1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá khả năng kháng tế bào ung thư dạ dày của một số loài trong chi ardisia thuộc họ đơn nem (myrsinaceae) phân bố tại bắc kạn​

67 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây thuốc đã được sử dụng trong cuộc chiến chống ung thư và ngày nay hơn 70% các loại thuốc chống ung thư có nguồn gốc tự nhiên đã được ghi nhận ở 25 họ thực vật và 39 loài thực vật được

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

- -

HÀ THỊ THANH HIỀN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHÁNG TẾ BÀO

UNG THƯ DẠ DÀY CỦA MỘT SỐ LOÀI TRONG CHI

ARDISIA THUỘC HỌ ĐƠN NEM (MYRSINACEAE)

PHÂN BỐ TẠI BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC ỨNG DỤNG

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

- -

HÀ THỊ THANH HIỀN

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHÁNG TẾ BÀO

UNG THƯ DẠ DÀY CỦA MỘT SỐ LOÀI TRONG CHI

ARDISIA THUỘC HỌ ĐƠN NEM (MYRSINACEAE)

PHÂN BỐ TẠI BẮC KẠN

Chuyên ngành: Công nghệ Sinh học

Mã số: 8 42 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Thanh Hương

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của tôi và dưới sự hướng dẫn của

cô giáo TS Lê Thị Thanh Hương Các số liệu và kết quả trình bày trong luận

văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi trích dẫn trong luận văn đều ghi rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ của các cá nhân và tập thể đều được ghi nhận trong lời cảm ơn

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những gì đã cam đoan ở trên

Thái Nguyên, ngày 28 tháng 10 năm 2018

Tác giả

Hà Thị Thanh Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công nghệ Sinh học - Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình!

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo

TS Lê Thị Thanh Hương – người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt

những kiến thức và kinh nghiệm quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Công nghệ Sinh học, bộ phận Sau Đại học - Đại học Khoa học Thái Nguyên, Tiến sĩ Phạm Văn Khang và các học viên - Phòng Thí nghiệm Hoá học – Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi cũng xin cảm ơn Phòng Thí nghiệm Inserm U1053 Bordeaux, Pháp đã hỗ trợ phân tích tác động ức chế tế bào ung thư dạ dày của dịch chiết ethanol từ các mẫu thực vật nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn UBND xã Thuần Mang, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn

và đồng bào dân tộc Dao nơi đây đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thu thập mẫu vật

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số 108.05-2017.331

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua! Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về mặt thời gian, kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, cùng bạn

bè, đồng nghiệp!

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 28 tháng 10 năm 2018

Tác giả: Hà Thị Thanh Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Sơ lược về cây thuốc 3

1.1.1 Sơ lược về cây thuốc trên thế giới 3

1.1.2 Sơ lược về cây thuốc ở Việt Nam 5

1.1.3 Sơ lược về cây thuốc Bắc Kạn 9

1.2 Bệnh ung thư dạ dày 10

1.2.1 Khái quát chung về ung thư tại Việt Nam 11

1.2.2 Tình hình ung thư dạ dày trên thế giới 12

1.2.3 Tình hình ung thư dạ dày ở Việt Nam 13

1.2.4 Yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư dạ dày 15

1.3 Họ Đơn nem (Myrsinaceae) và chi Ardisia 17

1.3.1 Họ Đơn nem 17

1.3.2 Chi Ardisia 17

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Vật liệu nghiên cứu 26

2.2 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 26

2.3 Phương pháp nghiên cứu 27

2.3.1 Phương pháp thực vật học 27

2.3.2 Phương pháp kế thừa 29

Trang 6

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Đặc điểm hình thái, tiêu bản mẫu cây thuốc nghiên cứu thuộc chi Ardisia họ Đơn nem phân bố tại Bắc Kạn 33

3.1.1 Mẫu thực vật 33

3.1.2 Một số đặc điểm thực vật của các loài Ardisia được nghiên cứu 33

3.1.3 Định danh tên khoa học và tạo bộ mẫu tiêu bản khô, lưu trữ mẫu 36

3.2 Tách chiết cao tổng số và định tính thành phần các chất bằng sắc ký lớp mỏng 37

3.2.1 Kết quả tách chiết cao tổng số bằng ethanol 37

3.2.2 Kết quả sắc ký lớp mỏng đối với dịch chiết ethanol 38

3.2.3 Kết quả định tính các thành phần trong cao chiết ethanol của loài Ardisia villosa Roxb và loài Ardisia gigantifolia Stapf 39

3.3 Kết quả thử hoạt tính ức chế tế bào ung thư dạ dày của dịch chiết các mẫu nghiên cứu 41

3.3.1 Ảnh hưởng của dịch chiết ethanol lên sự sinh trưởng của tế bào ung thư dạ dày MKN45 41

3.3.2 Ảnh hưởng của dịch chiết ethanol lên hình thái tế bào MKN45 45

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

1 Kết luận 48

2 Kiến nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

WHO World Health Organization – Tổ chức Y tế Thế giới

435/2010/QĐ-UBND Quyết định số 435 năm 2010 của Ủy ban Nhân dân

GAP Good Agricultural And Pratices – Thực hành tốt

trồng cây thuốc ASEAN Association of Southeast Asian Nations – Hiệp hội

các quốc gia Đông Nam Á

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các loài thuộc chi Ardisia họ Đơn nem (Myrsinaceae) ở Việt Nam

được sử dụng làm thuốc trong dân gian 19

Bảng 3.1 Mẫu các loài Ardisia đã được thu thập để sử dụng trong nghiên cứu 33

Bảng 3.2 Kết quả tách chiết cao tổng số bằng ethanol 37

Bảng 3.3a Các thành phần trong cao chiết ethanol của loài Ardisia villosa 39 Bảng 3.3b Các thành phần trong cao chiết ethanol của loài Ardisia gigantifolia 40

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày 14

Hình 2.1 Dụng cụ thu và xử lý mẫu thực vật 28

Hình 3.1 Hình ảnh các mẫu thực vật nghiên cứu 36

Hình 3.2 Tiêu bản mẫu khô cây thuốc các mẫu nghiên cứu 37

Hình 3.3 Kết quả sắc ký lớp mỏng dịch cao chiết loài Ardisia villosa (a) và loài Ardisia gigantifolia (b) 39

Hình 3.4 Ảnh hưởng của dịch chiết ethanol lên sự sinh trưởng của tế bào ung thư dạ dày MKN45 42

Hình 3.5 Giá trị IC50 của dịch chiết ethanol từ cây Ardisia villosa (a) và Ardisia gigantifolia (b) 43

Hình 3.6 Ảnh hưởng của dịch chiết ethanol lên hình thái tế bào ung thư dạ dày MKN45 46

Hình 3.7 Ảnh hưởng của dịch chiết ethanol lên nhân tế bào ung thư dạ dày MKN45 47

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ung thư hiện nay đang là mối đe dọa toàn cầu với tỷ lệ tử vong luôn đứng hàng đầu và là thách thức đối với hệ thống y tế của mọi quốc gia Theo ước tính và thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì hàng năm trên toàn cầu có khoảng 9 - 10 triệu người mới mắc bệnh ung thư và một nửa trong số

đó chết vì căn bệnh này [19] Riêng tại Việt Nam, tính mỗi năm nước ta có thêm khoảng 200.000 người mắc bệnh này và khoảng 100.000 người sẽ tử vong [13] Ung thư có thể vẫn sẽ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới và Việt Nam trong nhiều thập kỉ tới Chính vì thế, việc tìm ra phương pháp chuẩn đoán và điều trị ung thư có hiệu quả cao là yêu cầu cấp bách đặt

ra cho toàn thể nhân loại

Các phương pháp điều trị ung thư truyền thống như phẫu thuật, hóa trị,

xạ trị hay miễn dịch tuy hạn chế sự phát triển của khối u nhưng cũng giết chết không ít mô lành gây nguy hại không nhỏ đến sức khỏe của con người Nguyên nhân của hiện tượng này là do các phương thức điều trị không chỉ tác động cục bộ lên khối u mà còn ảnh hưởng đến bộ phận lớn các mô và cơ quan lành của cơ thể Bên cạnh đó, các phương pháp điều trị này còn là một gánh nặng về kinh tế đối với người bệnh Vì vậy, việc tìm ra một phương pháp chữa trị ung thư sao cho vừa hiệu quả, giảm chi phí mà lại ít gây độc đối với

cơ thể là rất cần thiết

Trước tình hình đó, dược liệu đang là nguồn nguyên liệu được các nhà khoa học tìm kiếm các loại thuốc điều trị ung thư mới Dược liệu chứa các dược chất có hoạt tính sinh học tiêu diệt các tế bào ung thư, một số loại như:

Cỏ lưỡi rắn, Nấm lim, Chóc máu, Xáo tam phân…[41], [70], [76] Nhờ vị trí

và điều kiện khí hậu rất đa dạng nên nước ta có nguồn nguyên liệu dược liệu rất phong phú và cũng có nhiều kết quả về nghiên cứu cây thuốc có tác dụng chống ung thư

Trang 11

Họ Đơn nem (Myrsinaceae) là một họ thực vật khá lớn, bao gồm 38 chi

và khoảng 1000 loài, được phân bố rộng rãi trên thế giới, nhất là ở các nước

có khí hậu ôn đới và nhiệt đới Trong đó, chi Cơm nguội (Ardisia) có khoảng 400-500 loài [28] Kết quả nghiên cứu tài liệu cho thấy các loài Ardisia có

nhiều hoạt tính sinh học rất đáng quý, như: hoạt tính kháng nấm, kháng khuẩn, kháng virut, hoạt tính chống oxi hóa, chống lao, antileishmania, chống đái tháo đường, bảo vệ thần kinh, bảo vệ tim mạch, chống loãng xương và đặc biệt là hoạt tính gây độc tế bào, chống ung thư rất tốt Các hợp chất đã được

phân lập từ một số loài Ardisia có cấu trúc phong phú, bao gồm các tritecpen

saponin, benzoquinon, flavonoid, alkylphenolic, các dẫn xuất của bergenin, các dẫn xuất của resorcinol…, trong đó có nhiều chất có cấu trúc mới trong điều trị ung thư [69]

Xuất phát từ nhu cầu cấp bách mang tính toàn cầu về việc điều trị bệnh ung

thư chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Đánh giá khả năng kháng tế bào ung thư dạ

dày của một số loài trong chi Ardisia thuộc họ Đơn nem (Myrsinaceae) phân

bố tại Bắc Kạn”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thu thập, định loại và nghiên cứu đánh giá khả năng kháng tế bào ung thư

dạ dày của một số loài cây trong chi Ardisia thuộc họ Đơn nem (Myrsinaceae)

3 Nội dung nghiên cứu

- Đặc điểm hình thái cây thuốc nghiên cứu thuộc chi Ardisia họ Đơn

nem phân bố tại Bắc Kạn

- Định danh tên khoa học và tạo bộ mẫu tiêu bản khô, lưu trữ mẫu

- Tách chiết cao tổng số và định tính thành phần các chất bằng sắc ký lớp mỏng của các mẫu nghiên cứu

- Kết quả thử hoạt tính ức chế tế bào ung thư dạ dày của dịch chiết các mẫu nghiên cứu

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây thuốc

1.1.1 Sơ lược về cây thuốc trên thế giới

Việc phát hiện ra cây thuốc đã có từ lâu đời trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, tìm tòi thức ăn mà có được Người Trung Hoa xưa cho rằng, vua Thần Nông là người phát hiện ra cây thuốc Tác giả Đào Ẩn Tích đã biên soạn quyển sách về cây thuốc đầu tiên là “Thần Nông bản thảo kinh” trong đó ghi chép 365 vị thuốc [21] Đây là cuốn sách tạo nền tảng cho sự phát triển liên tục của nền y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay

Hướng nghiên cứu điều trị bệnh bằng phương pháp kết hợp đông – tây

y đang được áp dụng ở hầu hết các châu lục, đặc biệt ở các nước châu Á có hiệu quả rất cao

Ở châu Phi nhiệt đới, ở Madagascar và Comoros theo truyền thống họ

thường dùng Chi Anthocleista thuộc họ Gentianaceae có 14 loài cây và cây

giống bụi cây sử dụng trong điều trị bệnh tiểu đường, cao huyết áp, sốt rét, thương hàn, béo phì, tiêu chảy, kiết lỵ, vàng da, hen suyễn, bệnh trĩ, thoát vị, Chúng có tác dụng như là thuốc chống trầm cảm, thuốc nhuận tràng, thuốc lợi tiểu [33] Các cây thuốc được đưa vào sử dụng trong y học cổ truyền của Ba Tư có những tác dụng có lợi trong các bệnh thoái hóa thần kinh thông qua các cơ chế tế bào và phân tử khác nhau bao gồm sự ức chế apoptosis qua

sự tăng biểu hiện của các thuốc chống apoptosis (ví dụ Bcl-2) cũng như sự giảm biểu hiện và hoạt động protein apoptosis (ví dụ như Bax, caspase 3 và 9) Giảm các phản ứng viêm và ngăn chặn sự biểu hiện và chức năng của các cytokine gây viêm như yếu tố hoại tử khối u α và interleukins, cũng như cải thiện hiệu quả chống oxy hoá qua trung gian bởi superoxide dismutase và catalase, nằm trong số các cơ chế bảo vệ thần kinh khác của cây thuốc cổ truyền [42]

Trang 13

Đầu năm 2018, Naveed và cộng sự đã tìm ra Trà đen có nhiều hợp chất sinh học khác nhau như flavonoids (thearubigins (TRs) và theaflavins (TFs)

và catechins), các axit amin (L.theanine), vitamin (A, C, K), axit phenolic (acid caffeic (CA), axit gallic (GA), axit clo chlorogenic (CGA) và acid cauramic), chất béo, protein, các hợp chất dễ bay hơi carbohydrate, β carotene

và florua có thể được sử dụng làm chất phụ gia thực phẩm an toàn, một loại thuốc thảo dược là nhu cầu trong tương lai để loại bỏ các chất kích thích hoạt động tổng hợp trong sức khoẻ con người [63]

Ung thư là một trong những bệnh nguy hiểm nhất trên thế giới và tỷ lệ này đang gia tăng ở cả các nước đã và đang phát triển Nghiên cứu các loại thảo dược đang được tiến hành để phát triển các loại thuốc tốt hơn có hiệu quả hơn và đồng thời gây ra ít tác dụng phụ hơn Các sản phẩm tự nhiên có nguồn gốc thực vật hiện nay tạo thành một tỷ lệ đáng kể các thuốc chống ung thư thương mại Để phòng ngừa và điều trị ung thư, nhiều dược liệu từ khắp nơi trên thế giới bao gồm Ấn Độ đang được sử dụng theo truyền thống Nguồn dược liệu chống ung thư được sử dụng nhiều ở vùng Cận Đông, nhiều loài được sử dụng trong chế độ ăn uống của bệnh nhân ung thư ở vùng này Cuộc

khảo sát tài liệu cũng cho thấy rằng, các loài Asarum khác nhau, các loài

Artemisia, Calotropis procera, Citrullus colocynthis, Nigella sativa, các loài Urtica khác nhau, Withania somnifera và những loài khác của cây trồng được

sử dụng nhiều nhất trong số các bệnh nhân ung thư ở vùng này Các hợp chất chiết xuất từ cây thuốc tác động vào chu kỳ tế bào và quá trình apoptosis với

sự tham gia của p53, p21, Bcl-2, Bax hứa hẹn phát triển các tác nhân chống lại ung thư tự nhiên và an toàn [29]

Việc sử dụng các cây thuốc trong phòng chống ung thư cũng được sử dụng ở châu Phi, đặc biệt là ở Tunisia và nó được truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác trong các nền văn hoá Nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy rằng, nhiều loài cây thuốc Tunisia tác động đến hoạt động gây độc và chống ung thư

Trang 14

[29] Bên cạnh đó, hệ thực vật Bắc Phi cũng cung cấp một nguồn dược liệu phong phú trong đó, Ma-rốc và Algeria là những quốc gia có nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc trong y học dân gian Trong số rất nhiều

loài thực vật được sử dụng, Nigella sativa và Trigonella foenum-graecum là

những loài được nghiên cứu nhiều nhất để điều trị bệnh ung thư [31]

Mexico là quốc gia được biết đến với kiến thức truyền thống về các phương thuốc thảo dược Cây thuốc đã được sử dụng trong cuộc chiến chống ung thư và ngày nay hơn 70% các loại thuốc chống ung thư có nguồn gốc tự nhiên đã được ghi nhận ở 25 họ thực vật và 39 loài thực vật được sử dụng

trong các nghiên cứu invitro và invivo [45]

Nói chung những công trình nghiên cứu về dược liệu đã có từ lâu đời, hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử của nhân loại Tuy nhiên

do sự hạn chế của trình độ khoa học đương thời nên những công trình này chưa có cơ sở khoa học để chứng minh thành phần hóa học các chất có tồn tại trong đó và nó tham gia vào việc chữa bệnh như thế nào mà chỉ dùng lại ở mức độ miêu tả, thống kê và chỉ ra công dụng của chúng Chỉ đến khi khoa học kỹ thuật phát triển thì vấn đề này mới được làm sáng tỏ, tạo độ tin cậy đối với người bệnh sử dụng

1.1.2 Sơ lược về cây thuốc ở Việt Nam

Cây thuốc là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể khi con người sử dụng Việc dùng cây thuốc trong nhân dân ta

đã có từ lâu đời Từ thời nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức

ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hoá, do đó cần có nhận thức phân biệt được loại nào ăn được, loại nào có độc không ăn được Kinh nghiệm dần dần tích lũy, không những giúp cho loài người biết công dụng, tính chất của cây cỏ để làm thức ăn mà còn dùng để dùng làm thuốc chữa bệnh, hay dùng những vị có chất độc để chế tên thuốc độc dùng trong săn bắn hay trong lúc tự vệ chống ngoại xâm

Trang 15

Trong quá trình chữa bệnh bằng kinh nghiệm và hiểu biết của con người Y học cổ truyền Việt Nam có nhiều bài thuốc hay chữa bệnh hiệu quả

đã đúc kết thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân trong đó phải kể tới cuốn "Nam Dược thần hiệu" của danh y Tuệ Tĩnh đã

mô tả được 496 loài cây làm thuốc [22] Năm 1772, Hải Thượng Lãn Ông cho xuất bản bộ sách "Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh" gồm 66 quyển về y lý và cây thuốc [23] Trong thời kỳ 1884 - 1945, thực dân Pháp đô hộ có một số nhà thực vật học, dược học người Pháp nghiên cứu nhưng với mục đích chính

là để khai thác tài nguyên Trong đó phải kể đến một số nhà dược học nổi tiếng như Crévost, Pételot, đã xuất bản bộ "Catalogue des produits de L’ indochine" (1928-1935), trong đó tập V (Prodiuits medicinaux, 1928) đã mô

tả 368 cây thuốc là các loài thực vật có hoa [40]

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, nhận thức được vai trò

và tiềm năng của cây thuốc trong công tác chăm sóc sức khỏe, chữa trị bệnh tật và phát triển kinh tế, bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc Ngay từ ngày hòa bình lập lại, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác điều tra, nghiên cứu nguồn cây thuốc ở Việt Nam nhằm mục đích phục vụ sức khỏe cho nhân dân Ngoài ra nhà nước cũng quan tâm đầu tư cho việc sưu tầm các nguồn tài liệu về thuốc Nam, tổ chức điều tra, phân loại, tìm hiểu dược tính, thành phần hóa học, lập bản đồ dược liệu trong cả nước Đồng thời cũng phát triển việc nghiên cứu, sản xuất các loại thuốc từ nguồn cây cỏ trong thiên nhiên

Liên quan đến cây thuốc, Viện Dược liệu và các trạm nghiên cứu dược liệu đã điều tra ở 2.795 xã phường thuộc 351 huyện, thị xã của 47 tỉnh thành trong cả nước đã đóng góp đáng kể trong công tác điều tra sưu tầm nguồn nguyên liệu cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong y học cổ truyền Trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (năm 1996) đã giới thiệu 3.200 loài cây thuốc, mô tả tỉ mỉ về hình thái và bộ phận sử dụng, cách chế biến, các đơn thuốc đi kèm [6] Đỗ Tất Lợi (năm 1999) trong cuốn

Trang 16

“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” giới thiệu 800 cây con để làm thuốc [15] Sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức (1997) có ghi 830 cây thuốc [10] Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương và cộng sự đã cho ra cuốn

“Sổ tay cây thuốc Việt Nam” (năm 1980) [2] và “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (năm 1993) đã thống kê hàng năm có khoảng 300 loài cây thuốc được khai thác và sử dụng ở các mức độ khác nhau trong toàn quốc [3] Trong cuốn

“1900 loài cây có ích” của Trần Đình Lý (năm 1994) trong số các loài cây thực vật bậc cao hiện biết ở Việt Nam, có 76 loài cây có nhựa thơm, 160 loài cây có tinh dầu, 260 loài có dầu béo, 600 loài có tannin, 500 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây [16] Nhắc đến các công trình nghiên cứu về cây thuốc ở nước ta thì không thể không nhắc đến bộ sách

“Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” do nhiều đồng tác giả xuất bản năm 2004 [4] Đây là bộ sách chứa đựng một khối lượng lớn dữ liệu khoa học toàn diện về dược liệu, đặc biệt là cây thuốc, được tập hợp từ những kết quả nghiên cứu của các đồng tác giả, đồng thời cũng được tham khảo đúc kết

từ nhiều tạp chí khoa học có uy tín trong nước và trên thế giới Đặc biệt, bộ sách cung cấp những thông tin khoa học rất phong phú và cập nhật cho đến những năm gần đây nhất về thành phần hóa học, tác dụng dược lý thực nghiệm và dược lý lâm sàng của cây thuốc Theo tài liệu của Viện Dược liệu (2015) thì Việt Nam có đến 5117 loài cây làm thuốc nhưng qua điều tra tìm hiểu thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu còn chưa đầy đủ [28]

Nghiên cứu điều tra sinh vật học đã được thực hiện bởi các cây thuốc được sử dụng để điều trị sốt rét ở miền Nam Việt Nam, 46 cây thuốc đã được

thử nghiệm hoạt tính in vitro chống lại Plasmodium falciparum và đánh giá

độc tính tế bào đối với dòng tế bào ung thư người HeLa và dòng tế bào MRC5 phôi thai Trong lần sàng lọc đầu tiên ở nồng độ 10 microg/ml, 46 cây

Trang 17

cho thấy hoạt tính chống co thắt (chống ký sinh trùng> 30%) Giá trị IC (50) của chiết xuất chủ động nhất được xác định cũng như sự chọn lọc của chúng

đối với Plasmodium falciparum so với tác động gây độc tế bào đối với dòng

tế bào người [66]

Trong hai thập kỷ qua, một số nhóm nghiên cứu đã tiến hành sàng lọc các chất ức chế Xanthine oxidase (XO) từ cây thuốc bản địa và cách tiếp cận này tỏ ra hiệu quả Năm 2004, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một số chất chiết xuất thực vật có khả năng ức chế XO tiềm ẩn thông qua việc kiểm tra 96 loại thảo mộc của Việt Nam thu thập được ở vùng núi ở các tỉnh Nam Trung

Bộ [65] có tiềm năng như một nguồn hợp chất hoạt tính mạnh, bao gồm các chất ức chế XO Do đó, tập trung vào nghiên cứu các chất ức chế XO mới từ các sản phẩm tự nhiên đã sàng lọc được 301 loài thực vật được sử dụng trong các loại thuốc truyền thống của Việt Nam để điều trị bệnh viêm khớp, viêm nhiễm và sưng đau

Trong quá trình tìm kiếm các tác nhân chống ung thư mới từ các nguồn

tự nhiên, một số cây thuộc chi Panax được sàng lọc Do đó, saponin ocotillol, majonoside-R2 (MR2), thu được từ thân rễ và gốc của Panax vietnamensis

(nhân sâm Việt Nam) MR2 thể hiện hoạt động tăng cường chống lại khối u mạnh mẽ trên thử nghiệm ung thư giai đoạn 2 của khối u gan chuột [52]

Xáo tam phân đã được sử dụng như một dược liệu thực vật để phòng ngừa ung thư và điều trị trong những năm gần đây đã được Nguyễn Văn Tăng cùng cộng sự nghiên cứu xác định các đặc tính hóa lý, chất chống oxy hoá và khả năng gây độc tế bào mạnh trên các loại ung thư vào năm 2017 [77]

Cây cỏ sử dụng làm thuốc rất phong phú nhưng việc khai thác và sử dụng các cây cỏ để chữa bệnh và các bài thuốc của đồng bào dân tộc Việt Nam cần được quan tâm nghiên cứu

Trang 18

1.1.3 Sơ lược về cây thuốc Bắc Kạn

Bắc Kạn là một tỉnh miền núi, vùng cao, tài nguyên từ rừng trong đó có dược liệu hết sức phong phú Người dân nơi đây khi có bệnh thường dựa vào các ông lang, bà mế với kinh nghiệm sử dụng thuốc từ cây cỏ để chữa, chăm

lo sức khỏe Tuy nhiên, việc khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc chưa có quy hoạch, chủ yếu là tự phát nên dẫn tới nhiều loài thảo dược bị giảm sút về

số lượng, một số loài cây thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng

Theo Quyết định số: 435/2010/QĐ-UBND vào ngày 12 tháng 03 năm

2010 [26] Quyết định cũng đưa ra những quy định, quy chế và đối tượng sử dụng các nguồn tài nguyên cây thuốc trên địa bàn của tỉnh Đặc biệt trên địa bàn của tỉnh Bắc Kạn có 3 khu rừng đặc dụng: Vườn Quốc gia Ba Bể (huyện

Ba Bể), Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (huyện Na Rì) và Khu bảo tồn Loài

và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc (huyện Chợ Đồn) là rừng có công dụng đặc biệt được sử dụng để bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý hiếm và nghiên cứu khoa học

Một số loại cây thuốc đã có tên trong các tài liệu về dược liệu nhưng có một số cây thuốc được sử dụng dưới tên gọi địa phương chưa xác định được tên phổ thông hoặc tên khoa học nên rất khó khăn trong việc thừa kế và nghiên cứu ứng dụng các vị thuốc này

Hiện nay, vùng núi đá vôi lớn của tỉnh ở các huyện Ba bể, Na Rì, Chợ Đồn còn lưu giữ nhiều gen thực vật quý hiếm Theo thống kê của Viện dược liệu Việt Nam, Bắc Kạn hiện có trên 1.000 loại dược liệu, trong đó có nhiều loại quý hiếm, có giá trị cao như: Ba kích, Hà thủ ô, Đẳng sâm, Thổ phục linh,

Kê huyết đằng, Bình vôi Nhằm bảo tồn một số loài cây thuốc bản địa sắp có nguy cơ cạn kiệt, Hội đông y tỉnh đã đề xuất thực hiện dự án khoa học và công nghệ “ Xây dựng mô hình trồng thử nghiệm và bảo tồn một số loài cây thuốc

cổ truyền tại tỉnh Bắc Kạn” Không chỉ bảo tồn 14 loại cây thuốc bản địa tại

Trang 19

một số hộ ở một số địa phương mà còn hướng tới xây dựng mô hình trồng thử nghiệm 3 loài cây thuốc bản địa: Ba kích, Đẳng sâm, Ban lá dính

Trong Hội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 6 đưa ra sự đa dạng về hệ thực vật và tài nguyên cây thuốc ở xã Sỹ Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn với diện tích đất tự nhiên là 2.713 ha, dân số 1.710 người phân bố ở các khu vực thôn xóm với nhiều dân tộc khác nhau như: Tày, Nùng, Dao, Kinh, Hoa tạo nên sự đa dạng về các bài thuốc chữa bệnh cùng với các loại cây thuốc khác nhau Kết quả điều tra trong số

416 loài thực vật ở khu vực nghiên cứu đã xác định loài cây có giá trị làm thuốc gồm: 289 loài, 217 chi, 81 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch với nhiều tác dụng chữa bệnh khác nhau như: bệnh gan, xương khớp, bệnh ngoài da, thận, tiêu hóa, hô hấp, bệnh tim mạch, [8]

Địa bàn tỉnh cũng đưa ra các quy định về trồng và phát triển cây thuốc theo các Chương trình, Dự án trồng cây thuốc theo tiêu chí GAP từ các nguồn cây thuốc bản địa đảm bảo an toàn chất lượng vừa có tác dụng bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc của địa phương Đặc biệt là khuyến khích các hoạt động trồng cây dưới tán cây rừng hoặc tận dụng đất rừng, đất chưa sử dụng để trồng và phát triển cây thuốc [17]

Việc đi sâu tìm hiểu nguồn dược liệu ở Bắc Kạn để phục vụ cho công tác nghiên cứu các sản phẩm chữa bệnh từ cây thuốc không những đem lại lợi ích kinh tế cho đồng bào dân tộc ở Bắc Kạn nói chung mà còn góp phần tạo việc làm, đáp ứng nhu cầu bảo vệ sức khỏe của con người địa phương nói riêng

1.2 Bệnh ung thư dạ dày

Ngày nay, các bệnh về dạ dày, bao gồm cả ung thư dạ dày đứng hàng đầu trong các ung thư đường tiêu hóa ngày càng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam Mặc dù tỷ lệ mắc có giảm trong những thập niên gần đây nhưng cho đến nay vẫn còn là nguyên nhân quan trọng gây nên bênh tật và tử

Trang 20

vong do ung thư trên toàn cầu đặc biệt ở người châu Phi, người châu Á, châu Mỹ [47], [48], [53], [56] Trong số các bệnh ung thư xuất hiện khắp thế giới, ung thư dạ dày chiếm 10% số trường hợp mới mắc và 12% tổng số

tử vong do ung thư [45] Theo Tạp chí Ung thư học Việt Nam năm 2010, ung thư dạ dày xếp thứ 2 sau ung thư phổi ở nam, đứng thứ 3 sau ung thư

vú ở nữ và ung thư cổ tử cung

Ung thư dạ dày hay gặp nhất ở vị trí hang môn vị Có sự khác biệt lớn

về tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày ở các vùng địa lý khác nhau của thế giới, với tỷ lệ mắc cao nhất ghi nhận ở Đông Nam Á, Đông Âu, và Nam Mỹ, trong khi châu Âu, Bắc Mỹ và châu Phi cho thấy tỷ lệ ghi nhận thấp nhất [35] Cho đến nay phẫu thuật vẫn giữ vai trò quyết định trong phương pháp điều trị ung thư dạ dày

1.2.1 Khái quát chung về ung thư tại Việt Nam

Hiện nay, theo thống kê của Dự án phòng chống ung thư Quốc gia, mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 100.000 người chết và hơn 200.000 người mắc mới

Đó là con số đáng báo động về tình hình mắc bệnh ung thư ở nước ta [13]

Ung thư cũng như nhiều bệnh lý khác đều có đặc điểm chung là hậu quả tương tác của 03 yếu tố cơ bản sau: (1) tác nhân gây bệnh, (2) yếu tố môi trường và (3) cơ thể vật chủ (vật chủ ở đây chính là con người) Tùy theo những điều kiện cụ thể nhất định mà từng yếu tố đó giữ vai trò nhiều hay ít,

do vậy chúng ta thấy trên thực tế là cùng sống trong một môi trường như nhau

và cùng tiếp xúc với tác nhân gây bệnh như nhau, nhưng bệnh có thể phát sinh ở người này mà không phát sinh ở người khác hoặc cùng bị bệnh nhưng

có người bệnh tiến triển nhanh hơn và nặng hơn, có người bệnh tiến triển bệnh chậm hơn và nhẹ hơn, có người đáp ứng với điều trị tốt hơn và có người đáp ứng với điều trị kém hơn

Trang 21

So với tỷ lệ chung trên thế giới thì Việt Nam thuộc nhóm nước có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất đối với: ung thư phổi, ung thư vú, ung thư dạ dày, ung thư

cổ tử cung, ung thư gan, ung thư đại trực tràng Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Triều Tiên là những nước có tỷ lệ ung thư dạ dày cao nhất thế giới Bên cạnh đó, tỷ lệ ung thư gan tại Việt Nam cũng thuộc mức cao nhất thế giới, đặc biệt ở nam giới Hầu hết các bệnh ung thư phổ biến thường gặp tại Việt Nam thì chưa có xu hướng giảm xuống mà vẫn đang tiếp tục tăng lên từ 68.000 ca năm 2000 lên 126.000 ca năm 2010 và dự kiến sẽ vượt 190.000 ca vào năm 2020 [9] Lý giải cho việc số ca tử vong do ung thư tăng lên trong tương lai, các nhà khoa học cho rằng các yếu tố nguy cơ như: nhiễm độc hoá chất, hút thuốc hoặc tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời là nguyên nhân gây tổn thương DNA, tích lũy đột biến dẫn đến ung thư Ngoài ra, tiền

sử gia đình có nhiều người mắc bệnh ung thư cũng làm tăng nguy cơ mắc căn bệnh hiểm nghèo này, bởi bản thân con người khi sinh ra đã thừa hưởng một

số đột biến DNA Song chủ yếu do nguồn nước ô nhiễm và nguồn thực phẩm

có chứa chất bảo quản độc hại trong cuộc sống con người là điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện của bệnh nhân ung thư Điều này cho chúng ta thấy những hậu quả trực tiếp và gián tiếp đối với xã hội và gia đình người bệnh là rất lớn Việc phát hiện muộn đã khiến cho việc điều trị bệnh ung thư tại Việt Nam kém hiệu quả, tỷ lệ tử vong cao Do đó, các nhà khoa học cần nghiên cứu phát triển những kỹ thuật mới áp dụng những chuẩn đoán sớm và điều trị hiệu quả bệnh để giảm thiểu, đẩy lùi căn bệnh ung thư, mang lại hiệu quả thiết thực cho cộng đồng

1.2.2 Tình hình ung thư dạ dày trên thế giới

Các nước có tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày cao thuộc vùng Đông Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc), Liên Xô cũ, Nam Mỹ, vùng Caribe, và Nam Âu Các nước có tỷ lệ mắc bệnh thấp thuộc vùng Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan), Bắc Mỹ, Úc, và châu Phi [64] Tại châu Phi, cũng có tỷ

Trang 22

lệ người mắc bệnh ung thư dạ dày cao Nigeria và Nam Phi đã được ghi nhận

có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở châu Phi so với các quốc gia Tây Phi, Ai Cập và Kenya Tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày cũng đã được chú ý ở các nước này Tại Nigeria, tỷ lệ ở các khu vực phía Tây Nam được đặt ở mức 4,1%, và tăng gấp đôi tỷ lệ này ở khu vực phía Bắc của đất nước Tại Tanzania, tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày cao đã được báo cáo ở các khu vực quanh Núi Kilimanjaro [57]

Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày còn tùy thuộc vào các yếu tố khác nhau bên cạnh yếu tố địa lý Ung thư dạ dày thay đổi theo từng nước khác nhau ngay cả từng vùng khác nhau trong cùng một nước Tần suất ung thư dạ dày thay đổi theo thời gian Ở Mỹ tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư dạ dày vào năm 1930 là 30/100.000 dân đối với nam; 22/100.000 dân đối với nữ, sau hơn 50 năm, tỷ

lệ này giảm hẳn xuống còn 7,5/100.000 dân ở nam so với 3,7/100.000 dân ở

nữ Ở Pháp, tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư dạ dày vào năm 1954 là 54,8/100.000 dân ở nam so với 31,2/100.000 dân ở nữ, sau 20 năm, tỷ lệ này giảm xuống còn 28,6/100.000 dân ở nam so với 14,1/100.000 dân ở nữ [25] Bệnh dạ dày có thể gặp ở mọi lứa tuổi và giới tính, tuy nhiên ở trẻ em ít phổ biến hơn thường được phát hiện lần đầu trong độ tuổi 30 – 50 và phát triển thành viêm dạ dày ở độ tuổi trên 60 [32]

1.2.3 Tình hình ung thư dạ dày ở Việt Nam

Theo Nghiên cứu về Bệnh tật Toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới Nhìn chung, ước tính có hơn 700.000 trường hợp ung thư mới và 500.000 trường hợp tử vong do ung thư ở ASEAN trong năm 2008, dẫn đến khoảng 7,5 triệu người điều trị tàn tật bị mất trong một năm [50] Ung thư dạ dày được xếp hàng thứ 7 trong các loại ung thư phổi, ung thư vú, ung thư gan và ung thư đại-trực tràng [38]

Trang 23

Tỷ lệ ung thư dạ dày cao nhất ở Việt Nam chiếm 24,4/100.000 dân ở nam so với 14,6/100.000 dân ở nữ Tỷ lệ tử vong do ung thư dạ dày cũng cao nhất ở Việt Nam là 14/100.000 dân, tiếp theo Myanmar 9/100.000 và Campuchia 8,4/100.000 dân Các nước có tỷ lệ tử vong ít hơn khoảng bốn lần

so với Việt Nam là Philippines 3,5/100.000 dân, Lào 3,4/100.000, và Thái Lan 2,5/100.000, trong đó tỷ lệ ung thư dạ dày mới mắc khá thấp ở Thái Lan

là 4,2/100.000 dân ở nam so với 3/100.000 dân ở nữ Tỷ lệ ung thư dạ dày khác nhau tùy theo từng vùng địa lý của các nước ASEAN do sự khác nhau

về tỷ lệ nhiễm vi khuẫn H.pylori, trong đó hơn 60% ung thư dạ dày trên thế

giới do nhiễm vi khuẩn này [50]

Ở Việt Nam ung thư dạ dày đang là một vấn đề y tế trong cộng đồng, đặc biệt là nam giới trên 40 tuổi, ước tính mỗi năm có khoảng 15000- 20000 người mắc ung thư dạ dày [18] Tại Hà Nội giai đoạn 1993-1995, theo Đoàn Hữu Nghị, tỷ lệ mắc ung thư dạ dày ở nam chiếm 25,7/100.000 dân so với 12,5/100.000 dân ở nữ Tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1997, theo Nguyễn Chấn Hùng và cộng sự, tỷ lệ mắc ung thư dạ dày ở nam là 18,8/100.000 dân

Trang 24

Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2008, tỷ lệ hiện mắc bệnh ung thư dạ dày ở người Việt Nam nói chung là 18,9/100.000 dân Như vậy mỗi năm ước tính có từ 15.068 – 16.114 người mắc bệnh, trong số này có từ 11.327 – 12.098 người tử vong do ung thư dạ dày [24]

Tạp chí Khoa học Tiêu hóa Việt Nam 2008, ghi nhận ung thư dạ dày

có sự khác biệt giữa hai giới và hai miền Bắc và Nam Việt Nam Ở nam, ung thư dạ dày đứng hàng thứ 2 trong 5 loại ung thư thường gặp là ung thư phổi,

dạ dày, gan, đại-trực tràng và ung thư hầu họng Tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày ở nam tại Hà Nội là 30/100.000 dân cao hơn so với vào khoảng 16,5/100.000 dân tại thành phố Hồ Chí Minh Ở nữ, ung thư dạ dày đứng thứ

3 sau ung thư vú, cổ tử cung, dạ dày, đại tràng và ung thư phổi Tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày ở nữ tại Hà Nội vào khoảng 16/100.000 dân cao hơn so với khoảng 7,5/100.000 dân tại thành phố Hồ Chí Minh Như vậy tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày ở Hà Nội cao khoảng gấp 2 lần ở cả 2 giới so với thành phố Hồ Chí Minh

1.2.4 Yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư dạ dày

 Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (HP): nhiều tài liệu đã xác định

vi khuẩn HP là nguyên nhân chính có thể gây viêm loét dạ dày, loạn sản, dị sản, từ đó làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày Trong nghiên cứu của Nguyễn Xuân Vinh cho thấy nguy cơ mắc ung thư dạ dày khi nhiễm HP là 5 lần và nếu nhiễm HP với kiểu gen CagA (cytotoxin-associated gen A) thì nguy cơ này còn cao hơn nữa, khoảng 10 lần Năm 1994, Tổ chức Y tế thế giới đã thông báo HP là yếu tố gây ung thư dạ dày nhóm I Tuy vậy, tỷ lệ nhiễm HP ở những bệnh nhân viêm dạ dày mãn (30-50%) và ung thư dạ dày (80-97,6%) nếu có CagA và VagA (Vacuolating cytotoxin) dương tính Một số tác giả cho rằng con đường từ nhiễm HP đến ung thư dạ dày như sau: Nhiễm trùng lâu dài HP gây ra viêm dạ dày mãn tính, tiến triển theo hướng viêm dạ dày teo, chuyển sản ruột, loạn sản và cuối cùng là biến đổi ác tính niêm mạc dạ

Trang 25

dày [18] Ngoài HP là yếu tố nguy cơ chính còn có các yếu tố nguy cơ khác làm tăng nguy cơ trở thành ung thư dạ dày

 Viêm dạ dày mãn tính: Quá trình viêm mãn tính dạ dày kéo dài nhiều năm làm niêm mạc dạ dày thay đổi từ loạn sản đến dị sản và cuối cùng là ung thư Viêm niêm mạc dạ dày mạn tính thường do môi trường, độc tố hoặc vi khuẩn hay gặp ở vùng hang vị và thân vị Trước một bệnh nhân viêm dạ dày mãn tính điều trị kéo dài cần phải nghĩ tới tiền ung thư và 80 – 90% các trường hợp ung thư dạ dày có tổn thương viêm mãn tính Tần suất mắc trong dân chúng liên quan chặt chẽ đến tuổi, viêm dạ dày mãn tính rất ít gặp ở trẻ

em nhưng tần suất này gia tăng theo tuổi Xấp xỉ một nửa dân số bị mắc bệnh viêm dạ dày mạn tính ở lứa tuổi 50 – 60 và tỷ lệ xấp xỉ 100% ở những người

7 trên 70 tuổi [11]

 Loét dạ dày: Loét dạ dày mãn tính nhất là phần ngang bờ cong nhỏ rất dễ bị ung thư hóa với tỉ lệ nào đó (5 – 10%) Vấn đề loét dạ dày ung thư hóa hay ung thư dạ dày thể loét tiến triển chậm vẫn chưa được chứng minh rõ ràng, song giữa loét và ung thư dạ dày có liên quan mật thiết với nhau [18]

 Thiếu máu ác tính (Biermer anemia): Còn gọi là bệnh thiếu máu ác tính do thiếu vitamin B12, là một bệnh lý tự miễn do dạ dày thiếu yếu tố nội tại trong dịch tiết nên không có khả năng hấp thu B12 Các nghiên cứu giải phẫu bệnh học trong những năm trước đã phát hiện có sự gia tăng tỉ lệ mắc ung thư dạ dày ở bệnh nhân thiếu máu ác tính Các nghiên cứu lâm sàng cũng khẳng định mối liên quan này với tỉ lệ mắc ung thư dạ dày 5 – 10% Người ta thấy tỉ lệ ung thư dạ dày cao gấp 18 – 20 lần ở nhóm bệnh nhân thiếu máu ác tính so với nhóm đối chứng cùng tuổi [5]

 Bên cạnh đó, yếu tố gia đình hoặc di truyền là các yếu tố nguy cơ cao

có thể mắc bệnh ung thư dạ dày Chế độ ăn uống lâu dài như thói quen ăn mặn, hút thuốc lá, nguyên nhân nhiễm khuẩn trong thức ăn ở các vùng có trình độ văn hoá xã hội và nền kinh tế thấp kém trên thế giới cũng góp phần vào tỷ lệ mắc bệnh Ngược lại chế độ ăn nhiều rau tươi, trái cây và có nhiều

Trang 26

chất xơ thì ít có nguy cơ bị bệnh ung thư dạ dày Ăn nhiều rau quả, trái cây, trong đó chứa nhiều vitamin C và β-caroten là những chất chống oxy hoá (antioxidants), ngoài ra vitamin C có thể làm giảm việc biến đổi tiền chất sinh ung thư nitrate trở thành nitrite…

1.3 Họ Đơn nem (Myrsinaceae) và chi Ardisia

1.3.1 Họ Đơn nem

Họ Đơn nem (Myrsinaceae) là một họ rất lớn gồm 38 chi và hơn 1000 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Hệ thực vật trong họ này chủ yếu là cây và những khóm cây bụi, mộc phổ biến dưới tán rừng, ven đường đi, đầm lầy ven biển, đôi khi là leo bám Chúng có dạng cây gỗ nhỏ hoặc bụi phân nhánh, thường cao khoảng 1-2m, có khi cao 6-7m, một số loài

cao 7-50cm Tuy là một họ rộng song họ này chủ yếu là các chi: Ardisia,

Embelia, Maesa, Aegyceras, Rapanea và Myrsine Một số được ghi trong

dược điển cây thuốc của một số nước trong việc diệt giun sán, tiêu diệt vi khuẩn, bệnh mẩn ngứa, dị ứng, mày đay, mụn nhọn, lở ngoài da, trị phong thấp, đau nhức xương, ung thư dạ dày, ung thư đường tiêu hóa,viêm gan truyền nhiễm, viêm phổi …[1]

1.3.2 Chi Ardisia

 Đặc điểm thực vật chung của chi Ardisia

Trong số các chi thực vật bậc cao, Ardisia là một chi lớn nhất trong họ

Myrsinaceae thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới vì tiềm năng to lớn của chúng trong nhiều lĩnh vực đời sống Ước chừng khoảng 500 loài cây bụi phân bố rải khắp các vùng nhiệt và cận nhiệt đới như châu Mỹ, châu Á, số ít ở châu Úc, các đảo Thái Bình Dương Chi này được biết đến như các vị thuốc dùng trong dân gian từ xa xưa, sử dụng lá, thân rễ, cành, đôi khi

là quả Ở Việt Nam, chi này gồm 101 loài [14]

Trong hệ thực vật Việt Nam, chi Ardisia là một trong số chi được nghiên

cứu chi tiết về mặt phân loại Đây cũng là chi có số loài phong phú, đa dạng và

Trang 27

phân bố rộng khắp trên đất nước ta Đặc điểm của chi cây gỗ nhỏ, bụi hoặc nửa bụi gần với dạng cây thảo Lá đơn, mọc cách, ít khi mọc đối hoặc gần mọc vòng, phiến lá thường có điểm tuyến, mép nguyên hoặc khía răng cưa tròn, giữa các răng có điểm tuyến hoặc khía răng cưa nhỏ, nhiều Cụm hoa hình chùm, xim, tán, ngù ở đầu cành, nách lá hoặc ngoài nách lá Hoa lưỡng tính Lá đài thường hợp ở gốc, ít khi rời, xếp van hay xếp lợp, thường có điểm tuyến Cánh hoa hơi hợp ở gốc, xếp vặn về phía phải, thường có điểm tuyến Nhị đính

ở gốc ống tràng Bầu thường hình cầu hoặc hình trứng; vòi nhụy, chỉ nhị thường ngắn hơn cánh hóa; núm hình chấm; noãn 3 – 12 hoặc nhiều hơn, xếp thành một vòng đến nhiều vòng Quả mọng dạng quả hạch, hình cầu hoặc hình cầu dẹt, thường màu hồng, có điểm tuyến, có lúc có gân tuyến

 Các loài Ardisia phân bố ở Việt Nam

Theo các tác giả Phạm Hoàng Hộ [12], Võ Văn Chi [6] và gần đây là

Trần Thị Kim Liên [14], nhiều loài Ardisia ở Việt Nam được dân gian sử

dụng làm thuốc

Trang 28

Bảng 1.1 Các loài thuộc chi Ardisia họ Đơn nem (Myrsinaceae) ở Việt Nam được sử dụng làm thuốc trong dân gian

Tên Việt

Nam

Tên khoa học

Gardn &

Champ

Trọng đũa lá anh thảo, tử kim ngưu tòa sen

Ba Vì – Hà Nội Tháng 3 - 7 Chữa ho, phong thấp, đòn

ngã, mụn nhọt ghẻ lở

Trần Thị Kim Liên [14]

2 Cơm nguội

bẹp

Ardisia depressa C.B

Clarke

Trọng đũa lá nâu

Bắc Ninh, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Kon

đau răng

Trần Thị Kim Liên [14]

3 Cơm nguội

búng

Ardisia helferiana

Kurz

Cơm nguội helfer

Vĩnh Phú ( Tam Đảo), Lâm Đồng, Đồng Nai,

Bà Rịa – Vũng Tàu

Tháng 1 - 5 Chữa phong thấp, đau

thận

Trần Thị Kim Liên [14]

4 Cơm nguội

còng

Ardisia calophylloide

s Pitard

Tong long cạnh (dao)

Thái Nguyên, Hòa Bình, Đà Nẵng

Chữa cam sài trẻ em (thân,

lá)

Trần Thị Kim Liên [14]

5 Cơm nguôi

the

Ardisia villosoides E

Walker

Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Hà Tây

Tháng 5 – 3 năm sau

Dùng trị dập, tê thấp, đau

gân

Phạm Hoàng

Hộ [12]

Trang 29

Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hà Nội, Hà

Nam

Tháng 3- 8

Chữa bệnh phổi (lá), phong thấp tê đau, gãy xương (rễ)

Trần Thị Kim Liên [14]

7 Cơm nguội

đuôi

Ardisia caudate

Pirre ex Pitard

Xuyên khung (sán dìu)

Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng

Chữa vết sây xát, va đập

(thân, lá)

Trần Thị Kim Liên [14]

9 Cơm nguội

hoa chùy

Ardisia thyrsiflora D

10 Cơm nguội

maclure

Ardisia maclure

11 Cơm nguội

như chỉ

Ardisia filiformis E

Walker

Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Tháng 4 - 12 Chữa ho, hen (cả cây) Võ Văn Chi

[6]

Trang 30

12 Cơm nguội

năm cạnh

Ardisia quinquegona

Blume

Lào Cai, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc

Tháng 2 - 12 Chữa đau xương, đau

mình, đau răng (lá)

Trần Thị Kim Liên [14]

13 Cơm nguội

nâu

Ardisia brunnescens

E Walker

Cơm nguội mốc Lạng Sơn, Nghệ An

Tháng 6 – 1 năm sau

Chữa lao thương thổ huyết, đòn đánh gây nội thương, sản hậu, đau lưng, đau bụng, viêm họng

Võ Văn Chi [6]

14 Cơm nguội

lông

Ardisia

Lào Cai, Sơn La, Quảng Ninh, Đà Lạt Tháng 7 - 12

Chữa kiết lị, phong thấp đau xương, thổ huyết, đòn ngã tổn thương, đau bụng

do khí lạnh, đinh nhọt (cả

cây)

Trần Thị Kim Liên [14]

15 Cơm nguội

trân

Ardisia conspersa E

Walker

Tán hoa tử kim ngưu

16 Cơm nguội

trung quốc

Ardisia chinensis

Benth

Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Hà Nội

Tháng 9 – 3 năm sau

Chữa ho, vết thương sưng

tấy

Trần Thị Kim Liên [14]

17 Cơm nguội

tuyến

Ardisia lindleyana

D.Dietr

Lạng Sơn, Quảng Trị Tháng 6 - 9

Chữa hầu họng sưng đau, kinh nguyệt không đều, đau nhức khớp

Phạm Hoàng

Hộ [12]

Trang 31

 Tác dụng chữa bệnh của chi Ardisia

Trên thế giới các nghiên cứu đã cho thấy các loài thực vật họ

Myrsinaceae, đặc biệt là các loài thuộc chi Ardisia, có nhiều hoạt tính sinh

học đáng quý, như: hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm, kháng virut, kháng viêm giảm đau, chống oxi hóa, chống đái tháo đường, chống loãng xương, bảo vệ thần kinh, bảo vệ gan và nhất là hoạt tính chống ung thư rất tốt Trên tạp chí Journal of Ethnopharmacology được đăng năm 2005 bởi Kobayashi H

de Mejía E đã nhận định: Chi Ardisia – một nguồn mới cung cấp các hợp chất

tăng cường sức khỏe và dược phẩm thực vật

Hầu hết các loài Ardisia là cây thuốc, Ardisia japonica (Hornst.) là loài

được nghiên cứu sử dụng để chữa trị các bệnh như ho, xuất huyết tử cung và

giúp lợi tiểu [43] Trong y học cổ truyền Trung Quốc, A japonica được dùng

để chữa trị rất nhiều bệnh khác nhau như viêm phế quản, viêm phổi, các vết thương, bệnh đau mắt, bệnh lao [67] và ung thư tuyến tụy Những nghiên cứu

về thành phần hóa học của loài cũng chỉ ra được những hợp chất có tác dụng

ức chế hoạt tính của enzyme, tính gây độc tế vào, hoạt tính chống virus lao

Loài Ardisia crispa được sử dụng ở châu Á để điều trị các triệu chứng

sau sinh đẻ, các vết đau ở bụng, ngực, các vết sưng, thấp khớp, đau tai, ho,

sốt, tiêu 33 chảy, gây sưng và đau bụng kinh [49] hay loài Ardisia colorata

được sử dụng ở Thái Lan để điều trị các bệnh về gan, trị ho và tiêu chảy

Loài Ardisia crenata rễ của chúng đã được sử dụng từ lâu trong dân

gian Trung Quốc để diều trị các bệnh truyền nhiễm liên quan tới phổi và các rối loạn kinh nguyệt [46] Blume thường được sử dụng để điều trị viêm phế

quản mãn tính; Ardisia crenata Sims var crenata được sử dụng như oxytocics và thuốc tránh thai Ardisia pusilla A DC được sử dụng để điều trị

thương tích chấn thương

Trang 32

Ở Việt Nam chưa có nhiều các nghiên cứu về công dụng chữa bệnh của

các thực vật họ Myrsinaceae nói chung và các loài thực vật trong chi Ardisia nói riêng Trong dân gian, nhìn chung các thực vật thuộc chi Ardisia có tính

mát, có tác 39 dụng kháng sinh, hoạt huyết tán ứ, tiêu thũng tiêu viêm và thường được sử dụng để chữa phong thấp đau xương, đòn ngã tổn thương, chữa các bệnh về gan, chữa sưng đau yết hầu, chữa ho ra máu, chữa bệnh tiểu đường, bệnh lỵ, chữa mụn nhọt, eczema và các bệnh ngoài da, đau dạ dày, chữa rắn cắn và trị giun sán Lá của một số loài được dùng uống thay trà hoặc

ăn gỏi để chữa các bệnh về ngộ độc thực phẩm Quả của một số loài cũng ăn được [6]

 Khả năng chữa ung thư và ung thư dạ dày của chi Ardisia

Khoảng 500 loài Ardisia (Myrsinaceae) được tìm thấy ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của thế giới Một số loài thuộc chi Ardisia đã được sử

dụng làm thực vật cảnh, thực phẩm và dược phẩm [51] Bên cạnh đó, chi

Ardisia đang được các nhà nghiên cứu quan tâm đến khả năng chữa ung thư –

một căn bệnh hàng đầu đang được các nhà khoa học luôn tìm kiếm phương pháp điều trị hiệu quả, không tốn kém về kinh tế của con người Nhiều nhà khoa học đã bắt tay vào nghiên cứu một số loài thuộc chi này về thành phần,

tính chất, tác dụng như: loài Ardisia japonica được nhà nghiên cứu chỉ ra sự

ức chế chọn lọc sự phát triển của tế bào ung thư gan mà không làm ảnh hưởng

đến tế bào gan bình thường [55]; loài Ardisia brevicaulis được xác định có

chất chống lại ung thư phổi thông qua gây ra apoptosis trong tế bào A549

[82]; loài Ardisia insularis thành phần một số hợp chất có lợi ích trong điều

trị ung thư [75]

Loài Ardisia compressa chủ yếu được sử dụng ở Mexico, trong đó phần

lá được sử dụng để điều trị các bệnh về gan, ung thư gan [41] Năm 2004

công bố nghiên cứu chiết xuất từ lá khô của Ardisia compressa tạo ra chất

chống ung thư gan, gây độc gan và những tổn thương do quá trình oxi hóa gây ra ở chuột

Trang 33

Bên cạnh đó, Chi Ardisia được con người biết đến với khả năng chữa

bệnh ung thư dạ dày rất cao ở một số loài thuộc chi này và được các nhà nghiên cứu đã tìm ra thành phần, cấu trúc, tác dụng của nó Đặc biệt năm

2010 công bố nghiên cứu hợp chất Triterpenoid saponin từ loài Ardisia

gigantifolia có hoạt tính gây độc tế bào đối với 3 dòng tế bào ung thư của con

người trong đó có tế bào ung thư dạ dày [59] hay vào năm 2007 Chang X và

cộng sự đã tìm ra được hoạt tính sinh học từ loài Ardisia japonica trong hoạt

động gây độc tế bào ở Kato-III dạ dày tế bào ung thư tuyến [39] được nghiên

cứu nhiều nhất bởi loài Ardisia crenata có tác dụng tốt đáng kể trong việc

chống lại khối u [78] và được tiến hành để điều tra các hoạt động chống lại ung thư trên các tế bào ung thư ở người cùng cơ chế tác động cơ bản của nó trong việc tác dụng lên thành dạ dày [54] Đó là những nghiên cứu khởi đầu trong việc tìm ra phương pháp chữa bệnh bằng dược liệu

 Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học thuộc chi Ardisia

Trên thế giới, các loài thực vật thuộc chi Ardisia thuộc họ Myrsinaceae

đã được nghiên cứu từ rất sớm Tuy nhiên, các nghiên cứu về thành phần hóa học của các loài thuộc chi này chỉ thực sự phát triển vào khoảng hơn chục

năm trở lại đây Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, các loài Ardisia

thuộc họ Myrsinaceae chứa nhiều lớp chất thú vị, trong đó có nhiều hợp chất

có cấu trúc mới, như các tritecpen saponin, benzoquinone, flavonoid, steroid, polyphenollic, các dẫn xuất của bergenin, các dẫn xuất của resorcinol [27]

Ở Việt Nam chưa có nhiều các nghiên cứu về hóa học cũng như hoạt tính sinh học của các thực vật họ Myrsinaceae nói chung và các loài thực vật

trong chi Ardisia nói riêng, chúng chỉ mới được sử dụng trong dân gian làm

thuốc chữa bệnh Năm 1996, tác giả Nguyễn Hoàng Anh và cộng sự nghiên

cứu về thành phần hóa học của hai loài A silvestris và A gigantifolia, trong đó

công bố đã tìm thấy hai dẫn xuất resocinol là 2-methyl-5-(Z-nonadec-14-enyl)

Ngày đăng: 20/07/2020, 14:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w