1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận đầu tư quốc tế xu hướng vận động của FDI vào việt nam giai đoạn từ năm 2001 đến nay

43 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 374,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam:o Các nhà đầu tư nước ngoài được pháp luật Việt Nam cho phép đầu tư100% vốn để thành lập các công ty cổ phần, công ty TNHH, côn

Trang 1

I Khái quát về FDI

1 Khái niệm

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một phương thức thâm nhập thị trường nướcngoài với sự kiểm soát cao Công ty đầu tư vốn cổ phần hoặc vốn vào các quốcgia khác nhằm mục đích xây dựng hoặc mua lại các nhà máy sản xuất, các công

ty con, văn phòng bán hàng hoặc các cơ sở cần thiết khác Quyền sở hữu ở nướcngoài về các cơ sở nhà xưởng cho phép công ty duy trì sự hiện diện của mình vàbảo đảm sự kết nối trực tiếp với khách hàng và đối tác Về phương diện này,FDI là một dạng vốn cổ phần hay quyền sở hữu của việc thâm nhập vào thịtrường nước ngoài Việc hiện diện ở nước sở tại là rất cấp bách khi mà các hoạtđộng chuỗi giá trị quan trọng phải được tiến hành trên thị trường.Đầu tư trựctiếp nước ngoài là phương thức thâm nhập có liên quan chặt chẽ nhất với doanhnghiệp đa quốc gia

2 Đặc điểm

Đầu tư trực tiếp nước ngoài được mô tả bởi sáu nét đặc trưng:

FDI có sự cam kết về nguồn lực lớn hơn Với vai trò là phương thức quốc tếhóa cuối cùng, nó đòi hỏi nhiều nguồn lực và khả năng của công ty hơn bất cứphương thức thâm nhập nào khác

FDI bao hàm sự hiện diện và những hoạt động ở nước sở tại Bằng cách sửdụng phương thức FDI, ban quản lý đã chọn cách hiện diện ở nước nhận đầu tư

và thiết lập mối liên hệ trực tiếp với khách hàng, các bên trung gian, những nhàcung cấp cơ sở vật chất và các khu vực của Chính phủ Một vài hãng tập trungvào hoạt động ở một hay một số địa điểm; số khác lại phân tán FDI tới nhiềuquốc gia

Trang 2

FDI cho phép công ty đạt được hiệu quả trên quy mô toàn cầu, giúp nângcao thành tích của công ty Các nhà kinh doanh chọn mỗi địa điểm dự trên cơ sởlợi thế so sánh Điều đó có nghĩa là hãng tìm kiếm để tiến hành các hoạt độngR&D ở những nước có trình độ học vấn cao nhất về lĩnh vực hãng kinh doanh,tìm những người cung ứng mà có thể cung cấp những hàng hóa trung gian vàhàng hóa cuối cùng tốt nhất, xây dựng các cơ sở kinh doanh sản xuất ở nhữngđịa điểm có tỉ lệ năng suất trên chi phí lao động tốt nhất, và thành lập những chinhánh marketing để bán hàng hoặc dịch vụ ở những quốc gia có tiềm năng bánhàng lớn nhất.

So sánh với những phương thức xâm nhập khác, FDI gây ra sự không chắcchắn và rủi ro rất lớn, do việc thiết lập sự hiện diện ổn định ở một quốc gianước ngoài khiến cho hãng sẽ dễ bị tác động trước những hoàn cảnh đặc biệtcủa quốc gia đó Sự đầu tư lớn vào nhà máy, trang thiết bị và nguồn lực conngười ở nước sở tại sẽ khiến cho nhà đầu tư trực tiếp phải đối mặt với những rủi

ro chính trị và sự can thiệp của chính quyền địa phương về giá, lương và thủ tụcthuê FDI cũng làm giảm tính linh hoạt của công ty bằng cách thắt chặt vốn cổphần trên thị trường nước ngoài Các nhà đầu tư trực tiếp thường phải đấu tranhvới lạm phát và các điều kiện kinh tế khác ở địa phương đó Ví dụ,Procter&Gamble (P&G) có công việc kinh doanh phát đạt thông qua một công

ty con của hãng bán những sản phẩm tiêu dùng ở Thổ Nhĩ Kỳ Tuy nhiên, ThổNhĩ Kỳ lại có lịch sử về lạm phát cao, thỉnh thoảng lên đến 100% một năm.P&G đã phải nghĩ ra rất nhiều phương thức khác nhau để tối thiểu hóa nhữngthiệt hại của mình do những hiệu ứng bất lợi của lạm phát, bao gồm những đàmphán về lương vẫn đang tiếp diễn với lực lượng lao động địa phương, tăng giáphù hợp với những điều kiện địa phương và thu hồi lợi nhuận nhanh chóng

Những nhà đầu tư trực tiếp phải đối mặt nhiều hơn với những vấn đề về vănhóa và xã hội đặc trưng ở nước sở tại Các doanh nghiệp đa quốc gia với nhữnghoạt động gây chú ý lại đặc biệt dễ phải chịu những sự giám sát chặt chẽ từ phía

Trang 3

công chúng đối với những hoạt động đó Để có thể tối thiểu hóa những vấn đềtiềm năng, các doanh nghiệp đa quốc gia thường thích đầu tư vào những quốcgia có văn hóa và ngôn ngữ tương tự với nước đầu tư Ví dụ, khi mở cửa hàng ởChâu Âu, các công ty Hoa Kỳ có thể lựa chọn Bỉ hoặc Hà Lan bởi vì Tiếng Anhđược sử dụng rộng rãi ở những nước này.

Trong FDI, các công ty đa quốc gia ngày càng phấn đấu để hành động theonhững cách có trách nhiệm với xã hội ở những nước sở tại Nhiều công ty đang

cố gắng đào tạo nhân viên của mình theo đúng nội quy ở nước sở tại, đầu tư vàonhững cộng đồng địa phương và tìm kiếm để thành lập các tiêu chuẩn quốc tế

về đối xử bình đẳng đối với công nhân Ví dụ, Unilever, hãng sản xuất hàng tiêudùng khổng lồ của Hà Lan-Anh, điều hành một cộng đồng giặt là miễn phí ởkhu ổ chuột Sao Paulo, cung cấp tài chính để hỗ trợ cho những người trồng càchua chuyển sang hệ thống tưới nước thân thiện với môi trường, và tái chế 17triệu pound chất thải hàng năm ở một nhà máy kem đánh răng Tại Bangladesh,đất nước chỉ có 20 bác sĩ trên 10000 dân, Unilever đã tài trợ cho một bệnh viện

để cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế miễn phí cho những người nghèo Tại Ghana,công ty đã hướng dẫn những nhà sản xuất dầu cọ tái sử dụng chất thải nhà máytrong khi cung cấp nước uống được cho các cộng đồng nghèo khó Ở Ấn Độ,Unilever cung cấp những khoản cho vay nhỏ để giúp phụ nữ ở những làm xaxôi có thể tạo lập được những cơ sở làm ăn quy mô nhỏ Tại tất cả các nơi màcông ty hoạt động, Unilever đều thông báo rõ hãng đã thải ra bao nhiêu cácbonđioxin và những chất thải nguy hiểm

3 Phân loại

a Theo hình thức xâm nhập

Đầu tư mới (greenfield investment)

Mua lại và sáp nhập (merger & acquisition)

Trang 4

b Theo hình thức pháp lý

Hợp đồng hợp tác kinh doanh

Liên doanh

100% vốn nước ngoài

c Theo mục đích đầu tư

Đầu tư theo chiều dọc (vertical investment):

Đầu tư theo chiều ngang (horizontal investment): sản xuất cùng loại sảnphẩm

Đầu tư hỗn hợp (conglomerate investment)

d Theo định hướng của nước nhận đầu tư

FDI thay thế nhập khẩu

FDI tăng cường xuất khẩu

FDI theo các định hướng khác của Chính phủ

e Theo góc độ chủ đầu tư

Đầu tư phát triển (expansionary investment)

Đầu tư phòng ngự (defensive investment)

f Theo ảnh hưởng của FDI đến thương mại của nước nhận đầu tư

FDI ảnh hưởng tích cực đến hoạt động thương mại của nước nhận đầu tư FDI ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thương mại của nước nhận đầu tư

4 Các hình thức đầu tư

Trong các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì đầu tư trực tiếp FDI

có nhiều hình thức đầu tư đa dạng Các nhà đầu tư nước ngoài có thể lựa chọncác loại hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài sau đây:

Trang 5

Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam:

o Các nhà đầu tư nước ngoài được pháp luật Việt Nam cho phép đầu tư100% vốn để thành lập các công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợpdanh…

o Các doanh nghiệp này có thể hợp tác với nhau hoặc liên doanh với cácdoanh nghiệp trong nước để hợp tác kinh doanh

Thành lập tổ chức kinh tế liên kết, liên doanh với nhà đầu tư Việt Nam:

o Nhà đầu tư nước ngoài có thể hợp tác với nhà đầu tư trong nước để thànhlập công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần hoặc công ty hợpdanh theo quy định của Pháp luật

o Doanh nghiệp được thành lập theo cách trên được phép liên doanh vớinhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài để thành lập một tổ chức kinh tếmới

Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh với các nhà đầu tư tại Việt Nam:

o Nội dung hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có quy định về quyền lợi,trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên liên doanh

o Trong quá trình đầu tư, các bên có thể thỏa thuận và lập ban điều phối đểthực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh Ban điều phối không phải tổ chứcquản lý các bên liên doanh và các hoạt động, quyền hạn, trách nhiệm củaban này cần được thỏa thuận cụ thể

o Văn phòng phía đối tác nước ngoài có con dấu; được mở tài khoản, tuyểndụng, ký hợp đồng và tiến hành các hoạt động kinh doanh trong phạm vi cácquyền và nghĩa vụ quy định trong hợp đồng kinh doanh và theo Pháp luật

5 Những nhân tố thúc đẩy đầu tư

a Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước

Trang 6

Helpman và Sibert, Richard S Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năngsuất cận biên(số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được dodùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất)của vốn giữa các nước Một nướcthừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn Còn một nước thiếu vốnthường có năng suất cận biên cao hơn Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyểndòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận Vì chiphí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn Tuynhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cậnbiên cao mới được các Doanh nghiệp tự sản xuất mà cũng có những hoạt độngquan trọng, là sống còn của Doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dư hoạtđộng đó cho năng suất cận biên thấp.

b Chu kỳ sản phẩm

Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kìsống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoan sảnphẩm mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa.AkamatsuKaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh

và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nướcngoài Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thịtrường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thaythế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât củanước ngoài(giai đoạn sản phẩm chín muồi) Khi nhu cầu thị trường của sảnphẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuấthiện(giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa) Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và

do đó dẫn đến sự hình thành FDI.Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khisản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triểncủa mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp Ởgiai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cungcấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí

Trang 7

sản xuất Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sangnhững nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn.

c Có Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia

Stephen H Hymes (1960, công bố năm 1976), John H Dunning (1981),Rugman A A (1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốcgia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công tyvượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trựctiếp ra nước ngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽchọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họ pháthuy các lợi thế đặc thù nói trên.Những công ty đa quốc gia thường có lợi thếlớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giánhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng ta dễ dàng nhận ralợi ích của việc này

d Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thươngmại song phương Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn

do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thươngmại trong quan hệ song phương Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tưtrực tiếp vào các thị trường đó Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ

và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang Họ cònđầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc

e Có đội ngũ chuyên gia và công nghệ

Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kémphát triển hơn Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa Nhật Bản là

Trang 8

nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ Ví

dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sửdụngcác chuyên gia người Mỹ Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy.Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng

có chính sách tương tự Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nướcngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ Việc công ty đa quốc gia quốc tịch TrungQuốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốcgia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cậncông nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM Hay việc TCL (Trung Quốc)trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electroincs, việcNational Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửamua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy

f Có nguồn tài nguyên thiên nhiên

Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vàonhững nước có nguồn tài nguyên phong phú Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nướcngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này FDI củaTrung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự

g Các Chính Sách Ưu Đãi và Khuyến Khích Đầu Tư

Khi đầu tư ra nước ngoài thì các chính phủ ở nước đó đều có chính sách ưuđãi đối với các doanh nghiệp đầu tư và Hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cốđịnh hoặc để sản xuất hàng hóa xuất khẩu sẽ được miễn thuế nhập khẩu Quytrình thực hiện cấp phép đầu tư được thực hiện đơn giản nhanh chóng Các mức

h Có thị trường tiềm năng để phát triển

i Điều kiện kinh doanh dễ dàng

Trang 9

j Môi trường chính trị và xã hội ổn định

Các nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực tiếp điều hành sảnxuất kinh doanh, hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư Nước tiếp nhậnFDI ít phải chịu những điều kiện ràng buộc kèm theo của người cung ứng vốnnhư của ODA

Thực hiện liên doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư của các doanhnghiệp trong nước có thể giảm được rủi ro về tài chính, trong tình huống xấunhất khi gặp rủi ro thì các đối tác nước ngoài sẽ là người cùng chia sẻ rủi ro vớicác công ty của nước sở tại

Do vậy, FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tươngđối ít rủi ro cho nước tiếp nhận đầu tư

FDI không đơn thuần chỉ là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật,phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới, mở ra thịtrường mới… cho nước tiếp nhận đầu tư

Trang 10

Đây là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI, bởi vì hầu hết các nước đang pháttriển có trình độ khoa học và công nghệ thấp, trong khi phần lớn những kỹ thuậtmới xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệp phát triển, do đó để rút ngắnkhoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển, các nước này rất cầnnhanh chóng tiếp cận với các kỹ thuật mới Tùy theo hoàn cảnh cụ thể củamình, mỗi nước có cách đi riêng để nâng cao trình độ công nghệ, nhưng thôngqua FDI là cách tiếp cận nhanh, trực tiếp và thuận lợi Thực tế đã cho thâý FDI

là 1 kênh quan trọng đối với việc chuyển giao công nghệ cho các nước đangphát triển Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động mạnh đến quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận, thúc đẩy quá trình này trên nhiềuphương diện: chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấucác thành phần kinh tế, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu công nghệ, cơ cấu lao động… Thông qua tiếp nhận FDI, nước tiễp nhận đầu tư có điều kiện thuận lợi đểgắn kết nền kinh tế trong nước với hệ thống sản xuất, phân phối, trao đổi quốc

tế, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước này

Thông qua tiếp nhận đầu tư , các nước sở tại có điều kiện thuận lợi để tiếpcận và thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, thích nghinhanh hơn với các thay đổi trên thị trường thế giới… FDI có vai trò làm cầu nối

và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, một nhân tố đẩy nhanh quá trìnhtoàn cầu hóa kinh tế thế giới

FDI có lợi thế là có thể được duy trì sử dụng lâu dài, từ khi một nền kinh tếcòn ở mức phát triển thấp cho đến khi đạt được trình độ phát triển rất cao VốnODA thường được dành chủ yếu cho những nước kém phát triển, sẽ giảm đi vàchấm dứt khi nước đó trở thành nước công nghiệp, tức là bị giới hạn trong mộtthời kỳ nhất định FDI không phải chịu giới hạn này, nó có thể được sử dụng rấtlâu dài trong suốt quá trình phát triển của mỗi nền kinh tế

Trang 11

Với những ưu thế quan trọng như trên ngày càng có nhiều nước coi trọngFDI hoặc ưu tiên, khuyến khích tiếp nhận FDI hơn các hình thức đầu tư nướcngoài khác.

có thể bị ảnh hưởng, nền kinh tế phát triển có tính lệ thuộc bên ngoài, thiếuvững chắc

Đôi khi công ty 100% vốn nước ngoài thực hiện chính sách cạnh tranh bằngcon đường bán phá giá, loại trừ đối thủ cạnh tranh khác, độc chiếm hoặc khốngchế thị trường, lấn áp các doanh nghiệp trong nước

Thực tế đã cho thấy khi thực hiện các dự án liên doanh, các đối tác nướcngoài đã tranh thủ góp vốn bằng các thiết bị và vật tư đã lạc hậu, đã qua sửdụng, hoặc nhiều khi đã đến thời hạn thanh lý, gây ra thiệt hại to lớn cho nềnkinh tế của nước tiếp nhận đầu tư

Thông qua sức mạnh hơn hẳn về tiềm lực tài chính, sự có mặt của các doanhnghiệp có vốn nước ngoài gây ra một số ảnh hưởng bất lợi về kinh tế- xã hộinhư làm tăng chênh lệch về thu nhập, làm gia tăng sự phân hóa trong các tầnglớp nhân dân, tăng mức độ chênh lệch phát triển giữa các vùng

Với những mặt bất lợi của FDI, nếu có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ và cócác biện pháp phù hợp, nước tiếp nhận FDI có thể hạn chế, giảm thiểu những

Trang 12

tác động tiêu cực này và sử lý hài hòa mối quan hệ của nhà đầu tư nước ngoàivới lợi ích quốc gia để tạo nên lợi ích tổng thể tích cực.

II Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế

1 FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế

Từ thế kỷ trước, nhà kinh tế học Paul Samuelson đã đưa ra lý thuyết “vòngluẩn quẩn của sự chậm tiến và cú huých từ bên ngoài” Theo lý thuyết này, đa

số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, do khả năng tích luỹ vốn hạn chế

“Những nước dẫn đầu trong chạy đua tăng trưởng phải đầu tư ít nhất 20% thunhập quốc dân vào việc tạo vốn Trái lại, những nước nông nghiệp lạc hậuthường chỉ có thể tiết kiệm được 5% thu nhập quốc dân Hơn nữa, phần nhiềutrong khoản tiết kiệm nhỏ bế này phải dùng để cung cấp nhà cửa và những công

cụ giản đơn cho số dân đang tăng lên”

Trong cuốn “Những vấn đề hình thành vốn ở các nước chậm phát triển”,R.Nurkes đã trình bày có hệ thống việc giải quyết vấn đề vốn Theo ông, xét vềlượng cung người ta thấy khả năng tiết kiệm ít ỏi, tình hình đó là do mức độthấp của thu nhập thực tế Mức thu nhập thực tế phản ánh năng suất lao độngthấp, đến lượt mình, năng suất lao động tháp phần lớn do tình trạng thiếu tư bảngây ra Thiếu tư bản lại là kết quả của khả năng tiết kiệm ít ỏi đưa lại.Và thế làcái vòng được khép kín.Trong cái “vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói” đó,nguyên nhân cơ bản là thiếu vốn Do vậy, mở cửa cho đầu tư trực tiếp nướcngoài được ông xem là giải pháp thực tế nhất đối với các nước đang phát triển Samuelson cũng cho rằng, để phát triển kinh tế phải có cú huých từ bênngoài nhằm phá vỡ cái “vòng luẩn quẩn” đó, phải có đầu tư của nước ngoài vàocác nước đang phát triển Theo ông, nếu có quá nhiều trở ngại đối với việc đitìm nguồn tiết kiệm trong nước để tạo vốn thì tại sao không dựa nhiều hơn vàocác nguồn bên ngoài? “Chẳng phải lý thuyết kinh tế đã từng nói với chúng ta

Trang 13

rằng, một nước giàu sau khi đã hút hết những dự án đầu tư có lợi nhuận cao chomình, cũng có thể làm lợi cho chính nó và nước nhận đầu tư bằng cách đầu tưvào những dự án lợi nhuận cao ra nước ngoài đó sao”.

FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển mà còn là một luồn vốn

ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác, bởi FDI dựa trên quanđiểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và không tạo ra nợ chochính phủ nước tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh hướng thay đổi khi cótình huống bất lợi

2 FDI cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển

Có thể nói công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự pháttriển của mọi quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càngđược khẳng định rõ.Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trongnhững mục tiêu ưu tiên phát triển hàng đầu của mọi quốc gia.Tuy nhiên, để thựchiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn mà còn phải có một trình độphát triển nhất định của khoa học - kỹ thuật

Lênin cũng đã từng khẳng định: “Không có kỹ thuật đại tư bản chủ nghĩađược xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không cómột tổ chức nhà nước có khoa học khiến cho hàng triệu người phải tuân theo hếtsức nghiêm ngặt một tiêu chuẩn thống nhất trong công việc sản xuất và phânphối sản phẩm thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được”

Đầu tư nước ngoài (đặc biệt là FDI) được coi là nguồn quan trọng để pháttriển khả năng công nghệ của nước chủ nhà Vai trò này được thể hiện qua haikhía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sãn có từ bên ngoài vào và sự pháttriển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủnhà Đây là những mục tiêu quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhàđầu tư nước ngoài

Trang 14

Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiệnchủ yếu bởi các TNC, dưới các hình thức chuyển giao trong nội bộ giữa các chinhánh của một TNC và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC Phần lớncông nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC sang nước chủnhà (nhất là các nước đang py_ được thông qua các doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà bên nước ngoài nắm phần lớn cổphần dưới các hạng mục chủ yếu như tiến bộ công nghệ, ap công nghệ, côngnghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản líy,công nghệ marketing Theo số liệu thống kê của trung tâm nghiên cứu TNC củaLiên hợp quốc, các TNC đã cung cấp khoảng 95% trong số các hạng mục côngnghệ mà các chi nhánh của TNC ở các nước đang phát triển nhận được trongnăm 1993.

Cùng với hình thức chuyển giao trên, chuyển giao công nghệ giữa các chinhánh của các TNC cũng tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây.Trong giai đoạn 80-96 các TNC đã thực hiện khoảng 8254 hợp đồng chuyểngiao công nghệ theo kênh này, trong đó 100 TNC lớn nhất thế giới chiếm bìnhquân khoảng 35%

Bên cạnh việc chuyển giao các công nghệ sẵn có, thông qua FDI, các TNCcòn góp phần làm tăng năng lực ngiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ củanước chủ nhà Đến năm 1993 đã có 55% chi nhánh của các TNC lớn và 45% chinhánh của các TNC vừa và nhỏ thực hiện các hoạt động R&D ở các nước đangphát triển Trong những năm gần đây, xu hướng này còn tiếp tục tăng nhanh ởcác nước đang phát triển châu Á

Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài )nhất là ở cácdoanh nghiệp liên doanh) các doanh nghiệp trong nước học được cách thiết kế,chế tạo từ công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện sử dụngcủa mình Đây là một trong những tác động tích cực quan trọng của FDI đối vớiviệc phát triển công nghệ ở các nước đang phát triển

Trang 15

3 FDI giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm

Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩytăng trưởng kinh tế Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuậntối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế cạnh tranh trên thị trường thế giới Do

đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếpnhận đầu tư Số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI ngàycàng tăng nhanh ở các nước đang phát triển Ngoài ra, các hoạt động cung ứngdịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra thêm nhiều cơ hội việc làm.Trên thực tế, ở các nước đang phát triển, các dự án FDI sử dụng nhiều lao động

đã tạo nhiều việc làm cho phụ nữ trẻ Điều này không chỉ mang lại cho họ lợiích về thu nhập cao mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng phụ

nữ ở các nước này

FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nước chủnhà thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo Các cá nhân làmviệc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nângcao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến.Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồnnhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn hàng.Những cải thiện về nguồn nhân lực ở các nước tiếp nhận đầu tư còn có thể đạthiệu quả lớn hơn khi những người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyểnsang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanhnghiệp mới

Đầu tư nước ngoài còn có vai trò đáng kể đối với tăng cường sức khoẻ vàdinh dưỡng cho người dân nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào ngành

y tế, dược phẩm, công nghệ sinh học và chế biến thực phẩm

4 FDI giúp mở rộng thị trường và mở rộng xuất khẩu

Trang 16

Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng Nhờ có đẩy mạnh xuấtkhẩu, những lợi thế so sánh của yếu tố sản xuất ở nước chủ nhà được khai thác

có hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế Các nước đang phát triển tuy

có khả năng sản xuất với mức chi phí có thể cạnh tranh được những vẫn rất khókhăn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế Bởi thế, khuyến khích đầu tưnước ngoài hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc biệt trong chính sách thuhút FDI của các nước này Thông qua FDI các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếpcận với thị trường thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các TNC thựchiện ở tất cả các nước đang phát triển, các TNC đều đóng vai trò quan trọngtrong việc mở rộng xuất khẩu do vị thế và uy tín của chúng trong hệ thống sảnxuất và thương mại quốc tế Đối với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợiích cho họ thông qua sử dụng các yếu tố đầu vào rẻ, khai thác được hiệu quảtheo quy mô sản xuất (không bị hạn chế bởi quy mô thị trường của nước chủnhà) và thực hiện chuyên môn hoá sâu từng chi tiết sản phẩm ở những nới có lợithế nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm

5 FDI giúp thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Yêu cầu chuyển dịch nền kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự pháttriển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá FDI là một

bộ phận quan trọng của nền kinh tế đối ngoại, thông qua đó các quốc gia sẽtham gia ngày càng nhiều vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thếgiới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợpvới sự phân công lao động quốc tế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốcgia phù hợp với trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động FDI Ngược lại, chính FDI lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước chủ nhà, vì nó làm xuất hiện nhiều lĩnh vực

và ngành nghề kinh tế mới và góp phần nâng cao nhanh chóng trình độ kỹ thuật

và công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, phát triển năng suất lao động của các

Trang 17

ngành này Mặt khác, dưới tác động của FDI, một số ngành nghề được kíchthích phát triển, nhưng cũng có một số ngành nghề bị mai một và dần bị xoá bỏ.

Trang 18

CH ƯƠNG II: NGHIÊN CỨU DỊCH CHUYỂN NG II: NGHIÊN C U D CH CHUY N ỨU DỊCH CHUYỂN ỊCH CHUYỂN ỂN

C A FDI VÀO VI T NAM QUA CÁC NĂM ỦA FDI VÀO VIỆT NAM QUA CÁC NĂM ỆT NAM QUA CÁC NĂM

I Thực trạng của FDI tại Việt Nam giai đoạn 2001–2003

Từ 1998 đến 2000 là thời kỳ suy thoái của FDI Năm 2000, vốn FDI đăng

kí vào Việt Nam là 1,973 tỉ USD Sau khi đạt kỷ lục về vốn thực hiện vào năm

1997 với gần 3,2 tỷ USD, thì 3 năm tiếp theo đã giảm rõ rệt, năm 1998 là 2,4 tỷUSD, năm 1999 và năm 2000 mỗi năm 2,2 tỷ USD

Từ 2001 đến nay là thời kỳ phục hồi hoạt động của FDI Vốn đăng ký năm

2001 là 2 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2000 Vốn thực hiện là 2,3 tỷ USD,tăng 3% so với năm trước Như vậy, FDI đã đăng kí tăng trở lại với nhưng vẫnchưa được hai phần ba so với năm 1996

FDI tăng vào năm 2000 và năm 2001 là kết quả của dự án đường ống NamCôn Sơn (2000) với tổng vốn đầu tư là 2,43 tỷ đô-la Mỹ, và Dự án XD-KD-CGPhú Mỹ (2001) với tổng vốn đầu tư là 0,8 tỷ đô-la Mỹ

(Các dự án đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam)

Đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn là một đường dẫn khí thiên nhiên từ bể khí Nam Côn Sơn ngoài khơi Vũng Tàu vào đất liền Điểm bắt đầu là giàn khai thác khí Lan Tây và điểm kết thúc là Nhà máy Chế biến khí Dinh Cố (thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Vũng Tàu) Toàn bộ chiều dài của đường ống

là 370 km (không kể đoạn từ nhà máy Dinh Cố đi các nơi khác) Đường kính của ống là 26 inch và là loại đường ống hai pha Công suất vận chuyển theo thiết kế 19,8 triệu m3 khí/ngày (khoảng 7 tỷ m3 khí/năm), có các đầu chờ được đặt ở vị trí thích hợp để nhận khí từ các mỏ khác ngoài các mỏ Lan Đỏ và Lan Tây.Dự án lắp đặt đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn được khởi công vào ngày

Trang 19

15 tháng 12 năm 2000 và hoàn thành vào cuối năm 2002 theo phương thức BOT Đơn vị thực hiện dự án là một liên doanh gồm Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, tập đoàn BP và Công ty ConocoPhilips

Qua 5 tháng đầu năm 2001, Việt Nam đã có thêm 148 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký trên 467 triệu USD, tăng 44,2% so với cùng kỳ năm 2000 HCM tiếp tục dẫn đầu cả nước với trên 40% tổng lượng vốn đầu tư 75,7% các dự án được cấp giấy phép (112 dự án) tập trung chủ yếu vào công nghiệp với số vốn đăng ký khoảng 395,8 triệu USD HCM dẫn đầu cả nước về số dự án mới được cấp giấy phép (55) và số vốn đăng

ký (gần 200 triệu USD) Đặc biệt, 2 dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài đầu tiên vào Việt Nam ở các khu công nghiệp của thành phố với tổng vốn 1,5 triệu USD.

Dự án của Đài Loan: Công ty Vietnam Taisun, đặt ở khu công nghiệp Tân Tạo, chuyên sản xuất giấy vệ sinh và khăn giấy, 65% sản lượng dành cho xuất khẩu Dự án có vốn 1 triệu USD và thời hạn hoạt động 47 năm.

Dự án tiếp theo là của Australia: Công ty Kim Sơn đặt ở khu công nghiệp Tân Bình, chuyên sản xuất nữ trang, vàng bạc, đá quý dành hoàn toàn cho xuất khẩu, cũng có thời gian hoạt động là 47 năm và vốn 500.000 USD.

Các dự án lớn tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ Đài Loan vẫn là đối tác dẫn đầu về số dự án được cấp phép (trên 47 triệu USD cho 39 dự án).

Trong giai đoạn này, cơ cấu vốn FDI đăng ký theo đối tác cũng có nhiềuthay đổi Năm 2000, vốn FDI vào Việt Nam chủ yếu là từ châu Âu, chiếm36,6% tổng vốn FDI vào Việt Nam Vốn FDI từ các nước ASEAN ngày cànggiảm sút, chiếm 2,4% tổng vốn đăng ký Tuy nhiên, vốn từ các nước Đông Ávào Việt Nam lại tăng rõ rệt, chiếm tới 22,4% tổng vốn đăng ký Năm 2001,vốn FDI từ các nước châu Âu, châu Mỹ và Đông Á tiếp tục tăng mạnh, chiếm44,5%; 4,6% và 28,7% tổng vốn đăng ký mới

Đóng góp của FDI vào GDP: (đơn vị: %)

Trang 21

đưa ra những kết luận đáng chú ý Ông là TS Curt Nestor, hiện đang là mộtchuyên gia nghiên cứu và là giảng viên của Khoa Nhân học và Địa lý kinh tếcủa Trường Đại học Tổng hợp Goteborg (Thụy Điển)

Theo giải thích của Curt Nestor, các số liệu báo cáo về đầu tư nước ngoàicủa các tổ chức nước ngoài rất trùng khớp, nếu không muốn nói là thường giốnghệt nhau, bởi vì các số liệu này được lấy từ cùng một nguồn Về mặt lý thuyết,các tổ chức này định nghĩa về FDI dựa trên khái niệm về cán cân thanh toán.Theo đó, dòng vốn FDI là nguồn tài chính do nhà đầu tư cấp trực tiếp cho công

ty con và bao gồm ba thành phần chính là: vốn cổ phần, khoản tái đầu tư và cáckhoản vay từ công ty mẹ Trong khi đó, các nguồn tài chính khác như vốn góp

và các khoản tái đầu tư của một công ty trong nước trong trường hợp dự án đó

là liên doanh, hoặc các khoản vay thương mại từ các ngân hàng trong và ngoàinước không được coi là FDI Còn ở trong nước, Tổng cục Thống kê đưa ra các

số liệu FDI dựa trên cách tính bao gồm tất cả các nguồn vốn của một dự án đầu

tư nước ngoài, nghĩa là bao gồm cả vốn cổ phần, các khoản tái đầu tư bao gồmphần góp vốn của đối tác trong nước trong công ty liên doanh và tất cả cáckhoản vay, kể cả từ công ty mẹ và các khoản vay thương mại từ ngân hàngtrong và ngoài nước

Trong giai đoạn 2001-2003, FDI thực sự đổ vào Việt- Nam tăng 100 triệu

Mỹ kim mỗi năm và đạt tới mức 1.2 tỉ Mỹ kim trong năm 2003, nhưng vẫn thua

xa con số 2.1 tỉ Mỹ kim của năm 1997 (8) Sự hồi phục này một phần nhờ vào

sự cải thiện môi trường đầu tư tại Việt- Nam và sự khôi phục kinh tế của cácnước Đông Á Hiệp Định Phát Triển Đầu Tư Việt-Nhật ký kết vào cuối năm

2003 sẽ gia tăng đầu tư của Nhật Bản vào Việt- Nam trong những năm tới

*Tình hình FDI cụ thể tại Tp.HCM: DỰ ÁN FDI CẤP PHÉP VÀO TP HCM

Nguồn: Niên giám Thống kê TP.HCM 2002, 2003

Ngày đăng: 21/07/2020, 05:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w