tài sản trí tuệ,bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, quyền SHCN và quyền đối với giốngcây trồng

(Theo điều 4, luật SHTT Việt Nam)

+Các loại hình của quyền SHTT:

-Dưới đây là các lĩnh vực của quyền SHTT:

Trang 4

Sở hữu công nghiệp

(Industrial Property)

►Quyền đối với sáng chế (Patents)

►Quyền đối với kiểu dáng (Designs)

►Quyền đối với nhãn hiệu (Trademarks)

►Quyền đối với tên và chỉ dẫn thương

mại (Commercial names and designations)

►Quyền đối với bí mật thương mại

(Trade secrets)

►Quyền liên quan đến Luật hạn chế

cạnh tranh không lành mạnh

(Protection against Unfair Competition)

►Quyền đối với thiết kế bố trí mạch tích

hợp bán dẫn (Layout/designs of integrated

circuits)

►Quyền đối với giống cây trồng

(New variety of plants)

Bản quyền(Copyright)

Trang 5

1.2 Sự cần thiết bảo hộ quyền SHTT :

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng trong việc thúcđẩy sự sáng tạo, phát triển nền kinh tế, văn hóa và trở thành điều kiện tiên quyếttrong hội nhập quốc tế của mỗi quốc gia Vì vậy, tiếp tục nâng cao nhận thứccho người dân, các tổ chức và cá nhân có liên quan, nhằm đưa Luật Sở hữu trítuệ vào cuộc sống là điều cần thiết

Chúng ta có thể đặt câu hỏi, tại sao phải bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ?

Lý do thứ nhất vừa thoả đáng vừa thích hợp là người tạo ra sản phẩm (sángtạo) và có nỗ lực trong hoạt động sáng tạo trí tuệ phải có lợi ích nào đó từ những

nỗ lực này Lý do thứ hai là bằng việc dành sự bảo hộ cho các tài sản trí tuệ,những nỗ lực sáng tạo trí tuệ như vậy sẽ được khuyến khích và các ngành côngnghiệp dựa trên các sản phẩm sáng tạo như vậy có thể phát triển vì mọi ngườithấy rằng các sản phẩm như vậy mang lại sự đền bù về mặt tài chính

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn có các vai trò như:

-Khuyến khích hoạt động sáng tạo, nghiên cứu triển khai, thúc đẩy hoạtđộng thương mại, đầu tư và hoạt động cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tếquốc gia và nền kinh tế toàn cầu

- Tạo động lực cho các hoạt động sáng tạo trí tuệ khác nhau thông qua việcdành sự bảo hộ cho các thành quả sáng tạo;

- Dành cho các nhà sáng tạo trí tuệ sự công nhận chính thức;

- Xây dựng cơ sở thông tin có ý nghĩa quan trọng;

- Tạo điều kiện để phát triển cả nền công nghiệp hoặc văn hoá nội địa vàthương mại quốc tế thông qua các điều ước quốc tế quy định về chế độ bảo hộ

đa phương

Trang 6

Việc bảo hộ quyền SHTT là một nhiệm vụ đầy quan trọng, cấp thiết, và cóthể nói mang tính sống còn, nếu nền kinh tế Việt Nam thật sự muốn cất cánh baycao để sánh vai cùng với các cường quốc trên thế giới, đặc biệt là trong bối cảnhhội nhập, toàn cầu hóa ngày càng sâu đậm như hiện nay.

1.3 Hệ thống pháp luật về SHTT:

1.3.1 Bảo hộ quyền SHTT theo các công ước quốc tế:

Hệ thống pháp luật SHTT đã bắt nguồn từ thế kỷ 19 với sự ra đời của 2 điềuước nền tảng về quyền SHTT là Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu côngnghiệp và công ước Bern 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật.Tiếp đó hàng loạt các công ước quốc tế về các vấn đề khác liên quan đến quyềnSHTT đã được ký kết như Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế đối với nhãnhiệu năm 1891, Công ước Rome năm 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà sảnxuất bản ghi âm và các tổ chức phát song, Công ước Brussel về việc phổ biếncác tín hiệu mang chương trình được truyền qua vệ tinh, Công ước về bảo hộgiống cây trồng mới năm 1961, và Hiệp định hợp tác về bằng phát mình sángchế năm 1970…Có thể thấy rằng, các công ước quốc tế đã đóng vai trò rất quantrọng vào việc bảo hộ quyền SHTT, qua đó thúc đẩy các hoạt động sáng tạokhoa học và nghệ thuật Sự ra đời của các điều ước quốc tế nói trên đã khẳngđịnh vai trò ngày càng tăng của quyền SHTT đối với các hoạt động đầu tư, sảnxuất và thương mại ở từng quốc gia cũng như trong quan hệ kinh tế quốc tế

Một số công ước quốc tế tiêu biểu về SHTT

-Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp: (ký năm 1883 và được sửa đổi năm 1979): tạo lập cơ sở chung nhất cho các thỏa thuận đa

phương và song phương khác về bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp Công ước

đề ra nguyên tắc “đối xử quốc gia” (Điều 2) mà theo đó, công dân Việt Nam cóquyền được hưởng các điều kiện thuận lợi như công dân của bất kỳ một nước

Trang 7

thành viên nào khác trong việc bảo hộ nhãn hiệu (NH) tại nước đó, miễn là tuânthủ các điều kiện và thủ tục quy định đối với công dân của nước tương ứng

-Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật được ký tại Bern (Thụy Sĩ) năm 1886, lần đầu tiên thiết lập và bảo vệ quyền tác

giả giữa các quốc gia có chủ quyền Nó được hình thành sau các nỗ lực vậnđộng của Victor Hugo Công ước Berne cho phép tác giả được hưởng tác quyềnsuốt đời cộng thêm tối thiểu 50 năm sau đó Tuy nhiên các quốc gia tuân thủcông ước được phép nâng thời hạn hưởng tác quyền dài hơn, như Cộng đồngChâu Âu đã làm năm 1993 Hoa Kỳ cũng gia hạn tác quyền, như trong Đạo luậtKéo dài Bản quyền Sonny Bono năm 1998

Một số nước tuân thủ phiên bản cũ của công ước Bern cho phép tác giả đượchưởng suốt đời cộng 70 năm Thời hạn này có thể giảm đối với một số loại tácphẩm nghệ thuật (như điện ảnh) hoặc đối với các tác phẩm là công trình của một

cơ quan thì thời hạn tác quyền là 95 năm sau lần xuất bản đầu tiên

-Công ước bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng được kí kết ngày 26-10-1961 tại Rome, vì vậy còn được gọi là Công ước Rome: Công ước để mở cho tất cả quốc gia thành viên của Công

ước Berne hoặc Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC) Công ước gồm 34điều với các quy định bảo đảm sự bảo hộ tại các quốc gia thành viên, đối vớicác cuộc biểu diễn của người biểu diễn, các bản ghi âm của các nhà sản xuấtbản ghi âm các các chương trình phát sóng của các tổ chức phát sóng Đếnngày 15-7-2009 Công ước Rome có 88 quốc gia thành viên Công ước Rome

có hiệu lực tại Việt Nam ngày 1-3-2007

Với độ bao trùm ngày càng rộng của các vấn đề về SHTT, các công ướcquốc tế, ở một chừng mực nhất định, đã có sự đóng góp đáng kể vào việc đặtnền tảng và phát triển hệ thống bảo hộ quyền SHTT trên phạm vi toàn cầu Song

do đặc thù của các Công ước là tính cưỡng chế yếu, nên trên thực tế, các côngước đã được phê chuẩn vẫn chưa thực hiện được có hiệu quả mục tiêu bảo hộquyền SHTT Những hạn chế này của công ước đã ảnh hưởng không nhỏ đến

Trang 8

hiệu quả thực thi quyền SHTT và là một trong những tiền đề dẫn đến sự hìnhthành Hiệp định Trips của WTO.

1.3.2 Bảo hộ quyền SHTT theo hiệp định TRIPS:

-Nội dung cơ bản của hiệp định TRIPS:

Hiệp định TRIPS bao gồm những nội dung chính sau đây: (i) tiêu chuẩn liênquan đến khả năng đạt được, phạm vi và sử dụng quyền sở hữu trí tuệ đối vớibảy đối tượng sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, nhãnhiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế (bao gồm giống cây trồng),thiết kế bố trí mạch tích hợp và thông tin bí mật; (ii) quy định về kiểm soát thực

tế chống cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; (iii) quy định chi tiết vềthực thi quyền sở hữu trí tuệ; (iv) quy định về giải quyết tranh chấp liên quanđến sở hữu trí tuệ theo Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.[1]

- Các tiêu chuẩn liên quan đến khả năng đạt được, phạm vi và sử dụng quyền

sở hữu trí tuệ trong hiệp định TRIPS là:

(a) Quyền tác giả và quyền liên quan

Trang 9

- Kiểm soát thực tế chống cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Hiệp định TRIPS bao gồm một số quy định về thực tế chống cạnh tranh liênquan đến quyền sở hữu trí tuệ, cụ thể là Điều 8(2), Điều 31(k) và Điều 40.[9] Vấn đề thoả thuận giới hạn trong hợp đồng liên quan đến quyền sở hữu trítuệ chỉ được hiểu thông qua quy định tại Điều 8(2) và Điều 40.[10] Theo nhữngquy định này, sự lạm dụng nhất định quyền sở hữu trí tuệ và những thực tếchống cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ có thể hạn chế cạnh tranh,

do đó một mặt Hiệp định TRIPS dành quyền cho các nước thành viên WTO điềuchỉnh thực tế và mặt khác yêu cầu các nước thành viên WTO tuân thủ nhữngnghĩa vụ nhất định

-Thực thi quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:

(a) Các nghĩa vụ chung

-Giải quyết tranh chấp

Giải quyết các tranh chấp liên quan đến sở hữu trí tuệ theo Cơ chế giảiquyết tranh chấp của WTO là một trong những nội dung quan trọng nhất củaHiệp định TRIPS “Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO là yếu tố chínhtrong việc cung cấp sự an toàn và tính dự đoán cho hệ thống thương mại đaphương bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của các Thành viên chứa đựng trongcác thỏa thuận, và làm rõ các quy định hiện hành trong những thỏa thuận nàyphù hợp với các quy tắc tập quán của giải thích luật quốc tế công.”[20] Hoạtđộng của hệ thống giải quyết tranh chấp liên quan đến Ban hội thẩm, Cơ quanphúc thẩm, thư ký WTO, các trọng tài viên, các chuyên gia độc lập và một số bộphận chuyên trách

Trang 10

Hiệp định TRIPS viện dẫn các quy định của Điều XXII và Điều XXIIIGATT 1994 -đã được chi tiết hóa trong Hiệp định của WTO về các Nguyên tắc

và Thủ tục giải quyết tranh chấp - để áp dụng đối với việc thương lượng và giảiquyết tranh chấp theo Hiệp định TRIPS (Điều 64) Kết quả là, các tranh chấp sởhữu trí tuệ quy định trong Hiệp định TRIPS được giải quyết theo Cơ chế giảiquyết tranh chấp của WTO Sau thời hạn 05 năm kể từ ngày Thỏa thuận Thiếtlập WTO có hiệu lực (ngày 01 tháng 01 năm 2000), cơ chế giải quyết tranh chấpnày cũng được áp dụng để giải quyết những tranh chấp “phi bạo lực” (Điều64.2)

1.3.3 Hệ thống pháp luật Việt Nam về SHTT:

HIẾN PHÁP 1992: Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phátminh, sáng chế, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa, sản xuất, sáng tác, phêbình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác Nhà nước bảo

hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp

(Đ.60) BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 PHẦN 6: QUYỀN SHTT VÀ CHUYỂNGIAO CÔNG NGHỆ (Chương 34, 35 và 36); PHẦN 7: QUAN HỆ DÂN SỰ

CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI; LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ 2005, 2009

Các nghị định của Chính phủ Thông tư của Bộ, quy định của UBND tỉnh,thành phố:

• NĐ 100/2006/ND-CP ngày 21/9/2006, chi tiết và hướng dẫn thi hành cácđiều khoản của Luật Dân Sự và Luật SHTT liên quan đến bản quyền và quyềnliên quan - NĐ 85/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung NĐ 100/2006/NĐ-CP

• NĐ 103/2006/ND-CP ngày 22/9/2006, chi tiết và hướng dẫn thi hành LuậtSHTT liên quan đến quyền SHCN

- Thông tư 01/2007/TT-BKHCN Hướng dẫn thi hành NĐ 103/2006/NĐ-CP

Trang 11

• NĐ 104/2006/ND-CP ngày 22/9/2006, hướng dẫn thi hành Luật SHTT liênquan đến giống cây trồng

• NĐ 105/2006/ND-CP ngày 22/9/2006, chi tiết và hướng dẫn thi hành LuậtSHTT về việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước quyền SHTT

• NĐ 106/2006/ND-CP ngày 22/9/2006, xử phạt vi phạm hành chính về sởhữu công nghiệp

Luật SHTT được Quốc hội Việt Nam khoá XI trong kỳ họp thứ 8 thông quangày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2006, là luậtquy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữucông nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó

1.5 Khai thác, thương mại hóa bản quyền SHTT:

Quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội

và hội nhập kinh tế quốc tế của mỗi quốc gia Theo nhà kinh tế học Paul Romercoi sự tích lũy về tri thức chính là lực lượng điều khiển đứng đằng sau tăngtrưởng kinh tế, muốn thúc đẩy tăng trưởng, chính sách kinh tế phải khuyếnkhích đầu tư vào nghiên cứu và triển khai những nhân tố mới Hệ thống thể chế

và pháp luật của mỗi quốc gia phải khuyến khích và tạo động lực cho hoạt độngnghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các quyền sở hữu trí tuệ trên thực tiễn,

Trang 12

trong hoạt động kinh doanh Tài sản trí tuệ là một phương tiện đầu tư, kinhdoanh quan trọng trong nền kinh tế thị trường và là công cụ để phát triển doanhnghiệp Thực tế cho thấy, không chỉ có các doanh nghiệp nước ngoài mà ngàycàng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã và đang nhận ra giá trị hiện thực củaloại tài sản trí tuệ và mong muốn sử dụng những lợi thế của nó trong hoạt độngsản xuất kinh doanh của mình để phát triển kinh tế – xã hội

“Thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ” là việc tạo ra lợi nhuận từ chính việckhai thác giá trị của quyền sở hữu và quyền sử dụng các đối tượng của quyềnSHTT đang được bảo hộ Thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ là một đòi hỏi tấtyếu của việc phát triển kinh tế và hội nhập của các quốc gia

Các hình thức thương mại hoá quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:

-Khai thác quyền Sở hữu trí tuệ

-Chuyển nhượng quyền sở hữu: Là việc chuyển quyền sở hữu tài sản trí

tuệ sang cho một cá nhân hay tổ chức khác Theo quy định tại Điều 181 Bộ luậtDân sự năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 thì quyền sở hữu trí tuệ làquyền tài sản Việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ (quyền tài sản) đượcpháp luật cho phép Quy định về chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ được thểhiện trong Chương IV, Chương X, Chương XV của Luật Sở hữu trí tuệ năm

2005 (sửa đổi năm 2009) Theo đó: Việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệphải được thực hiện dưới hình thức văn bản, được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệViệt Nam (đối với trường hợp chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan vàquyền sở hữu công nghiệp), và tại Cục Trồng trọt thuộc Bộ Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn (đối với trường hợp chuyển nhượng quyền đối với giống câytrồng) Trong đó việc đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyềnliên quan là không bắt buộc

Trang 13

- Chuyển quyền sử dụng: chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN

(Li-xăng): là việc tổ chức, cá nhân nắm độc quyền sử dụng một đối tượng sở hữucông nghiệp (Bên chuyển quyền sử dụng - thường được gọi là bên giao) chophép tổ chức cá nhân tổ chức khác (Bên nhận quyền sử dụng - thường được gọi

là Bên nhận) sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp đó Đối tượng sở hữu côngnghiệp: có thể là sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, thiết kế bố trímạch tích hợp bán dẫn Người có độc quyền sử dụng đối tượng SNCN là chủ sởhữu công nghiệp ( tức là chủ văn bằng bảo hộ đối với đối tượng sở hữu côngnghiệp đó); hoặc là bên nhận li-xăng độc quyền “Văn bằng bảo hộ”có thể làBằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyềnkiểu dáng công nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợpbán dẫn, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

- Góp vốn đầu tư, liên doanh liên kết: Góp vốn là việc đưa tài sản vào

công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty Tài sảngóp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền

sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sảnkhác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty

- Nhượng quyền thương mại: Trên thế giới, hoạt động nhượng quyền

thương mại đã xuất hiện rất sớm và đến nay đã phát triển rộng khắp trên phạm

vi toàn cầu.Nhượng quyền thương mại đang được các tập đoàn kinh doanh lớntrên thế giới sử dụng với tính chất là một trong những phương thức kinh doanhchủ yếu và có hiệu quả đặc biệt là trong lĩnh vực phân phối và dịch vụ Nhượngquyền thương mại đã tạo ra một bức tranh sống động của nền kinh tế thế giới

Về bản chất, nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại đặc biệt trongnền kinh tế Đó là hoạt động được xây dựng nên bởi ít nhất hai bên, bên nhượngquyền và bên nhận nhượng quyền Trong đó, bên nhượng quyền thương mại chophép bên nhận quyền sử dụng một tập hợp các quyền thương mại của mình mà

Trang 14

chủ yếu là quyền liên quan đến đối tượng quyền sở hữu trí tuệ để tiến hành kinhdoanh Đổi lại bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền cho bên nhượngquyền Bao gồm phí nhượng quyền ban đầu và phí nhượng quyền định kỳ.Ngoài ra bên nhượng quyền có thể rằng buộc bên nhận quyền bởi các thỏa thuậnnhằm duy trì tính hệ thống hoặc để kiểm soát hoạt động của bên nhận quyền trên

cơ sở hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nhân lực cũng như một số cơ sở vật chất kỹthuật cần thiết Luật thương mại năm 2005 là văn bản pháp lý quan trọng điềuchỉnh vấn đề này

- Chuyển giao công nghệ: Ví dụ như trường hợp chuyển nhượng nhãn hiệu

tại Việt Nam: Nhãn hiệu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc doanhnghiệp xây dựng hình ảnh, thương hiệu của doanh nghiệp Tuy nhiên, để xâydựng được một thương hiệu được nhiều người biết đến thì cần mất rất nhiều thờigian Từ thực tế này, nhiều doanh nghiệp muốn rút ngắn thời gian xây dựngthương hiệu của mình có thể chọn phương án nhận chuyển nhượng quyền sởhữu nhãn hiệu của các doanh nghiệp khác đã có thương hiệu trên thị trường.Chuyển nhượng nhãn hiệu là việc chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển giao quyền sởhữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác Việc chuyển nhượng quyền sở hữunhãn hiệu phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản

Việc thương mại hóa quyền SHTT có rất nhiều ý nghĩa, thúc đẩy sự sáng tạocủa các cá nhân, tổ chức trong việc tạo ra các tài sản trí tuệ hữu ích Qua đónâng cao vai trò của sở hữu trí tuệ, đóng góp một cách tích cực và bền vững vàoviệc phát triển kinh tế nói riêng và các mặt khác của đời sống xã hội nói chung

Trang 15

II Vai trò của SHTT trong phát triển du lịch tại Việt Nam:

2.1 Vài nét về ngành du lịch tại Việt Nam:

2.1.1 Thực trạng và các xu hướng phát triển du lịch Việt Nam

2013, số khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng trên 30 lần trong 23 năm và tănggấp 2 lần sau 4 năm phục hồi khủng hoảng năm 2009 Khách du lịch nội địacũng tăng mạnh liên tục trong suốt giai đoạn vừa qua, từ 1 triệu lượt năm 1990đến 2013 đạt con số 35 triệu lượt Sự tăng trưởng không ngừng về khách đã thúcđẩy mở rộng quy mô hoạt động của ngành du lịch trên mọi lĩnh vực

Thị phần khách quốc tế đến Việt Nam trong khu vực và trên thế giới khôngngừng tăng lên Từ chỗ chiếm 4,6% thị phần khu vực Đông Nam Á, 1,7% thịphần khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và 0,2% thị phần toàn cầu vào năm

1995 đến 2013 Du lịch Việt Nam đã chiếm 8,2% thị phần khu vực ASEAN;2,4% khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và 0,68% thị phần toàn cầu Vị trí của

Du lịch Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trên bản đồ du lịch thế giới ViệtNam đang trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút mạnh dòng khách du lịch

Trang 16

Trong cơ cấu thị trường nguồn của du lịch Việt Nam, 72% đến từ khu vựcChâu Á-Thái Bình Dương, tiếp theo là Châu Âu (14%) và Bắc Mỹ (7%) Các thịtrường nguồn lớn nhất của Việt Nam thuộc các nước có GDP lớn nhất thế giới(Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Nga), thuộc các nước có dân số lớn nhất thếgiới (Trung Quốc, Mỹ, Nga và Nhật Bản), thuộc các nước có tổng chi tiêu dulịch ra nước ngoài nhiều nhất thế giới (Trung Quốc, Đức, Mỹ, Anh, Nga, Pháp,Nhật, Úc) Cơ cấu nguồn khách trên cho thấy điểm đến du lịch Việt Nam đãđược các thị trường lớn quan tâm và đang trong quá trình tìm chỗ đứng và khẳngđịnh vị trí tại các thị trường quan trọng này

b Gia tăng nhanh tổng thu từ du lịch và đóng góp vào GDP

Sự đóng góp của du lịch vào nền kinh tế nước ta giai đoạn vừa qua rất đángkhích lệ Tổng thu trực tiếp từ khách du lịch năm 2013 đạt 200 nghìn tỷ đồng(tương đương 9,7 tỷ USD), chiếm khoảng 6% GDP Tăng trưởng về tổng thu từ

du lịch nhanh hơn tăng trưởng về số lượng khách, tăng trung bình hơn 2 con số(đạt bình quân 18,7%/năm)

Theo tính toán của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Hội đồng Lữhành Du lịch Thế giới (WTTC) tiếp cận theo tài khoản vệ tinh du lịch thì năm

2012 tổng thể ngành du lịch Việt Nam đóng góp vào nền kinh tế 13 tỷ USDchiếm khoảng 9,4% GDP gồm: đóng góp trực tiếp, đóng góp gián tiếp và đónggóp phát sinh (bao gồm cả đầu tư và chi tiêu của Chính phủ cho du lịch; khấutrừ nhập khẩu và du lịch ra nước ngoài) Hoạt động kinh tế du lịch trực tiếp đượctính đến qua việc cung cấp dịch vụ ăn, ở, đi lại, tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trực tiếp phục vụ khách du lịch Các hoạt động kinh tế gián tiếp tham gia vàochuỗi cung ứng dịch vụ phục vụ khách du lịch cũng được tính toán trong đónggóp của du lịch trong nền kinh tế Ở khía cạnh này, ngành du lịch liên quan và

có hiệu ứng lan tỏa đến tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội vàđóng góp to lớn vào nền kinh tế quốc dân

Trang 17

Xét về cơ cấu doanh thu ngoại tệ trong xuất khẩu dịch vụ, doanh thu củangành du lịch chiếm trên 50% trong xuất khẩu dịch vụ của cả nước, đứng đầu vềdoanh thu ngoại tệ trong các loại hoạt động dịch vụ “xuất khẩu”, đồng thời códoanh thu ngoại tệ lớn nhất, trên cả các ngành vận tải, bưu chính viễn thông vàdịch vụ tài chính So sánh với xuất khẩu hàng hoá, doanh thu ngoại tệ từ xuấtkhẩu dịch vụ du lịch chỉ đứng sau 4 ngành xuất khẩu hàng hoá là xuất khẩu dầuthô, dệt may, giầy dép và thuỷ sản Thêm nữa, với tư cách là hoạt động “xuấtkhẩu tại chỗ”, du lịch lại đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn và tạo ra nhiều việclàm có thu nhập cho xã hội mà hiện nay chưa tính toán hết được Kim ngạchxuất khẩu du lịch đạt 5.620 triệu USD năm 2011 tăng trưởng 26,3% so với 2010.

c Đầu tư kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Kết cầu hạ tầng nói chung và hạ tầng du lịch nói riêng đã được cải thiệnđáng kể, hệ thống giao thông đường không, thủy, bộ liên tục được đầu tư mởrộng, nâng cấp; hệ thống hạ tầng năng lượng, thông tin, viễn thông và hạ tầngkinh tế-xã hội khác đổi mới căn bản, phục vụ đắc lực cho du lịch tăng trưởng.Đến nay cả nước có 8 cảng hàng không quốc tế, trong đó sân bay quốc tế Nội 5Bài và Tân Sơn Nhất với công suất sử dụng cao; hệ thống cảng biển nhà ga, bến

xe đang từng bước cải thiện nâng cấp đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch

Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện nay có trên 14.200 cơ sở lưutrú với 320.000 buồng lưu trú, trong đó số buồng khách sạn 3-5 sao đạt 21%;trên 1.250 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và hàng nghìn doanh nghiệp lữ hànhnội địa; các cơ cở dịch vụ ăn uống, nhà hàng, cơ sở giải trí văn hóa, thể thao, hộinghị, triển lãm và nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời, cải tạo nâng cấp phục vụkhách du lịch ở hầu hết các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch Đặc biệt, trongnăm 2013 với sự ra đời của hàng loạt cơ sở lưu trú (khách sạn và tổ hợp resort)cao cấp 4-5 sao với quy mô lớn như: Grand Plaza Hà Nội, Novotel, Havana,Intercontinental, The Grand Hồ Tràm Strip, đã góp phần làm cho diện mạongành du lịch Việt Nam thay đổi căn bản với những tín hiệu tích cực

Ngày đăng: 21/07/2020, 05:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w