1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận đầu tư quốc tế thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư trực tiếp của việt nam sang lào

46 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 201,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, cácnước tiếp nhận vốn FDI cần xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh vàcác chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ các mục tiêu pháttriển kinh tế, xã hội

Trang 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

NGOÀI VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI 1.1 Lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Theo khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) là những hoạt động nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong mộtdoanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nướcchủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanhnghiệp

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thì lại tiếp cận FDI theomột hướng khác Theo tổ chức này, đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiếtlập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là nhữngkhoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanhnghiệp nói trên bằng cách: (1) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặcmột chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (2) Mua lại toàn bộdoanh nghiệp đã có; (3) Tham gia một doanh nghiệp mới; (4) Cấp tín dụng dàihạn (> 5 năm)

Luật Đầu tư năm 2014 tại Việt Nam có đưa ra khái niệm về “nhà đầu tư”,

“nhà đầu tư nước ngoài”, “tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” nhưngkhông đưa ra khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài” Tuy nhiên, từ những kháiniệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức đầu tư quốc tế trong

đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một

dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó.

1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận Theo quy định của pháp luật nhiều nước, FDI là đầu tư tư nhân Tuy

Trang 2

nhiên, luật pháp của một số nước, trong đó có Việt Nam, quy định trong trường hợpđặc biệt FDI có thể có sự tham gia góp vốn của Nhà nước Dù chủ thể là tư nhânhay Nhà nước thì mục đích ưu tiên hàng đầu của FDI vẫn là lợi nhuận Do vậy, cácnước tiếp nhận vốn FDI cần xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh vàcác chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ các mục tiêu pháttriển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ mục đích tìmkiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư.

Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn

pháp định hoặc vốn điều lệ của doanh nghiệp theo quy định của luật pháp từng nước

để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư Tỷ lệvốn tối thiểu thay đổi tuỳ theo luật từng nước (từ 10 đến 25%) Quyền và nghĩa vụcủa nhà đầu tư FDI phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp Tỷ lệ vốn góp càng cao thì có lợinhuận cũng như quyền ra quyết định càng lớn, đồng thời rủi ro cũng lớn

Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và và chịu

trách nhiệm về lỗ, lãi Hình thức này mang tính khả thi, hiệu quả kinh tế cao vàkhông để lại gánh nặng nợ hoặc những ràng buộc về chính trị cho nước tiếp nhậnđầu tư Thu nhập của đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanhnghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phảilợi tức

FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư.

Thông qua hoạt động FDI, nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp thu khoa học côngnghệ, bí quyết kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm tổ chức quản lý hiện đại của các nước

đi đầu tư Ngược lại, các doanh nghiệp đi đầu tư cũng có thể tiếp nhận máy móc,thiết bị, bằng phát minh sáng chế, cán bộ quản lý từ nước nhận đầu tư, điển hìnhnhư qua hình thức mua lại và sáp nhập (M&A)

1.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.3.1 Theo cách thức thâm nhập

Theo tiêu chí này, FDI được chia thành hai hình thức:

Trang 3

- Đầu tư mới là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài trong đó chủ đầu tưnước ngoài góp vốn để xây dựng một cơ sở sản xuất, kinh doanh tại nước nhận đầutư.

- Sáp nhập và mua lại là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài trong đó chủđầu tư nước ngoài mua lại hoặc sáp nhập một cơ sở kinh doanh sẵn có ở nước nhậnđầu tư

1.1.3.2 Theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp

nhận đầu tư

Theo tiêu chí này, FDI được chia thành ba hình thức:

- FDI theo chiều dọc là hoạt động FDI nhằm khai thác nguyên, nhiên vật liệuhoặc để gần gũi người tiêu dùng hơn thông qua việc mua lại các kênh phân phối ởnước nhận đầu tư

- FDI theo chiều ngang là hoạt động FDI được tiến hành nhằm sản xuất cùngloại sản phẩm hoặc các sản phẩm tương tự như chủ đầu tư đã sản xuất ở nước chủđầu tư

- FDI theo chiều ngang là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài trong đódoanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư hoạt động trong cácngành nghề, lĩnh vực khác nhau

1.1.3.3 Theo hình thức pháp lý

Tùy theo quy định của luật pháp nước nhận đầu tư, FDI có thể được tiếnhành dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau Ở Việt Nam, FDI được tiến hànhdưới các hình thức pháp lý chủ yếu là:

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhàđầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý

và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

- Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước chủ nhà

trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa hai bên hoặc các bên nước chủ nhà với cácbên nước ngoài để đầu tư, kinh doanh tại nước chủ nhà

Trang 4

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hay nhiều bên để

tiến hành đầu tư kinh doanh ở một quốc gia trong đó quy định trách nhiệm và phânchia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới

Ngoài hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, FDI còn được tiến hành dướihình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xâydựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) và hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT)

1.1.4 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.4.1 Đối với nước chủ đầu tư

- Bành trướng sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trên thịtrường quốc tế

- Sử dụng lợi thế của nơi tiếp nhận vốn, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sửdụng vốn và tỷ suất lợi nhuận, khắc phục được tình trạng thừa vốn tương đối

- Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, khắc phục tình trạng lão hóa sảnphẩm

- Tìm kiếm các nguồn cung cấp nguyên, nhiên liệu ổn định

- Đổi mới cơ cấu sản phẩm, áp dụng công nghệ mới, nâng cao năng lực cạnhtranh

1.1.4.2 Đối với nước nhận đầu tư

a Đối với các nước có nền kinh tế phát triển

- Góp phần giải quyết các khó khăn về kinh tế - xã hội như thất nghiệp, lạmphát, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp

- Tăng nguồn thu và tạo điều kiện cải thiện tình hình ngân sách nhà nước, tạo

ra môi trường cạnh tranh tích cực

- Giúp người lao động, các nhà quản lý học hỏi và nâng cao trình độ

b Đối với các nước đang phát triển

Trang 5

- Là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển với thế giới.

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa

- Phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ cao, tạo việc làm chongười lao động

- Tăng thu ngân sách nhà nước thông qua thuế và tiêu dùng các dịch vụ côngcộng

- Có điều kiện tiếp thu khoa học - công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lýtiên tiến và tác phong làm việc công nghiệp

Tuy nhiên, FDI cũng có những hạn chế nhất định Luồng FDI thường chỉ đivào những nước có nền kinh tế - chính trị ổn định, môi trường đầu tư hấp dẫn Nếunước nhận đầu tư không có kế hoạch đầu tư chi tiết, cụ thể và khoa học sẽ dẫn tớitính trạng đầu tư tràn lan, tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực bị khai thác cạn kiệt,khó bố trí đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ; việc không thẩm định chặt chẽ khiếnnước nhận đầu tư có thể nhập khẩu phải thiết bị, công nghệ lạc hậu; nếu chính sách,pháp luật cạnh tranh không đầy đủ còn dễ dẫn tới tình trạng doanh nghiệp nướcngoài chèn ép các doanh nghiệp trong nước Bên cạnh đó, FDI còn khiến nước chủđầu tư mất đi một số lượng lớn việc làm cho lao động trong nước, gặp khó khăntrong quản lý vốn, công nghệ và một số ảnh hưởng tiêu cực lên sự ổn định của đồngtiền cũng như cán cân thanh toán quốc tế

1.2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Nhà nước Việt Nam khuyến khích nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ranước ngoài nhằm khai thác, phát triển, mở rộng thị trường; tăng khả năng xuất khẩuhàng hóa, dịch vụ, thu ngoại tệ; tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lựcquản lý và bổ sung nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Hiện nay, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được quy định tại Luật Đầu tư số67/2014/QH13 (Chương V, Điều 51 đến 66), Nghị định 83/2015/NĐ-CP bao gồm 6chương và 41 điều quy định chi tiết về hoạt động đầu tư ra nước ngoài, Quyết định

Trang 6

236/QĐ-TTg ngày 20/02/2009 của Thủ tướng phê duyệt Đề án “Thúc đẩy đầu tưcủa Việt Nam ra nước ngoài”, Thông tư số 03/2018/TT-BKHĐT ban hành các mẫucác văn bản thực hiện thủ tục đầu tư trực tiếp ra nước ngoài áp dụng với các tổchức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

Một số quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

cụ thể như sau:

1.2.1 Điều kiện thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Các nhà đầu tư thuộc tất cả các loại hình doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhântại Việt Nam, ngoại trừ hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong lĩnh vực dầukhí và một số lĩnh vực đặc thù hoặc tại những địa bàn đầu tư đặc thù thực hiện theoquy định riêng của Chính phủ, được đầu tư trực tiếp ra nước ngoài khi đáp ứng cácđiều kiện sau:

- Có dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài;

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam;

- Tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn nhà nướcđối với các trường hợp sử dụng vốn nhà nước để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài;

- Được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nướcngoài

1.2.2 Quản lý dòng tiền đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Giao dịch chuyển tiền từ Việt Nam ra nước ngoài liên quan đến hoạt độngđầu tư ra nước ngoài phải được thực hiện thông qua một tài khoản vốn riêng mở tạimột tổ chức tín dụng được phép tại Việt Nam và phải đăng ký tại Ngân hàng Nhànước Việt Nam theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối

- Nhà đầu tư được chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt độngđầu tư khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

+ Đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, trừ trườnghợp quy định

Trang 7

+ Hoạt động đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu

tư chấp thuận hoặc cấp phép Trường hợp pháp luật của nước tiếp nhận đầu tưkhông quy định về việc cấp phép đầu tư hoặc chấp thuận đầu tư, nhà đầu tư phải cótài liệu chứng minh quyền hoạt động đầu tư tại nước tiếp nhận đầu tư

+ Có tài khoản vốn theo quy định

- Việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài phải tuân thủ các quy định của phápluật về quản lý ngoại hối, xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và quy định khác củapháp luật có liên quan

- Nhà đầu tư được chuyển ngoại tệ hoặc hàng hóa, máy móc, thiết bị ra nướcngoài để phục vụ cho hoạt động khảo sát, nghiên cứu, thăm dò thị trường và thựchiện hoạt động chuẩn bị đầu tư khác theo quy định của Chính phủ

1.2.3 Chuyển lợi nhuận về nước

Trừ trường hợp sử dụng lợi nhuận để đầu tư ở nước ngoài theo quy định,trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày có báo cáo quyết toán thuế hoặc văn bản có giátrị pháp lý tương đương theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư, nhà đầu

tư phải chuyển toàn bộ lợi nhuận thu được và các khoản thu nhập khác từ đầu tư ởnước ngoài về Việt Nam

Trong thời hạn quy định mà chưa chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhậpkhác về Việt Nam, nhà đầu tư phải có văn bản báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư vàNgân hàng Nhà nước Việt Nam Thời hạn chuyển lợi nhuận về nước được gia hạnkhông quá hai lần, mỗi lần không quá 06 tháng và phải được Bộ Kế hoạch và Đầu

tư chấp thuận bằng văn bản

1.2.4 Sử dụng lợi nhuận để đầu tư ở nước ngoài

Nhà đầu tư sử dụng lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư ở nước ngoài đểtăng vốn, mở rộng hoạt động đầu tư ở nước ngoài phải thực hiện thủ tục điều chỉnhGiấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài và báo cáo Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam

Trang 8

Trường hợp dùng lợi nhuận thu được từ dự án đầu tư ở nước ngoài để thựchiện dự án đầu tư khác ở nước ngoài thì nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục cấp Giấychứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho dự án đầu tư đó và phải đăng ký tàikhoản vốn, tiến độ chuyển vốn đầu tư bằng tiền với Ngân hàng Nhà nước ViệtNam.

1.2.5 Thực hiện chế độ báo cáo đầu tư ra nước ngoài

Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tưđược cấp tài khoản truy cập Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài để thực hiện chế độ báo cáo định

1.2.6 Nghĩa vụ tài chính

Nhà đầu tư có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinhliên quan đến dự án đầu tư ra nước ngoài đối với nhà nước Việt Nam theo quy địnhcủa pháp luật về thuế

Việc miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với phần vốn bằng hàng hóa,máy móc, thiết bị chuyển ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và chuyển từnước ngoài về Việt Nam thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu

Trang 9

1.2.7 Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư trong trường hợp đưa người lao động

Việt Nam đi làm việc tại dự án đầu tư ở nước ngoài

Nhà đầu tư được tuyển dụng lao động Việt Nam đi làm việc cho dự án đầu tưcủa mình ở nước ngoài theo quy định của pháp luật lao động của Việt Nam và củaquốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư

Nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật vềviệc đưa lao động Việt Nam làm việc cho dự án đầu tư tại nước ngoài; đồng thờibảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động Việt Nam ở nước ngoài; chịu tráchnhiệm giải quyết các vấn đề phát sinh trong việc đưa lao động Việt Nam làm việccho dự án đầu tư tại nước ngoài và quy định khác của pháp luật có liên quan

1.2.8 Thanh lý dự án đầu tư ra nước ngoài

Ngay sau khi kết thúc dự án đầu tư, nhà đầu tư phải thanh lý dự án đầu tưtheo quy định của pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư

Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày có báo cáo quyết toán thuế hoặc văn bản

có giá trị pháp lý tương đương theo quy định của pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổtiếp nhận đầu tư liên quan đến kết thúc việc thanh lý dự án đầu tư, nhà đầu tư phảichuyển về nước toàn bộ các khoản thu còn lại từ việc thanh lý dự án đầu tư

Trường hợp có nhu cầu kéo dài thời hạn quy định, chậm nhất trước ngày hếthạn nhà đầu tư phải có văn bản đề nghị và nêu rõ lý do gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tưxem xét, quyết định Việc gia hạn được thực hiện không quá một lần và không quá

06 tháng Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của nhàđầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản trả lời nhà đầu tư về việc gia hạn thờihạn chuyển về nước toàn bộ các khoản thu còn lại từ việc thanh lý dự án đầu tư.Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hoàn tất việc thanh lý dự án đầu tư tại nướcngoài và chuyển về nước toàn bộ các khoản thu còn lại từ việc thanh lý dự án đầu tư(nếu có), nhà đầu tư làm thủ tục chấm dứt dự án đầu tư ra nước ngoài theo quy định

Trang 10

1.2.9 Một số hiệp định đầu tư quan trọng mà Việt Nam đã tham gia

1.2.9.1 Hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về các biện pháp đầu tư

liên quan đến thương mại (TRIMs)

Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) năm

1994 của WTO là một hiệp định đầu tư đa phương nhưng không toàn diện Hiệpđịnh TRIMs chỉ quy định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị cấm

áp dụng chứ không bao trùm tất cả các vấn đề về đầu tư nước ngoài Để đạt đượcmục đích này, một danh sách cụ thể về các biện pháp TRIMs không phù hợp vớicác điều khoản trên được nhất trí bổ sung vào hiệp định Danh sách này bao gồmcác biện pháp yêu cầu một số mức độ nhất định về mua sắm nội địa của doanhnghiệp (yêu cầu về tỉ lệ nội địa hóa) hay hạn chế về số lượng hay giá trị nhập khẩu

mà một doanh nghiệp có thể mua hoặc sử dụng tương đương với lượng hàng hóa

mà doanh nghiệp xuất khẩu (yêu cầu về cân bằng thương mại)

Hiệp định TRIMs chỉ đề cập đến nghĩa vụ của các Chính phủ không đượcban hành các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại TRIMs (mà không đề cậpđến quyền trực tiếp của nhà đầu tư) Tuy nhiên, việc các chính phủ tuân thủ đầy đủcác quy định tại TRIMs sẽ mang lại lợi ích các nhà đầu tư nước ngoài Đối vớidoanh nghiệp Việt Nam, nếu muốn đầu tư ra nước ngoài (đặc biệt ở các nước thànhviên WTO có trình độ phát triển và các quy định về đầu tư còn hạn chế) cần lưu ýđến các biện pháp bị cấm đã nêu hoặc minh họa trong Hiệp định TRIMs để có thể

có cách thức bảo vệ lợi ích của mình khi bị vi phạm (ví dụ khiếu nại với chính phủnước nhận đầu tư hoặc thông tin cho Chính phủ Việt Nam để có thể tham vấn vớinước nhận đầu tư nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của nhà đầu tư Việt Nam)

1.2.9.2 Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA)

Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) được kí kết vào ngày26/02/2009, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 29/3/2012 với mục đích thúc đẩy tiến trìnhxây dựng một khu vực đầu tư tự do, mở cửa, minh bạch và hội nhập trong ASEANnhằm đạt được mục tiêu thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm2015

Trang 11

ACIA, theo đúng như tên gọi, là một hiệp định đầu tư toàn diện nhằm cảithiện môi trường đầu tư sao cho cạnh tranh, minh bạch, tự do và thông thoáng hơn.Hiệp định ra đời trên cơ sở 2 hiệp định đầu tư ASEAN trước đó là hiệp địnhASEAN năm 1997 về việc thúc đẩy và bảo vệ hoạt động đầu tư (hay hiệp định đảmbảo hoạt động đầu tư ASEAN) (IGA) và hiệp định khung về hoạt động đầu tưASEAN (AIA) Cụ thể, hiệp định ACIA đã nhắc lại các điều khoản trong IGA vàAIA đồng thời tiến hành một số điều chỉnh căn cứ vào thực tiễn đầu tư quốc tế.Hiệp định này tập trung vào các điều khoản định hướng cho 4 vấn đề chính là tự dohóa, bảo vệ, lợi thế hóa và thúc đẩy hóa Các điều khoản toàn diện của ACIA sẽ bảo

vệ hơn nữa cho các hoạt động đầu tư và nâng cao sự tự tin của các nhà đầu tư trongkhu vực Hiệp định này cũng bao gồm các điều khoản mới về giải quyết tranh chấpphát sinh liên quan tới nhà đầu tư trong nước, chuyển giao và đãi ngộ đầu tư ACIAcũng đề cập tới một danh sách các hạn chế đầu tư và các tiêu cực trong đầu tư, đồngthời cũng gia tăng tính tự do trong khoảng thời gian định trước Ngoài ra, ACIA cònbao gồm các điều khoản mới về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại(TRIMs), hoạt động quản lý và bộ phận lãnh đạo

Những nỗ lực không ngừng của ASEAN nhằm tạo ra một môi trường đầu tưrộng khắp và ưu đãi hơn sẽ thúc đẩy các dòng đầu tư và hấp dẫn các nhà đầu tư đầu

tư hơn nữa, đồng thời gia tăng hoạt động đầu tư nội khối ASEAN ACIA còn nângcao sự tự tin của các nhà đầu tư trong khu vực và khuyến khích hơn nữa hoạt độngđầu tư nội khối ASEAN, đặc biệt là đầu tư của các công ty đa quốc gia trongASEAN và mở rộng hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy

sự đóng góp của họ đối với tình hình phát triển kinh tế và hội nhập trong khu vựcASEAN

1.2.9.3 Các hiệp định khác

Ngoài ra, Việt Nam cũng tham gia ký kết các hiệp định song phương về đầu

tư quốc tế với nhiều nước trên thế giới, cụ thể như Lào, Campuchia, Áo, Ba Lan,Argentina, Thuỵ Điển, Hungary, Cuba, Phần Lan, Hà Lan, Đan Mạch, Lào, Ấn Độ,Belarus, Hoa Kỳ, …

Trang 12

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.3.1 Các nhân tố liên quan đến chủ đầu tư

1.3.1.1 Lợi thế về quyền sở hữu

Khi tiến hành đầu tư FDI, các doanh nghiệp sẽ phải trả những chi phí phụ trội

so với đối thủ cạnh tranh nội địa của nước đó do sự khác biệt về văn hóa, thể chế,ngôn ngữ; thiếu hiểu biết về các điều kiện thị trường nội địa, chi phí thông tin liênlạc và hoạt động cao hơn do sự cách biệt về địa lý Vì vậy, để có thể tồn tại, doanhnghiệp phải tìm cách có thu nhập cao hơn hoặc chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranhnhằm bù đắp lại các bất lợi về chi phí phụ trội Muốn làm được điều này, các doanhnghiệp này phải sở hữu một hoặc một số lợi thế cạnh tranh đặc biệt gọi là lợi thếquyền sở hữu hoặc lợi thế riêng của doanh nghiệp Các lợi thế này phải là lợi thếriêng biệt của doanh nghiệp, sẵn sàng chuyển giao trong nội bộ doanh nghiệp vàgiữa các nước Các doanh nghiệp sở hữu hợi thế này một cách độc quyền và có thểkhai thác chúng ở nước ngoài và sẽ có được thu nhập cận biên cao hơn hoặc chi phícận biên thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh Điều này giúp doanh nghiệp khắcphục bất lợi thế về chi phí phụ trội khi hoạt động ở nước ngoài

1.3.1.2 Lợi thế nội bộ hóa

Các hình thức mở rộng hoạt động ra nước ngoài gồm: xuất khẩu, cấp giấyphép quản lý, nhượng quyền thương mại, liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài với các hình thức theo thứ tự có chi phí giao dịch giảm, chi phí quản lý vàquyền kiểm soát tăng lên Các công ty sẽ so sánh những điểm lợi và bất lợi của cáchình thức trên và lựa chọn hình thức nào có lợi nhất cho mình Theo đó, FDI sẽđược sử dụng nhằm thay thế các giao dịch trên thị trường bằng các giao dịch nội bộ

sẽ ít tốn kém, an toàn và khả thi hơn các giao dịch trên thị trường bên ngoài Điềunày thường xảy ra do sự không hoàn hảo của thị trường các yếu tố đầu vào sản xuất

Sự không hoàn hảo của thị trường có thể xuất phát từ hai nhóm nguyên nhân chủyếu: yếu kém tự nhiên và yếu kém về cơ cấu thị trường

Những yếu kém tự nhiên của thị trường bắt nguồn từ sự yếu kém hoặc thiếucác thị trường tư nhân Có nhiều loại không hoàn hảo của thị trường xuất hiện một

Trang 13

cách tự nhiên trong các thị trường bên ngoài Hai trong số đó là sự không hoàn hảohoặc thiếu một thị trường tri thức và sự tồn tại các chi phí giao dịch cao trên các thịtrường bên ngoài Các yếu kém quan trọng khác của thị trường xuất hiện do nguyênnhân rủi ro và tính không chắc chắc và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa cung và cầu.Những yếu kém về cơ cấu thị trường như: thuế quan, hạn ngạch, các chínhsách thuế và các chính sách ưu đãi khác, hạn chế khả năng tiếp cận của đối tác nướcngoài vào thị trường vốn trong nước, các chính sách thay thế nhập khẩu.

Như vậy, khi thị trường bên ngoài không hoàn hảo, các doanh nghiệp có đượclợi thế nội bộ hóa khi lựa chọn hình thức FDI Lợi thế này sẽ giúp các doanh nghiệptiến hành hoạt động kinh doanh giảm được chi phí và khắc phụ được những rào cản,rủi ro do sự không hoàn hảo của thị trường bên ngoài gây ra Chính các lợi thế nội

bộ hoá giúp các doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh đồng bộ và hoànchỉnh, sản xuất ở nhiều nước và sử dụng thương mại trong nội bộ doanh nghiệp đểlưu chuyển hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố vô hình giữa các chi nhánh của chúng

1.3.2 Các nhân tố liên quan đến nước chủ đầu tư

Các chính sách quản lý hoạt động đầu tư cũng như các chính sách liên quanđến đầu tư của nước chủ đầu tư có vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩyhoặc hạn chế hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Các chính sáchnày được chia thành hai nhóm chính: các chính sách khuyến khích đầu tư và cácchính sách hạn chế đầu tư

1.3.2.1 Các chính sách khuyến khích đầu tư

Trong các biện pháp thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài thì việc tham gia vào cáchiệp định đa phương và song phương về đầu tư hoặc có liên quan đến đầu tư đượccoi là biện pháp quan trọng nhất Việc ký kết các hiệp định đầu tư quốc tế giúp chocác nước chủ đầu tư thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài Nội dung các hiệpđịnh này thường quy định nhiều nguyên tắc cơ bản nhằm tạo điều kiện thuận lợi chocác nhà đầu tư trong quá trình tiếp cận và kinh doanh ở nước nhận đầu tư như bảo

hộ đầu tư, mở cửa ngành dịch vụ cho FDI, kể cả dịch vụ liên quan đến cơ sở hạtầng, thành lập cơ quan xúc tiến đầu tư nhằm cung cấp thông tin và hỗ trợ các nhà

Trang 14

đầu tư, tránh đánh thuế 2 lần Đây sẽ là những cơ sở pháp lý và tiền đề cần thiết đểđảm bảo sự an toàn và hiệu quả của hoạt động đầu tư.

Ngoài ra, các biện pháp tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài bàogồm: ưu đãi thuế và tài chính, khuyến khích chuyển giao công nghệ, xúc tiến đầu tư

hỗ trợ tiếp cận thị trường, cung cấp thông tin, ưu đãi thương mại cho hàng hóa củacác nhà đầu tư

1.3.2.2 Các chính sách hạn chế đầu tư

Để hạn chế đầu tư ra nước ngoài, các chính phủ thường áp dụng các biện pháphạn chế về chuyển vốn ra nước ngoài, hạn chế bằng thuế, hạn chế tiếp cận thịtrường hoặc cấm đầu tư vào một số nước cụ thể

1.3.3 Các nhân tố liên quan đến nước nhận đầu tư

Theo Hội nghị của Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD),các yếu tố quyết định FDI của nước tiếp nhận đầu tư được chia thành 3 nhóm:khung chính sách, các yếu tố của môi trường kinh tế, các yếu tố tạo thuận lợi trongkinh doanh

1.3.3.1 Khung chính sách về FDI của nước nhận đầu tư

Khung chính sách về FDI của nước nhận đầu tư gồm các quy định liên quantrực tiếp đến FDI và các quy định có ảnh hưởng gián tiếp đến FDI

Các quy định và chính sách liên quan trực tiếp FDI bao gồm các quy định vềviệc thành lập và hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài (cho phép, hạn chế, cấmđầu tưu vào một số ngành, lĩnh vực; cho phép tự do hay hạn chế quyền sở hữu củacác chủ đầu tư nước ngoài đối với các dự án; cho phép tự do hoạt động hay áp đặtmột số điều kiện hoạt động, có hay không các ưu đã nhằm khuyến khích FDI), cáctiêu chuẩn đối xử với FDI (phân biệt hay không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu

tư có quốc tịch khác nhau) và cơ chế hoạt động của thị trường trong đó có sự thamgia của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (ví dụ như cạnh tranh có bìnhđẳng hay không, có hiện tượng độc quyền không, thông tin trên thị trường có rõràng, minh bạch không) Các quy định này có ảnh hưởng trực tiếp tới khối lượng vàkết quả của hoạt động FDI

Trang 15

Bên cạnh đó, một số các quy định, chính sách trong một số ngành, lĩnh vựckhác cũng có ảnh hưởng đến quyết định của chủ đầu tư như: chính sách thương mại(ví dụ: chính sách thay thế nhập khẩu), chính sách tư nhân hóa (ví dụ: chính sách cổphần hoá các doanh nghiệp nhà nước), chính sách tiền tệ và chính sách thuế (ví dụ:chính sách kiềm chế lạm phát), chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách liên quan đến

cơ cấu các ngành kinh tế và các vùng lãnh thổ, chính sách lao động, các quy địnhtrong hiệp định quốc tế mà nước nhận đầu tư tham gia ký kết…

Nhìn chung, chủ đầu tư nước ngoài thích đầu tư vào các nước có hành langpháp lý, cơ chế, chính sách đầy đủ, đồng bộ, thông thoáng, minh bạch và có thể dựđoán được Điều nay đảm bảo cho sự an toàn của vốn đầu tư

1.3.3.2 Các yếu tố của môi trường kinh tế

Tùy động cơ của chủ đầu tư nước ngoài mà có thể có các yếu tố của môitrường kinh tế ảnh hưởng đến dòng vốn FDI

Các chủ đầu tư có động cơ tìm kiếm thị trường sẽ quan tâm đến dung lượng thịtrường và thu nhập bình quân đầu người; tốc độ tăng trưởng của thị trường; khảnăng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới; các sở thích đặc biệt của người tiêudùng và cơ cấu thị trường

Các chủ đầu tư tìm kiếm nguồn nguyên liệu và tài sản sẽ quan tâm đến tàinguyên thiên nhiên; lao động chưa qua đào tạo với giá rẻ; lao động có tay nghề;công nghệ, phát minh, sáng chế và các tài sản doanh nghiệp sáng tạo ra; cơ sở hạtầng phần cứng

Các chủ đầu tư tìm kiếm hiệu quả sẽ chú trọng đến chi phí mua sắm các nguồntài nguyên; các chi phí đầu vào khác: chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc; chiphí mua bán thành phẩm; tham gia các hiệp định hội nhập khu vực tạo thuận lợi choviệc thành lập mạng lưới các doanh nghiệp toàn khu vực

1.3.3.3 Các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh

Các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh bao gồm các chính sách xúc tiến đầutư; các biện pháp ưu đãi khuyến khích đầu tư; giảm các tiêu cực phí bằng cách giảiquyết nạn tham nhũng, cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả hoạt động

Trang 16

của bộ máy quản lý nhà nước; nâng cao chất lượng các dịch vụ tiện ích xã hội đểđảm bảo cuộc sống cho các chủ đầu tư nước ngoài; các dịch vụ hậu đầu tư.

Ngoài ra, các yếu tố thuộc môi trường quốc tế cũng có ảnh hưởng đến hoạtđộng FDI, cụ thể hơn, đó là môi trường kinh tế, chính trị, xã hội toàn cầu có ổn địnhhay không, các yếu tố đó thuận lợi hay không thuận lợi cho nước chủ đầu tư, nướcnhận đầu tư, và chính bản thân nhà đầu tư Tình hình cạnh tranh giữa các nướctrong thu hút FDI ảnh hưởng nhiều đến dòng chảy FDI Để nâng cao năng lực cạnhtranh trong thu hút FDI, các nước sẽ phải cải tiến môi trường đầu tư, tạo thuận lợi

và đưa ra những ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài Nước nào xây dựng đượcmôi trường đầu tư có sức hấp dẫn cao hơn thì nước đó sẽ có khả năng thu hút đượcnhiều vốn đầu tư hơn Cùng với sự gia tăng độ mở và độ hấp dẫn của các môitrường đầu tư, dòng vốn FDI sẽ dễ dàng lưu chuyển hơn, làm tăng trưởng lượng vốnFDI toàn cầu

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA

VIỆT NAM SANG LÀO 2.1 Môi trường đầu tư của Lào

2.1.1 Khung chính sách về FDI của Lào

Các yếu tố về chính sách đầu tư của Lào được chia thành hai nhóm: các chínhsách liên quan trực tiếp đến FDI và các chính sách liên quan gián tiếp tới FDI

- Các chính sách liên quan trực tiếp đến FDI:

+ Thủ tục bắt đầu kinh doanh

Luật khuyến khích đầu tư năm 2017 của Lào đặt ra quy trình đăng ký kinhdoanh và khung ưu đãi áp dụng thống nhất và công bằng đối với tất cả các nhà đầu

tư trong và ngoài nước Cụ thể, nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào mọi lĩnhvực, các lĩnh vực có tác động đến môi trường tự nhiên và xã hội; để bảo đảm sự cânbằng phát triển các lĩnh vực kinh tế và xã hội cần phải có sự quản lý của cơ quan cóliên quan trước khi Văn phòng dịch vụ đầu tư một cửa hoặc Ủy ban khuyến khích

và quản lý đầu tư các cấp cấp phép đầu tư

Trang 17

Nhà đầu tư nước ngoài không bị giới hạn về quyền sở hữu và kiểm soát doanhnghiệp Hình thức công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài được pháp luật công nhận.Công ty 100% vốn nước ngoài có thể là công ty mới hoặc chi nhánh của công tynước ngoài Tuy nhiên, thực tế, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn có xu hướng hợp tácvới các doanh nghiệp trong nước để hình thành các công ty liên doanh Với hìnhthức liên doanh, các đối tác nước ngoài phải đóng góp ít nhất 10% vốn đăng ký.Phần vốn bằng ngoại tệ này phải được chuyển sang Kíp Lào theo tỷ giá do ngânhàng trung ương Lào công bố tại thời điểm góp vốn Trong quá trình hoạt động, tất

cả các công ty có vốn đầu tư nước ngoài phải đảm bảo duy trì tài sản của công tykhông ít hơn vốn đăng ký ban đầu

Quy trình bắt đầu kinh doanh tại Lào bao gồm nhiều bước, với nhiều loại giấyphép khác nhau bao gồm giấy phép đầu tư (do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp), giấyđăng ký kinh doanh hàng năm (do Bộ Công nghiệp và Thương mại cấp), đăng kýthuế (Bộ Tài chính cấp), đăng ký nhãn hiệu (Bộ An ninh quốc gia cấp), giấy phépkinh doanh đối với từng ngành cụ thể (ngành sản xuất cần giấy phép của Bộ Côngnghiệp và Thương mại, ngành năng lượng cần giấy phép của Bộ Năng lượng vàMỏ), giấy phép xuất nhập khẩu (nếu cần) và các loại giấy phép khác của chínhquyền địa phương

+ Bảo hộ đầu tư

Tài sản hợp pháp và các khoản đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài tại Làođược bảo vệ bởi pháp luật, không bị quốc hữu hoá, tịch thu, tịch biên Trong trườnghợp Nhà nước trưng dụng, trưng mua vì lợi ích công cộng thì nhà đầu tư nước ngoài

sẽ được bồi thường, thanh toán theo quy định của pháp luật Với trường hợp chủđầu tư bị thu hồi giấy phép đầu tư, họ sẽ phải nhanh chóng thoái vốn ra khỏi các dự

án và không được phép kháng cáo tại các tổ chức giải quyết tranh chấp độc lập

+ Cạnh tranh từ doanh nghiệp nhà nước

Chính phủ Lào giữ quyền sở hữu trong một số ngành then chốt như viễnthông, năng lượng, tài chính và khai thác khoáng sản Khi có xung đột lợi ích giữadoanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân thì doanh nghiệp nhà nước thường

có lợi thế hơn

Trang 18

- Các chính sách liên quan gián tiếp đến FDI: Chính sách tài chính tiền tệ, hệ

thống pháp luật về kinh doanh, các chính sách giải quyết tranh chấp,quyền sở hữu

tư nhân, bảo vệ quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ,

- Các hiệp định đầu tư mà Lào đã tham gia: Cũng giống như Việt Nam, Lào

đã tham gia Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), Hiệp định của WTO vềcác biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) Đặc biệt, Hiệp địnhKhuyến khích và Bảo hộ Đầu tư Việt Lào kí năm 1996 mở rộng và tăng cường hợptác lâu dài về kinh tế, công nghiệp và đặc biệt là tạo những đIều kiện thuận lợi chođầu tư của các nhà đầu tư Việt Nam sang Lào hay của các nhà đầu tư Lào sang ViệtNam

Ngoài ra, Lào còn ký kết các hiệp định đầu tư song phương với nhiều quốc gianhư Úc, Campuchia, Trung Quốc, Đan Mạch, Pháp, Đức, Indonexia, Nhật,Malaysia, Hà Lan, Hàn Quốc, Philippines, Nga, Singapore, Thái Lan, Anh, Mỹ,Việt Nam

2.1.2 Các yếu tố của môi trường kinh tế

- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Lào có diện tích tự nhiên là 236.800 km2, dân số là 7,01 triệu người năm 2018.Nước Lào nằm vào khu vực trung tâm của Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng(GMS), là nước duy nhất nằm ở nội địa Đông Nam Á, có biên giới giáp với 5 nướctrong khu vực: Trung Quốc, Myanmar, Việt Nam, Thái Lan và Campuchia Do vịtrí địa lý đặc biệt của mình, Lào được coi như một “địa bàn trung chuyển” của ĐôngNam Á lục địa từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam và ngược lại

Địa hình của các nước Lào đa dạng, có cả đồng bằng, miền núi và cao nguyên,thung lũng, trong đó núi và cao nguyên chiếm tới hơn 3/4 diện tích được chia thànhhai vùng địa hình lớn: Bắc Lào và Trung, Nam Lào Mạng lưới sông suối của Làokhá lớn và phân bổ tương đối đồng đều, mang nhiều đặc điểm của sông suối vùngmiền núi, lắm thác, nhiều ghềnh, là điều kiện thuận lợi để xây dựng các công trìnhthuỷ điện, thuỷ lợi

Trang 19

Lào có tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú Một số loại hình khoángsản như vàng, than, sắt, thiếc, muối - thạch cao, đá quý đã được thăm dò và khaithác Các cánh rừng nguyên sinh rộng lớn, các hang động caster, các tuyến du lịchđường thuỷ và hùng vĩ trên sông Mê Kông là điều kiện thuận lợi để hình thành cácsản phẩm du lịch đặc sắc có sức hấp dẫn mạnh mẽ du khách trong khu vực và thếgiới.

- Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Lào

Lào đã đạt được những thành tựu to lớn, đặc biệt từ khi mở cửa, điều chỉnh cơcấu kinh tế từ năm 1986 đến nay Lào từ một trong những nước chậm phát triển đãtrải qua thời kỳ khó khăn nhất để tiến lên xây dựng nền kinh tế quốc dân vữngmạnh

Năm 2018, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Lào tăng trưởng 6,5%, mứctăng khá ấn tượng trong hoàn cảnh cả nước phải chịu nhiều thiệt hại liên tiếp từthiên tai, lũ lụt và nhất là vụ vỡ đập thủy điện Xe-Pian Xe-Namnoy

Thu nhập bình quân đầu người của Lào trong năm 2018 đạt 2.599 USD, vượtchỉ tiêu đề ra; lạm phát ở mức thấp, khoảng 2,1%; tỷ giá, thị trường ngoại tệ đượckiểm soát; thu ngân sách năm được bảo đảm theo kế hoạch, chi ngân sách thấp hơn0,2% so với kế hoạch, thâm hụt ngân sách được thu hẹp xuống còn 4,7% GDP sovới mức 5,3% GDP năm 2017

Đầu tư nhà nước giảm một chút so với kế hoạch nhưng đầu tư khu vực tư nhântiếp tục tăng mạnh Có 43 dự án lớn được cấp phép, trong đó, có 14 dự án trên lĩnhvực năng lượng điện, 15 dự án khoáng sản, năm dự án nông nghiệp và chín dự ánlĩnh vực dịch vụ Trong chín tháng đầu năm 2018, đã có 2.924 dự án đầu tư đượcđăng ký với tổng giá trị 3,8 tỷ USD, tăng 60% so với chỉ tiêu Quốc hội Lào phêchuẩn

Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến năm 2017-2018, tỷ trọng khu vực nôngnghiệp giảm từ 16.34% GDP năm 2017 xuống còn 15.3%, tỷ trọng dịch vụ giảm từ42.08% xuống 41.7% năm 2017-2018, tỷ trọng công nghiệp có sự tăng nhẹ, từ 30%lên 32.2% Tuy nhiên, Lào đang đương đầu với thâm hụt thương mại lớn khi kim

Trang 20

ngạch xuất khẩu giảm sút và nhập khẩu tăng mạnh Bên cạnh đó, 50% lao động Làolàm trong khu vực nông nghiệp trong khi đó lượng dân di cư từ Lào sang Thái Lanlên tới hàng trăm nghìn người mỗi năm, kết quả là Lào bị thiếu hụt lao động trongmọi lĩnh vực Ngoài ra, kinh tế Lào phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động có taynghề, đó được coi là cản trở lâu dài với các doanh nghiệp Lào, đặc biệt là các doanhnghiệp làm trong các lĩnh vực công nghệ cao Chính phủ Lào đã bắt đầu quan tâmđầu tư nguồn lực vào phát triển hệ thống giáo dục, nhưng chủ yếu vẫn dựa nhiềuvào viện trợ quốc tế.

2.1.3 Các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh

- Chính sách ưu đãi đầu tư

Chính phủ Lào có chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài Mức

độ ưu đãi phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và mức

độ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội của địa phương có hoạt động đầu tư kinhdoanh Cụ thể, về lĩnh vực kinh doanh, theo điều 9, 10, 11 của Luật Khuyến khíchđầu tư 2017, Chính phủ Lào xác định các ngành, lĩnh vực kinh doanh được ưu đãi,bao gồm: ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản vàthủ công nghiệp, công nghiệp du lịch, giáo dục, thể thao, phát triển nguồn nhân lực,xây dựng bệnh viện và nhà máy dược phẩm, ngân hàng chính sách và tổ chức tàichính quy mô nhỏ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng công cộng, trung tâm thương mại

và hội chợ triển lãm Về mức độ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, các tỉnh,thành phố của Lào được chia thành 3 khu vực Khu vực 1 được xác định là khu vựcvùng nghèo, cùng sâu vùng xa, có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội không thuận lợi chođầu tư và được áp dụng mức khuyến khích đầu tư cao Khu vực 2 áp dụng với cáckhu vực có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi cho đầu tư và được mức khuyếnkhích trung bình Khu vực 3 là khu vực kinh tế đặc biệt và sẽ nhận được mức hỗ trợ

Trang 21

Tại khu vực 3, các chính sách ưu đãi sẽ được thực hiện theo các quy định cụthể.

Thời gian miễn thuế được bắt đầu tính từ năm mà doanh nghiệp có doanh thukinh doanh Sau khi hết thời hạn miễn thuế, doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuếtheo quy định của Luật thuế

Các ưu đãi liên quan đến sử dụng đất, tiếp cận nguồn vốn và miễn giảm cácthuế và lệ phí khác được đề cập trong điều 13, 14, 16 của Luật Khuyến khích đầutư

- Đơn giản hoá thủ tục hành chính

Hiện nay, Chính phủ Lào đã nhiều nỗ lực để đơn giản hoá thủ tục đăng kýkinh doanh bằng mô hình một cửa Theo đó, đối với các hoạt động kinh doanhthông thường, các nhà đầu tư sẽ tới bộ phận một của của Bộ Công nghiệp vàThương mại để làm thủ tục Đối với các hoạt động có ưu đãi từ chính phủ, các nhàđầu tư đến bộ phận một cửa tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư để giải quyết Với các đặckhu kinh tế, bộ phận một của sẽ trực thuộc Ban thư ký Uỷ ban quốc gia về đặc khukinh tế thuộc văn phòng Thủ tướng

- Tạo điều kiện tiếp cận vốn

Năm 2013, Bộ tài chính Lào bắt đầu xây dựng hệ thống đăng ký giao dịch cóđảm bảo mới, với mục tiêu mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho các cá nhân vàdoanh nghiệp nhỏ Hệ thống đăng ký mới này cho phép các cá nhân, tổ chức đăng

ký các động sản như xe cộ, trang thiết bị Điều này sẽ tạo thuận lợi cho các thể chếtài chính trong việc xác minh tài sản thế chấp, từ đó tăng khả năng vay vốn cho các

cá nhân, tổ chức

- Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ:

Từ năm 2011, dưới sự điều hành của Bộ Khoa học và Công nghệ, việc nângcao ý thức bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Lào đã có những bước tiến tích cực Năm

2017, Quốc hội Lào đã thông qua bản sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ Luật Sởhữu trí tuệ mới của Lào về cơ bản tuân thủ theo các quy định của Tổ chức bảo vệ

Trang 22

quyền sở hữu trí tuệ quốc tế WIPO và Hiệp định về các khía cạnh liên quan tớithương mại của quyền sở hữu trí tuệ TRIPs.

- Nâng cao tính minh bạch của hệ thống pháp luật, hành chính

Năm 2013, trang web chính thức của Chính phủ Lào được giới thiệu và đưavào sử dụng, Bộ Tư pháp Lào đã cam kết sẽ công bố tất cả các văn bản luật và dướiluật hiện hành của Lào trên website Đây là một bước tiến đáng kể trong quá trìnhminh bạch hoá các chính sách, pháp luật của đất nước Trang web sẽ tạo điều kiệncho người dân được nói lên mong muốn, nguyện vọng cũng như những nhận xét, ýkiến đóng góp của mình

- Chính sách với gia đình nhà đầu tư

Mục 2, điều 19 của Luật Khuyến khích đầu tư quy định các nhà đầu tư nướcngoài và gia đình họ, bao gồm cả các chuyên viên kỹ thuật, chuyên gia nước ngoàicủa các công ty có thể có hộ chiếu nhập cảnh nhiều lần với thời hạn tối đa 5 năm

- Cải thiện chính sách hải quan

Dù các chính sách thương mại ở Lào được áp dụng thống nhất trên toàn lãnhthổ, chính sách hải quan lại khác nhau tại các tỉnh khác nhau Hiện nay, Hải quanLào đang cố gắng khắc phục tình trạng này thông qua phương án quản lý hải quantập trung Ngoài ra, để chuẩn bị cho việc thực hiện cơ chế ASEAN một cửa, từ năm

2012, Lào đã bắt đầu xây dựng hệ thống dữ liệu hải quan tự động đối với hoạt độngthương mại qua biên giới

2.2 Tình hình đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Lào

2.2.1 Về quy mô đầu tư

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến hết năm

2018, hiện có 413 dự án của doanh nghiệp Việt Nam tại Lào với tổng mức đầu tưhơn 4,1 tỷ USD, đứng thứ ba trong tổng số 53 quốc gia và vùng lãnh thổ nước ngoàiđầu tư vào Lào, sau Trung Quốc và Thái Lan Lào đứng thứ nhất trong tổng số 68quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanhnghiệp Việt Nam

Trang 23

Riêng trong năm 2018, có 08 dự án của nhà đầu tư Việt Nam triển khai tại Lào, vớivốn đăng ký 95 triệu USD (tăng 2,6 lần so với năm 2017).

2.2.2 Về tình hình đầu tư theo vùng

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu vùng FDI từ Việt Nam sang Lào tính đến năm 2018

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Có thể thấy, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung đầu tư vàoTrung và Nam Lào Trên thực tế, phía Bắc Lào có địa hình hiểm trở, giao thôngchưa phát triển nên chưa tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh Tuy đây là vùngtập trung nguồn tài nguyên khoáng sản và thuỷ điện dồi dào, nhưng khó khai thác

và đòi hỏi vốn lớn mà các doanh nghiệp Việt Nam hiện chưa đủ nguồn lực để đầu

tư Khu vực phía Trung và Nam Lào chủ yếu là cao nguyên và đồng bằng, giaothông phát triển, tập trung đông dân cư và có nhiều đặc khu kinh tế nên thu hútđược nhiều vốn FDI hơn Tuy nhiên, trong thời gian tới, khi mật độ các dự án tạikhu vực Trung và Nam Lào tăng cao dẫn tới áp lực cạnh tranh lớn, dòng vốn FDIvào Bắc Lào được dự đoán sẽ có xu hướng tăng lên, nhất là khi Chính phủ Lào đangxây dựng các chính sách ưu tiên cho các dự án tại Bắc Lào nhằm phát triển kinh tế -

xã hội tại khu vực này

2.2.3 Về hình thức đầu tư

Bảng 2.1 Các hình thức đầu tư FDI của Việt Nam sang Lào

Ngày đăng: 21/07/2020, 05:23

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w