1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐÀO tạo, bồi DƯỠNG đội NGŨ cán bộ, CÔNG CHỨC cấp xã là NGƯỜI dân tộc THIỂU số từ THỰC TIỄN HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

98 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÙI ĐỨC NGỌC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC... VIỆN HÀN LÂM KHOA

Trang 1

BÙI ĐỨC NGỌC

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI ĐỨC NGỌC

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN ANH HÙNG

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Những tài liệu tham khảo phục vụ cho luận văn có nguồn gốc rõ ràng

Quảng Nam, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Bùi Đức Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu của bản thân tôi, được hoàn thành không chỉ bằng nỗ lực của cá nhân mà còn có sự động viên, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

Trước hết, tôi xin gửi đến thầy TS Nguyễn Anh Hùng lời cảm ơn chân thành để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với người thầy đã tận tình giúp đỡ, định hướng, chỉ dẫn, chia sẻ những ý tưởng quan trọng cũng như những nhận xét thẳng thắn không chỉ trong quá trình điền dã, nghiên cứu mà còn trong việc hoàn thiện luận văn này

Tôi xin trân trọng sự giúp đỡ và những tình cảm chân thành của đồng bào dân tộc Cơtu, các cấp ủy Đảng, Chính quyền, các Phòng, Ban, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong công việc cũng như cung cấp những tư liệu quý báu trong quá trình điền dã thực tế tại địa phương

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô đã giảng dạy và giúp tôi trong quá trình học tập

Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo cơ quan thị trấn Prao đã tạo mọi điều kiện tốt nhất không chỉ về vật chất mà cả sự động viên tinh thầnh sâu sắc Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các đồng nghiệp, các cán bộ Ban Tổ chức Huyện ủy, phòng Nội vụ, phòng Dân tộc huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam đã gợi mở những ý tưởng cũng như cung cấp nhiều tư liệu quý báu, giúp tôi bổ sung những kiến thức về vấn đề nghiên cứu mà tôi quan tâm Cuối cùng, xin giành lời tri ân đến gia đình, là nguồn động viên, động lực to lớn giúp tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành công việc

Quảng Nam, tháng 3 năm 2020

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 9

1.1 Các khái niệm và những vấn đề liên quan 9 1.2 Cấu trúc, chức năng và đặc điểm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức dân tộc thiểu số 17 1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 20

CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐÔNG GIANG,

TỈNH QUẢNG NAM 31

2.1 Thực trạng về công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam 31 2.2 Những tích cực và hạn chế 53 2.3 Xu hướng biến đổi 60 2.4 Những vấn đề đặt ra về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở huyện Đông Giang hiện nay 61

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM 64

3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác bồi dưỡng đào tạo công chức cấp

xã là người dân tộc thiểu số 64

Trang 6

3.2 Phương hướng của huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số nói riêng từ đây đến năm 2025 68 3.3 Đề xuất các định hướng và giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ cán

bộ dân tộc thiểu số 71 3.4 Một số kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao công tác đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số cấp xã ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2020-2025 73

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

2.5 Cơ cấu về độ tuổi cán bộ, công chức cấp xã người DTTS

2.6 Cơ cấu thành phần dân tộc cán bộ, công chức cấp xã là

2.8 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ,công chức cấp

Trang 9

2.9 Trình độ lý luận chính trị của cán bộ,công chức cấp xã là

2.10 Trình độ quản lý nhà nước của cán bộ,công chức cấp xã là

2.11 Trình độ ngoại ngữ, tin học của cán bộ,công chức cấp xã là

2.12 Kết quả khảo sát về chất lượng công tác bồi dưỡng công

chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Đông Giang 58

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

2.1 Thu nhập cá nhân của cán bộ,công chức cấp xã là người

2.2 Thu nhập hộ của cán bộ,công chức cấp xã là người DTTS

2.3 Diện gia đình của cán bộ,công chức cấp xã là người DTTS

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác cán bộ, Bác chỉ rõ: “Cán bộ

là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán

bộ tốt hoặc kém” Quán triệt tư tưởng của Người, trong suốt sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 7, khóa XII của Đảng đã ban hành Nghị quyết

số 26 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, trong đó khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công hay bại của cách mạng nước ta; công tác cán bộ là khâu “quan trọng” của công tác xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị”

Để nâng cao tỷ lệ cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số ở các cơ quan của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là ở các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhưng không tăng về biên chế đã được cấp có thẩm quyền giao Chính phủ đã ban hành Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 về chính sách tinh giảm biên chế Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 449/QĐ-TTg, ngày 12 tháng 3 năm 2013; Quyết định

số 2356/QĐ-TTg ngày 04 tháng 12 năm 2013 ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020; từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, bảo đảm đồng bộ, góp phần nâng cao chất lượng, bảo đảm tỷ lệ hợp lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu

số tham gia vào các cơ quan của Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung

ương đến cơ sở

Hiện nay, đất nước ta đang tập trung đẩy mạnh CNH, HĐH, nội dung cơ bản và trước mắt là CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Nhiệm vụ chính trị mới rất nặng nề, khó khăn và phức tạp, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó có cán bộ người dân tộc thiểu

Trang 11

số (DTTS) ngang tầm, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nói chung, sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, phát triển hài hòa và đoàn kết các dân tộc nói riêng

Huyện Đông Giang là một trong 6 huyện miền núi cao, đặc biệt khó khăn, nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Nam, gồm 11 đơn vị hành chính xã, trong đó có

10 xã và 01 thị trấn ; Theo kết quả niên giám thống kê huyện Đông Giang năm

2019 tổng dân số toàn huyện 27.136 người, trong đó dân tộc thiểu số 20.937 người, chiếm 77,16% dân số toàn huyện; người Kinh 6.199 người, chiếm

22,84% Trong những năm gần đây, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các

cấp ủy đảng và chính quyền tỉnh Quảng Nam, nền kinh tế của huyện đã có những chuyển biến tích cực, có sự tăng trưởng khá, GDP bình quân đầu người của huyện không ngừng tăng lên qua các năm, năm 2019 đạt 26,7 triệu đồng/người/năm Văn hóa - xã hội được quan tâm, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện; phong trào xây dựng Nông thôn mới đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, hiện nay huyện đã có 2 xã được công nhận

nông thôn mới đó là xã Ba và xã Tư

Có được như vậy, một phần rất lớn là sự đóng góp tích cực của đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã người DTTS Bên cạnh những kết quả đạt được thì chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người DTTS ở huyện Đông Giang thời gian qua vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập:

Việc chỉ đạo quán triệt và tổ chức thực hiện công tác xây dựng đội ngũ cán

bộ chủ chốt cấp xã là người dân tộc Cơtu ở Đông Giang thiếu thường xuyên liên tục, thậm chí còn lúng túng trong xây dựng chương trình, kế hoạch công tác cán

bộ

Đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cấp xã luôn có sự biến động theo yêu cầu nhiệm

vụ chính trị và công tác đào tạo; cơ cấu cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa cân đối, tỷ

lệ cán bộ nữ người dân tộc còn thấp; trình độ về quản lý kinh tế còn hạn chế, tỷ

lệ cán bộ chưa qua đào tạo về chuyên môn và lý luận chính trị còn cao

Trang 12

Công tác đánh giá cán bộ nhiều nơi còn hình thức, chưa gắn với hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở Công tác đào tạo, bồi dưỡng còn chậm so với mục tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cơ sở và gắn với đề án vị trí việc làm Các cấp ủy đảng chưa chú ý đúng mức đến việc luân chuyển và thực hiện chính sách sát hợp với đối tượng này

Đa số cán bộ, công chức cấp xã người DTTS của huyện tuổi đời còn trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, trình độ nhận thức và năng lực lãnh đạo, quản lý còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ

Việc cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên để xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện ở địa phương còn yếu, dẫn đến hiệu quả thực hiện không cao

Với ý nghĩa đó, tác giả chọn “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công

chức cấp xã là người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật

Hành chính của mình Đề tài được thực hiện sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của

quản lý nhà nước đối với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức là người dân tộc thiểu số cấp xã ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, trong số đó, có những công trình tiêu biểu sau đây:

- Đề tài khoa học Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, (sách tham khảo) do GS TS Phan Hữu Dật chủ

biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Có đề cập đến vấn đề cán bộ người dân tộc thiểu số trong nội dung chương 3 và chương 4 Chương 3: Đề cập đến cán bộ dân tộc khi nghiên cứu chính sách dân tộc dưới bài học kinh nghiệm sử dụng con người trong lịch sử dựng nước và giữ nước Chương 4: Bàn đến vấn đề

Trang 13

cán bộ người dân tộc thiểu số hiện nay gắn với vai trò của họ ở một số vùng cụ thể

- Trong cuốn sách Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Luận cứ và giải pháp do

Lê Phương Thảo - Nguyễn Cúc - Doãn Hùng đồng chủ biên (Nxb Lý luận chính

trị, Hà Nội, 2008), các tác giả đã chia thành bốn phần luận bàn về vấn đề xây

dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, trong đó Phần 1: Luận cứ khoa học cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Phần 2: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa - Thực trạng và giải pháp; Phần 3: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trên một số lĩnh vực chuyên môn - Thực trạng và giải pháp; Phần 4: Đổi mới công tác cán bộ dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Trong tác phẩm Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay do Phan Xuân Sơn - Lưu Văn Quảng đồng chủ biên (Nxb Lý luận chính

trị, Hà Nội, 2006) là tiếp cận ở một khía cạnh khác khi chỉ luận bàn các chính sách dân tộc từ một số vấn đề về quan điểm, nhận thức, lý luận và thực tiễn Đồng thời, phân tích các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng, những vấn đề đang đặt ra cho việc thực hiện các chính sách này; bên cạnh đó đưa ra những quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt các chính sách dân tộc hiện nay

- Tác phẩm Một số vấn đề về dân tộc và phát triển do Lê Ngọc Thắng biên soạn (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) nêu vai trò, vị trí của công tác dân

tộc trong giai đoạn cách mạng và giai đoạn hiện nay; một số vấn đề về đổi mới công tác dân tộc trong tình hình mới; đáng quan tâm là những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách đối với nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu cán bộ dân tộc thiểu số như:

Trang 14

Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính (2010); Lý Trung Thành, Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số - từ thực tiễn ở Thái Nguyên, Tạp chí quản lý nhà nước, số 220 (tháng 5/2014); Trần Thị Tuyết Mai, Tạo nguồn cán bộ, công chức người dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính, 2009; Trương Thị Bạch Yến, Tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay, Luận văn Tiến

sỹ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2014; Hoàng

Minh Tùng (2014), Đào tạo, bồi dưỡng công chức là người dân tộc thiểu số ở Gia Lai, Luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính, Phân viện Tây

Nguyên Những tài liệu trên là nguồn tư liệu phong phú để làm rõ vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức nói chung và công chức là người dân tộc thiểu

số nói riêng ở các vùng miền trên cả nước Tuy nhiên, đến nay chưa có đề tài

nghiên cứu về “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ,công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam”

3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu

số từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn được thực hiện tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam

Tập trung nghiên cứu về công tác bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã là

người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam hiện nay

Phạm vi thời gian nghiên cứu của luận văn: Từ năm 2015 đến nay

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Trang 15

Thực hiện nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; nguyên tắc thống nhất lý luận với thực tiễn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính trị, văn hoá chính trị, con người chính trị, về công tác dân tộc

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

+ Phương pháp khảo cứu tài liệu

+ Phương pháp phân tích, so sánh và phương pháp thực chứng để phân tích làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

+ Phương pháp thống kê;

Nguồn tư liệu được lấy từ các báo cáo thống kê, báo cáo tổng kết của tỉnh

về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức xã là người DTTS; các kết quả điều tra nghiên cứu đã được công bố của các cuộc điều tra khảo sát

Nguồn tư liệu và báo cáo phân tích thực trạng còn bao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã được cấp có thẩm quyền ban hành

5 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

5.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đông Giang, luận văn phân tích đánh giá những mặt tích cực, đồng thời chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân dẫn đến những hạn chế Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay

Trang 16

Luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về công chức cấp xã và bồi dưỡng công chức cấp xã là người DTTS; kinh nghiệm trong bồi dưỡng công chức cấp xã của các địa phương khác có điểm tương đồng như huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua

- Làm rõ tầm quan trọng của công chức cấp xã người dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay

- Phân tích đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng công chức cấp xã là người DTTS trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam để chỉ ra những mặt tích cực; làm rõ những hạn chế trong việc bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp

xã người DTTS; tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó

- Đề xuất những phương hướng, giải pháp trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn hiện nay

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Đóng góp khoa học

Xây dựng khung lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ,công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam hiện nay trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước; trên nền tảng đó, cung cấp một cách tiếp cận mới trong việc tìm hiểu, nghiên cứu

về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Đông Giang

6.2 Đóng góp thực tiễn

Phân tích, đánh giá một cách thiết thực về thực trạng về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng trong giai đoạn hiện nay Đồng thời rút ra những ưu -

Trang 17

khuyết điểm và nguyên nhân của nó làm cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số ở huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam hiện

Chương 1 Cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức

là người dân tộc thiểu số và tổng quan địa bàn nghiên cứu

Chương 2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số cấp

xã từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam

Chương 3 Một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo,

bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ TỔNG QUAN

ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm và những vấn đề liên quan

1.1.1 Khái niệm chính quyền cấp xã

Trong hệ thống hành chính nước ta, chính quyền cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp hoàn chỉnh: Trung ương, tỉnh, huyện, xã Vì vậy, cấp xã chính là nền tảng của hệ thống chính trị, đóng vai trò thiết thực trong việc xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là yếu tố quyết định sự thành

công của sự nghiệp cách mạng nước ta Hiến pháp 2013 quy định Chính quyền

địa phương bao gồm Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân, trong đó Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân “là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đại diện cho ý chí và nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” Xuất phát từ vị trí chính quyền cấp xã trong hệ thống chính trị ở cơ sở nên nó có vai trò rất quan trọng trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân Có thể khẳng định chính quyền cấp xã là cầu nối quan trọng của Đảng, Nhà nước với nhân dân

1.1.2 Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã

Tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về Công chức cấp

xã như sau :

Trang 19

“Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm

kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc

Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” Các chức vụ của cán bộ cấp xã được quy định tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán

bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:

- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;

- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với địa phương có hoạt động diêm nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” Theo Điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ

về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở

xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Công chức cấp xã gồm các chức danh sau:

- Trưởng Công an;

Trang 20

- Văn hoá - xã hội

1.1.3 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau cho cán bộ công chức phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất lượng công việc được các cơ quan nhà nước giao, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức thực hiện Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức giữ vai trò bổ trợ, tăng cường kiến thức, kỹ năng để người cán bộ công chức có đủ năng lực đáp ứng hoạt động quản lý, điều hành

Phân biệt giữa đào tạo và bồi dưỡng

Đào tạo, bồi dưỡng công chức là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý phát triển nguồn nhân lực của các cơ quan nhà nước nhằm mục tiêu xây dựng, phát triển đội ngũ công chức thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, trung thành với nhà nước và tận tuỵ với công việc phục vụ nhân dân Quá trình đào tạo, bồi dưỡng bao giờ cũng phải tiến hành trên cơ sở xác định nhu cầu ĐTBD của từng cơ quan, đơn vị, từng vị trí công việc, đồng thời, phải dựa trên sự phân tích những “khoảng trống” về năng lực thực hiện công việc của đội ngũ công chức

Đào tạo, theo định nghĩa chung nhất là quá trình tác động đến con người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, một cách có hệ thống để họ có thể thích nghi với khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, đóng góp phần công sức của mình vào sự phát triển xã hội

Trang 21

nói chung Đó là quá trình làm cho người­ ta trở thành có năng lực theo những tiêu chuẩn, đòi hỏi nhất định, là quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng mới Thời gian đào tạo tương đối dài (từ 01 năm học trở lên) và có bằng cấp, chứng chỉ

Bồi dưỡng­ là quá trình tác động đến con người làm cho người­ đó “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”, là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách thường­ xuyên, là tăng cường­ năng lực nói chung trên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã được­ đào tạo Bồi dưỡng đảm đương nhiệm vụ cập nhật, trang bị thêm những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho công chức để họ thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn nhiệm vụ được­ giao

Như vậy, đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”, và bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” Việc tách bạch khái niệm đào tạo và bồi dưỡng riêng rẽ chỉ để tiện cho việc phân tích điểm giống và khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng

Đối với ĐTBD công chức, theo tác giả Ngô Thành Can “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là quá trình tổ chức những cơ hội học tập cho họ nhằm trang

bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc để họ thực hiện công việc được giao tốt hơn, hiệu quả hơn” [19] Với quan niệm như vậy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm các mục tiêu chính sau: Trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện công việc thực tế theo từng vị trí công việc, việc làm của công chức, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực làm việc hiện tại của cá nhân và tổ chức;

Trang 22

Trang bị kiến thức, kỹ năng, cách thức làm việc đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm, tiêu chuẩn ngạch của công chức theo yêu cầu của tổ chức;

Trang bị, cung cấp kiến thức, kỹ năng, thái độ và cách thức làm việc cần thiết để giúp công chức làm quen, thích ứng với vị trí công việc, việc làm mới do luân chuyển, thuyên chuyển, biệt phái, đề bạt [19, tr.27] Qua hai khái niệm trên,

có thể nhận thấy những điểm khác nhau tương đối giữa hai khái niệm “đào tạo”

và “bồi dưỡng”

Từ những phân tích ở trên cho thấy đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định và Bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất Việc tách bạch khái niệm đào tạo và bồi dưỡng riêng rẽ chỉ

để tiện cho việc phân tích điểm giống và khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng Một định nghĩa chung cho ĐTBD, CBCC có thể được hiểu như là quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập này có kết quả của giáo dục, hướng dẫn phát triển và lĩnh hội kinh nghiệm theo một cách bài bản có kế hoạch

TT Tiêu chí

Làm thay đổi rõ rệt trình độ, Hoàn chỉnh một bước

hoặc nâng cao một mặt

1 Mục tiêu

đạt được một mức độ về kiến nào đó trình độ cho người thức, kỹ năng cụ thể được bồi dưỡng

Cung cấp tri thức, kỹ năng Bổ sung các tri thức, kỹ

2 Nội dung đầy đủ, hoàn chỉnh, có hệ năng, chủ trương, đường

3 Hình thức Thường là chính quy Thường là không chính quy

4

Được xác nhận bằng các loại Được xác nhận qua việc

5 Kết quả văn bằng theo quy định của cấp cho các học viên các

Trang 23

Từ quan niệm trên, ĐTBD là để phục vụ các mục tiêu chính sau:

Một là: Trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện

công việc thực tế theo từng vị trí công việc, việc làm của CBCC, viên chức theo yêu cầu của tổ chức

Hai là: Trang bị kiến thức, kỹ năng, cách thức làm việc đáp ứng yêu cầu

tương lai của vị trí việc làm, tiêu chuẩn của ngạch CBCC, viên chức theo yêu cầu của tổ chức

Ba là: Trang bị, cung cấp kiến thức, kỹ năng, thái độ và cách thức làm việc

cần thiết để giúp CBCC, viên chức làm quen, thích ứng với vị trí công việc, việc làm mới do luân chuyển, thuyên chuyển, biệt phái, đề bạt

Mặc dù giữa đào tạo, bồi dưỡng có những điểm khác nhau tương đối, tuy nhiên trong thực tế nhiều khi khó phân biệt một cách rạch ròi Do vậy, hai khái niệm này thường được sử dụng cùng nhau: “đào tạo, bồi dưỡng”, “đào tạo - bồi dưỡng” trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức Trong luận văn này tác giả sử dụng cách viết “đào tạo, bồi dưỡng” để thuận tiện cho quá trình xử lý và phân tích thông tin thực tế thu thập được

1.1.4 Khái niệm “dân tộc thiểu số”

Năm 1992, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua thuật ngữ “dân tộc thiểu số” trên cơ sở dựa vào quan điểm của Giáo sư Francesco Capotorti (đặc phái viên Liên Hiệp Quốc) đã đưa ra vào năm 1977:

“Dân tộc thiểu số” là thuật ngữ nói về một nhóm người:

(1) Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này;

(2) Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống;

(3) Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ;

Trang 24

(4) Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này;

(5) Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ”

Ở Việt Nam, khái niệm “người bản địa” xuất hiện vào thời Pháp thuộc, khi phân biệt người dân Việt Nam với người Pháp Có 54 tộc người sinh sống lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam nhưng không có tộc người nào là bản địa hay tộc người nào là phi bản địa - dù có tộc người sinh sống lâu đời, có tộc người nhập

cư muộn hơn - mà chỉ có tộc người đa số và tộc người thiểu số Do đó, khái niệm

“tộc người thiểu số”, hay “dân tộc thiểu số” được sử dụng là phù họp với thực tiễn tộc người ở nước ta Gọi tộc người thiểu số là để phân biệt với tộc người đa

số mà tiêu chí phổ dụng là xem xét tỉ lệ dân số tộc người trong tổng dân số quốc gia Một tộc người chỉ được xem là thiểu số khi đặt dân số tộc người đó với tổng dân số cả nước mà không xem xét ở phạm vi vùng hay địa phương Bởi vì, một tộc người thiểu số nào đó của cả nước nhưng đặt trong phạm vi một địa phương nhất định có khi lại chiếm đa số, như trường hợp người Cơtu ở huyện Đông Giang chiếm tỷ lệ 77,16% Hay nói cách khác “dân tộc thiểu số” (tộc người thiểu

số hay dân tộc ít người) là thể hiện trong mối tương quan về số lượng dân số (nhân khẩu) giữa các nhóm dân tộc trong một quốc gia Nếu như dân tộc đa số là dân tộc chiếm số đông nhất trong một quốc gia có nhiều dân tộc thì ngược lại, DTTS là dân tộc chiếm số dân ít hơn so với dân tộc đông nhất Tại Điều 5, Nghị định về Công tác dân tộc của Chính phủ ban hành ngày 14/01/2011 qui định:

“DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “Dân tộc đa số là dân tộc có

số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia” Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc, ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số với gần 86% dân số cả nước, 53 DTTS còn lại chỉ chiếm gần 14%

Trang 25

Như vậy, “dân tộc thiểu số” là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực, ngành khoa học khác nhau trên thế giới, trong đó có khoa học pháp lý

Ở Việt Nam, trong các văn bản pháp luật cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động thực tiễn khái niệm “dân tộc thiểu số” được sử dụng khá phổ biến Tại Khoản 2, Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc có đưa ra khái niệm “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.1.5 Khái niệm cán bộ dân tộc thiểu số

Cán bộ dân tộc thiểu số là những người dân tộc thiểu số được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ Đảng, Nhà nước, người đứng đầu các tổ chức chính trị-xã hội trong hệ thống chính trị

Công chức dân tộc thiểu số là những người dân tộc thiểu số được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc cơ quan hành chính nhà nước

1.1.6 Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số

Từ cách hiểu trên về bồi dưỡng công chức, có thể quan niệm về bồi dưỡng công chức là người DTTS như sau: Bồi dưỡng công chức người DTTS là toàn bộ hoạt động bồi dưỡng các kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ công chức người DTTS nhằm giúp họ nâng cao năng lực, trình độ để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao

Hay nói cách khác, bồi dưỡng công chức người DTTS được xác định là một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng của công chức người DTTS thông qua các lớp bồi dưỡng để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó

Trang 26

1.2 Cấu trúc, chức năng và đặc điểm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ, công chức dân tộc thiểu số

1.2.1 Cấu trúc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức dân tộc thiểu số

Tri thức chính trị

Đây là mặt nhận thức, ý thức chính trị của chủ thể Tri thức bao gồm cả tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm được thu nhận, tích lũy trong quá trình tham gia các hoạt động chính trị của mỗi cá nhân

Người có tri thức chính trị là những người do được đào tạo hay tự học đã đạt tới một trình độ hiểu biết và lý luận trên trung bình, quan tâm tới những vấn đề chính trị và xã hội, suy nghĩ một cách lương thiện, biết tự đặt cho mình những câu hỏi và tìm câu trả lời của mình cho những câu hỏi đó và sẵn sàng thách thức mọi thế lực để bảo vệ quan điểm của mình Người tri thức phải suy nghĩ một cách độc lập và do đó không thể chấp nhận một sự chỉ đạo tư tưởng nào cả

Giá trị đạo đức và lối sống

Giá trị đạo đức là các nguyên tắc, quy tắc các phương thức ứng xử đã được cộng đồng lựa chọn, thừa nhận và chấp nhận, trở thành kinh nghiệm tập thể của cộng đồng Chúng đáp ứng tối ưu các nhu cầu của cá nhân và cộng đồng (gia đình, làng xã, dân tộc, giai cấp, tổ chức) Các giá trị đạo đức có vị trị quan trọng trong đời sống tinh thần của cá nhân và cộng đồng, người ta cần đến chúng như một nhu cầu, một lẽ sống, một sức mạnh của cá nhân và cộng đồng

Lối sống là một thói quen có định hướng, có chất lượng lý tưởng Lối sống là phương cách thể hiện tổng hợp tất cả các cấu trúc, nền văn hoá, đặc trưng văn hoá của một con người hay một cộng đồng

Lối sống không chỉ là hành vi như cách đi lại, ăn nói, nó là hành vi hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tư duy, làm việc và phương cách xử lý các mối quan

hệ

Trang 27

Như thế, ta có thể hiểu lối sống như những cách thức, phép tắc tổ chức và điều khiển đời sống cá nhân và cộng đồng đã được thừa nhận rộng rãi và trở thành thói quen Tuy nhiên, lối sống hình thành và thể hiện không chỉ trong lao động sản xuất, mà cả trong nhiều lĩnh vực khác như hoạt động xã hội, hoạt động chính trị, hoạt động tư tưởng văn hoá, thể dục thể thao

Lối sống bao gồm nhiều yếu tố cấu thành như: Cách thức lao động, làm

ăn, kinh doanh, các phong tục tập quán, cách thức giao tiếp, ứng xử với nhau

Lý tưởng chính trị

Là mục đích cao đẹp mà chủ thể chính trị vươn tới Lý tưởng chính trị quy định hoạt động và hành vi chính trị của con người Lý tưởng chính trị do tri thức chính trị quy định, tri thức chính trị đúng sẽ dẫn đến lý tưởng chính trị đúng Đến lượt mình, lý tưởng chính trị định hướng tư tưởng, tình cảm, ý chí chính trị và hoạt động chính trị

Tình cảm, ý chí chính trị

Là một đặc trưng trong ý thức chính trị của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu

số, là cơ sở vững chắc để xây dựng lý tưởng cộng sản chủ nghĩa và đấu tranh chống lại mọi thế lực thù địch trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, được biểu hiện là những phản ứng của mỗi cán

bộ dân tộc thiểu số đối với vấn đề chính trị Thái độ, tình cảm của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số về các hiện tượng trong sinh hoạt chính trị, cũng như các vấn đề liên quan đến chính trị càng mạnh mẽ, càng sâu sắc thì ý thức chính trị của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số càng phát triển Sự kết hợp giữa tri thức chính trị và tình cảm chính trị tạo thành niềm tin chính trị Niềm tin chính trị là động lực mạnh

mẽ, thúc đẩy và quy định mức độ khám phá, hiểu biết về chính trị bởi nó trực tiếp quy định hành động chính trị của mỗi người Từ đó nâng cao ý thức chính trị và biến thành ý chí, thành hành động thực tiễn chính trị của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, thể hiện ở sự quyết tâm, lòng kiên trì vượt khó, đó cũng là sự độc lập,

Trang 28

sáng tạo, nhạy bén trong việc tìm ra những giải pháp tối ưu để đạt kết quả trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình

Ý thức chính trị của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số được biểu hiện thông qua hành vi chính trị của họ Hành vi chính trị của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu

số là những cử chỉ, lời nói, thái độ, hành động thể hiện qua sự ứng xử của họ trong các mối quan hệ chính trị xã hội nhất định, phản ánh một trình độ nhất định ý thức chính trị của họ Tính chất và mức độ biểu hiện hành vi chính trị của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số được thử thách trong môi trường chính trị, đặc biệt là trong những điều kiện khó khăn đòi hỏi phải huy động tối đa mọi khả năng để xử lý các tình huống cụ thể Đánh giá hành vi chính trị của đội ngũ cán

bộ dân tộc thiểu số phải đặt trong bối cảnh cụ thể môi trường chính trị mới có thể đánh giá đúng khách quan

1.2.2 Chức năng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ góp phần củng cố thế giới quan khoa học

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ góp phần củng cố lý tưởng đạo đức cách mạng

- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tạo ra môi trường và động lực phát triển

- Đào tạo, bồi dưỡng định hướng hành vi, tạo lập nhân cách đạo đức

1.2.3 Đặc điểm cán bộ, cán bộ dân tộc thiểu số

Có số lượng tương đối lớn, có cơ cấu một số nơi tương ứng với thành phần

và số lượng dân cư các dân tộc thiểu số trên địa bàn; trình độ, năng lực đang từng bước nâng lên nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn cán bộ dân tộc thiểu số miền núi theo quy định, nhưng vẫn còn thể hiện sự bất cập đối với yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới; mang đậm nét tâm lý, văn hóa truyền thống, gắn bó

và có uy tín với cộng đồng, nhưng vẫn còn bị tác động bởi những phong tục tập quán cũ trong quá trình thực thi nhiệm vụ; công tác trên địa bàn phức tạp, chịu sức

ép từ nhiều phía (điều kiện sống; các thế lực thù địch; tập quán dân tộc; quan hệ dòng tộc; các mâu thuẫn xã hội…)

Trang 29

1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội huyện Đông Giang

1.3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Đông Giang là huyện miền núi cao thuộc tỉnh Quảng Nam, nằm cách thành phố Tam Kỳ 145 km về phía Tây Nam, cách thành phố Đà Nẵng 95 km về phía Đông, ở vị trí địa lý theo tọa độ từ 15o 50' - 16o 10' vĩ độ Bắc; từ 107o 35' đến

Địa hình chia cắt thành 3 vùng khác nhau, độ cao trung bình là 1.000 m, độ dốc nghiêng về phía Đông Đỉnh dốc Kiền có độ cao trên 500 m (ranh giới giữa Đông Giang và huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng), cho thấy rõ độ cao của địa hình Đông Giang Vùng Đông gồm các xã: Ba, Tư và Kà Dăng; vùng trung gồm các xã: ATing, Sông Kôn, Jơ Ngây, Mà Cooih; vùng Tây Nam gồm các xã:

Tà Lu, ARooi, Za Hung và thị trấn Prao

Diện tích tự nhiên của huyện: 81.263 ha, trong đó đất nông nghiệp: 4.016,69 ha, chiếm 4,951 %; đất lâm nghiệp có rừng: 60.562,80 ha, chiếm

Trang 30

74,650 %; đất chưa sử dụng: 13.489,53 ha, chiếm 17,071 %; đất làm nhà ở: 176,86 ha, chiếm 0,218 %; đất phi nông nghiệp: 2.523,11 ha, chiếm 3,110 % Đất trên địa bàn huyện Đông Giang chủ yếu thuộc loại đất đỏ vàng hình thành trên đá biến chất và đất sét (Fe) hoặc trên đá macma acid (Fa); loại đất này

có độ PH từ 4,5 đến 5,5 phù hợp với các loại cây lâm nghiệp, cây công nghiệp như cây quế, cây tiêu, cây keo Đây là thế mạnh để huyện Đông Giang phát triển mô hình kinh tế vườn - rừng, kinh tế trang trại

Địa hình của huyện Đông Giang bị chia cắt thành nhiều vùng bởi các sông, suối Trên địa bàn huyện có các hệ thống sông lớn là sông Vàng, sông AVương, sông Kôn Sông Vàng bắt nguồn từ huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế chảy qua các xã Tư, xã Ba và nhập vào sông Kôn, phần chảy qua huyện dài 15 km; sông Kôn bắt nguồn từ huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế đi qua các

xã ATing, Sông Kôn và Kà Dăng rồi đổ ra sông Vu Gia, đoạn chảy qua huyện dài 13 km; sông AVương bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào chảy qua huyện Tây Giang, thị trấn Prao và các xã Zà Hung, ARooi, Mà Cooih và đổ vào sông Bung Mạng lưới sông ngòi khá dày, nước chảy xiết và lắm thác ghềnh không thuận tiện cho giao thông nhưng là điều kiện để xây dựng các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt xây dựng nhiều nhà máy thủy điện có công suất lớn Đông Giang là nơi có nhiều loại khoáng sản Đá vôi có trữ lượng lớn, phân bố từ A Sờ (xã Mà Cooih) đến xã Kà Dăng là nguồn nguyên liệu quan trọng phục vụ các công trình xây dựng và có thể đáp ứng cho các nhà máy xi măng; đất sét có ở xã Ta Lu là nguồn nguyên liệu để làm gốm; suối nước nóng, suối nước đen ở Sông Kôn có thể đầu tư xây dựng các khu du lịch sinh thái Đặc biệt, huyện Đông Giang có trữ lượng vàng lớn, tập trung ở xã Ba, xã Tư, được khai thác từ rất sớm nhưng chủ yếu theo quy mô nhỏ, lẻ và tự phát

Về giao thông, do địa hình phức tạp, đường thủy chỉ được nhân dân sử dụng trong vận chuyển gỗ, củi nhờ vào sức nước của dòng chảy Do đường thủy như trên nên giao thông đường bộ trở nên vô cùng quan trọng Tuy nhiên, trước

Trang 31

đây, đường bộ trong huyện Đông Giang còn nhỏ, dốc cao, vượt qua nhiều khe suối, đi lại rất khó khăn, đi bộ là chủ yếu Hiện nay trên địa bàn huyện có hai trục đường bộ chính là đường Hồ Chí Minh và đường quốc lộ 14G

Đường Hồ Chí Minh đi qua huyện Đông Giang dài 38 km, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giao thông, vận chuyển hàng hóa và an ninh, quốc phòng của địa phương Tuyến đường quốc lộ 14G nối liền quốc lộ 14B tại Túy Loan (huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng) đến thị trấn Prao Hầu hết trung tâm các

xã, thị trấn có đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 14G (trừ xã ARooi) đi qua Tuy nhiên, vào mùa mưa, giao thông trên các trục đường, nhất là các tuyến đường đi các xã gặp rất nhiều khó khăn do tình trạng sạt lở đất; đường đi các thôn thì lầy lội

Với địa hình rừng núi phức tạp và hiểm trở, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, cũng như các huyện miền khác trong tỉnh, huyện Đông Giang có

vị trí quan trọng, là địa bàn chiến lược của miền Tây tỉnh Quảng Nam, nối liền với dãy Trường Sơn - Tây Nguyên Đây là tiềm năng, là nguồn lực để địa phương đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, từng bước nâng cao mức sống cho nhân dân, đồng thời góp phần xây dựng căn cứ địa cách mạng trong các thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như bảo vệ an ninh, quốc phòng và chủ quyền quốc gia hiện nay [22]

1.3.1.2 Điều kiện kinh tế -xã hội

Điểm xuất phát về kinh tế, xã hội so với cả nước và của tỉnh thấp (sản xuất,

ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, mặt bằng dân trí) sống phụ thuộc vào tự nhiên

về lâm sản phụ, về động vật rừng, về thủy sản sông, suối; các biểu hiện của thực trạng trên đó là:

Phương diện kinh tế Phổ biến vẫn là kinh tế nương rẫy, kinh tế tự nhiên kết

hợp lúa nước, chăn nuôi, săn bắt, bước đầu có phát triển hàng hóa và dịch vụ (ở một số nơi có điều kiện thuận lợi như vùng thị trấn, thị tứ, vùng thấp của huyện)

Trang 32

Phương diện xã hội Dân cư trú tập trung ở núi cao, đầu các ngọn sông,

ngọn suối trong thời kỳ chiến tranh chống đế quốc Mỹ và thực dân Pháp; xuống các vùng nà, núi thấp khi kết thức chiến tranh chống đế quốc Mỹ

Đa số là lao động sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp; bước đầu có một số vùng sản xuất hàng hóa gắn với tư liệu sản xuất là đất rừng, rừng và ven sông, suối Mặt bằng dân trí thấp; lực lượng lao động chính là phụ nữ

Xã hội phân hóa theo hộ giàu - nghèo hiện vật (không phải phân hóa theo giai cấp)

Phân công lao động theo tự nhiên, lứa tuổi (già - trẻ), giới tính, không phải phân công lao động theo ngành nghề, số giờ lao động giữa nam và nữ thì nữ chiếm nhiều hơn

Phương diện nhân lực Trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực hạn

chế, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo rất cao, lao động đã qua đào tạo chủ yếu là trình độ thấp

Trình độ tư duy của đội ngũ cán bộ còn nhiều mặt hạn chế, kỹ năng làm việc yếu và không ngang tầm với đòi hỏi của nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hiện nay và tương lại gần (cấp cơ sở xã, thị trấn)

Về kinh tế ổn định và tăng trưởng khá (tính từ thời điểm 01/2016 - 2018, nguồn

báo cáo Huyện ủy [22]

Tổng giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm đến giữa nhiệm kỳ là 10,5%, vượt 5,32% so với chỉ tiêu Nghị quyết

Giá trị sản xuất Nông - Lâm - Thủy sản các năm qua tăng mạnh, tốc độ tăng bình quân hàng năm, năm sau cao hơn năm trước, đến giữa nhiệm kỳ là 11,44%, vượt 7,62% so với chỉ tiêu Nghị quyết

Đã hình thành các vùng sản xuất tập trung: trồng được 620 ha cây cao su, 14.700 ha cây keo nguyên liệu, năng suất, chất lượng rừng trồng từng bước được cải thiện Liên kết với công ty, doanh nghiệp trong tỉnh triển khai trồng thêm

Trang 33

5.000 ha keo với mục đích kinh doanh gỗ lớn nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng rừng trồng Đầu tư trồng mới 46 ha chuối nâng tổng diện tích trồng chuối lên 750 ha, năng suất bình quân 25 tấn/ha tăng 5 tấn/ ha so với năm 2015; 210 ha mây dưới tán rừng nâng tổng diện tích cây mây lên 792 ha và năng suất tăng 1-2 tấn/ ha; 5,2 ha Ớt A riêu; 32 ha chè dây; 11,24 ha cây Loòng boong bản địa Trồng khảo nghiệm 9,5 ha Đẳng sâm và 12,3 ha Ba kích tím dưới tán rừng theo

cơ chế hỗ trợ Quyết định 2950/QĐ-UBND ngày 17/8/2016 của UBND tỉnh bước đầu có kết quả và tiếp tục được đầu tư nhân rộng theo quy hoạch của huyện

Thực hiện tốt, hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, Nghị định 75/2015/NĐ- CP, chương trình bảo vệ phát triển rừng của Chính phủ, năm 2018 đã giao khoán 42.848,27 ha rừng tự nhiên cho 300 nhóm hộ/4.090 hộ nhận khoán tạo thu nhập bình quân từ 3,5-4,5 triệu đồng/hộ/năm, qua đó góp phần nâng độ che phủ rừng đạt 64,2%

Tổng đàn gia súc tiếp tục được duy trì và có phát triển, công tác phòng ngừa dịch bệnh được đảm bảo Tạo điều kiện thuận lợi cho khu chăn nuôi tập trung với qui mô 7.500 con nâng tổng đàn gia súc lên 23.024 con tăng 47,45% so với năm 2015 Tổng đàn gia cầm đạt 45.870 con tăng 7,4% so với năm 2015 Tiếp tục kêu gọi và tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mở rộng các khu chăn nuôi heo tập trung với qui mô 10.000 con đã mở ra hướng phát triển mới cho ngành chăn nuôi trên địa bàn huyện Đông Giang

Thủy sản duy trì diện tích nuôi cá nước ngọt hàng năm là 38 ha và tiếp tục triển khai mô hình nuôi cá lồng trên lòng hồ các công trình thủy điện nhằm phát huy tối đa lợi thế của địa phương tạo việc làm mới, ổn định đời sống cho người dân, nâng giá trị sản xuất thủy sản ước đạt 4,9 tỷ đồng

Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tốc độ tăng bình quân hằng năm đến giữa nhiệm kỳ đạt 9,09%, vượt 2,18% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng

bộ huyện lần thứ XVIII Hoạt động các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông,

Trang 34

dụng…phát triển khá Hoạt động dịch vụ du lịch, chủ yếu phát triển du lịch cộng đồng tại thôn Bhơ hôồng 1, xã Sông Kôn và thôn Đhrôồng, xã Tà Lu bước đầu

có kết quả Hiện nay, các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn đang tập trung triển khai dự án khu du lịch sinh thái suối khoáng nóng A Păng, thôn Bhờ hôồng II, xã Sông Kôn với diện tích 44,43 ha; khu du lịch sinh thái Cổng trời - Đông Giang

và khu du lịch nghỉ dưỡng AVương, xã Mà Cooih với qui mô tổng mức đầu tư

dự án trên 1000 tỷ đồng

Giá trị sản xuất ngành Công nghiệp - xây dựng tăng trưởng khá, tốc độ tăng bình quân hằng năm đến giữa nhiệm kỳ đạt 10,94%, vượt 6,3% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 18

Tiểu thủ công nghiệp được quan tâm chỉ đạo, khôi phục nghề dệt thổ cẩm, đan lát mây tre truyền thống, xây dựng thương hiệu ớt A Riêu, Chè dây, ớt A Riêu, Rượu Ka Cun, tiếp tục xây dựng thương hiệu chuối mốc Đông Giang theo

Kế hoạch 5308/KH-UBND ngày 26/10/2016 của UBND tỉnh Quảng Nam Đã có

01 sản phẩm tiêu biểu cấp quốc gia là chè xanh Quyết Thắng, 01 sản phẩm tiêu biểu khu vực miền trung là ớt A Riêu, 05 sản tiêu biểu cấp tỉnh gồm Rượu Cần truyền thống, chè dây Ra Zéh, Đan Lát, dệt thổ cẩm Đhơrôồng, rượu Ka Cun

Công tác quản lý thu ngân sách được tập trung chỉ đạo Tốc độ thu ngân sách tăng bình quân hằng năm trên 12 % vượt so với chỉ tiêu Nghị quyết đề ra Khai thác quỹ đất đã được tập trung chỉ đạo, trong nửa nhiệm kỳ 2015-2020 đã bán thu nộp ngân sách trên 5,7 tỷ góp tạo diện mạo mới trên địa bàn huyện Đông Giang ngày một khang trang [22]

1.3.2 Khái quát về quá trình tộc người, đặc trưng văn hóa xã hội, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức DTTS ở huyện Đông Giang

1.3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển tộc người

Từ lâu, vùng đất huyện Đông Giang là nơi có tộc người thiểu số (Cơtu) sinh sống Tuy nhiên với đặc điểm địa hình, phong tục tập nên người Cơtu ít bị ảnh hưởng của các triều đại phong kiến của Việt Nam, mãi đến thời Nguyễn,

Trang 35

quan lại người Kinh của phủ Điện Bàn mới mở các cuộc thám hiểm lên vùng rừng núi Đông Giang, tiếp đến là người Pháp tiến hành khai thác các sản vật của núi rừng để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quản lý một số vùng bằng dựa trên hệ thống cai đốc, thương lái và các già làng, nhưng cũng rất hạn chế

Trong suốt chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cán bộ người Kinh được phân công lên xây dựng miền núi; về sau thực hiện lệnh tiêu thổ kháng chiến của Đảng, một số gia đình người Kinh trong vùng bị chiếm chuyển lên vùng thấp của huyện Đông Giang tạm cư; sau là những người lên buôn bán, làm việc trong các lâm trường, nông trường và các cơ quan hành chính

ở huyện, xã và định cư ổn định cho đến hôm nay

Hiện nay, trên địa bàn huyện Đông Giang chủ yếu có hai thành phần tộc người sinh sống đó là dân tộc Cơtu và Kinh Theo số liệu thống kê năm 2019 của huyện Đông Giang tổng dân số toàn huyện 27.136 người, trong đó dân tộc thiểu số 20.937 người, chiếm 77,16% dân số toàn huyện; người Kinh 6.199 người, chiếm 22,84% [22]

Đối với dân tộc Cơtu là người bản địa cư trú lâu đời trên vùng núi huyện Đông Giang, nhiều nhận xét của các nhà Nhân học, Dân tộc học trong và ngoài nước về người Cơtu thường dựa vào những đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa đã xếp họ và một nhóm của cộng đồng nói ngôn ngữ Mon - Kh’mer Đến những năm đầu thế kỷ XX, người Cơtu được biết đến trong những chuyên khảo đặc tả

về phong tục tập của các học giả người Pháp [Le Pichion (2011), Những kẻ săn máu (Tạ Đức dịch), NXB Thế giới, Hà Nội.] Tên gọi của tộc người Cơtu được

công nhận chính thức bởi Nhà nước Việt Nam và được sử dụng trong các văn bản hành chính từ năm 1979 là “Cơtu” [Viện Hàn Lâm Khoa học Xã Hội Việt

Nam - Viện Dân tộc học (2014), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía nam) (tái bản có sửa chữa bổ sung), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 534]

Trang 36

Đối với người Kinh lên định cư ở huyền miền núi Đông Giang, được xác định vào đầu thế kỷ XX, qua các hoạt động giao thương, trao đổi hàng hóa Sau

đó, là những cán bộ được phân công lên công tác ở miền núi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đến ngày thống nhất đất nước những người lên buôn bán, làm việc trong các lâm trường, nông trường và các cơ quan hành chính

ở huyện và xã ngày càng tăng lên [2]

Trong quá trình cư trú hai tộc người này đã tạo nên mối quan hệ mật thiết với nhau trong lao động sản xuất, giao lưu văn hóa, đặc biệt là trong quá trình chống giặc ngoại xâm bảo vệ quê hương, bảo vệ đất nước

1.3.2.2 Đặc trưng văn hóa xã hội

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 tổ chức xã hội truyền thống của người Cơtu là làng, vừa là đơn vị cư trú, vừa là đơn vị hành chính mang tính chất

tự quản Làng được xây dựng ở nơi cao ráo, thoáng mát, gần nguồn nước và bố trí thành hình tròn hoặc hình bầu dục, xung quanh là nhà dân và ở giữa là Gươl

(nhà sinh hoạt của làng) Mỗi làng có một ranh giới được xác định bằng sông

suối, vị trí cây cối, ngọn núi, tảng đá Đất đai, sông suối, núi rừng thuộc quyền

sở hữu của làng Mỗi làng đều có các công trình công cộng như nghĩa địa, nguồn nước Quan hệ xã hội trong làng được bảo vệ bằng luật tục với vai trò quan

trọng của người già làng Già làng là người có nhiều kinh nghiệm, được nhân

dân kính nể, suy tôn Sự phân hóa giai cấp chưa diễn ra rõ rệt, sự phân hóa xã hội trong làng về lĩnh vực kinh tế chỉ xuất hiện các thành phần dư ăn, đủ ăn và nghèo đói Việc hội họp, bàn bạc công việc chung, hay nghi lễ tín ngưỡng đều được tổ chức tại Gươl

Hoạt động kinh tế hỏa canh, dựa vào các hình thức ‘‘phát, cốt, đốt, trỉa” cùng với sống du canh, du cư, tập trung trên một vùng có điều kiện thổ nhưỡng tốt, để phát nương làm rẫy, săn bắt, hái lượm Nên sản phẩm kinh tế hàng năm không có năng suất cao, chủ yếu dựa vào thiên nhiên

Trang 37

Trong xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số, vai trò của người đàn ông trong gia đình rất quan trọng, yếu tố phụ quyền của từng dòng họ luôn được đề cao Do vậy, việc cưới xin cũng có những luật tục riêng: con trai, con gái lớn lên cha mẹ sắp đặt chuyện vợ chồng, hoặc hai người tìm hiểu nhau Trước những năm 50 của thế kỷ XX, muốn cưới được vợ cho con, gia đình nhà trai phải chịu

lễ vật thách cưới của nhà gái như: động vật có bốn chân, chiêng ché cổ và đồ trang sức bằng vòng đồng, vòng bạc Còn nhà gái trả lại cho nhà trai những con vật loại hai chân, bò sát, các loại cá và vải thổ cẩm có đính hạt cườm , số lượng

do hai bên thống nhất Lễ hỏi, lễ cưới được tổ chức trang trọng, nhà gái dẫn con đến giao cho nhà trai và tiến hành giao nhận lễ vật như đã thỏa thuận; hôm sau nhà trai tổ chức ăn uống và chiêu đãi cả làng một bữa tiệc linh đình Ngày nay, các luật tục thách cưới đã được xóa bỏ, góp phần giảm bớt gánh nặng cho các gia đình

Đồng bào dân tộc thiểu số có tinh thần đoàn kết, cần cù, trung thực tông trọng thực tế, thích sống tự do, giàu tình thương, tính cộng đồng cao, luôn tin tưởng Đảng và Nhà nước Ngoài những đặc tính tốt, đồng bào dân tộc thiểu số còn có những đặc tính không tốt đó là: Tính bình quân, thực dụng, tự ty và ỉ lại quá lớn Ý thức cộng đồng luôn được trân trọng gìn giữ và phát huy, bản làng luôn gắn bó mật thiết với nhau từ đời này sang đời khác, luôn coi trọng nghi lễ, tín ngưỡng và phong tục tập quán của đồng bào mình

Ngày nay, cuộc sống của người dân trên địa bàn huyện Đông Giang đã có nhiều biến đổi Phong trào xây dựng thôn văn hóa, gia đình văn hóa được quan tâm chỉ đạo Đến năm 2019, số hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa: “5.378/6.273 hộ chiếm tỷ lệ 85,73%, đạt 102% so với chỉ tiêu Nghị quyết đề ra Số thôn đạt danh hiệu thôn văn hóa 77/95 thôn chiếm tỷ lệ 81,05%, đạt 92% so với chỉ tiêu Nghị quyết đề ra” [22 Mục II ] Các thiết chế văn hóa được quan tâm đầu tư phát triển, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao của người dân và tạo môi trường văn hóa lành mạnh Nhận thức việc bảo tồn và phát huy các giá trị

Trang 38

quan trọng, then chốt của chiến lược phát triển văn hóa dân tộc Trong những năm qua huyện Đông Giang đã tập trung khôi phục, sưu tầm, bảo tồn được nhiều vật thể và phi vật thể văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số Hiện nay,

có ba di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộ thiểu số (Dệt thổ cẩm; múa tân tung da dá; nói lý, hát lý) được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là

di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Song song, với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống huyện đã lồng ghép kết hợp với phát triển du lịch cộng đồng cùng với các dịch vụ ẩm thực của địa phương, đồ uống, điểm dừng chân, nghỉ qua đêm (homestay) và vui chơi giải trí thưởng thức dân ca, dân vũ truyền thống (múa tân tung da dá) đã góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của địa phương và mạng lại hiệu quả kinh tế cho người dân bản địa

1.3.2.3 Chất lượng CBCC cấp xã là người dân tộc thiểu số của huyện Đông Giang

Công tác cán bộ huyện Đông Giang trong những năm qua luôn được Ban Thường vụ Huyện ủy quan tâm, đặc biệt là đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu

số, đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các cơ quan, đơn vị, địa phương chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số ở các cấp, từng bước phát triển về số lượng và chất lượng, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới UBND huyện Đông Giang ra Quyết định số 1348/QĐ-UBND ngày 04/10/2011 về ban hành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020; Đề án số 07/ĐA-UBND ngày 26/10/2011 của UBND huyện về đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020; Kế hoạch số 16/KH-UBND ngày 25/02/2016 của UBND huyện

về kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã giai đoạn 2016-2020; Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có sự trưởng thành về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ và công tác lãnh đạo, quản lý, nhận xét, đánh giá, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ cho từng địa

Trang 39

phương, đơn vị Tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã đạt trình độ chuyên môn ngày càng cao; một số chỉ tiêu giai đoạn 2015-2020 đạt và vượt so với Nghị quyết đề

ra

Tiểu kết Chương 1

Chương 1, tác giả tập trung đề cập về công tác lý luận, đưa ra một số khái niệm cơ bản về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, cấu trúc, chức năng và đặc điểm của đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số Từ đó, chúng ta nhận định đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước ở những vùng niềm núi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống Trong chương này, tác giả cũng đặc biệt quan tâm vấn đề về các nhân tố tác động đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số Từ đó, để làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam ở phần Chương 2

Trang 40

CHƯƠNG 2 CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN ĐÔNG GIANG,

Ngày đăng: 20/07/2020, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w