1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận đầu tư quốc tế quá trình unilever đầu tư vào thị trường kem đánh răng VN thông qua p s

16 171 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 155,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Investopia 2007, M&A là hành động của chủ đầu tư mua lại toàn bộ hoặc một phần đủ lớn tài sản của một cơ sở sản xuất kinh doanh sẵn có với mục tiêu kiểm soát công ty đó hoặc hai côn

Trang 1

I LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI

1 Khái niệm sáp nhập và mua lại

1.1 Khái niệm

a) Theo quy định pháp lý tại Việt Nam

Theo Luật Đầu tư 2005, sáp nhập và mua lại là một “hình thức đầu tư” trực tiếp Còn theo Luật Doanh nghiệp 2014, M&A lại là “một hình thức tổ chức lại doanh nghiệp” Theo Luật Cạnh tranh 2005, đây lại được coi là một hình thức của tập trung kinh tế

b) Các cách định nghĩa khác

Theo Morgan Stanley (2007) sáp nhập xuất hiện khi một công ty kết hợp với một công ty khác và công ty bị sáp nhập sẽ biến mất, chỉ còn lại công ty sáp nhập Mua lại một doanh nghiệp là quá trình trong đó chứng khoán và tài sản của một công ty sẽ chuyển sang sở hữu của công ty mua lại

Mua lại là khái niệm chung được sử dụng khi muốn mô tả sự chuyển quyền

sở hữu Trong khi sáp nhập có ý nghĩa hẹp hơn và phải tuân theo các điều kiện mang tính kỹ thuật trong một quy trình pháp lý riêng, thì mua lại có thể áp dụng hoặc không

Theo Investopia (2007), M&A là hành động của chủ đầu tư mua lại toàn bộ hoặc một phần đủ lớn tài sản của một cơ sở sản xuất kinh doanh sẵn có với mục tiêu kiểm soát công ty đó hoặc hai công ty đồng ý hợp nhất với nhau để tạo thành công ty mới

Cross-border M&A là hành động sáp nhập và mua lại được tiến hành giữa những chủ thể thuộc ít nhất 2 quốc gia

1.2 Phân biệt sáp nhập và mua lại

Theo Investopia, sáp nhập là hình thức hợp tác giữa hai hoặc nhiều doanh nghiệp về tài sản, thị phần để cùng cho ra đời một doanh nghiệp mới với cùng thương hiệu

mới hoặc kết hợp cả hai thương hiệu cũ Trong khi đó, mua lại: là một hình thức đầu tư, khác với sáp nhập ở chỗ sẽ có một doanh nghiệp (doanh nghiệp đứng ra mua lại) tiến hành mua lại phần lớn hay toàn bộ cổ phần của một hoặc một số

doanh nghiệp khác (doanh nghiệp bị thâu tóm).

Như vậy, có thể thấy rõ, kết quả của một thương vụ mua lại là một công ty mới, trong khi quá trình sáp nhập có thể “giữ lại” một trong hai bên tham gia, hoặc cũng có thể tạo nên một công ty mới

Trang 2

2 Phân loại

2.1. Theo quan hệ dây chuyền sản xuất

Xét về quan hệ dây chuyền sản xuất, hoạt động M&A có thể diễn ra theo chiều dọc (cùng một dây chuyền sản xuất), chiều ngang (giữa các công ty trong ngành hoặc giữa các đối thủ cạnh tranh) hoặc kết hợp cả hai cách trên

M&A theo chiều dọc lại được chia là hai loại: chiều xuôi (vertical forward) và chiều ngược (vertical backward) Một ví dụ đơn giản là khi một công ty may mặc tiến hành M&A một công ty cung cấp nguyên phụ liệu may hoặc ngược lại

M&A theo chiều ngang được các công ty sử dụng như một cách để loại bỏ đối thủ cạnh tranh của mình Ví dụ như thương vụ Grab mua lại Uber

M&A hỗn hợp là hình thức sáp nhập giữa các công cụ kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau Mục tiêu của những vụ sáp nhập như vậy là đa dạng hóa, và chúng thường thu hút sự chú ý của những công ty có lượng tiền mặt lớn

2.2 Theo cách thức tài trợ

Xét theo công cụ tài trợ, M&A được chia làm M&A mua lại và M&A hợp nhất M&A mua lại thường diễn ra khi một công ty mua lại một công ty khác, thực hiện bằng tiền mặt hoặc qua việc phát hành các công cụ nợ

M&A hợp nhất là khi hai công ty hợp thành một công ty khác, công ty mới hoàn toàn ra đời

2.3 Theo thiện chí của các bên

M&A có thể chia thành M&A thân thiện và M&A thân thiện, dựa trên cách thức tiến hành mua lại

M&A thân thiện là khi doanh nghiệp được mua lại thể hiện sự đồng tình và sẵn sàng khi được doanh nghiệp khác mua lại Trong khi đó, khi tiến hành M&A thù địch, bên đi mua sẽ tiến hành mua cổ phẩn nhằm giành quyền kiểm soát của bên bị mua lại

3 Tác động của M&A đối với doanh nghiệp

3.1 Đối với doanh nghiệp tiến hành mua lại

a) Tác động tích cực

Khi xây dựng doanh nghiệp theo cách mua lại, một công ty có thể nhanh chóng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh của nó tại thị trường mục tiêu nước ngoài

Trang 3

Đồng thời, họ cũng có thể loại bỏ các đối thủ cạnh tranh khi mà trong rất nhiều trường hợp, các doanh nghiệp thực hiện việc mua lại để thâu tóm các đối thủ cạnh tranh Việc mua lại cũng ít rủi ro hơn so với hoạt động đầu tư mới Khi một công ty thực hiện hoạt động mua lại ở thị trường nước ngoài, nó không chỉ mua tất cả tài sản

cố định ở đó, ví dụ nhà máy, hệ thống phân phối, hệ thống dịch vụ khách hàng v.v

mà nó còn mua cả những giá trị tài sản vô hình bao gồm nhãn hiệu trong nước và kiến thức về môi trường kinh doanh quốc gia của những nhà quản lý ở nước đó Những kiến thức này có thể giảm những lỗi, rủi ro có thể mắc phải do không hiểu biết về văn hóa nước chủ nhà

Việc mua lại cũng mang lại nguồn lực doanh nghiệp đi mua lại: cắt giảm nhân

sự, lợi thế kinh tế nhờ quy mô, mua được công nghệ mới, thúc đẩy tiếp cận thị trường và khẳng định vị thế trong ngành

b) Tác động tiêu cực

Đôi khi doanh nghiệp phải chấp nhận mua lại với giá cao để đáp ứng đúng chiến lược của mình hoặc gặp phải nhiều trở ngại để liên kết hoạt động của hai công ty

3.2 Đối với doanh nghiệp được mua lại

a) Tác động tích cực

Khi bị mua lại, các doanh nghiệp này sẽ giải quyết được vấn đề thiếu vốn, tăng quyền lực trên thị trường đồng thời được tiếp nhận được công nghệ trong sản xuất

và tinh hoa trong quản lý của doanh nghiệp đi mua lại

b) Tác động tiêu cực

Nhưng bù lại, họ sẽ phải đánh đổi bằng việc bị đánh mất thương hiệu, phải chịu việc bị doanh nghiệp đi mua lại chi phối và trở nên phụ thuộc vào doanh nghiệp đi mua lại

II THƯƠNG VỤ GIỮA UNILEVER VÀ P/S

1 Giới thiệu chung về các doanh nghiệp

1.1 Unilever

a) Unilever toàn cầu

Unilever là một trong những công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới, được Anh

và Hà Lan thành lập, chuyên sản xuất các sản phẩm chăm sóc cá nhân, chăm sóc gia đình và thực phẩm Công ty ra đời năm 1930 từ sự sáp nhập của 2 doanh nghiệp

là Lever Brothers (công ty sản xuất xà bông tại Anh) và Magarine Unie (doanh nghiệp sản xuất bơ thực vật ở Hà Lan), trụ sở chính của doanh nghiệp Unilever hiện

Trang 4

Unilever hiện đang hoạt động tại hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ với cam kết nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên toàn thế giới thông qua những sản phẩm và dịch vụ của mình Hiện nay Unilever đang kinh doanh 3 dòng sản phẩm chính là:

+ Dòng thực phẩm dùng cho chế biến và ăn uống

+ Dòng sản phẩm vệ sinh và chăm sóc cá nhân

+ Dòng sản phẩm giặt tẩy cho quần áo và đồ dùng trong nhà

Với 3 dòng sản phẩm này hiện nay Unilever đang sở hữu hơn 400 nhãn hiệu, trong đó có rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng nhất có thể kể đến OMO, Surf, Lux, Dove, Knorr Comfort, Vaseline, Hazeline, Ponds, P/S, Close Up, AXE, Rexona, Vim, Cif (Jif), Sunsilk, Sunlight… (Website Unilever, 2019)

b) Unilever Việt Nam

Là một công ty đa quốc gia việc mở rộng kinh doanh và đặt nhiều chi nhánh trên thế giới để chiếm lĩnh thị trường toàn cầu là một trong những mục tiêu của Unilever Unilever Việt Nam được thành lập năm 1995 cũng là một bước đi trong chiến lược tổng thể của Unilever Unilever Việt Nam thực chất là tập hợp của ba công ty riêng biệt: Liên doanh Lever Việt Nam có trụ sở tại Hà Nội, Elida P/S tại Thành phố Hồ chí Minh và Công ty Best Food cũng đặt tại thành phố Hồ Chí Minh

Từ khi bắt đầu gia nhập thị trường Việt Nam, Unilever đã đầu tư hơn 300 triệu USD với một nhà máy sản xuất hiện đại tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bắc Ninh Và cho đến nay, Unilever Việt Nam đã có 5 nhà máy tại Hà Nội, Củ chi, Thủ Đức và khu công nghiệp Biên Hoà

Hiện nay công ty đạt mức tăng trưởng khoảng 35-40%, với tốc độ tăng trưởng hàng năm cao hơn tốc độ tăng trưởng của thị trường trong suốt hơn 24 năm qua, Unilever Việt Nam đã trở thành một trong những nhà đầu tư nước ngoài thành công nhất tại thị trường Việt Nam

1.2. Công ty cổ phần P/S

Công ty P/S do hai hãng kem đánh răng nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam là Hynos và Kolperlon sáp nhập lại, với đơn vị trực thuộc là Xí nghiệp sản xuất kem đánh răng Phong Lan Trước đây, P/S là một trong những nhãn hiệu nổi tiếng và chiếm phần lớn thị phần kem đánh răng tại nước ta

Tiền thân của kem đánh răng P/S là nhãn hiệu kem đánh răng Hynos một thời được biết đến rộng rãi ở Sài Gòn, không chỉ từng độc chiếm thị trường trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước khác Nhãn hiệu Hynos lúc khởi thủy được sáng lập bởi một người Mỹ gốc Do Thái, sau đó nhượng lại cho một người Việt Nam là ông Vương Đạo Nghĩa Chỉ 10 năm sau khi vào tay ông Nghĩa, Hynos từ một xưởng nhỏ

Trang 5

đã lớn mạnh, đủ sức vượt qua các ông lớn kem đánh răng tại miền Nam lúc bấy giờ như Colgate của Mỹ, C’est của Pháp và hai ông lớn Perlon và Leyna Bí quyết thành công của ông Nghĩa nằm ở cách quảng cáo, marketing sáng tạo Thời điểm

đó, ông Nghĩa đã bỏ ra phân nửa lợi nhuận của hãng cho việc quảng cáo Việc tiến hành quảng cáo mới lạ từ hình ảnh đến phương thức thực hiện của ông Nghĩa đã tạo hiệu ứng lớn Dòng sản phẩm Hynos theo đó đã chiếm lĩnh được thị trường miền Nam nước ta và lan sang cả các quốc gia khác như Thái Lan, Singapore, Hong Kong (P/S, 2019)

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thực hiện chính sách quốc hữu hóa của Nhà nước, Hynos sáp nhập với Công ty Kolperlon, đối thủ cũ, trở thành Xí nghiệp sản xuất kem đánh răng Phong Lan Thương hiệu Hynos chìm vào quên lãng Năm

1980, Xí nghiệp kem đánh răng Phong Lan lại sáp nhập với các xí nghiệp khác như bột giặt Tico, Xí nghiệp Mỹ Phẩm 2, xà bông Đông Hưng để trở thành Xí nghiệp Liên hiệp Hóa Mỹ Phẩm Sau khi Xí nghiệp Liên hiệp Hóa Mỹ Phẩm giải thể, Xí nghiệp kem đánh răng Phong Lan đổi tên thành Công ty Hóa phẩm P/S

Trước 1990, công ty P/S với dòng sản phẩm kem đánh răng P/S chiếm gần 60% thị phần kem đánh răng tại Việt Nam và rất tiềm năng phát triển Đến năm

1990, nước ta bắt đầu mở cửa, hàng ngoại và nhà đầu tư nước ngoài vào ào ạt, cạnh tranh quyết liệt với sản phẩm trong nước khiến tốc độ phát triển của P/S có phần chững lại Đón đầu công cuộc mở cửa, liên doanh với các công ty nước ngoài là xu thế tại thời điểm đó Với các lợi thế trong nước của mình, công ty P/S gây chú ý với Unilver và đã nhận được lời thuyết phục liên doanh cùng Unilever để phát triển thương hiệu kem đánh răng P/S (Mai Hân, 2013)

2 Giới thiệu chung về môi trường đầu tư

2.1 Khung chính sách liên quan đến FDI

a) Tình hình chính trị - xã hội Việt Nam

Việt Nam được đánh giá là một nước có tình hình chính trị - xã hội tương đối

ổn định Chế độ đơn đảng giúp hạn chế các biến động chính trị Người dân đa phần

là tầng lớp lao động, nông dân và trí thức, ít có bất ổn, tình hình phạm tội cũng không đáng lo ngại (Ruffing, 2006)

11/07/1995, Mỹ tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam (Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ, 2019)

b) Các quy định liên quan trực tiếp đến việc thâm nhập và tiếp cận thị trường

Luật Đầu tư Nước ngoài 1987 cho phép các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu

tư vào Việt Nam theo một trong 3 hình thức dưới đây:

1- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh;

Trang 6

2- Xí nghiệp hoặc Công ty liên doanh, gọi chung là xí nghiệp liên doanh; 3- Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài

(Điều 4)

Đồng thời Luật Đầu tư nước ngoài 1987 cũng quy định mức thuế chung cho các công ty/ xí nghiệp có yếu tố nước ngoài là 15% -25% (có thể cao hơn đối với dầu khí và các lĩnh vực đầu tư đặc biệt khác) nhưng bên cạnh đó cũng có chính sách miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp thua lỗ hoặc các ưu đãi về thuế khác (Điều 26, 27, 28)

Ở thời điểm thương vụ diễn ra, Việt Nam vẫn chưa áp dụng nguyên tắc tối huệ quốc hay quốc gia bình đẳng

(Luật Đầu tư Nước ngoài 1987, 1987)

c) Các yếu tố gián tiếp ảnh hưởng đến việc thâm nhập và tiếp cận thị trường

Việt Nam nộp đơn gia nhập WTO vào tháng 1 - 1995 Tuy không được chấp nhận ngay nhưng đây là một động thái cho thấy thái độ sẵn sàng tiếp nhận cũng như hỗ trợ đầu tư nước ngoài và mở cửa nền kinh tế của Việt Nam (Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2019)

Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN vào ngày 28/07/1995 (Bộ Ngoại giao Việt Nam, 2019)

2.2 Các yếu tố kinh tế

a) Dân số

Năm 1995, dân số Việt Nam là 74 910 461 người (World Bank Open Data, 2019)

Năm 1995, GDP của Việt Nam đạt 20736 tỷ USD Mức tăng trưởng GDP giai đoạn 1991 - 1997 luôn đạt trên 6% (World Bank Open Data, 2019)

Số lao động luôn chiếm trên 80% dân số, luôn gia tăng về số lượng qua hàng năm (World Bank Open Data) Ngoài ra giá lao động ở Việt Nam cũng tương đối rẻ

so với các nước khác (World Bank Open Data, 2019)

12

Trang 7

Chú thích: Số dân

Số lao động

Biểu đồ 1: Số lao động và tổng số dân của Việt Nam giai đoạn 1990 - 2019

b) Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng của Việt Nam giai đoạn 1995 đến nay nhìn chung còn chưa ở mức tuyệt đối, tuy nhiên luôn luôn cải thiện qua hằng năm Đường giao thông, bến cảng và sân bay luôn được nâng cấp và xây mới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương

3 Lý do Unilever chọn đầu tư theo hình thức M&A tại Việt Nam:

3.1 Vì sao Unilever quyết định đầu tư vào Việt Nam

a) Địa thế chiến lược

Nằm giữa trung tâm Đông Nam Á, Việt Nam sở hữu địa thế chiến lược đặc biệt Không chỉ gần các thị trường Châu Á khác, Việt Nam còn có vị trí tiếp giáp nước láng giềng đáng chú ý là Trung Quốc Bên cạnh đó, Việt Nam còn sở hữu bờ biển dài, giáp liền biển Đông, gần với các tuyến vận tải chính của thế giới, là điều kiện hoàn hảo cho quá trình thương mại (Cổng thông tin điện tử Chính phủ, 2019)

b) Tốc độ tăng trưởng GDP ổn định

Trang 8

Trong một vài thập kỉ trước, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới Sự phát triển nhanh chóng bắt đầu do công cuộc cải cách vào năm 1986 Và tốc độ tăng trưởng tiếp tục tăng nhanh từ năm 2000 Theo Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ GDP tại Việt Nam thường ổn định ở mức 6,46% kể

từ năm 2000 (Ruffing, 2006)

c) Mở cửa với nhà đầu tư nước ngoài

Những thuận lợi về địa lý và tốc độ phát triển kinh tế không phải là những ưu tiên duy nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài Việt Nam luôn mở cửa và khuyến khích chào đón các nhà đầu tư vốn nước ngoài (FDI) thông qua các hành động cập nhật, điều chỉnh các quy định đầu tư (Ruffing, 2006)

Chính phủ Việt Nam ban hành một số ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một số khu vực địa lý hoặc lĩnh vực (Cục Đầu tư Nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019) Những lợi ích về thuế bao gồm:

• Thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn hoặc được miễn thuế

• Miễn thuế nhập khẩu, ví dụ như nguyên vật liệu

• Giảm hoặc miễn thuế sử dụng đất

d) Cơ cấu dân số trẻ

Cơ cấu dân số Việt Nam ngày càng trẻ hóa Theo Worldometers, độ tuổi trung bình của Việt Nam là 30,8 (Worldometers, 2019) Nielsen cũng ước tính, 60% người Việt Nam ở dưới độ tuổi 35 (Nielsen, 2018)

Lực lượng lao động trẻ rất lớn và không có dấu hiệu giảm Thêm vào đó, cả nước cũng đầu tư nhiều tiền vào giáo dục hơn các nước đang phát triển khác Vì vậy, ngoài sức khỏe, lao động trẻ của Việt Nam còn có tay nghề

e) Chi phí thành lập tương đối thấp

Trái ngược với nhiều quốc gia khác, doanh nghiệp không bị yêu cầu về vốn tối thiểu cho hầu hết các ngành nghề kinh doanh tại Việt Nam Bạn có thể bắt đầu một doanh nghiệp mà không cần một số vốn điều lệ lớn trong túi Bạn chỉ cần chắc chắn rằng mình có đủ tiền để trang trải các chi phí dự kiến của công ty sắp thành lập

3.2 Lý do Unilever lựa chọn hình thức liên doanh M&A khi đầu tư vào Việt Nam

Thứ nhất, sáp nhập và mua lại tiết kiệm thời gian hơn là đầu tư mới Đây là một yếu tố quan trọng trong thế giới kinh doanh hiện đại, nơi mà các thị trường phát triển nhanh chóng Nếu Unilever tiến hành đầu tư mới, sẽ mất rất nhiều thời gian để xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, sau đó lại là một khoảng thời gian dài để xây dựng thương hiệu ở một thị trường mới, chiếm lấy niềm tin của người tiêu dùng Việc để

14

Trang 9

lỡ thị trường mới nổi như Việt Nam trong khoảng thời gian như vậy là một điều đáng tiếc Trong kinh doanh, thời gian chính là tiền bạc, tiết kiệm thời gian sẽ giúp cho Unilever nắm bắt, tận dụng được những thời cơ, cơ hội khác

Thứ hai, tiết kiệm thời gian cũng giúp cho Unilever tiết kiệm chi phí khi đầu tư theo hình thức M&A Thay vì bỏ ra khoản chi phí vô cùng lớn để xây dựng hệ thống nhà xưởng, kho chứa, nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu lại từ đầu, Unilever có thể tận dụng những nguồn này từ P/S, qua đó tiết kiệm được đáng kể chi phí đầu tư Thay vào đó, Unilever hoàn toàn có thể đầu tư vào mở rộng sản xuất, nghiên cứu và phát triển R&D, nâng cao năng lực cạnh tranh so với các đối thủ khác Thứ ba, Unilever nhìn ra được P/S sở hữu những tài sản giá trị chiến lược: sự trung thành nhãn hiệu, mối quan hệ khách hàng, nhãn hiệu, bằng sáng chế, hệ thống sản xuất, phân phối mà nhãn hiệu P/S đã xây dựng được trong suốt 20 năm (1975 -1995) Thêm vào đó, thị phần mà P/S đang nắm giữ (65% thị phần kem đánh răng ở Việt Nam) là vô cùng hấp dẫn đối với Unilever Việc mua lại và sáp nhập cũng ít rủi

ro hơn so với đầu tư mới hoàn toàn tại một thị trường mới khi Unilever chưa có sự

am hiểu văn hóa, thị hiếu của người dân Việt Nam

Thứ tư, nếu Unilever thực hiện đầu tư mới, họ sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp với P/S Đây quả là điều khó khăn khi mà vào thời điểm đầu những năm

90 của thế kỷ XX, Việt Nam mới ở giai đoạn mở cửa, người tiêu dùng mới chỉ quen với những hàng tiêu dùng nội địa, chưa biết đến nhiều thương hiệu ở nước ngoài

Do vậy, sẽ là thách thức đối với Unilever nếu đối đầu với P/S

Thứ năm, bản thân Unilever có lịch sử phát triển thông qua các cuộc thôn tính, mua bán diễn ra trên phạm vi toàn cầu Những tên tuổi lớn trên thế giới như Lipton’s (Mỹ và Canada), Brooke Bond (Anh), Pepsodent (Mỹ), Bachelors (Anh), Chesebrough-Pond’s (Mỹ)…đã lần lượt “rơi” vào tay Unilever Điều đó đủ chứng tỏ Unilever đã vận dụng chiến lược M&A hết sức điêu luyện Vào thời điểm năm 1995, các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa có nhiều kinh nghiệm trên thương trường quốc

tế, việc thâu tóm các công ty Việt Nam là khá dễ dàng đối với Unilever

4 Tiến trình M&A tại VN

4.1 Tình hình 2 công ty P/S và Unilever ở thời điểm trước khi sáp nhập

a) P/S

Như đã nói Nhãn hiệu kem đánh răng P/S phát triển từ năm 1975

Trong một giai đoạn rất dài, không dưới 20 năm (1975 – 1995) P/S đã xác lập được vị thế dẫn đầu về sản phẩm chăm sóc răng miệng trên thị trường Việt Nam và chiếm được lòng tin yêu của đông đảo người tiêu dùng Việt

Có những thời điểm P/S chiếm 65% thị phần kem đánh răng cả nước

Trang 10

b) Unilever

Unilever ở thời điểm bấy giờ là một tập đoàn đa quốc gia phát triển rất lớn mạnh nhưng chưa am hiểu về thị trường ở Việt Nam nhưng đã thấy tiềm năng lớn ở thị trường Việt Nam ngay khi Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường

Và Unilever đã chính thức tham gia vào thị trường đầy tiềm năng này vào năm 1995

4.2. Các bước của quá trình

Ban đầu, Unilever không đưa ra chính sách “mua đứt, bán đoạn” mà đề nghị liên doanh, cùng hợp tác khai thác nhãn hiệu P/S Với bề dày kinh nghiệm hàng trăm năm, Tập đoàn Unilever thuyết phục được Công ty Hóa phẩm P/S tham gia liên doanh vào năm 1997 bằng việc thành lập Công ty Elida P/S, cùng khai thác P/S trên cơ sở thương hiệu này được chuyển nhượng cho Unilever với giá chuyển nhượng lên tới 5 triệu USD – một con số không nhỏ đối với doanh nghiệp Việt Nam vào thời điểm đó (Diễn đàn M&A Việt Nam & Trung tâm đào tạo Đầu tư & Kinh doanh CMAC, 2017)

Nếu chỉ nhìn qua giao dịch thì rõ ràng phía P/S có lợi rất lớn khi P/S sẽ vừa có được nguồn thu từ việc bán nhãn hiệu để xúc tiến các mục tiêu đầu tư khác, vừa tiếp tục được chia lợi nhuận từ lợi nhuận của công ty liên doanh

Lý do liên doanh mà không sáp nhập mà lại liên doanh: Việc liên doanh vừa giúp tận dụng thị trường, vừa dựa hơi DN trong nước để rút ngắn các thủ tục giấy

tờ, vừa đảm bảo đúng luật đầu tư ở VN tại thời điểm đó (Lộc, 2012)

Sau khi hợp tác, Công ty Hóa phẩm P/S không còn sản xuất kem đánh răng P/S nữa mà chỉ đảm nhận gia công vỏ hộp kem đánh răng bằng nhôm cho liên doanh Vào liên doanh, Công ty Hóa phẩm P/S bộc lộ nhiều yếu kém về nhân sự và vốn… nên vai trò của công ty giảm dần (Diễn đàn M&A Việt Nam & Trung tâm đào tạo Đầu tư & Kinh doanh CMAC, 2017)

Sau 1 thời gian, Unilever gợi ý P/S chuyển nhượng vốn để có tiền đầu tư máy móc, thiết bị làm ống phức hợp cung cấp cho Unilever Năm 2003, Công ty Hóa phẩm P/S nhượng vốn trong liên doanh cho Unilever (tổng cộng 14 triệu USD) (Mai Hân, 2013)

Tuy nhiên hậu quả thật đau đớn khi Unilever sau đó đã chọn một công ty của Indonesia để sản xuất ống nhựa cho mình Khi này Công ty Hóa phẩm P/S mất cơ hội gia công vỏ hộp, bị đẩy bật khỏi liên doanh, đành cắt đứt hoàn toàn với Unilever

16

Ngày đăng: 21/07/2020, 05:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w