1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

quản lý nhà nước về trật tự, an toàn, xã hội từ thực tiễn quận hải châu, thành phố đà nẵng

90 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý Nhà nước về TTATXH trước hết nhằm đem lại sự bình yên trong hoạt động của các cơ quan, các tổ chức xã hội và cá nhân, bảo vệ trật tự pháp luật và kỷ cương xã hội, bảo đảm thực hi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HỮU CÔNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN, XÃ HỘI

TỪ THỰC TIỄN QUẬN HẢI CHÂU,

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HỮU CÔNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN, XÃ HỘI

TỪ THỰC TIỄN QUẬN HẢI CHÂU,

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS THÁI THỊ TUYẾT DUNG

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài luận văn của riêng tôi, các số liệu và kết

quả nghiên cứu trong luận văn “Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn, xã hội

từ thực tiễn quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng” là hoàn toàn trung thực,

có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định, không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Đà Nẵng, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Lê Hữu Công

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI 9

1.1 Các khái niệm có liên quan 9 1.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung và tầm quan trọng của quản lý Nhà nước về trật tự, an toàn xã hội 13 1.3 Phương pháp và nguyên tắc quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội 19 1.4 Quy định pháp luật về quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ,

AN TOÀN XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 28

2.1 Các yếu tố đặc thù của quận Hải Châu có ảnh hưởng đến quản lý nhà nước

về trật tự, an toàn xã hội 28 2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu 32 2.3 Đánh giá về công tác quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội 48

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 57

3.1 Định hướng và mục tiêu hoàn thiện về quản lý nhà nước về trật tự, an toàn

xã hội trên địa bàn quận Hải Châu giai đoạn đến năm 2030 57 3.2 Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu giai đoạn mới 63

KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 XHCN Xã hội chủ nghĩa

2 QLNN Quản lý nhà nước

3 TTATXH Trật tự an toàn xã hội

4 UBND Ủy ban nhân dân

5 TTXH Trật tự xã hội

6 HĐND Hội đồng nhân dân

7 CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

8 PCCC Phòng cháy chữa cháy

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

2.1 Thống kê công tác giải quyết tin báo, tố giác tội phạm

trên địa bàn quận Hải Châu qua các năm 45

2.2

Thống kê khái quát tình hình tội phạm và xử lý vi phạm

pháp luật về trật tự xã hội trên địa bàn quận Hải Châu từ

năm 2015 đến năm 2019

50

Trang 7

Liên hệ đến Đà Nẵng là Thành phố trực thuộc trung ương, mà trong đó quận Hải Châu là trung tâm phát triển về kinh tế, thương mại, dịch vụ, văn hóa, chính trị và giáo dục của thành phố Đà Nẵng Đây cũng là nơi tập trung đông dân cư với mật độ dân cư rất cao và các cơ quan, văn phòng của hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, nên quận Hải Châu có một tầm quan trọng đặc biệt trong sự phát triển của TP Đà Nẵng về tất cả mọi mặt Tuy vậy so với yêu cầu thực tiễn quản lý sự phát triển mới, với mật độ lớn về dân cư và là nơi tập trung đô thị hóa cao ở quận Hải Châu đã và đang làm phát sinh các vấn đề phức tạp và bất ổn về mặt xã hội trong điều kiện cơ chế, chính sách xã hội còn chưa hoàn thiện, chậm đổi mới và công tác quản lý nhà nước về xã hội vẫn còn bộc lộ không ít bất cập, nhất là vấn đề cấp bách đặt ra cần phải giải quyết trật tự an toàn xã hội như: tình hình cư trú - tạm trú của dòng người nhập cư đổ

về đô thị tăng lên; vấn đề phân hóa giàu nghèo và bất công xã hội đang còn diễn

ra, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu đang còn khó khăn cho nhóm

hộ có thu nhập thấp hoặc yếu thế; tình hình trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông, vi phạm pháp luật về môi trường, phòng cháy, chữa cháy; sự gia tăng các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khó kiểm soát… đã tác động ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn ở thời gian qua

Trang 8

2

Vì vậy, việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội theo hướng hiệu lực, hiệu quả trở nên rất cấp thiết Với lý do này, tác giả

đăng ký lựa chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn, xã

hội từ thực tiễn quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng” để thực hiện luận văn

thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật Hành chính

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Vấn đề quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội là vấn đề mà các cơ

quan quản lý nhà nước, các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu khoa học cũng được bàn luận nhiều, nhất là trong giai đoạn hiện nay Tiêu biểu nêu ra một

số nghiên cứu như:

- Đề tài cấp Bộ “Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội tại các địa bàn công cộng đô thị - Thực tiễn tình hình và những kiến nghị đề xuất”, của tác

giả Vương Đức Phong, năm 2012 Đề tài đã nghiên cứu làm rõ nhiều nội dung QLNN về TTATXH tại các địa bàn công cộng đô thị; qua đó đánh giá thực trạng tình hình và đề xuất nhiều giải pháp đảm bảo TTATXH tại các địa bàn công cộng đô thị

- Phạm Ngọc Hải (2016), Quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn Hà Nội theo chức năng của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội,

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý nhà nước về an ninh trật tự, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Công trình này đã tổng hợp những vấn đề lí luận liên quan đến công tác quản lý nhà nước về cư trú theo chức năng của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Đồng thời, nghiên cứu tình hình đặc điểm có liên quan, thực trạng cư trú và tình hình vi phạm pháp luật xảy ra trên địa bàn Hà Nội, cơ cấu tổ chức của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính

về trật tự xã hội tại Hà Nội (chỉ ra một số kết quả và những tồn tại cùng nguyên nhân của của nó) Từ đó, đưa ra những giải pháp, kiến nghị liên quan đến công tác quản lý nhà nước về cư trú của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật

tự xã hội

- Hà Việt Dũng (năm 2002), Quản lý nhà nước về an ninh trật tự đối với các văn phòng đại diện tổ chức kinh tế, thương nhân nước ngoài ở Việt Nam -

Trang 9

3

thực trạng và giải pháp, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân,

Hà Nội Luận án này đã góp phần hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về an ninh, trật tự và quản lý nhà nước về an ninh, trật tự; qua đó nghiên cứu làm rõ những vấn đề liên quan đến an ninh, trật tự đối với các văn phòng đại diện tổ chức kinh

tế, thương nhân nước ngoài

- Vũ Thành Chương (2018), Quản lý cư trú đối với công dân theo chức năng của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố Hải Phòng, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý nhà nước về an ninh trật

tự, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Công trình này đã trình bày lý luận về

cư trú và quản lý cư trú đối với công dân theo chức năng của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Đổng thời, khảo sát về tình hình cư trú và thực trạng công tác quản lý cư trú đối với công dân của lực lượng Cảnh sát quản

lý hành chính về trật tự xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2008 đến tháng 6/2017; và đưa ra đánh giá về kết quả đạt được, hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của nó Trên cơ sở đó, luận án đã đưa ra dự báo và xây dựng các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố Hải Phòng trong quản lý cư trú đối với công dân thời gian tới

- Hội thảo khoa học: “Quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong nền kinh

tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ tư”

do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã phối hợp với Tạp chí Cộng sản và Chương trình trọng điểm cấp nhà nước KX.01/16-20 (Bộ Khoa học và Công nghệ) đồng tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia vào ngày 22/12/2018 tại Hà Nội Tại Hội thảo này với 40 bài tham luận trao đổi, tập trung đề cập nhiều nội dung

về quản lý phát triển xã hội gắn với chế định của bối cảnh thực hiện mới với việc xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, gắn với hội nhập quốc tế, nền kinh tế

số, cách mạng công nghiệp lần thứ tư; qua đó cung cấp luận cứ khoa học cho báo cáo của Chương trình và đưa đến những khuyến nghị về chính sách cho Đảng, Nhà nước về quản lý phát triển xã hội trong bối cảnh mới; đề xuất với Bộ Khoa

Trang 10

4

học và Công nghệ thiết kế lại các chương trình khoa học giai đoạn 2021 - 2025 cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn và thể chế phát triển

- Bài viết “Khái niệm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội nước

ta hiện nay” của GS TS Trịnh Duy Luân, Nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học

đăng trên website: https://vass.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/ KhoaHocCongNghe/View_Detail.aspx?ItemID=78 Bài viết này, bên cạnh nêu khái niệm thì tập trung thống kê nêu ra 10 vấn đề của phát triển xã hội ở Việt Nam cần phải quản lý, đó là: (1) Giải quyết việc làm; (2) Xóa đói giảm nghèo; (3) Hòa nhập xã hội; (4) Tăng cường vai trò của gia đình; (5) Phát triển giáo dục; (6) Dân số, kế hoạch hóa gia đình; (7) Chăm sóc sức khỏe nhân dân; (8) Bảo trợ

xã hội; (9) Môi trường; (10) Hạn chế, ngăn ngừa các hành vi phạm tội, ma túy, mại dâm, buôn lậu, tham nhũng, làm giàu bất chính,

- Đinh Quang Hà (2014), Di dân tự do nông thôn - đô thị với trật tự xã hội

ở Hà Nội, Luận án tiến sĩ chuyên ngành xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh, Hà Nội Công trình này dựa trên cơ sở tiếp cận khung lý thuyết về

di dân để nghiên cứu khảo sát thực tiễn di dân tự do nông thôn - đô thị với trật tự

xã hội ở Hà Nội Từ đó đề xuất một số giải pháp để đấu tranh ngăn chặn tác động tiêu cực của di dân tự do đến trật tự xã hội ở đô thị, cụ thể gồm: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cụm, khu công nghiệp ở khu vực nông thôn, ngoại thành để thu hút lao động ở nông thôn; Hiện đại hóa quản lý hành chính, quản lý con người; Chú trọng tuyên truyền nếp sống văn minh cho nhóm di dân tự do, đẩy mạnh xây dựng kỷ cương, văn minh đô thị

- Đinh Mạnh Toàn (2018), Phòng ngừa tội phạm của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tội phạm học

và Điều tra tội phạm, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Công trình này trình bày vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Đổng thời, nghiên cứu tình hình đặc điểm địa lý, dân cư, kinh tế, xã hội và tình hình an ninh trật tự; thực tiễn về tổ chức lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Qua đó, Luận án này đánh giá thực trạng phòng ngừa tội phạm của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội

Trang 11

5

về kết quả đạt được; hạn chế, thiếu sót và tìm ra những nguyên nhân của nó Từ

đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội

- Đặng Thị Thanh (2012), Phòng ngừa tội phạm do người lao động tự do ngoại tỉnh gây ra ở các thành phố lớn của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm

về trật tự xã hội, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội Công trình này đã trình bày

một số lý luận chung về phòng ngừa tội phạm Đồng thời, phân tích thực trạng hoạt động phòng ngừa tội phạm do người lao động tự do ngoại tỉnh gây ra ở các thành phố lớn của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Từ đó,

đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm do người lao động tự

do ngoại tỉnh gây ra ở các thành phố lớn của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm

về trật tự xã hội

Ngoài ra, còn có Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2007 “Thực trạng và giải pháp tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về cư trú” do tác giả Nguyễn Xuân

Yêm làm chủ nhiệm

Tuy vậy, đề cập nghiên cứu cụ thể về vấn đề quản lý nhà nước về trật tự

an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào trùng lặp, nên việc nghiên cứu nó có ý nghĩa thời sự

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về trật tự

an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý của quản lý nhà

nước về trật tự an toàn xã hội

- Phân tích đánh giá thực trạng của quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng thời gian qua

Trang 12

6

- Đề xuất giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng chủ yếu một số phương pháp nghiên cứu cụ thể trong khoa học xã hội như sau:

- Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật, thu thập thông tin, phân tích tài liệu thứ cấp

- Phương pháp phân tích logic tổng hợp, khảo sát thực địa, thống kê so sánh

- Phương pháp tiếp cận hệ thống cấu trúc

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu góp phần hệ thống hóa làm rõ một số vấn đề lý luận

Trang 13

7

và cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ thực tiễn tình hình và đánh giá thực trạng của quản lý nhà nước về trật

tự an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng thời gian qua

để cung cấp luận cứ thực tiễn nhằm đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng giai đoạn hiện nay Qua đó, góp phần làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách quản lý ở cấp địa phương về trật

tự an toàn xã hội hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Bên cạnh phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu nội dung của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước

về trật tự, an toàn xã hội

1.1 Các khái niệm có liên quan

1.1.1 Khái niệm về trật tự, an toàn xã hội

1.1.2 Khái niệm về quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

1.2 Chủ thể, nội dung và tầm quan trọng của quản lý Nhà nước về trật tự,

an toàn xã hội

1.2.1 Chủ thể quản lý Nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

1.2.3 Tầm quan trọng của quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

1.3 Phương pháp và nguyên tắc quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

1.3.1 Phương pháp quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

1.3.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

1.4 Quy định pháp luật về quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

Chương 2 Thực trạng của quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng

2.1.Các yếu tố đặc thù của quận Hải Châu có ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

Trang 14

8

2.2.Thực tiễn quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu

2.2.1.Công tác ban hành các văn bản và chỉ đạo triển khai thực hiện

2.2.2.Công tác bố trí công chức và tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

2.2.3.Công tác tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về trật tự, an toàn

xã hội

2.2.4.Công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

2.3 Đánh giá về công tác quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về trật

tự, an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng giai đoạn hiện nay

3.1 Định hướng và mục tiêu hoàn thiện về quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu giai đoạn đến năm 2030

3.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu giai đoạn đến năm 2030

Trang 15

9

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI

1.1 Các khái niệm có liên quan

1.1.1 Khái niệm về trật tự, an toàn xã hội

“Trật tự, an toàn xã hội” (TTATXH) là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong đời sống xã hội và chúng được đề cập ở nhiều văn bản quản lý, ở nhiều tài liệu, sách, bài viết,… Thuật ngữ TTATXH chính thức được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “trật tự trị an” từ những năm 1970 đến nay Đúng vậy, Văn kiện Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1976) đã đề cập: Giáo dục nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho quần chúng nhân dân, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và TTATXH Tại Điều 45 của Hiến pháp năm 1992 và Điều 46 của Hiến pháp năm

ổn với các hành động của các chủ thể xã hội thường mâu thuẩn xung đột với nhau bởi có sự khác biệt lợi ích hoặc thiếu hụt các giá trị, chuẩn mực xã hội để đối chiếu) Trật tự xã hội chỉ có thể có được khi tất cả các thành phần trong xã hội thực hiện tốt chức năng của mình và các cơ quan quyền lực thực hiện tốt chức năng kiểm soát xã hội, duy trì được tính chuẩn mực của các hành động xã hội, đảm bảo cho môi trường xã hội ổn định và trật tự Nói cách khác, trật tự xã

hội chính là sự hoạt động ổn định hài hòa của các thành phần xã hội trong cấu

trúc xã hội, nó là thước đo về tính tổ chức của đời sống xã hội, tính chuẩn mực

Trang 16

Đối với an toàn xã hội, để một xã hội phát triển bình yên và đạt được mức

độ tương đối “an toàn” cho điều kiện sinh tồn của mọi cá nhân trong xã hội đó, điểm cốt lõi quan trọng là phải đáp ứng đủ các nhu cầu cho sự tồn tại của

họ, đó là quyền được sống, được thụ hưởng ngay cả khi đang ở trong độ tuổi lao động hay khi không còn sức khỏe để lao động Có thể hiểu, an toàn xã hội dùng để chỉ trạng thái vận động và phát triển của xã hội trong một môi trường

ổn định và quản lý được những mâu thuẫn, rủi ro bất ổn nảy sinh ngay trong quá trình xã hội đó

Từ cơ sở tiếp cận này cho thấy, tính chỉnh thể của xã hội chỉ có thể đạt được khi có sự ổn định, an toàn và hài hòa trong cấu trúc xã hội, tạo nên một trật

tự xã hội nhất định Như vậy, TTATXH tạo dựng cho hệ thống xã hội đạt được

sự ổn định, hoạt động có hiệu quả dưới sự tác động của các yếu tố Nói cách khác, TTATXH được xác định là trạng thái duy trì các hoạt động của xã hội đi vào ổn định, an toàn, có trật tự, kỷ cương Bởi trật tự, kỷ cương xã hội được xác lập trên cơ sở của các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành (hệ thống các quy phạm pháp luật) và những giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức, văn hóa truyền thống được cộng đồng người trong xã hội thừa nhận, tôn trọng, tuân thủ; mà qua

đó mọi người có được cuộc sống yên ổn

Về thực chất, các hành vi vi phạm TTATXH chính là những hành vi gây

ra làm sai lệch chuẩn mực xã hội Nếu một khi xã hội không có sự trật tự, kỷ cương, an toàn thì sẽ rơi vào trạng thái xã hội rối loạn/ hỗn loạn, mâu thuẩn xung

Trang 17

11

đột bùng phát, đời sống xã hội trong trạng thái không yên ổn, người dân sẽ luôn

âu lo, bất an Đúng vậy, xã hội chỉ có thể ổn định và phát triển khi và chỉ khi phải chú trọng giữ gìn TTATXH

Trong Từ điển Bách khoa nghiệp vụ Công an (năm 2000), thuộc Viện Chiến lược và Khoa học Công an, Bộ Công an cũng xác định: TTATXH là tình trạng xã hội có tổ chức, có kỷ luật, mọi người được sống yên vui lành mạnh trong xã hội theo quy định bằng các luật lệ của nhà nước, quy phạm của đạo đức, quy phạm của cuộc sống cộng đồng và thuần phong mỹ tục Còn theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam (năm 2005): TTATXH là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cương, trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định

Từ những phân tích trên và kế thừa các quan niệm đã nêu, TTATXH được hiểu là trạng thái duy trì sự vận động của xã hội ổn định, hài hòa, có trật tự, kỷ cương, được xác lập trên cơ sở hệ thống các quy định của pháp luật, các quy tắc, giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội được tôn trọng và thừa nhận, mà từ đó mọi người dân có cuộc sống bình yên, môi trường an toàn, quyền và lợi ích hợp pháp không bị xâm hại, mọi hoạt động của nhà nước, tổ chức và cá nhân được thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật

Từ khái niệm này, có thể xác định nội hàm của TTATXH được thể hiện qua các dấu hiệu cơ bản: (1) Đó là một trạng thái duy trì trật tự, kỷ cương, nề nếp, sự ổn định, an toàn và yên bình của xã hội; (2) Trạng thái xã hội đó chỉ đạt đến sự ổn định và bền vững khi và chỉ khi có sự tự giác của mọi người tuân thủ quy phạm pháp luật và đạo đức trong xã hội; (3) TTATXH là kết quả tổng hợp của công tác quản lý, gìn giữ, bảo vệ trật tự an toàn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó, có sự đóng góp quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn xã hội

1.1.2 Khái niệm về quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

Quản lý nhà nước ở nghĩa rộng, đó là các hoạt động của cơ quan nhà nước

về lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp để thực hiện các chức năng đối nội

và đối ngoại của nhà nước Còn quản lý nhà nước ở nghĩa hẹp, đó là hoạt động

Trang 18

12

chấp hành và điều hành được cấu thành bởi các yếu tố có tính tổ chức để thực hiện việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, được đảm bảo thực hiện chủ yếu bởi

hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước [24]

Trong khuôn khổ luận văn này chủ yếu tiếp cận nghiên cứu quản lý nhà nước ở nghĩa hẹp, mà cụ thể là quản lý nhà nước về TTATXH Đối với TTATXH dưới góc nhìn quản lý lấy mục đích: an ninh xã hội được bảo đảm; công tác phòng chống tội phạm đạt hiệu quả; trật tự, an toàn giao thông luôn bảo đảm thông suốt; trật tự công cộng được giữ vững; tệ nạn xã hội được kiềm chế [7; tr.13-14] Nên công tác bảo đảm TTATXH gồm nhiều hoạt động: phòng ngừa tội phạm, tệ nạn xã hội; giữ gìn trật tự công cộng; v.v… Trong các hoạt động đó, nổi lên các nội dung chủ yếu: quản lý hành chính Nhà nước; giữ gìn trật tự nơi công cộng; giữ gìn trật tự giao thông; đấu tranh phòng chống tội phạm

và tệ nạn xã hội

Quản lý Nhà nước về TTATXH trước hết nhằm đem lại sự bình yên trong hoạt động của các cơ quan, các tổ chức xã hội và cá nhân, bảo vệ trật tự pháp luật và kỷ cương xã hội, bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ công dân, đấu tranh có hiệu quả với tình trạng phạm tội, với các vi phạm pháp luật và

tệ nạn xã hội Năm 1998, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm đã đưa ra quan niệm: Quản

lý nhà nước về an ninh quốc gia, TTATXH là hoạt động chấp hành và điều hành các cơ quan nhà nước được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành luật nhằm thực hiện trong cuộc sống hàng ngày các chức năng của nhà nước trong lĩnh vực an ninh quốc gia, TTATXH.[44]

Về thực chất, quản lý Nhà nước về TTATXH gắn liền với một số đặc điểm chủ yếu, đó là: (1) Một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước (hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan Nhà nước) để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người liên quan đến TTATXH; (2) Sự tác động có tổ chức, có hệ thống theo ý chí của Nhà nước bằng công cụ pháp luật, các thiết chế có chức năng để điều chỉnh có hiệu lực, hiệu quả đối với các quan hệ xã hội và hành vi xã hội, tạo môi trường bảo đảm vững chắc cho một nền TTATXH; (3) Chủ thể quản lý là Nhà nước, trong đó chủ thể trực tiếp

Trang 19

13

là lực lượng nòng cốt Công an nhân dân để bảo đảm TTATXH; (4) Đối tượng quản lý Nhà nước về TTATXH là mọi cơ quan, tổ chức, các nhóm xã hội, cộng đồng dân cư, các cá nhân tham gia những mối quan hệ liên quan đến TTATXH

Như vậy, quản lý Nhà nước về TTATXH được hiểu là sự tác động hướng đích của Nhà nước thông qua hoạt động chấp hành và điều hành của một hệ thống các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền, được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành luật pháp nhằm tạo nên môi trường

ổn định, an toàn cho quốc gia trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội, hướng tới thực hiện đạt được các mục tiêu xây dựng và bảo vệ vững chắc

Tổ quốc XHCN

1.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung và tầm quan trọng của quản lý Nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

1.2.1 Chủ thể và đối tượng quản lý Nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

* Chủ thể quản lý Nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

Quản lý nhà nước về TTATXH gắn liền với hoạt động chấp hành, điều hành của một hệ thống các cơ quan công quyền, nên chủ thể quản lý cao nhất đối với hoạt động TTATXH áp dụng trên phạm vi toàn quốc là Chính phủ với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nhà nước ta

Do hoạt động quản lý điều hành của Chính phủ được thực hiện theo chế

độ lãnh đạo tập thể, hoạt động quản lý trên từng lĩnh vực đều phải thông qua các

cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành thuộc cơ cấu của Chính phủ (Bộ, cơ quan ngang Bộ) Bộ Công an chính là cơ quan chuyên biệt giúp Chính phủ thực hiện việc quản lý TTATXH thống nhất ở phạm vi quốc gia

Hiện nay, hệ thống các cơ quan quản lý TTATXH ở Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành – lĩnh vực và quản lý theo lãnh thổ Nên tương ứng ở mỗi cơ quan quản lý có thẩm quyền chung (UBND các cấp) của một cấp hành chính địa phương thì có một cơ quan chuyên ngành – lĩnh vực cùng cấp có nhiệm vụ giúp cơ quan quản lý thẩm quyền chung đó thực hiện việc quản lý TTATXH (ngoài ra, còn có các cơ quan có chức năng liên quan phối hợp thực hiện) Với UBND cấp tỉnh thì cơ quan chuyên môn là Sở Công an;

Trang 20

14

UBND cấp huyện có Công an huyện; và UBND cấp xã có chức danhTrưởng Công an cấp xã cùng lực lượng của cấp mình

* Đối tượng quản lý Nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

Đối tượng quản lý Nhà nước về trật tự, an toàn xã hội, đó là tất cả những

tổ chức, cơ quan, các nhóm xã hội, cộng đồng người và những cá nhân tham gia những mối quan hệ thuộc phạm trù trật tự, an toàn xã hội

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

Xuất phát từ mục tiêu của quản lý Nhà nước về TTATXH là nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ bảo vệ an toàn các cơ quan nhà nước, các tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật và kỷ cương xã hội; phòng ngừa và ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả đối với tình trạng phạm tội, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật, giữ gìn trạng thái xã hội luôn bình yên, an toàn, trật tự, nề nếp kỷ cương Nên đối với nội dung quản lý Nhà nước về TTATXH bao gồm:

Một là, Nhà nước hoạch định các văn bản quy phạm pháp luật về

TTATXH và đưa vào tổ chức thực hiện trong thực tiễn đời sống

Để quản lý Nhà nước về TTATXH, Nhà nước mà trước hết là Quốc hội và Chính phủ phải xác lập ban hành khung pháp lý về lĩnh vực TTATXH cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành Nhiệm vụ của hệ thống cơ quan Nhà nước, nhất

là các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương và các cá nhân người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền là phải thể chế hóa các đạo luật của Quốc hội, Nghị định, Thông tư… của Chính phủ về TTATXH cùng các văn bản hướng dẫn thi hành để tổ chức triển khai thực hiện lĩnh vực, ngành mà mình quản lý Đây là hành lang pháp lý quan trọng để thiết lập môi trường điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý nhà nước về TTATXH cũng như bảo đảm lợi quyền hợp pháp, chính đáng của công dân

Việc hoạch định (xây dựng và ban hành) hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở của nhận thức về quá trình động, phát triển của xã hội Trước sự vận động không ngừng của thực tiễn phát triển, nhất là đối với những quốc gia thừa nhận cơ chế thị trường và mở cửa nền kinh tế sẽ luôn luôn đặt ra nhu cầu khách quan rất cần thiết (thể hiện sự ghi nhận của Nhà nước về nhu cầu điều

Trang 21

15

chỉnh chính sách pháp luật về TTATXH để đáp ứng thực tiễn quản lý), đó chính

là phải thông qua quá trình tổng kết đánh giá thực trạng thuận lợi và hạn chế, vướng mắc trong quản lý, triển khai chính sách pháp luật về TTATXH tạo cơ sở xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật ở lĩnh vực TTATXH để đáp ứng tình hình mới theo đúng định hướng của Nhà nước Tuy vậy, chính sách pháp luật được ban hành dù đầy đủ, toàn diện đến mấy chăng nữa thì tự thân nó cũng không thể đi vào đời sống; thay vào đó chúng nhất thiết phải thông qua quá trình tổ chức thực hiện trên thực tế

Việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật ở lĩnh vực TTATXH phải căn cứ hành lang pháp lý (Hiến pháp, các đạo luật và các văn bản dưới luật như: Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn thi hành của các Bộ ngành có liên quan) để Nhà nước xác lập thẩm quyền cụ thể cho các chủ thể là cơ quan Nhà nước trong việc tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh liên quan tới TTATXH, tức là các

cơ quan Nhà nước được trao quyền (có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể)

để tổ chức thực thi các nội dung của QLNN về TTATXH Quá trình tổ chức thực thi pháp luật về TTATXH được tiến hành ở hai mặt chủ yếu, đó là: (1) Triển khai thực hiện pháp luật về TTATXH; (2) Áp dụng pháp luật về TTATXH nhằm đưa các văn bản quy phạm pháp luật về TTATXH vào điều chỉnh các quan hệ xã hội trong thực tiễn đời sống

Hai là, tuyên truyền, giáo dục phổ biến pháp luật về TTATXH

Tuyên truyền, giáo dục phổ biến pháp luật cũng như hướng dẫn tổ chức thực hiện pháp luật về lĩnh vực TTATXH lấy mục tiêu nhằm tạo sự chuyển biến nhận thức, nâng cao ý thức của đội ngũ cán bộ công chức, các cơ quan, tổ chức

và người dân tôn trọng và tuân thủ chấp hành pháp luật về TTATXH

Công tác tuyên truyền giáo dục, phổ biến pháp luật về TTATXH được triển khai tiến hành dưới nhiều hình thức Vấn đề là lựa chọn hình thức tuyên truyền chuyển tải phải phù hợp với nhóm đối tượng trong thực tiễn, phải xác định cụ thể mục tiêu, nội dung, biện pháp công cụ, lộ trình thực hiện, hướng vào mục tiêu chung cần đạt đến là phải tạo được sự chuyển biến căn bản trong nhận

Trang 22

16

thức và hình thành ý thức của cán bộ công chức, các tổ chức và người dân trong việc tôn trọng và tuân thủ chấp hành pháp luật về TTATXH

Ba là, xây dựng các lực lượng cán bộ, công chức để triển khai công tác

quản lý nhà nước về TTATXH

Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng, bởi hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về TTATXH phụ thuộc một cách trực tiếp vào trình độ và khả năng hoạt động của các lực lượng này trong quá trình triển khai thực hiện Đúng vậy, quản lý nhà nước về TTATXH phải thông qua thực tế quá trình triển khai thực hiện tại cơ quan và địa phương với các nhiệm vụ cụ thể được phân công và phối hợp Do đó, cần chú trọng kiện toàn việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức để triển khai có chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nhà nước về TTATXH Trong đó, lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về TTXH là một lực lượng nghiệp vụ mũi nhọn trong hệ thống Công an nhân dân, có tổ chức hoạt động chính quy, tập trung, chặt chẽ và giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh, TTATXH cũng như góp phần quan trọng trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm

Bốn là, giám sát kiểm tra, và thanh tra việc chấp hành pháp luật về TTATXH

Hoạt động giám sát, kiểm tra và thanh tra vốn dĩ là một chức năng căn bản không thể thiếu trong công tác quản lý Nhà nước Các hoạt động giám sát, kiểm tra và thanh tra việc chấp hành pháp luật về TTATXH có tầm quan trọng trong quá trình QLNN về TTATXH để tiến hành xem xét các đối tượng quản lý trên các lĩnh vực liên quan TTATXH, xem xét hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có tuân thủ pháp luật quy định hay không nhằm mục đích để nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về TTATXH

Qua giám sát, kiểm tra và thanh tra chẳng những để nắm bắt kịp thời tình hình TTATXH và tiến độ kết quả giải quyết của các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền, mà còn đánh giá ưu điểm, hạn chế để phát huy các nhân tố tích cực và phòng ngừa, xử lý các vi phạm trên cơ sở chỉ ra các sai sót, bất cập, vướng mắc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật để kịp thời chỉ đạo, gợi ý hướng dẫn

Trang 23

17

và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết TTATXH hoặc đề xuất hướng sửa đổi, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về TTATXH; cũng như đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý những người thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật trong QLNN về TTATXH nhằm tăng cường kỷ luật, nâng cao trách nhiệm quản lý của các cấp, các ngành trong quản lý TTATXH, tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích Nhà nước và các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Năm là, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về TTATXH

Hoạt động quản lý lĩnh vực TTATXH về thực chất đó là hoạt động chấp hành, điều hành việc giải quyết những vi phạm về TTATXH Nên giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về TTATXH là cách thức quan trọng do cơ quan Nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình để đáp ứng các yêu cầu hợp pháp, chính đáng của người dân trong thực tiễn đời sống

Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về TTATXH, cơ quan Nhà nước trong chỉ đạo hoạt động điều hành lĩnh vực TTATXH nhận biết được và thể hiện đầy đủ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân trong đời sống xã hội Đồng thời, với quá trình đó là căn cứ để người dân và cộng đồng xã hội giám sát được quá trình các cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện pháp luật ở lĩnh vực mình đảm nhiệm

1.2.3 Tầm quan trọng của quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

Bảo vệ TTATXH có vị trí hệ trọng trong sự nghiệp cách mạng, nhất là trong bảo vệ Tổ quốc XHCN, nó tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và quyết định đến việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định chính trị

và phát triển quốc gia theo hướng bền vững, là một chức năng cơ bản của Nhà nước Xuất phát từ việc phản ánh về mối quan hệ xã hội, quan hệ cộng đồng trong phạm vi hành chính lãnh thổ (ở các cấp địa phương và rộng hơn là quốc gia), TTATXH là hệ thống các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi

hệ thống các quy phạm pháp luật của nhà nước, các chuẩn mực đạo đức xã hội

Trang 24

18

trong đời sống cộng đồng của mỗi dân tộc, một quốc gia, nhờ đó, công dân sống

và lao động có tổ chức, kỷ cương, mọi quyền và lợi ích được đảm bảo không bị xâm hại Như vậy, vai trò của quản lý Nhà nước công tác bảo đảm TTATXH, đó là: (1) Gìn giữ trạng thái bình yên, an toàn, có trật tự, kỷ cương của xã hội; (2) Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn và các hành

vi vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến trạng thái đó

Nếu một khi không đảm bảo được TTATXH thì nguy cơ xảy đến tội phạm, tệ nạn xã hội lộng hành, kỷ cương pháp luật không nghiêm, tài sản của Nhà nước bị xâm hại, công dân không được bảo vệ, lòng dân bất an không tin vào chế độ, vào sự quản lý của nhà nước Do đó và trước hết, bảo vệ TTATXH

là chức năng, nhiệm vụ đương nhiên trong quản lý Nhà nước, là bộ phận rất quan trọng của quản lý Nhà nước về an ninh, trật tự Trong đó, lực lượng Công

an nhân dân giữ vai trò nòng cốt và có chức năng tham mưu, hướng dẫn và trực tiếp đấu tranh bảo đảm giữ gìn trật tự công cộng và an toàn xã hội, phòng và chống tội phạm, tham gia đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phòng ngừa tai nạn, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường Đúng vậy, Hiến pháp năm 2013 đã xác định: Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm Theo Điều 3 của Luật Công an nhân dân năm 2014 cũng khẳng định: Bảo đảm TTATXH là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về TTATXH

Thực tiễn phát triển, biến đổi xã hội của nhiều nước trên thế giới đã và đang cho thấy, để quốc gia có được đời sống kinh tế - xã hội bình thường thì các thiết chế chính trị, xã hội phải được vận hành theo nguyên lý, khung trật tự nhất định, nếu phá vỡ trật tự ấy thì xã hội dẫn đến rối loạn, khủng hoảng Do đó, ở mọi thời kỳ cách mạng, quản lý nhà nước về TTATXH có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đó là tạo lập tiền đề nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Với tầm quan trọng này luôn được Đảng và Nhà nước ta ưu tiên chăm lo

Trang 25

19

Quản lý Nhà nước về TTATXH lấy xây dựng, phát triển và lành mạnh hóa các quan hệ xã hội làm mục đích, lấy phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm nền tảng, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội, góp phần đắc lực cho sự nghiệp đổi mới Nói cách khác, quản lý Nhà nước về TTATXH giành

ưu tiên cho mục tiêu đảm bảo cho các quá trình xã hội, các hoạt động trong đời sống xã hội diễn ra một cách bình thường, ổn định, an toàn trên cơ sở tôn trọng

và tuân thủ các quy định của pháp luật và các quy tắc của lối sống văn hóa, đạo đức cách mạng

1.3 Phương pháp và nguyên tắc quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

1.3.1 Phương pháp quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

- Phương pháp giáo dục thuyết phục:

Việc sử dụng phương pháp giáo dục thuyết phục trong quản lý nhà nước

về TTATXH là việc các cơ quan quản lý nhà nước cùng với lực lượng của mình tiến hành tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục, phổ biến, giải thích và trình bày minh chứng, hướng dẫn, nêu gương, động viên, khuyến khích,… làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết của TTATXH để đi đến sự cộng tác,

tự giác tuân thủ chấp hành thực hiện các quy định pháp luật về TTATXH

Nói cách khác, các cơ quan nhà nước có chức năng thông qua việc sử dụng phương pháp giáo dục thuyết phục trong quản lý nhà nước về TTATXH để hình thành lối sống đề cao lợi ích vì cộng đồng, ý thức chấp hành tuân thủ chính sách pháp luật của Nhà nước của công dân, tạo nên thói quen tác phong sống và làm việc theo Hiến pháp pháp luật

Việc giáo dục thuyết phục trong quản lý nhà nước về TTATXH cần được tiến hành kiên trì và thường xuyên dưới nhiều hình thức đa dạng nhằm hình thành sự hiểu biết sâu sắc về tri thức pháp luật và lợi ích của nó mang lại khi hành xử đúng pháp luật, nhằm tăng cường lòng tin vào pháp luật mà hình thành tác phong thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật

- Phương pháp kinh tế:

Trang 26

20

Phương pháp kinh tế trong quản lý nhà nước về TTATXH được sử dụng

để tác động gián tiếp đến hành vi của đối tượng quản lý (các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp…) bằng việc sử dụng công cụ đòn bẩy kinh tế (áp dụng chế độ thưởng phạt) để tác động đến lợi ích của họ, nhằm giúp đối tượng quản lý tham gia tích cực trong lĩnh vực hoạt động của mình gắn liền với việc bảo đảm giữ gìn TTATXH

Ngày nay, phương pháp kinh tế trong quản lý nhà nước về TTATXH càng được sử dụng phổ biến và gắn liền song hành với phương pháp hành chính Nói cách khác, phương pháp kinh tế chỉ có thể được sử dụng tối ưu cùng với sự kết hợp phương pháp hành chính trong quản lý nhà nước về TTATXH

- Phương pháp hành chính và cưỡng chế:

Đối với việc sử dụng phương pháp hành chính là một đặc trưng trong quản lý Nhà nước nói chung và trong quản lý Nhà nước về TTATXH Phương pháp này được chủ thể quản lý sử dụng quyền lực nhà nước để tác động trực tiếp lên các tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng quản lý bằng việc ban hành các quyết định hành chính trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ thể quản

lý do pháp luật quy định để buộc đối tượng quản lý phải phục tùng mệnh lệnh đơn phương trong khuôn khổ của pháp luật

Chủ thể quản lý nhà nước về TTATXH do pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, chủ thể quản lý này: (1) có quyền đưa ra nhiệm vụ, phương án hành động của đối tượng quản lý cũng như yêu nghĩa vụ

họ phải chấp hành; (2) có quyền kiểm tra việc thực hiện các quyết định hành chính của mình; (3) và có quyền áp dụng những hình thức kỷ luật - nếu một khi quyết định hành chính của mình không được chấp hành

Phương pháp cưỡng chế thường được sử dụng trong quản lý nhà nước về TTATXH ở những trường hợp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc bằng bạo lực (vật chất hoặc tinh thần) đối với nhóm đối tượng quản lý cá biệt cố tình không chấp hành các quy định của pháp luật (tức là các tổ chức, cá nhân đã và đang có hành vi vượt ngưỡng làm phá vỡ giới hạn an toàn, gây mất an ninh, trật tự xã hội) nhằm buộc họ (quản chế) phải phục tùng để

Trang 27

21

thực hiện những hành vi nhất định do pháp luật quy định

Việc sử dụng phương pháp cưỡng chế trong quản lý nhà nước về TTATXH chủ yếu tập trung vào cưỡng chế tư pháp (cả hình sự và dân sự); và

cưỡng chế hành chính Đối với việc sử dụng phương pháp cưỡng chế hành chính

để lập lại TTATXH do các cơ quan Nhà nước có chức năng và người có thẩm quyền áp dụng quyết định đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về TTATXH hoặc áp dụng với mục đích ngăn chặn/ phòng ngừa các vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội, vì sự an ninh, TTATXH Việc tổ chức sử dụng cưỡng chế hành chính về TTATXH được áp dụng theo một trình tự thủ tục theo hướng đơn giản hóa do pháp luật hành chính quy định

Trong quản lý nhà nước về TTATXH khi thực hiện phương pháp cưỡng chế thì chủ thể thường là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật như: Chính phủ,UBND, cơ quan Công an, cơ quan Thi hành án… Nghĩa là, những cơ quan quản lý nhà nước về TTATXH, những người có thẩm quyền được pháp luật quy định mới là chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng cưỡng chế hành chính Điều này cũng đồng nghĩa là mỗi cơ quan quản lý hành chính, những người có chức vụ quyền hạn chỉ được áp dụng một số biện pháp cưỡng chế nhất định, chứ không phải mọi cơ quan Nhà nước nào cũng đều có thẩm quyền áp dụng phương pháp cưỡng chế hành chính

Mục đích của việc áp dụng phương pháp cưỡng chế hành chính về TTATXH là nhằm phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước về TTATXH cũng như đảm bảo các an toàn xã hội trong các trường hợp những hiểm hoạ xảy ra đối với sinh mạng và tài sản của công dân, tài sản của nhà nước, xã hội trong các hoàn cảnh khẩn cấp, dịch bệnh, thiên tai, địch họa

1.3.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

- Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và trực tiếp

Đây là nguyên tắc chủ đạo và quan trọng nhất để định hướng mọi hoạt động quản lý nhà nước về TTATXH Do đó, ở lĩnh vực TTATXH, yêu cầu Nhà nước phải thể chế hóa cương lĩnh, đường lối của Đảng thành chính sách pháp luật về

Trang 28

22

TTATXH; nói cách khác, công tác quản lý nhà nước về TTATXH phải tuân thủ chủ trương, đường lối của Đảng và phục vụ cho đường lối chính trị của Đảng ở mọi giai đoạn cách mạng

Hơn nữa, đấu tranh bảo vệ an ninh, TTATXH là nhiệm vụ chiến lược lâu dài rất quan trọng, quan hệ trực tiếp đến việc bảo đảm vận mệnh của toàn dân Nhiệm vụ chiến lược đó phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam một cách tuyệt đối, toàn diện và trực tiếp trên mọi mặt Nếu thoát ly cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng ta thì chẳng những không đạt được kết quả mà còn dẫn đến nguy cơ chệch hướng XHCN

- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Tăng cường pháp chế XHCN là nguyên tắc đặc trưng bắt buộc trong quản

lý nhà nước về lĩnh vực TTATXH Dựa vào việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật XHCN, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, lợi quyền hợp pháp của tổ chức và cá nhân, cơ quan nhà nước mới có thể tiến hành giải quyết những vụ việc phức tạp xảy ra, phát hiện chính xác và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm về TTATXH, người phạm tội

Trong suốt cả quá trình quản lý nhà nước về TTATXH yêu cầu các chủ thể quản lý phải tuân thủ và chấp hành hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành để tổ chức thực hiện nhiệm vụ TTATXH, các chủ thể quản lý phải tổ chức thi hành theo đúng pháp luật (chứ không được phép tùy tiện trong thực hiện); nghiêm cấm mọi hành vi làm trái/ làm sai các quy định của pháp luật hay tự ý tuỳ tiện quy định thêm các thủ tục, giấy tờ gây phiền hà hoặc hối lộ, sách nhiễu

Vấn đề còn lại của nguyên tắc pháp chế XHCN trong quản lý Nhà nước

về TTATXH, đó là phải trang bị đảm bảo điều kiện cần: (1) Phải xây dựng hoàn chỉnh hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về TTATXH một cách thống nhất và ổn định, kịp thời đáp ứng được yêu cầu của công tác bảo đảm an ninh, TTATXH; (2) Đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến, giáo dục hình thành ý thức pháp luật cho công dân

- Nguyên tắc kết hợp quản lý Nhà nước theo ngành với theo đơn vị hành chính lãnh thổ:

Trang 29

23

Xuất phát từ đặc điểm quản lý Nhà nước về TTATXH theo hành chính lãnh thổ, cũng như mô hình tổ chức và hoạt động quản lý an ninh, trật tự xã hội của lực lượng Công an nhân dân Nếu quản lý của chính quyền địa phương về TTATXH gắn liền với địa bàn đơn vị hành chính lãnh thổ cụ thể thì quản lý an ninh, trật tự xã hội của Bộ Công an được tổ chức theo ngành dọc trên phạm vi quốc gia với đặc trưng và tính chất của nghiệp vụ chuyên môn công tác công an (công tác an ninh nhân dân) Do đó, hệ thống Công an các cấp ở địa phương được tiến hành tổ chức theo nguyên tắc song trùng trực thuộc: vừa chịu sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền cùng cấp, vừa chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Công an cấp trên

Như vậy, trong quản lý Nhà nước về TTATXH phải tất yếu thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo đơn vị hành chính lãnh thổ, trong đó quản lý theo ngành là chủ yếu

1.4 Quy định pháp luật về quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

Xuất phát từ đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác đảm bảo an ninh và TTATXH, mà trọng tâm là đạo luật Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ việc quản lý nhà nước đối với TTATXH, có thể nêu ra điển hình: Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện (Điều 3); Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác

và cộng đồng (khoản 2, Điều 38); Một trong những nhiệm vụ và quyền hạn của

Chính phủ là phải bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con

người, quyền công dân; bảo đảm TTATXH (khoản 6, Điều 96); thậm chí đối với

người nước ngoài cư trú ở Việt Nam bên cạnh phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam thì họ được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính

đáng theo pháp luật Việt Nam (Điều 48)… [34] Để thể chế hóa các quy định của

Hiến pháp 2013, nhiều đạo luật đã có quy định như: Luật Công an nhân dân;

Luật Cư trú; Luật Căn cước công dân; Luật Phòng, chống khủng bố; Luật Cảnh

Trang 30

24

vệ; Luật An ninh mạng; một số chương, điều của Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; Luật xử

lý vi phạm hành chính; Luật Thi hành hành án dân sự; Luật Thi hành hành án hình sự; Luật Phòng, chống ma túy; Luật phòng cháy và chữa cháy; Luật Quản

lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Pháp lệnh Cảnh sát môi trường… Điển hình trong số đó, các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với TTATXH được thể hiện rất rõ trong Luật Công an nhân dân 2018 (Luật

số 37/2018/QH14) [33]:

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật và xây dựng Công an nhân dân; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật có liên quan Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, TTATXH

và xây dựng Công an nhân dân (tại khoản 1 và 2 của Điều 12);

- HĐND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: a) Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH theo quy định của pháp luật;… c) Quyết định chủ trương, phương hướng xây dựng các tổ chức quần chúng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở…; d) Quyết định ngân sách bảo đảm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH của địa phương; đ) Giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và thực hiện nghị quyết của HĐND về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH ở địa phương; e) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác về bảo vệ an ninh quốc gia, TTATXH theo quy định của pháp luật

(khoản 1 của Điều 13);

- UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: a) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền để tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH theo quy định của pháp luật, nghị quyết của HĐND cùng cấp và các nhiệm vụ bảo vệ an ninh

Trang 31

25

quốc gia, bảo đảm TTATXH do cấp có thẩm quyền giao; thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH ở địa phương; c) Trình HĐND cùng cấp dự toán ngân sách bảo đảm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH; chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp về ngân sách bảo đảm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH của địa phương; d) Chỉ đạo các cơ quan phối hợp với Công an nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH ở địa phương, tham gia xây dựng Công an nhân dân, bảo đảm chế độ, chính sách đối với Công an nhân dân và các tổ chức quần chúng tham gia bảo vệ

an ninh, trật tự tại cơ sở…; đ) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH và tham gia xây dựng Công an nhân dân ở địa phương; e) Tổ chức việc kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH và xây dựng Công an nhân dân ở địa phương; g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác

về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội theo quy định của

pháp luật (khoản 2 của Điều 13);

- Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, TTATXH

(Điều 3);

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm tham gia, phối hợp, cộng tác, hỗ trợ Công an nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, hỗ trợ Công an nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp

luật được bảo vệ, giữ bí mật theo quy định của pháp luật (khoản 1 và 2 của Điều 14)…

Trang 32

26

Từ cơ sở pháp lý nêu trên, các cơ quan Nhà nước có chức năng - nhất là lực lượng Công an nhân dân đã chủ trì, phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương tham mưu với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, HĐND, UBND ban hành nhiều chính sách và văn bản pháp luật có liên quan đến

an ninh, TTATXH Điển hình, có: Nghị định 127/2006/NĐ-CP Quy định về bảo đảm điều kiện cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn TTATXH; Nghị định 35/2011/NĐ-CP về biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn TTATXH; Nghị định 06/2014/NĐ-CP Về biện pháp vận động quần chúng bảo vệ

an ninh quốc gia, giữ gìn TTATXH; Nghị định 06/2013/NĐ-CP Quy định về bảo

vệ cơ quan, doanh nghiệp; Thông tư 46/2014/TT-BCA Quy định chi tiết một số điều của Nghị định 06/2013/NĐ-CP quy định về bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp; Thông tư 08/2016/TT-BCA Quy định trang phục cho lực lượng bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp; Thông tư số 23/2012/TTBCA ngày 27-4-2012 quy định về khu dân cư, xã, phường, thị trấn, cơ quan doanh nghiệp, nhà trường đạt tiêu chuẩn

“an toàn về an ninh, trật tự”; Hướng dẫn số 07/HD- BCA- V28, ngày 14-5-2013

về Công tác tuyên truyền toàn dân bảo vệ an ninh, trật tự; Thông tư số 67/2012/TT-BCA, ngày 01- 11- 2012 quy định trách nhiệm của công an các đơn

vị, địa phương trong công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh

có điều kiện và Thông tư 42/2017/TT-BCA ngày 20/10/2017 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 96/2016/NĐ-CP; Thông tư liên tịch 02/2016/TTLT-BVHTTDL-BCA Hướng dẫn phối hợp công tác bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm TTATXH trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; Thông tư liên tịch 85/2016/TTLT-BTC-BCA Quy định về phối hợp công tác bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm TTATXH trong lĩnh vực tài chính; Nghị định 38/2006/NĐ-CP Về Bảo vệ dân phố; Thông tư liên tịch 02/2007/TTLT-BCA-BLĐTBXH-BTC Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 38/2006/NĐ-CP về Bảo vệ dân phố…; và nhiều văn bản dưới luật khác có liên

quan của các Bộ ngành được ban hành để triển khai trong thực tiễn đời sống

Trang 33

27

Với hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành quy định về TTATXH là chỗ dựa rất quan trọng, tạo cơ sở hành lang pháp lý giúp các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức và cá nhân có chức năng thẩm quyền thi hành pháp luật – nhất là trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quốc gia, bảo đảm an ninh và TTATXH cũng như nâng cao sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật, bảo đảm các quyền của con người, quyền

và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Tiểu kết chương 1

Trên cơ sở khái niệm và xác định chủ thể quản lý Nhà nước về TTATXH, bên cạnh trình bày rõ nội dung, phương pháp và nguyên tắc quản lý nhà nước về TTATXH; cũng như tầm quan trọng của quản lý nhà nước về lĩnh vực này, chương 1 còn làm rõ các quy định pháp luật hiện hành về quản lý nhà nước đối với TTATXH, nhất là từ cơ sở thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm

2013 về việc quản lý nhà nước đối với TTATXH, Nhà nước ta đã ban hành nhiều đạo luật có liên quan, mà trong số đó điển hình là các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với TTATXH được thể hiện rất rõ trong Luật Công

an nhân dân 2018 (Luật số 37/2018/QH14): (1) Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật ; (2) Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật

về TTATXH HĐND và UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình đều phải có có trách nhiệm bảo đảm TTATXH theo quy định của pháp luật; (3) Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về TTATXH; (4) Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, hỗ trợ Công an nhân dân theo quy định của pháp luật trong bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật… Đây cũng là nội dung của cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về TTATXH

Trang 34

28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN

XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Các yếu tố đặc thù của quận Hải Châu có ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội

Quận Hải Châu của Thành phố Đà Nẵng được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các phường Hải Châu I, Hải Châu II, Thạch Thang, Thanh Bình, Thuận Phước, Bình Thuận, Hoà Thuận, Nam Dương, Phước Ninh, Bình Hiên, Hoà Cường, Khuê Trung của khu vực I thành phố Đà Nẵng trực thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng cũ (theo Nghị định số 07/1997/NĐ-

CP ngày 23/01/1997 của Chính phủ về việc thành lập đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Đà Nẵng)

Quận Hải Châu có vị trí địa lý ở phía Bắc giáp vịnh Đà Nẵng, phía Tây và Tây Bắc giáp quận Thanh Khê, phía Nam và Tây Nam giáp quận Cẩm Lệ, phía Đông giáp quận Sơn Trà và quận Ngũ Hành Sơn bởi sông Hàn Nếu không tính diện tích sân bay (8,42 km²) thì diện tích quận là 12,17 km² Quận Hải Châu có

13 phường: Hải Châu I, Hải Châu II, Bình Thuận, Bình Hiên, Hòa Cường Nam, Hòa Cường Bắc, Hòa Thuận Tây, Hòa Thuận Đông, Nam Dương, Phước Ninh, Thanh Bình, Thạch Thang, Thuận Phước

Quận Hải Châu là trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, thương mại, dịch vụ, văn hóa và giáo dục, y tế và cũng là địa bàn trọng điểm về an ninh, quốc phòng của Thành phố Đà Nẵng Trên địa bàn quận có Sân bay quốc tế Đà Nẵng Với một hệ thống hạ tầng giao thông phát triển mạnh (trong đó có Sân bay Quốc tế Đà Nẵng là cảng hàng không lớn nhất vùng Trung Bộ nước ta, cách trung tâm quận khoảng 3 km), Hải Châu là địa bàn tập trung đông dân cư và các

cơ quan, văn phòng của hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, nên quận có một tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển tất cả mọi mặt của Thành phố Đà Nẵng

Trang 35

29

Từ khi thành lập năm 1997 đến nay, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn quận đã phát triển nhanh theo hướng CNH-HĐH đạt được nhiều thành tựu quan trọng Với lợi thế là quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng, nhiều năm qua quận Hải Châu đã được đầu tư trở thành đô thị trung tâm bậc nhất của thành phố Đà Nẵng năng động, sáng tạo, khai thác tốt các tiềm năng, thế mạnh các lợi thế vốn

có của mình để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Với sự phát triển mạnh mẽ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đô thị, diện mạo quận Hải Châu được chỉnh trang đổi mới nhanh chóng và tương đối hiện đại, đảm bảo giao thông thông suốt cho người dân Nên hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn quận đã phát triển nhanh, với sự tham gia nhiều thành phần kinh tế làm cho thị trường thêm đa dạng, phong phú (năm 2018, toàn quận Hải Châu có hơn 6.050 doanh nghiệp, trong đó

có 4.557 doanh nghiệp của quận Hải Châu có mã số thuế 10 số đăng ký nộp thuế điện tử và gần 10.200 hộ sản xuất kinh doanh cá thể [31]); các chỉ số phát triển công nghiệp dân doanh, thủy sản, đặc biệt là hoạt động thương mại, dịch vụ tăng trưởng cao (tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2018 đạt 50.743 tỷ đồng tăng 15,06% so với năm 2017 [42; tr.01]); hàng hóa lưu thông tăng nhanh về số lượng và chủng loại đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của xã hội; phương thức kinh doanh đa dạng; ngày càng xuất hiện nhiều hình thức kinh doanh văn minh, hiện đại và một số loại hình dịch vụ mới như các dịch vụ kỹ thuật tài chính-tín dụng, khoa học-công nghệ, dịch vụ công cộng… từng bước thể hiện trung tâm cung ứng các dịch vụ tài chính cho kinh tế thành phố Nhờ đó, nền kinh tế quận Hải Châu hiện nay tăng trưởng nhanh, là quận có số thu ngân sách lớn nhất thành phố trong nhiều năm qua (nhất là bảo đảm thu ngân sách quận năm 2018 vượt qua con số 1.444 tỷ đồng do UBND thành phố giao Đây là số thu cao so với mức thành phố giao năm 2017 của quận Hải Châu là 1.069 tỷ đồng [31]), đô thị được chỉnh trang, nguồn nhân lực phát triển,… đóng góp một cách căn bản vào việc hoàn thành các mục tiêu tổng quát

đã đề ra, với sự chuyển mình nhanh chóng, xứng đáng là vị trí trung tâm thành phố Đà Nẵng Nếu trước năm 1997, đô thị Thành phố Đà Nẵng nói chung và quận Hải Châu nói riêng là có sự phát triển rất chậm; thì sau hơn 20 năm phát

Trang 36

30

triển – nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, thì khu vực đô thị này đã có

sự phát triển thuận lợi nhanh chóng vượt bậc cả về không gian, chất lượng hạ tầng, kinh tế – xã hội trở thành một đô thị lớn nhất của miền Trung

Tình hình lĩnh vực văn hóa - xã hội trên địa bàn quận Hải Châu cũng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Ở lĩnh vực lao động việc làm và giảm nghèo [42; tr.09-10], năm 2018 đã giải quyết việc làm cho 8.076 lao động, trong đó: phát triển kinh tế hộ 2.538 người; vốn vay Ngân hàng Chính sách xã hội 2.188 người; các doanh nghiệp 3.350 người Đồng thời, tư vấn cho 65 người trong độ tuổi lao động có nhu cầu học nghề… Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác giảm nghèo, nếu đầu năm 2018 toàn quận còn 804 hộ nghèo (với 3.413 nhân khẩu) chiếm 1,72%/tổng số hộ dân và 736 hộ cận nghèo (với 3.022 nhân khẩu); thì đến tháng 10/2018 đã xóa hết 100% hộ nghèo và cận nghèo theo chuẩn thành phố, về đích trước thời hạn 02 năm so với Đề án giảm nghèo của Thành phố Đà Nẵng Cùng với đó, nếp sống của người dân đô thị ngày càng có những tiến bộ mới, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, quốc phòng-an ninh chính trị, TTATXH được giữ vững

Song song với sự phát triển ấy, quận Hải Châu của Thành phố Đà Nẵng cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức khó khăn, đó là:

(1) Trước sự tác động chi phối lạnh lùng của mặt trái của nền kinh tế thị trường, tốc độ phát triển đô thị hóa nhanh chóng của quận Hải Châu ở những năm qua đang thiếu tính bền vững và có phần thiếu kiểm soát, chưa cân đối cấu trúc đô thị giữa các lĩnh vực kinh tế - xã hội - môi trường, khiến cho sự phát triển

có phần bất ổn Điển hình, vấn đề dân nhập cư tự do đến quận Hải Châu (khu vực trung tâm đô thị của Đà Nẵng) diễn ra mạnh cả về quy mô, mức độ và tính chất; đã làm tăng đột biến dân số cơ học và cơ cấu dân cư, tạo áp lực lớn về các vấn đề kinh tế - xã hội, việc làm, chỗ ở, giao thông, môi trường và an ninh xã hội, gây ảnh hưởng khó khăn trong quản lý Nhà nước về TTATXH ở đô thị;

(2) Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, tốc độ đô thị hóa nhanh, dân nhập cư vào Hải Châu tăng cao, những vấn đề về quy hoạch và quản lý đất đai, nhà ở (sử dụng tỷ lệ lớn đất đai thiên về chức năng ở với khu vực Hải Châu

Trang 37

31

có xu hướng ngày càng tăng mật độ cư trú và mật độ xây dựng bởi sự hình thành các chung cư cao tầng; việc khai thác quỹ đất thiếu sự định hướng rõ ràng làm cho tình trạng cạn kiệt quỹ đất dành cho các lĩnh vực giáo dục, cây xanh, thể thao, vui chơi giải trí và các phúc lợi xã hội khác) Quy hoạch kinh tế, xã hội, y

tế, giáo dục, văn hóa, giao thông, môi trường đô thị đã và đang vượt quá khả năng điều hành của chính quyền đô thị Những vấn đề về tình hình trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, vi phạm pháp luật về môi trường; sự gia tăng các loại tội phạm, tệ nạn xã hội… đã tác động trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước về TTATXH trên địa bàn quận trong thời gian qua;

(3) Trong điều kiện chính sách quản lý đô thị và công tác quản lý đô thị chưa bắt kịp với sự phát triển xã hội đã làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội, tội phạm, ô nhiễm môi trường… làm cho tình hình an ninh, TTATXH đang có nhiều diễn biến phức tạp; lợi dụng địa bàn của một đô thị sầm uất bậc nhất của Thành phố Đà Nẵng, các tội phạm phát triển (đối tượng phạm tội có xu hướng trẻ hóa) với những phương thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm tinh vi, xảo quyệt với nhiều phương thức mới để đối phó với cơ quan chức năng Điển hình, các loại hình dịch vụ kinh doanh nhạy cảm (như: vũ trường, karoke, nhà nghỉ, mátxa, cầm đồ, tính dụng đen…) thường xuyên không chấp hành quy định về an ninh và TTATXH; xảy ra tệ nạn ma túy và buôn bán ma túy (hoạt động của đối tượng hình sự và ma túy có sự đan xen lẫn nhau, hầu hết tập trung các hoạt động mua bán và sử dụng trái phép ma túy tổng hợp tại các quán bar, khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ có chiều hướng tăng), chứa chấp tội phạm, nảy sinh các hoạt động bảo kê, mại dâm Minh chứng còn cho thấy, việc lưu trú của dân nhập cư tự do,

du khách trong và ngoài nước ở các nhà nghỉ, khách sạn, nhà trọ trên địa bàn khu vực quận Hải Châu có nhiều phức tạp – với nhiều phần tử tội phạm trà trộn, lợi dụng các cơ sở kinh doanh lưu trú để hoạt động Có nhiều vụ phạm pháp hình

sự, như: giết người, cướp của, trộm cắp, hiếp dâm xảy ra trong một số cơ sở kinh doanh lưu trú Bên cạnh đó, trong những cơ sở này cũng tiềm ẩn nhiều vấn

đề phức tạp về diễn ra, như các tệ nạn xã hội cờ bạc, mại dâm, ma túy; trên thực

Trang 38

32

tế các đối tượng phạm tội mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy từ nơi khác đến địa bàn quận Hải Châu hoạt động ngày càng tăng cao, chiếm gần 80% số vụ phát hiện [12; tr.02] (trong khi các quận huyện khác của Đà Nẵng thì có tỷ lệ thấp hơn nhiều: Thanh Khê 21% với 09/43 vụ; quận Ngũ Hành Sơn 2,3% với 01/43 vụ, quận Cẩm Lệ 13,9% với 06/43 vụ; Sơn Trà 9,3% với 4/43 vụ; ngoài thành phố 32,5% với 13/43 vụ) Ngoài ra, thời gian gần đây đã xuất hiện một số loại tội phạm mới diễn biến phức tạp và tinh vi như: sử dụng công nghệ cao để tống tiền, lừa đảo qua mạng internet…;

(4) Các thế lực thù địch, phản động và số đối tượng chống đối trong nước thường xuyên tuyên truyền những thông tin sai lệch với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước…

2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn quận Hải Châu

2.2.1 Thực tiễn công tác ban hành các văn bản và chỉ đạo triển khai thực hiện

Nhiều năm qua trong điều kiện nước ta đẩy mạnh CNH-HĐH và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành nhiều chủ trương, chính sách, những quy định của pháp luật về TTATXH Nó được thể hiện trước hết ở những định hướng mới từ Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; Chỉ thị số 46-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về Tăng cường

sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo an ninh, trật tự trong tình hình mới; Chỉ thị số 09- CT/TW ngày 01-12-2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng

về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới; …; và rõ nhất là ở các quy phạm pháp luật, đó

là: Hiến pháp 2013, các đạo luật như Luật Tổ chức chính quyền địa phương

2015, Luật Công an nhân dân 2018 đã được ban hành… Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH, các

Trang 39

33

quyết định, nghị định, chỉ thị của Chính phủ được ban hành (như: Quyết định số

521/QĐ-TTg ngày 13/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc lấy ngày 19/8 hàng năm là ngày truyền thống của lực lượng Công an nhân dân và là “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; Nghị định số 06/2014/NĐ-CP ngày 21- 01-2014 của Chính phủ về biện pháp vận động quần chúng bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn TTATXH; Nghị định số 38/2006/NĐ - CP ngày 17/4/2006 về tổ chức

và hoạt động của Bảo vệ dân phố; Nghị định số 96/2016/NĐ-CP của Chính phủ

quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ), các văn bản dưới luật của các Bộ ngành liên quan lĩnh vực

an ninh, TTATXH, điển hình gần đây có Thông tư số 10/2015/TT-BCA quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực liên quan an ninh, TTATXH; Nghị quyết số 08-NQ/ĐUCA ngày 1-8-2017 Đảng ủy Công an Trung

ương về tiếp tục hoàn thiện pháp luật về an ninh, trật tự đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa đối với lĩnh vực

này

Về cơ bản, hệ thống các văn bản này đã tạo môi trường hành lang pháp lý cho việc duy trì, giữ gìn TTATXH Qua đó, Thành ủy và UBND Thành phố Đà Nẵng đã ban hành nhiều quyết định, chương trình như: Chỉ thị 02/CT-UB ngày

20/01/1997 Về việc lập lại trật tự an toàn giao thông và quản lý đô thị; Chỉ thị 23/CT-UB ngày 12/12/2000 Về việc tăng cường các biện pháp phòng ngừa và đấu tranh chống các loại tội phạm, bảo đảm an ninh chính trị, TTATXH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Quyết định 06/2004/QĐ-UB ngày 15/01/2004 Ban hành Quy định về đảm bảo trật tự, an toàn giao thông và vệ sinh môi trường trong quá trình xây dựng các công trình trên địa bàn thành phổ Đà Nẵng; Chỉ thị số 24/CT-TU ngày 10-8-2009 của Thành ủy Đà Nẵng về Đẩy mạnh công tác phối hợp giúp đỡ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt nghèo, học sinh bỏ học và thiếu niên hư, vi phạm pháp luật và phòng chống bạo lực gia đình; Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 07/8/2009 về phê duyệt Đề án đổi mới công tác tuyên truyền vận động toàn dân tham gia phòng, chống tội phạm và xây dựng mô hình phòng, chống tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; Chương trình hành

Trang 40

34

động số 14/CTr-TU ngày 16/2/2012 của Thành ủy Đà Nẵng Về việc thực hiện Chỉ thị 09-CT/TW của Ban Bí thư TW Đảng (khóa XI) về “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới”; Quyết định số 7661/QĐ-UBND ngày 20/9/2012 về Tổ chức tuần tra ban đêm để phòng, chống tội phạm, quản lý an ninh trật tự trên địa bàn thành phố; Quyết định số 8394/QĐ-UBND ngày 9-11-2015 về Kế hoạch phối hợp lực lượng tuần tra phòng, chống tội phạm, đảm bảo ANTT trên địa bàn thành phố; Quyết định 36/2018/QĐ-UBND ngày 29/10/2018 Ban hành Quy chế quản lý trật

tự xây dựng trên địa bàn thành phố… Ngoài ra, Thành ủy, UBND thành phố Đà

Nẵng đã ban hành và chỉ đạo triển khai các Nghị quyết, Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, phòng chống ma tuý; tập trung chỉ đạo thực hiện chương trình "5 không”, “3 có"; chương trình “4 an” để thực hiện công tác đảm bảo an ninh, trật tự trên địa bàn

Trên cơ sở đó đã tạo hành lang pháp lý cho chính quyền quận Hải Châu triển khai thực hiện quản lý nhà nước về TTATXH trên địa bàn Thường niên UBND quận, các cơ quan chức năng trực thuộc và UBND các phường trên địa bàn quận đều có các kế hoạch, chương trình về thực hiện công tác bảo đảm an ninh, trật tự từ cấp quận đến cơ sở các khu dân phố, khu dân cư Điển hình cụ thể, Công an quận đã chủ động triển khai nhiều kế hoạch về công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm, như: Kế hoạch 1049/KH-CAQngày 09/8/2016 thành lập các tổ công tác tuần tra kiểm soát phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội [14; tr.03]; Kế hoạch 311/CAQ về phòng chống tội phạm cờ bạc và Kế hoạch 106/CAQ ngày 22/4/2019 phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật tại các vũ trường, quán bar, quán karaoke, quán pub [11; tr.03]); trong đó, các kế hoạch chương trình được duyệt đã xác định khá cụ thể: nội dung công việc cần thực hiện, lực lượng nòng cốt và các lực lượng phối hợp tham gia, dự kiến cụ thể về tiến độ thời gian, dự kiến mục tiêu sẽ đạt được, dự toán phân bổ nguồn lực để triển khai… Nhờ vậy, từng bước góp phần gia tăng tính chủ động trong công tác quản lý của Nhà nước về TTATXH trên địa bàn Hải Châu; cũng

Ngày đăng: 20/07/2020, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w