1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh thừa thiên huế tình hình, nguyên nhân và điều kiện, phòng ngừa

101 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các tội xâm phạm sở hữu đặc biệt là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót: Công tá

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG TẤN CẢM

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ: TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN

VÀ ĐIỀU KIỆN, PHÒNG NGỪA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG TẤN CẢM

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ: TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN

VÀ ĐIỀU KIỆN, PHÒNG NGỪA

Chuyên ngành : Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm

Mã số : 8 38 01 05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN TẤT VIỄN

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2020

Tác giả

Hoàng Tấn Cảm

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN, PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 6

1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam 6 1.2 Khái niệm, đặc điểm của tình hình, nguyên nhân và điều kiện, phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 10

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TRONG GIAI ĐOẠN 2015 - 2019 26

2.1 Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 26 2.2 Nguyên nhân làm phát sinh tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 37

CHƯƠNG 3 DỰ BÁO TÌNH HÌNH VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 51

3.1 Dự báo tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian tới 51 3.2 Giải pháp phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế 55

KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ

1 BLHS Bộ luật hình sự

2 CAND Công an nhân dân

3 LĐCĐTS Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

2.1: Thống kê số vụ, bị cáo phạm tội LĐCĐTS trên địa bàn

tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2015 – 2019 PL

2.2:

Thực trạng của tình hình tội LĐCĐTS trong mối quan hệ

với tổng số vụ XXST trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế từ

năm 2015 – 2019

PL

2.3:

Thực trạng của tình hình tội LĐCĐTS trong quan hệ với

nhóm các tội XPSH trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế từ

năm 2015 – 2019 theo loại tội danh

PL

2.4: Diễn biến của tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên

Huế giai đoạn từ 2015 – 2019

PL

2.5: Diễn biến của tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên

Huế giai đoạn từ năm 2015-2019

PL

2.6:

Cơ cấu xét theo hình phạt ở cấp sơ thẩm áp dụng đối với

tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn

2015-2019

PL

2.7:

Cơ cấu xét theo từng năm về hình phạt ở cấp sơ thẩm áp

dụng đối với tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên

Huế giai đoạn 2015-2019

PL

2.8:

Cơ cấu xét đơn vị hành chính, lãnh thổ số vụ XXST đối

với tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai

đoạn 2015-2019

PL

2.8.1: Cơ cấu xét đơn vị hành chính, lãnh thổ số vụ XXST trên

địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2015-2019

PL

Trang 7

Số hiệu

2.9: Cơ cấu xét theo giới tính của tội LĐCĐTS trên địa bàn

tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn từ năm 2015-2019

PL

2.10: Cơ cấu theo độ tuổi của người phạm tội LĐCĐTS trên địa

bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2015-2019

PL

2.11: Cơ cấu xét theo trình độ học vấn của người phạm tội

LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

PL

2.12: So sánh các chỉ số kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm

2015 đến năm 2019

PL

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 26/3/1975, Thừa Thiên Huế được giải phóng hoàn toàn, góp phần quan trọng vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội Sau khi thống nhất đất nước, Năm 1976 cả nước có 38 đơn vị hành chính trong đó có tỉnh Bình Trị Thiên Sau này vào năm

1989 thì chia làm 3 tỉnh Thừa Thiên Huế ,Quảng Bình, Quảng Trị Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển Bắc Trung bộ thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền trung, có một số lợi thế về vị trí địa lý, về tài nguyên thiên nhiên, về nguồn lực khoa học và công nghệ, về văn hóa trong phát triển kinh tế xã hội, thu hút đầu tư Hiện tỉnh có 9 đơn vị hành chính, gồm thành phố Huế, 6 huyện đồng bằng là Hương Thuỷ, Hương Trà, Quảng Điền, Phong Điền, Phú Vang, Phú Lộc và 2 huyện miền núi là Nam Đông, A Lưới với 98 xã và 47 phường, thị trấn

Vượt qua những khó khăn sau chiến tranh, Thừa Thiên Huế đã không ngừng nổ lực để bắt kịp nhịp độ phát triển của cả nước, nổ lực vượt qua khó khăn, thử thách, đạt được những thành tự to lớn và có ý nghĩa rất quan trọng, đưa Thừa Thiên Huế ra khỏi tỉnh nghèo, kém phát triển; Bên cạnh đó, dưới tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, sự du nhập của những yếu tố văn hóa, tinh thần không phù hợp trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội khiến cho tình hình

an ninh trật tự trên địa bàn diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng đến sự ổn định về an ninh, kinh tế - xã hội của tỉnh Đặc biệt là tội phạm xâm phạm sở hữu nhất là tội LĐCĐTS Theo số liệu thống kê xét xử từ năm 2015 đến năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy trung bình mỗi năm ngành Tòa án thụ lý bình quân 39,8 vụ án với 48,6 bị cáo bị xét xử về tội LĐCĐTS Mặc dù số vụ án, số bị can chiếm tỷ lệ không cao so với các địa bàn khác trong

cả nước nhưng gây hậu quả nghiêm trọng đến tình hình an ninh, kinh tế và trật tự

an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân

Nhận thầy tầm quan trọng về vị trí, vai trò của công tác phòng ngừa tội

Trang 9

phạm Hội đồng nhân dân, Ủy Ban nhân dân, các ban ngành, đoàn thể trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp phòng ngừa THTP nói chung và tình hình các tội xâm phạm sở hữu cũng như tội LĐCĐTS tài sản nói riêng Từ đó đã góp phần ổn định tình hình, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, phục vụ quá trình phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các tội xâm phạm sở hữu đặc biệt là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót: Công tác tuyên truyền, công tác phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ của các cơ quan chức năng; công tác thông tin, trao đổi tình hình, nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm vẩn còn

bị động, chưa có chiều sâu … Từ thực tế trên cho thấy, việc nghiên cứu làm sáng

tỏ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm LĐCĐTS để rút ra những tồn tại hạn chế và từ đó đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa đối với tội

LĐCĐTS là vô cùng quan trọng Chình vì vậy, đề tài “Tội lừa đảo chiếm đoạt

tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế: Tình hình, nguyên nhân và điều kiện, phòng ngừa” đã được lựa chọn nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

* Các công trình về tội phạm học

Để làm cơ sở lý luận cho việc xây dựng nội dung luận văn, một số giáo trình, tài liệu sau đây đã được tham khảo, nghiên cứu:

- Học viện Cảnh sát nhân dân (2013), Một số vấn đề về tội phạm học Việt

Nam, (tài liệu tham khảo dùng cho hệ đào tạo sau đại học);

- Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Yêm (2013), Tội phạm học Việt Nam,

Nxb CAND, Hà Nội;

- Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (2000), Tội phạm học Việt Nam,

một số vần đề lý luận và thực tiễn, Nxb CAND, Hà Nội;

- GS TS Võ Khánh Vinh (2012), Xã hội học pháp luật, những vấn đề cơ

bản, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

Các công trình đã nêu không thể thiếu trong việc thực hiện đề tài luận văn

Trang 10

Bởi vì trong đó không chỉ chứa đựng lý luận tội phạm học về các vấn đề cơ bản phải giải quyết của đề tài luận văn mà còn có những chỉ dẫn cho việc xác định phương pháp nghiên cứu đề tài, từ tổng quan cho đến chi tiết

* Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến Tội lừa đảo chiếm đoạt

tài sản, tình hình, nguyên nhân và điều kiện phòng ngừa

- Về luận án tiến sĩ luật học có các công trình nghiên cứu sau:

+ Bùi Thị Lan Hương (2018), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn

miền đông nam bộ: tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa, Luận án

tiến sỹ Luật học, Học viện khoa học xã hội;

- Về luận văn thạc sĩ, có các công trình nghiên cứu sau:

+ Nguyễn Tiến Dũng (2014), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật

hình sự Việt Nam – Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định,

Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội

+ Nguyễn Thị Hồng Phượng (2014), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên

địa bàn tỉnh Quảng Nam: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa,

Luận văn thạc sỹ luật học, Học viện khoa học xã hội;

Các luận văn, luận án, công trình khoa học trên đều có giá trị kế thừa và liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đối với việc triển khai nghiên cứu luận văn:

“Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế: Tình hình, nguyên nhân và điều kiện, phòng ngừa”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát, đánh giá những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở tỉnh Thừa Thiên Huế, luận văn đưa ra dự bào và đóng góp một số giải pháp phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, phân tích những vấn đề lý luận về tình hình, nguyên nhân và điều kiện, phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;

Trang 11

Thứ hai, căn cứ các số liệu thống kê hình sự, đánh giá tình hình, nguyên nhân và điều kiện phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2015 – 2019;

Thứ ba, dự báo tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất các giải pháp phòng ngừa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tình hình, nguyên nhân, điều kiện và phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận tội phạm học và phòng ngừa tội phạm

- Không gian nghiên cứu là địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

- Thời gian nghiên cứu: Luận văn sử dụng số liệu thống kê xét xử sơ thẩm hình sự của TAND cấp huyện và TAND tỉnh Thừa Thiên Huế đối với các tội xâm phạm sở hữu từ năm 2015 đến 2019

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Sử dụng các vấn đề của tội phạm học, vận dụng cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để giải quyết về tình hình, nguyên nhân và điều kiện, đưa ra giải pháp phòng ngừa phù hợp với đặc thù của tỉnh Thừa Thiên Huế

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp nghiên cứu chọn lọc một số vụ

án điển hình, phương pháp dự báo, hệ thống hóa, so sánh tổng kết thực tiễn dựa trên chuyên ngành tội phạm học và phòng ngừa tội phạm

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn là công trình nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh thừa Thiên Huế dưới góc độ tội phạm học góp phần làm rõ hơn các đặc điểm tội phạm học của loại tội này trong thực tiễn, từ đó tìm ra các giải pháp phòng ngừa nguyên nhân và điều kiện phạm tội

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Đồng thời có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo liên quan đến chuyên ngành tội phạm học và phòng ngừa tội phạm

7 Cơ cấu của luận văn

Bố cục luận văn được chia thành 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tình hình, nguyên nhân, điều kiện và phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Chương 2: Tình hình, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Chương 3: Dự báo tình hình và các giải pháp phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN

VÀ ĐIỀU KIỆN, PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT

TÀI SẢN 1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội phạm là hành vi gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nhất định cho một hoặc một số quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ Những quan hệ xã hội được luật hình sự Việt Nam bảo vệ là những quan hệ xã hội được xác định trong BLHS như quyền nhân thân, quyền sở hữu

Về nhóm các tội phạm xâm phạm đến quan hệ sở hữu BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không đưa ra khái niệm hay điều luật cụ thể thế nào

là các tội xâm phạm sở hữu Khái niệm này chỉ có thể hiện trong một số tài liệu, giáo trình của một số trường luật và của các tài liệu khoa học Theo một số nhà nghiên cứu có thể hiểu “các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi do người có

đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và công dân”

Thông qua quan hệ sở hữu xác lập ba quyền năng: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản Hành vi gây thiệt hại, đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ sở hữu đó là những hành vi xâm phạm đến các quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội thuộc nhóm tội xâm

phạm sở hữu do vậy khái niệm của nó phải thỏa mãn các đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu đồng thời phải mang trong mình những đặc điểm riêng có, khác biệt để phân biệt với các tội phạm khác thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu

Tại Điều 174 BLHS năm 2015 quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trang 14

như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác

trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”

Trên cơ sở các nội dung, khái niệm, cách hiều thì có thể tổng hợp khái

niệm tội LĐCĐTS như sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy

hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện bằng thủ đoạn gian dối xâm phạm vào quan hệ sở hữu tài sản của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản”

1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.1.2.1 Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo

vệ và bị hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại tới, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại trong chừng mực nhất định

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì tài sản có thể được hiểu dưới các dạng cụ thể sau: vật (vàng, trang sức, xe ôtô…), tiền, giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu…) và quyền tài sản (bất động sản, …)

Tội LĐCĐTS trực tiếp xâm hại đến quan hệ sở hữu đối với tài sản Đối tượng tác động của nó là tài sản của người khác có thể là cá nhân, của tổ chức cũng như của nhà nước Những quan hệ sở hữu đối với tài sản này đều được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ Tuy nhiên, quan hệ sở hữu tài sản này phải

là quan hệ hợp pháp Một số có quan hệ sở hữu không hợp pháp thì không được nhà nước bảo vệ nên nó không là khách thể trong tội phạm này

1.1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm

mà con người có thể nhận thấy được

Mặt khách quan của tội phạm gồm hành vi khách quan của tội phạm; hậu quả; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện, hoàn cảnh… thực hiện tội phạm

Trang 15

- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hai hành vi khác nhau Đó

là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt Hai hành vi này có mối quan hệ mật thiết với nhau Lừa dối là hành vi có ý nghĩa là để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

+ Hành vi gian dối là việc đưa ra những thông tin không đúng với sự thật bằng các hình thức thủ đoạn khác nhau (đưa ra các thông tin giả như bằng lời nói, các giấy tờ giả mạo, giả danh ) làm cho người chủ tài sản tin đó là sự thật, sau đó người chủ tài sản tự nguyện giao tài sản của mình cho người có hành vi gian dối Như vậy hành vi gian dối có trước, sau đó mới nhận và chiếm đoạt được tài sản của nạn nhân giao cho

+ Thông thường tội LĐCĐTS thực hiện hai hành vi gian dối và chiếm đoạt tài sản kế tiếp nhau, nhưng cũng có trường hợp hai hành vi được thực hiện đan xen hoặc lại có khoảng cách về mặt thời gian Tuy nhiên, trong trường hợp này tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành từ lúc chiếm đoạt được tài sản Chiếm đoạt được tài sản được xem là chuyển dịch tài sản của người khác một cách bất hợp pháp thành tài sản của mình Hoăc có thể xem là hành vi tước đoạt quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) của người khác thành của mình

- Về hậu quả BLHS quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ 2 triệu đồng trở lên Nếu giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng phải thuộc một trong các trường hợp sau đây thì mới bị coi là tội phạm

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn

vi phạm

+ Đã bị kết án về các tội xâm phạm sở hữu hoặc tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội

+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ Việc định tội LĐCĐTS ngoài việc xác định hậu quả còn đòi hỏi phải làm

Trang 16

rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, hành vi gian dối là nguyên nhân chủ yếu để quyết định việc chiếm đoạt của người phạm tội

- Thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện, điều kiện, hoàn cảnh…

thực hiện tội phạm Các dấu hiệu này nói chung không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội LĐCĐTS nhưng chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm

1.1.2.3 Mặt chủ quan của tội phạm

Tội LĐCĐTS được thực hiện dưới lỗi cố ý trực tiếp Đối với tội phạm này người phạm tội luôn luôn nảy sinh ý định từ trước (ý định chiếm đoạt tài sản) khi thực hiện hành vi gian dối và mong muốn chiếm đoạt được tài sản

Xem xét yếu tố lỗi cố ý trực tiếp và ý định chiếm đoạt trước hay sau khi thực hiện hành vi có ý nghĩa trong việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội phạm xâm phạm sở hữu khác Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định đúng loại tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội từ đó xác định đúng nguyên nhân, điều kiện phòng ngừa có hiệu quả

1.1.2.4 Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà theo quy định của luật hình sự thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi

đó

Chủ thể của tội LĐCĐTS theo quy định tại các Điều 174, BLHS năm

2015 được xác định như sau:

Người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc người

từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi nếu thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 174 BLHS

Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội họ có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình một cách đúng đắn theo những yêu cầu, chuẩn mực của xã hội, của pháp luật

Trang 17

1.2 Khái niệm, đặc điểm của tình hình, nguyên nhân và điều kiện, phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và các yếu tố của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.2.1.1 Khái niệm

Tội phạm học là một ngành khoa học pháp lý – xã hội nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, các hình thức biểu hiện và các loại tình hình tội phạm, các quy luật xuất hiện, tồn tại và thay đổi của tình hình tội phạm; các nguyên nhân, điều kiện và cơ chế tác động của các nguyên nhân và điều kiện đó đến tình hình tội phạm; nhân thân người phạm tội; các biện pháp phòng ngừa và khắc phục tình hình tội phạm xảy ra trong xã hội và những vấn đề khác có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm [49,tr 5] Như vậy để làm rõ nội dung của luận văn thì ngoài yêu cầu nhận diện được tội LĐCĐTS thì ta cần phải nhận thức được, giải thích thế nào về tình hình tội LĐCĐTS; nguyên nhân và điều kiện của tội LĐCĐTS; phòng ngừa tội LĐCĐTS?

Tình hình tội phạm là một khái niệm cơ bản của tội phạm học, có ý nghĩa nhận thức phương pháp luận, lý luận và thực tiễn quan trọng Hiện nay các nhà

lý luận còn có những quan điểm khác nhau về THTP

Có quan điểm cho rằng THTP là hiện tượng xã hội, pháp lý – hình sự có sự thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp, gồm tổng thể thống nhất hữu cơ các tội phạm đã xảy ra và những người đã thực hiện chúng trên phạm vi địa bàn (lãnh thổ) nhất định trong khoảng thời gia nhất định [30, tr 01]

Trong cuốn “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm” GS.TS Nguyễn Xuân Yêm lại đưa ra định nghĩa như sau: “THTP là toàn bộ tình hình,

cơ cấu, động thái, diễn biến của các loại tội phạm hay từng loại tội phạm trong một giai đoạn nhất định xảy ra trong một lĩnh vực, một địa phương, trong phạm

vi quốc gia, khu vực hoặc toàn thế giới trong một khoảng thời gian nhất định” [53]

Trang 18

Theo quan điểm của PGS.TS Phạm Văn Tỉnh thì “THTP là một khách thể nghiên cứu cơ bản của tội phạm học và là khái niệm dùng để chỉ hiện tượng tâm – sinh lý – xã hội tiêu cực, có tính lịch sử và lịch sử cụ thể, pháp lý hình sự và giai cấp, được biểu hiện bằng tổng thể các hành vi phạm tội đã xảy ra và các chủ thể thực hiện các hành vi đó trong một đơn vị hành chính – lãnh thổ nhất định và trong một thời gian nhất định.[34, tr 80]

Các quan điểm, định nghĩa trên dù còn khác nhau tuy nhiên đều thừa nhận tình hình tội phạm với tư cách là một hiện tượng xã hội được biểu hiện thông qua các đặc điểm và thông số về lượng và chất của nó Trên cơ sở kế thừa các quan điểm về THTP, có thể đưa ra khái niệm về tình hình tội phạm LĐCĐTS

như sau: “Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một hiện tượng pháp luật –

xã hội, có thể thay đổi về mặt lịch sử, tiêu cực phổ biến bao gồm tổng thể các tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trên một địa phương nhất định trong một giai đoạn nhất định”

1.2.1.2 Đặc điểm của tình hình các tội LĐCĐTS

- Tình hình tội phạm LĐCĐTS là một hiện tượng xã hội Trước hết đó là

một hiện tượng xã hội, chứ không phải là một hiện tượng sinh vật học, vật lý, hóa học, vũ trụ học v.v[49, tr 55] Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội bởi vì

nó tồn tại, có nguyên nhân xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện xã hội và phản ảnh thực trạng xã hội: Tình hình tội phạm sẽ thay đổi và mất đi cùng với sự thay

đổi hiện tượng xã hội (kinh tế, chính trị, tâm lý, tư tưởng…) Nó được hình thành

từ các hành vi phạm tội của những con người cụ thể chống lại nhà nước và xã hội, tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, xâm hại đến các quan hệ xã hội, phá

vỡ những giá trị xã hội Đó là hệ quả tất yếu của các tác động tiêu cực, biểu hiện

ở việc gây ra thiệt hại vật chất và tinh thần cho xã hội

- Tình hình tội LĐCĐTS là một hiện tượng pháp lý hình sự: BLHS năm

2015 quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự Tình hình tội LĐCĐTS là các hành vi tiêu cực, gây nguy hiểm cho

xã hội, gây thiệt hại cho các quan hệ tồn tại trong xã hội, xâm phạm đến các giá

Trang 19

trị vật chất và tinh thần mà xã hội đã có được Hậu quả ở đây là những tác hại về mọi mặt do chúng gây ra Tình hình tội LĐCĐTS là một mặt tất yếu của hiện tượng, chứ không phải là một sự kiện riêng biệt và cũng không chỉ đơn thuần là

tổng cộng các thiệt hại do từng tội phạm cụ thể gây ra [48, tr57]

- Tình hình tội LĐCĐTS là hiện tượng pháp lý hình sự mang tính lịch sử

Theo quan điểm Mác – Lênin thì mọi hiện tượng trong xã hội và tự nhiên không phải ở trạng thái tĩnh tại, bất biến, mà thường xuyên biến đổi và thay đổi [49, tr55] Do vậy, tình hình các tội XPSH như là một hiện tượng xã hội có sự thay đổi về mặt lịch sử Kéo theo đó nên dấu hiệu, đặc điểm của tình hình các tội XPSH cũng thay đổi tùy thuộc vào sự thay đổi của hình thái kinh tế - xã hội Tình hình phạm tội LĐCĐTS cũng không phải là trường hợp ngẫu nhiên, không phải là một tổn số cơ học các tội phạm đã thực hiện mà là một tổng thể thống nhất Do đó, nếu có sự thay đổi của dấu hiệu, đặc điểm nào đó thì tất yếu sẽ kéo

theo sự thay đổi của các dấu hiệu, đặc điểm khác của hiện tượng nói chung

1.2.1.3 Các yếu tố của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Các yếu tố của THTP đó chính là các thông số (chỉ số) về chất và lượng của THTP Chỉ số về chất của THTP là làm sáng tỏ cơ cấu và tính chất của các tội phạm đã thực hiện Chỉ số về lượng của THTP là thực trạng và diễn biến của THTP Các thông số này có mối quan hệ, tác động lẫn nhau thành một thể thống nhất biện chứng Đó là các yếu tố chung của tình hình tội phạm và để hiểu được THTP lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế thì ta cũng phải xuất phát, tìm hiểu, đánh giá dựa trên sự phân tích các chỉ số về lượng (thực trạng, diễn biến), về chất (cơ cấu, tính chất) của THTP lừa đảo chiếm đoạt tài sản Nội dung của các yếu tố này bao gồm:

- Thực trạng (mức độ):

Thực trạng của THTP là chỉ số về lượng đầu tiên và tổng hợp của THTP Thực trạng của THTP là khái niệm tổng hợp Tính tổng hợp của các chỉ số này dựa trên nhiều tiểu chỉ số (các chỉ số cấu thành) Dựa trên cách tiếp cận tổng thể mới có thể đánh giá một cách khách quan thực trạng hiện thực của THTP trong

Trang 20

đất nước, trong vùng, trong đơn vị lãnh thổ hành chính nhất định hoặc một điểm dân cư cụ thể và trong một thời gian nhất định THTP có THTP rõ và THTP ẩn Thực tế rất khó để xem xét các chỉ số ẩn của THTP, thường chúng ta căn cứ vào

số liệu tội phạm rõ, đó là số liệu thống kê được

Do đó để đánh giá mức độ THTP LLĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế ta cần đánh giá định lượng dựa vào các con số thống kê đã được đăng ký và xác định chính xác những người thực hiện tội phạm trong một số nội dung cần so sánh sau:

+ Tỷ trọng các loại tội phạm: Cần quan tâm đến các tiểu chỉ số cụ thể như theo mức độ nghiêm trọng (các tội ít nghiêm trọng, các tội nghiêm trọng, các tội rất nghiêm trọng…); theo chủ thể của tội phạm (nam giới, nữ giới, người dưới 18 tuổi, người không có việc làm, người nước ngoài, …); theo nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu (lừa đảo, trộm cắp, cướp, …); theo hình phạt đã tuyên (tù chung thân, tử hình, dưới 15 năm…); theo thời gian; theo đồng phạm hay riêng lẻ + Sự phân bố của tình hình tội phạm: Xác định các số liệu thống kê theo lãnh thổ hành chính, thành phố, huyện, thị

- Diễn biến:

Diễn biến của tình hình tội phạm là chỉ số về lượng – chất của tình hình tội phạm Theo thời gian cả thực trạng của THTP (chỉ số về lượng) lẫn cơ cấu của THTP (chỉ số về chất) đều được thay đổi Khoảng thời gian tiếp nhận thường là một năm Để đánh giá những thay đổi của THTP lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế thì có thể được tính trong vòng 05 năm để thấy được diễn biến của THTP Số lượng số vụ án, số bị cáo thực hiện tội LĐCĐTS trong các năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019 trên địa bàn toàn tỉnh cũng như từng ranh giới hành chính địa phương cụ thể Việc so sánh số vụ/số bị can đã được thống kê chỉ ra rằng diễn biến của THTP lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế tăng hay giảm; thấy được diễn biến của THTP lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên từng huyện, thị xã với cường độ khác nhau như thế nào, nhịp độ tăng hay giảm của từng huyện, thị xã

Trang 21

Ngoài ra cũng cần xem xét diễn biến của THTP thuộc nhóm tội xâm phạm

sở hữu để có cái nhìn tổng quát rõ hơn về sự thay đổi cơ cấu của từng loại tội phạm khác nhau

Để tránh sự cồng kềnh, sự so sánh các chỉ số theo các năm đòi hỏi phải có

sự tính toán tương ứng Do đó, để đơn giản, dễ thấy, dễ hiểu diễn biến của tình hình tội phạm thông thường được thể hiện bằng các chỉ số tương đối, trong các phần trăm được tính toán theo năm đầu tiên, thường được gọi là năm định gốc (cơ sở không thay đổi) hoặc theo năm trước đó (phương thức dây xích, cơ sở thay đổi)

Qua xem xét thực trạng và diễn biến của THTP lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giúp ta chứng minh không chỉ những thay đổi tính tích cực hoặc tiêu cực, mà còn về những xu hướng phát triển của THTP và ngay cả những quy luật thay đổi của THTP, mà dựa vào các xu hướng và các quy luật có thể dự báo về sự phát triển của nó trong tương lai gần

- Cơ cấu:

Cơ cấu của THTP được đo lường trong/bằng tỷ trọng hoặc các phần của các nhóm và các loại tội phạm khác nhau trong số lượng chung của chúng trong một khoảng thời gian nhất định và ở một lãnh thổ nhất định

Theo đó để xác định cơ cấu của THTP lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần nghiên cứu làm rõ các thông số sau: Thông số phản ánh tỷ trọng giữa số vụ và số người phạm tội LĐCĐTS với tổng số vụ và số người phạm tội nói chung; Tỷ trọng giữa số vụ LĐCĐTS với các tội khác trong nhóm tội xâm phạm sở hữu; tỷ trọng về mức độ xử lý (hình phạt) đối với tội LĐCĐTS trong năm năm qua; Cơ cấu theo độ tuổi người phạm tội; Cơ cấu theo giới tính, học vấn, tái phạm hay không tái phạm…

Việc nghiên cứu, phân tích các chỉ số về cơ cấu của tình hình tội LĐCĐTS chỉ rõ đặc điểm lượng – chất, tính nguy hiểm cho xã hội của tình hình các tội xâm phạm sở hữu Điều này có ý nghĩa lớn đối với việc xây dựng biện pháp

Trang 22

phòng ngừa và tổ chức phòng ngừa tình hình các tội xâm phạm sở hữu, đồng thời định hướng cho công tác đấu tranh với các tội phạm này

- Tính chất:

Tính chất của tình hình tội LĐCĐTS được làm sáng tỏ thông qua mức độ, diễn biến và cơ cấu của tình hình các tội xâm phạm sở hữu Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ mức độ, diễn biến, cơ cấu cho thấy số lượng của các tội phạm nguy hiểm nhất cho xã hội, đặc điểm nhân thân của những người thực hiện và tỷ trọng của chúng trong tổng số các tội xâm phạm sở hữu

Tính chất của THTP được thể hiện trong các đánh giá về chất như: Tính nguy hiểm cho xã hội; phương thức, thủ đoạn phạm tội; tính nghiêm trọng/ mức

độ nghiêm trọng của tội phạm; tính tái phạm; hậu quả của hành vi mức độ thiệt hại)…

1.2.2 Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.2.2.1 Khái niệm

THTP nói chung và tình hình tội LĐCĐTS nói riêng là một hiện tượng xã hội, nó nảy sinh và tồn tại trong xã hội, do đó nó không thể không chịu sự tác động, chi phối của môi trường xã hội Đó là môi trường sống, môi trường hình thành nhân cách cá nhân, môi trường làm nảy sinh, tồn tại các loại hành vi của con người trong đó có hành vi phạm tội

Vì vậy nguyên nhân và điều kiện và điều kiện THTP có những đặc điểm chung sau: Thứ nhất, nguyên nhân và điều kiện THTP là những hiện tượng và quá trình xã hội Thứ hai, đây là những hiện tượng mang tính tiêu cực luôn thể hiện ở xu thế chống đối, đi ngược lại quá trình vận động phát triển của xã hội Thứ ba, đây là những hiện tượng phổ biến và tồn tại tương đối ổn định

Ngoài các đặc điểm chung thì nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm tội LĐCĐTS có những đặc điểm khác biệt sau: Đặc điểm cá nhân của người phạm tội và những tình huống, hoàn cảnh khách quan bên ngoài, trong sự tác động lẫn nhau dẫn đến việc thực hiện hành vi

Trang 23

Đặc điểm cá nhân người phạm tội đến từ những nguyên nhân và điều kiện

từ phía người phạm tội: Đặc điểm sinh học, giới tính; đặc điểm xã hội, học vấn, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình; đặc điểm tâm lý như nhu cầu bản thân, hệ thống các giá trị, quan điểm sống, lối sống, sở thích v.v Ngoài ra còn nhiều yếu

tố như tình huống, hoàn cảnh cụ thể cũng làm phát sinh nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm

Hiện nay các nhà nghiên cứu có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện của THTP như là Một số xuất phát từ cách tiếp cận xã hội học lý giải nguyên nhân và điều kiện của THTP như là sản phẩm của

sự tác động qua lại của các hiện tượng xã hội tiêu cực, như là mặt trái của quá trình phát triển xã hội và qua đó lý giải nguyên nhân và điều kiện của tội phạm Cách lý giải nguyên nhân và điều kiện của tội phạm dựa vào quan điểm thần học thì cho rằng tội phạm là hành vi của những cá nhân con người làm sai, làm không đúng xâm hại đến các chuẩn mực giáo lý thần quyền và nguyên nhân của việc đó là do quỹ dữ ám nhập họ, cho nên họ phạm tội và để đấu tranh xử lý nó thì phải trừng trị quỷ dữ để làm cho con người trở về với con người (cái thiện)… Trong các cách nhận thức về nguyên nhân và điều kiện của THTP thì hiện nay cách nhận thức trên quan điểm triết học Mác – Lênin, dựa vào việc sử dụng các cặp phạm trù triết học, đặc biệt cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả là cách nhận thức khoa học nhất Việc sử dụng cách tiếp cận triết học cho phép nhà nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất của nguyên nhân và điều kiện, không sử dụng cách tiếp cận triết học thì người nghiên cứu không thể lý giải, giải phẩu nguyên nhân và điều kiện với tư cách là một hiện tượng xã hội (đây là yếu tố động), kết quả (hệ quả) của mâu thuẩn xã hội, xung đột xã hội Đây chính là lý luận triết học nhưng cũng chính là phương pháp luận nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tội phạm

- Khi đề cập đến nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung, GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: “Nguyên nhân của tình hình tội phạm

là những hiện tượng xã hội tiêu cực ở trong mối liên hệ tương tác hai mức độ

Trang 24

sinh ra và tái sản xuất ra tình hình tội phạm như là hậu quả tất yếu của mình Điều kiện của tình hình tội phạm là những hiện tượng xã hội tiêu cực, tự mình không sinh ra tình hình tội phạm, mà là hỗ trợ, làm dễ dàng và tăng cường cho

sự hình thành và hoạt động của các nguyên nhân” [49, tr 75]

Đây là những khái niệm về nguyên nhân và điều kiện của THTP nói chung

từ đó có thể vận dụng để mà nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của từng nhóm tội phạm cũng như nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể

Tội phạm học thường phân chi nguyên nhân và điều kiện tội phạm làm ba loại: Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nói chung, nguyên nhân và điều kiện của một nhóm tội phạm; nguyên nhân và điều kiện của một tội phạm cụ thể Là môt hiện tượng xã hội, tình hình tội phạm bao giờ cũng có có nguyên nhân và điều kiện xã hội riêng của mình Điều kiện phạm tội là những hiện tượng xã hội tiêu cực nhưng không sinh ra tội phạm mà chỉ là yếu tố xúc tác hỗ trợ, thúc đẩy tình hình tội phạm Tuy nhiên trên thực tế, phân định rõ đâu là nguyên nhân, đâu là điều kiện của tình hình tội LĐCĐTS là việc rất khó Trong một số trường hợp phạm tội, một yếu tố nào đó có thể là nguyên nhân, nhưng trong các trường hợp khác, yếu tố đó chỉ là điều kiện phạm tội phạm này là nguyên nhân Vì vậy sự phân biệt trên lý thuyết giữa nguyên nhân và điều kiện của tội phạm chỉ là tương đối Yêu cầu đấu tranh chống tội phạm đòi hỏi phải loại trừ cả cả nguyên nhân và điều kiện tội phạm Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tội LĐCĐTS như sau:

“Nguyên nhân và điều kiện của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tổng hợp những hiện tượng xã hội tiêu cực mà từ đó trực tiếp hoặc góp phần làm phát sinh tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

1.2.2.2 Phân loại nguyên nhân và điều kiện phạm tội

- Căn cứ vào mức độ tác động: Có thể phân chia thành nguyên nhân, điều kiện chủ yếu và nguyên nhân, điều kiện thứ yếu Nguyên nhân, điều kiện chủ yếu làm phát sinh tình hình tội LĐCĐTS là những yếu tố có vai trò chủ đạo, chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số các yếu tố phát sinh tình hình tội phạm này

Trang 25

Còn nguyên nhân và điều kiện thứ yếu là những yếu tố có vai trò hạn chế, chiếm

tỷ lệ không đáng kể trong tổng số các yếu tố phát sinh tình hình tội LĐCĐTS

- Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh tội phạm: Có thể phân chia thành nguyên nhân và điều kiện bắt nguồn từ môi trường sống; nguyên nhân và điều kiện xuất phát từ phía người phạm tội

Nguyên nhân và điều kiện bắt nguồn từ môi trường sống là tổng hợp các hiện tượng xã hội tiêu cực hình thành, tồn tại trong môi trường sống của cá nhân

có thể tác động, ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ nhất định từ đó làm phát sinh tội LĐCĐTS Ví dụ như các hành vi lệch chuẩn trong gia đình, ngoài xã hội, nhà trường…Nguyên nhân và điều kiện từ phía người phạm tội là tổng hợp những nhân tố tiêu cực thuộc về nhân thân của họ tác động đến việc phát sinh tội LĐCĐTS

- Căn cứ lĩnh vực hình thành nguyên nhân, điều kiện phạm tội:

+ Nguyên nhân, điều kiện về kinh tế - xã hội như nạn thất nghiệp, tốc độ

đô thị hóa nhanh chóng, phân tầng xã hội

+ Nguyên nhân về văn hóa giáo dục như: Trình độ quản lý nhà nước về văn hóa, giáo dục, triển khai thực hiện các chính sách, chương trình về văn hóa, giáo dục, chính sách hỗ trợ giáo dục, hiện tượng tái mù chữ

+ Nguyên nhân về chính sách pháp luật như chậm giải quyết những bức xúc xã hội hoặc xử lý chưa nghiêm, chưa kiên quyết triệt để trong đấu tranh với tội phạm có thể tác động, ảnh hưởng làm phát sinh tình hình tội LĐCĐTS nói riêng, các tội xâm phạm sở hữu nói chung

1.2.3 Khái niệm, một số nội dung liên quan đến phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.2.3.1 Khái niệm phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

THTP là một hiện tượng tiêu cực nguy hiểm lớn nhất cho xã hội; gây ra cho

xã hội thiệt hại lớn trên nhiều mặt kể cả về giá trị vật chất và tinh thần Chính vì vậy, một trong những yêu cầu cấp bách là phải kịp thời phát hiện, ngăn chặn hay nói cách khác phải làm tốt công tác phòng ngừa THTP Phòng ngừa THTP là hệ

Trang 26

thống nhiều mức độ các biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và Nhà nước – xã hội nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu; hạn chế) chúng bằng cách đó là làm giảm và dần dần loại bỏ THTP [49, tr155]

Liên quan đến khái niệm PNTP, các nhà nghiên cứu nhìn chung đều thống nhất, không có sự khác biệt đáng kể về khái niệm phòng ngừa THTP đó là việc

sử dụng những biện pháp nhà nước và xã hội tác động vào nguyên nhân và điều kiện của THTP nhằm hạn chế, tiến tới loại trừ THTP ra khỏi đời sống xã hội Qua tham khảo các khái niệm trên kết hợp với khái niệm về LĐCĐTS được

trình bày ở phần 1.1.1, tác giả đưa ra khái niệm như sau: “Phòng ngừa tình hình

tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hoạt động sử dụng các biện pháp mang tính chất nhà nước và xã hội nhằm tác động vào nguyên nhân và điều kiện của THTP lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm hạn chế, giảm dần và từng bước tiến tới loại trừ THTP lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

1.2.3.2 Phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm

- Căn cứ vào phạm vi và mức độ tác động: Các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm chung (ví dụ: Phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế); Các biện pháp phòng ngừa các nhóm tội phạm (ví dụ: Phòng ngừa tình hình tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế); Các biện pháp phòng ngừa các tội phạm cụ thể (ví dụ: Phòng ngừa tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế)

- Căn cứ vào nội dung và tính chất của các biện pháp phòng ngừa tội phạm: Các biện pháp về kinh tế xã hội; Các biện pháp về chính trị tư tưởng (Ví dụ : bình đẳng giới tính, tôn giáo ); Các biện pháp về văn hóa tâm lý; Các biện pháp

về tổ chức, quản lý xã hội; Các biện pháp về pháp luật và phát hiện xử lý tội phạm

- Căn cứ vào đối tượng tác động của các biện pháp phòng ngừa: Các biện pháp phòng ngừa áp dụng chung cho mọi đối tượng trong xã hội: Tuyên truyền giúp đỡ (nâng cao dân trí, dạy nghề …); Các biện pháp phòng ngừa áp dụng cho

Trang 27

đối tượng có nhân thân xấu dễ phạm tội (biện pháp trách nhiệm hình sự); Các biện pháp phòng ngừa áp dụng cho người đã phạm tội; Các biện pháp phòng ngừa áp dụng cho cán bộ công nhân viên chức nhà nước Các biện pháp phòng ngừa áp dụng cho người chưa thành niên phạm tội

- Căn cứ vào địa bàn và lĩnh vực cần phòng ngừa tội phạm: Các biện pháp phòng ngừa áp dụng chung trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ quốc gia; Các biện pháp phòng ngừa áp dụng riêng cho từng địa phương và vùng miền; Các biện pháp phòng ngừa áp dụng riêng cho từng ngành và từng lĩnh vực họat động

1.2.3.3 Các nguyên tắc phòng ngừa tội phạm

- Nguyên tắc pháp chế: Mọi hoạt động PNTP của các cơ quan nhà nước, tổ chức và của công dân phải dựa trên cơ sở pháp luật Phải tôn trọng hiến pháp và pháp luật

- Nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa: Nhà nước phải tạo mọi điều kiện để tất cả các chủ thể có điều kiện tham gia hoạt động phòng ngừa tội phạm Từ đó mới huy động tổng hợp mọi nguồn lực xã hội, tạo ra sức mạnh nhằm đẩy lùi tội phạm và từng bước loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội

- Nguyên tắc nhân đạo: Đảm bảo quyền con người, coi trọng cả mục đích trừng trị và giáo dục, đề cao tính hướng thiện, tạo điều kiện để con người phát triển

- Nguyên tắc khoa học và tiến bộ: Khi xây dựng các biện pháp phòng ngừa thì phải được nghiên cứu, đánh giá trên cơ sở cơ sở khoa học Vận dụng, ứng dụng các thành tựu khoa học trong đời sống vào phòng ngừa tội phạm

- Nguyên tắc phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể trong công tác PNTP: Mỗi chủ thể khi tham gia PNTP phải làm tốt công tác phòng ngừa trong phạm vi từng địa phương, từng ngành, từng lĩnh vực mà mình quản lý Cần tăng cường mối quan hệ phối kết hợp để thực hiện hoạt động PNTP một cách đồng bộ, mang lại hiệu quả cao nhất

- Nguyên tắc cụ thể hóa trong PNTP: Mỗi địa phương, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trong PNTP phải đưa ra giải pháp phòng ngừa phù hợp, rõ ràng, chứa đựng

Trang 28

tính khả thi trên cơ sở xem xét mối liên hệ với điều kiện đặc thù về PNTP ở từng địa phương, từng ngành, từng lĩnh vực

- Nguyên tắc quốc tế: Trong PNTP thì các nguyên tắc, định hướng, chính sách hình sự, chính sách về PNTP phải phù hợp với xu hướng và điều ước khu vực và thế giới Không ngừng hợp tác để trao đổi thông tin, kinh nghiệm, khoa học kỹ thuật trên thế giới và khu vực để PNTP

1.2.3.4 Các chủ thể phòng ngừa tội phạm

- Đảng Cộng sản Việt Nam: Cần thực hiện một cách nghiêm túc các hoạt động phổ biến, quán triệt các chủ trường, đường lối, chính sách của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm đặc biệt chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến năm 2030 (ban hành theo quyết định số 623/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 14/4/2016)

- Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp: Với tư cách là cơ quan đại biểu của nhân dân, do nhân dân bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân cả nước cũng như từng địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân

về việc thực hiện quyền lực do nhân dân ủy quyền Do đó vai trò của Quốc hội

và Hội đồng nhân dân cực kỳ quan trọng trong PNTP Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp tiến hành phòng ngừa tội phạm trên các phương diện sau: Chủ động, kịp thời ban hành các đạo luật, nghị quyết, các văn bản pháp lý về phòng chống tội phạm, từng bước hoàn thiện pháp luật, làm cơ sở cho các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, mỗi công dân làm tốt công tác phòng chống tội phạm; Thành lập các uỷ ban, các tiểu ban giúp cho Quốc hội soạn thảo ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến công tác đấu tranh chống tội phạm nói chung (Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp, pháp luật, Uỷ ban quốc phòng an ninh); Giám sát chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói riêng của các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội; Hội đồng nhân dân địa phương ra các Nghị quyết về phòng chống tội phạm ở địa phương mình

- Chính phủ và UBND các cấp: Chức năng chính của Chính phủ và UBND các cấp trong PNTP là quản lý, điều hành, phối hợp đảm bảo các điều kiện cần

Trang 29

thiết thể hiện trên các mặt Đảm bảo các điều kiện vật chất cho hoạt động phòng ngừa tội phạm Tổ chức thanh, kiểm tra, giám sát chặt chẽ đồng thời đề ra kế hoạch, biện pháp phối hợp đồng bộ các hoạt động giữa các chủ thể khác nhau thuộc cấp quản lý của chính phủ và UBND theo một kế hoạch thống nhất vì một mục đích chung PNTP Đề ra các biện pháp động viên huy động sức mạnh tổng thể của xã hội tham gia phòng ngừa tội phạm Đồng thời Chính phủ và UBND phải xây dựng các hình thức khen thưởng, nhân rộng các điển hình tiên tiến để kịp thời động viên, khích lệ cá nhân, tổ chức tham gia PNTP

- Các cơ quan tư pháp, Công an, Viện kiểm sát, Tòa án Bằng các biện pháp theo luật định và các biện pháp nghiệp vụ chuyên môn các cơ quan này theo chức năng nhiệm vụ, trực tiếp tiến hành các hoạt động PNTP Qua đó nghiên cứu, phân tích tình trạng phạm tội, xác định chính xác những nguyên nhân và điều kiện của tội phạm từ đó soạn thảo, đề xuất, ban hành các biện pháp PNTP thích hợp Đối với lực lượng Công an phải trực tiếp tổ chức, triển khai các hoạt động phòng ngừa tội phạm theo hai hướng: Tham gia phòng ngừa xã hội (phòng ngừa chung) và trực tiếp tiến hành toàn diện hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ, điều tra tội phạm Viện kiểm sát thì kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án, giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân, giữ quyền công tố Toà án các cấp, thông qua hoạt động xét xử các vụ án đảm bảo công minh, đúng pháp luật; phát hiện những nguyên nhân, điều kiện của tội phạm để Chính Phủ, các ngành, các cấp kịp thời có biện pháp ngăn chặn, loại trừ

- Các cơ quan quản lý kinh tế, văn hoá, giáo dục, dịch vụ, du lịch: Trong phạm vi tổ chức hoạt động chuyên môn kịp thời phát hiện những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh phát triển tội phạm thuộc lĩnh vực mình quản lý Tham mưu cho Nhà nước ban hành các quy định, chủ trương, chính sách phù hợp, đúng đắn nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm Làm tốt công tác xây dựng, phối hợp, tổ chức các biện pháp phòng ngừa tội phạm trong phạm vi đơn vị, cơ quan

Trang 30

- Các tổ chức đoàn thể và mọi công dân: Các tổ chức đoàn thể, công dân giữ vị trí vô cùng quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, cụ thể: Phối hợp, hỗ trợ chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn soạn thảo, tham gia kế hoạch phòng ngừa tội phạm, tuyên truyền nâng cao ý thức cảnh giác phòng, chống tội phạm Tham gia, thực hiện tốt các phong trào: "Toàn dân tham gia phòng chống tội phạm, tố giác tội phạm, cảm hoá giáo dục người phạm tội tại gia đình và cộng đồng dân cư”, làm tốt công tác tái hoà nhập cộng đồng cho người phạm tội khi trở về địa phương

Toàn bộ hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung, phòng ngừa các tội xâm phạm sở hữu, trong đó có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần tuân thủ sự lãnh đạo của các cấp ủy và tổ chức đảng về chủ trương, định hướng và biện pháp phòng chống tội phạm

1.2.3.5 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả PNTP

Tội phạm học nói chung hay tội phạm Mác – xít nói riêng đều có chung quan điểm về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm: Đó là mối quan

hệ nhân – quả PNTP có hai bộ phận: Một là các biện pháp tác động vào Nhân, được gọi là những biện pháp loại trừ tội phạm; một bộ phận khác được gọi là biện pháp tác động vào Quả, tức là phản ứng trực diện với hiện trạng của THTP, được gọi là biện pháp ngăn chặn Hai thành phần này của PNTP không thể tách rời nhau, có quan hệ biện chứng với nhau, cùng tạo thành một hệ thống tổng thể phòng ngừa tội phạm Xác định hiệu quả phòng ngừa tội phạm dựa vào hai yếu

tố sau: Tiêu chí đánh giá và phương pháp đánh giá

Các tiêu chí đánh giá hiệu quả PNTP Chỉ khi so sánh tình hình tội phạm ở thời điểm trước và sau khi tiến hành hoạt động PNTP, mục tiêu đã đặt ra thì mới

có căn cứ để khẳng định được hiệu quả của phòng ngừa tội phạm

Các tiêu chí về lượng: Số vụ phạm tội giảm, có nghĩa là sau khi tiến hành hoạt động PNTP thì tổng số vụ phạm tội của các loại tội phạm xảy ra trên thực tế giảm Nếu tổng số vụ phạm tội xảy ra trên thực tế giảm thì rõ ràng là PNTP đã đạt được hiệu quả nhất định Số người phạm tội giảm: Số người phạm tội bao giờ

Trang 31

cũng lớn hơn số vụ phạm tội Một vụ phạm tội có thể có nhiều người tham gia (đồng phạm) Nếu số người phạm tội giảm (tiệm tiến đến số vụ phạm tội), chứng

tỏ THTP không quá phức tạp, thì có thể khẳng định PNTP có hiệu quả Nếu số

vụ phạm tội giảm nhưng số người phạm tội tăng gấp nhiều lần thì chưa thể khẳng định hiệu quả của hoạt động PNTP Do đó, trong chính sách hình sự và thực tiễn phòng chống tội phạm thường quan tâm đấu tranh với những tội phạm

có nhiều đồng phạm phức tạp, tội phạm có tổ chức

Các tiêu chí về chất: Có sự giảm bớt tính chất nguy hiểm của THTP Tính chất của THTP tội phạm được đánh giá ở nhiều khía cạnh, cụ thể cần xem xét các tiêu chí sau: Giảm dần tỷ trọng các loại tội phạm (hoặc tội phạm) nguy hiểm

và phổ biến Những tội phạm nguy hiểm cho xã hội được hiểu là những tội phạm

có khả năng gây ra những thiệt hại lớn cho xã hội, như các tội phạm tham nhũng, các tội phạm về ma túy, các tội phạm xâm phạm sở hữu mà pháp luật hình sự thường quy định áp dụng các loại hình phạt nghiêm khắc Nếu sau khi tiến hành hoạt động PNTP, tỷ trọng những loại tội phạm nguy hiểm và phổ biến giảm dần trong cơ cấu THTP, điều đó cho phép hiểu tính chất của THTP giảm bớt tính chất nguy hiểm và khẳng định PNTP đạt được hiệu quả PNTP phải hướng đến hạn chế sự phát triển tội phạm mới, hạn chế tỷ lệ tái phạm tội nhằm thu hẹp dần đối tượng PNTP Kết quả PNTP cũng không chấp nhận sự gia tăng tình trạng phạm tội của người chưa thành niên Nếu tỷ trọng người chưa thành niên phạm tội chiếm tỷ trọng cao, rõ ràng PNTP tội phạm chưa đạt được hiệu quả Giảm dần chỉ số về sự thiệt hại của THTP Nếu sau khi tiến hành các hoạt động PNTP,

số vụ phạm tội giảm nhưng chỉ số thiệt hại tăng thì vẫn chưa thể kết luận PNTP

có hiệu quả Do đó hiệu quả PNTP phải được thể hiện ở sự giảm bớt những thiệt hại do THTP gây ra

Tiểu kết Chương 1

THTP là một hiện tượng xã hội, tiêu cực, đa dạng, phức tạp nhiều mặt, nhiều khía cạnh, nhiều cấp độ, nó tồn tại trong xã hội dưới những điều kiện cụ

Trang 32

thể và mang tích khách quan Vì lý do đó nên cái phát sinh ra nó cũng là một hiện tượng xã hội Cho nên phòng chống THTP được coi là một hoạt động dựa trên cơ sở khoa học để tìm ra những quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của THTP có thể giải quyết nó một cách triệt để và hiệu quả Nhận thức một cách đầy đủ các quy luật phát sinh, tồn tại và thay đổi của THTP sẽ tạo cơ sở cho việc chủ động đề xuất các giải pháp đấu tranh chống và phòng ngừa THTP Thực tế chỉ ra rằng không thể đấu tranh loại trừ THTP trong xã hội khi không có được sự hiểu biết đầy đủ về THTP phát sinh từ đâu, trong những điều kiện nào nó có thể tồn tại và phát triển? Nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của THTP chính là việc chúng ta giải quyết một cách toàn diện, đầy đủ để trả lời cho câu hỏi trên Qua chương 1 giúp nhận thức rõ và phân biệt được tội LĐCĐTS, dấu hiệu

để nhận biết được tội LĐCĐTS là cơ sở cho quá trình phân tích tìm ra sự khác nhau của từng nhóm tội phạm cũng như phân biệt từng loại tội phạm Tuy nhiên, mục đích của luận văn là đánh giá được tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thiên Thiên Huế, qua đó xác định nguyên nhân và điều kiện của THTP lừa đảo chiếm đoạt tài sản dựa trên những đặc điểm riêng có, khác biệt của địa phương

từ đó đưa ra các giải pháp hiệu quả, có cơ sở thực tiễn và nếu được thì ứng dụng ngay vào thực tiễn nhằm tiến tới làm giảm tình hình tội phạm LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Do đó việc đi sâu phân tích, làm rõ những lý luận chung, cơ bản (đặc điểm) nhất thế nào là tình hình, nguyên nhân và điều kiện, PNTH tội LĐCĐTS là cơ sở lý luận cần thiết để tiếp tục phát triển xây dựng thành một luận văn hoàn chỉnh

Trang 33

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

THỪA THIÊN HUẾ TRONG GIAI ĐOẠN 2015 - 2019

2.1 Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Như vậy, thực trạng của tình hình tội phạm LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế là số lượng thống kê chung về số vụ án và số lượng người phạm tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong khoảng thời gian nhất định Qua phân tích bảng số liệu (Bảng 2.1 – Phụ lục) Theo thống kê số liệu TAND tỉnh Thừa Thiên Huế, từ năm 2015 đến năm 2019 có tổng cộng 199 vụ LĐCĐTS với 243 bị cáo được TAND đưa ra xét xử sơ thẩm Theo bảng số liệu thì năm 2018 có số vụ LĐCĐTS đưa ra xét xử nhiều nhất với 43 vụ và 57 bị cáo; năm 2015 có số vụ LĐCĐTS xảy ra ít nhất với 35 vụ và 45 bị cáo Trung bình mỗi năm toàn tỉnh XXST 39,8 vụ với trung bình 48,6 bị cáo, và cứ 1 vụ XXST

có 1,22 bị can Để đánh giá được mức độ của tình hình tội phạm LĐCĐTS trên địa bàn cần so sánh, đối chiếu với mức độ tội phạm và số người phạm tội nói chung trên cùng địa bàn trong cùng khoảng thời gian

Qua phân tích số liệu (Bảng 2.2 – Phụ lục) cho thấy, trong 5 năm qua trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã đưa ra xét xử sơ thẩm 199 vụ với 243 bị cáo

Trang 34

phạm tội LĐCĐTS; chiếm 15,79 về số vụ và 13,46% số bị cáo; bình quân mỗi năm có khoảng 39, 8 vụ với 48,6 bị cáo bị xét xử về tội LĐCĐTS; đây chính là

tỷ lệ tội LĐCĐTS trong tình hình tội phạm ở tỉnh Thừa Thiên Huế, cái giữ vai trò chỉ số khái quát của THTP

Qua phân tích số liệu tại (Bảng 2.3 – Phụ lục) ta nhận thấy: Các tội phạm XPSH trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế xảy ra 7/13 tội danh Một số tội danh quy định trong BLHS gồm các Điều 169, Điều 176, Điều 177, Điều 179 và Điều

180 không xảy ra trong 5 năm từ 2015 đến 2019 trên địa bàn Tội trộm cắp tài sản theo Điều 174 xảy ra nhiều nhất chiếm 48,13% số vụ và 54,94% số bị cáo so với các tội phạm XPSH; tiếp đến là tội LĐCĐTS với 19,63% số vụ và 16,56 %

bị cáo so với các tội phạm XPSH khác Số còn lại là các tội danh khác Như vậy thấy rằng Tội LĐCĐTS chiếm tỷ lệ khá cao so với các tội danh khác trong nhóm tội XPSH Điều đó cho thấy để giảm tình hình tội phạm XPSH thì cần phải quan tâm xem xét nguyên nhân và điều kiện từ đó đưa ra các giải pháp hữu hiệu để làm giảm tội LĐCĐTS

2.1.1.2 Diễn biến của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2015 – 2019

Diễn biến của THTP là chỉ số lượng - chất tổng hợp của tình hình tội phạm Chỉ số này phản ánh sự thay đổi của THTP theo thời gian

Việc đánh giá diễn biến THTP giúp ta xác định được quy luật vận động của tội phạm, là cơ sở cho việc dự báo THTP trong thời gian tương lai, cơ sở đưa ra các giải pháp phòng chống tội phạm Tuy nhiên việc đánh giá diễn biến của THTP không chỉ dựa vào số liệu số vụ, số bị can hằng năm mà phải dựa vào số

vụ, số bị cáo XXST hằng năm để đánh giá mức tăng giảm của THTP Để làm rõ diễn biến của tình hình tội phạm tội LĐCĐTS giai đoạn từ năm 2015 – 2019 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế ta cần phải dựa vào phương pháp so sánh định gốc

và so sánh liên kế

- So sánh định gốc là theo thời gian từng năm và theo giai đoạn ba năm (tính theo việc sửa đổi BLHS, thay đổi điều áp dụng) (Bảng 2.4 – Phụ lục)

Trang 35

Qua việc phân tích bảng số liệu 2.4 ta thấy rằng tội LĐCĐTS này biến động trong biên độ hẹp, về số vụ biên độ tối đa là 22,6%, số bị cáo biên độ tối đa 26,67% Qua 5 năm số vụ và đối tượng phạm tội đã tăng lần lược là 1,17 và 1,11 lần so với thời điểm năm 2015 Ta thấy rằng mặc dù số vụ án luôn ít hơn so với

số bị cáo, xét thấy vụ án LĐCĐTS đa phần do cá nhân đơn lẻ thực hiện, tuy nhiên thời gian gần đây đã xuất hiện nhiều vụ án có dấu hiệu đồng phạm

- So sánh liên kế (Bảng 2.5 - Phụ lục):

Phương pháp này lấy năm sau so với năm trước liền kề để làm rõ tỷ lệ tăng, giảm hằng năm của tình hình tội LĐCĐTS Kết quả phương pháp so sánh này thể hiện ở bảng 2.5 – Phụ lục

Qua kết quả so sánh bằng phương pháp liên kế năm cho thấy tuy có tăng giảm nhưng xu hướng tình hình tội LĐCĐTS gia tăng về số vụ, số bị cáo; ta thấy

số vụ, số bị cáo biến động trong biên độ hẹp, có năm tăng, năm giảm, mức độ giảm tối đa 9,52 % tuy nhiên mức độ tăng tối đa 23,91%

Từ các kết quả phân tích cho phép kết hợp giữa so sánh định gốc (Bảng 2.4 – Phụ lục) và so sánh liên kế (Bảng 2.5 – Phụ lục) ta có thể khẳng định có xu hướng gia tăng của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm qua

+ Nguyên nhân gia tăng cả về số vụ do THTP nói chung tiếp tục gia tăng và diễn biến phức tạp nên tác động tiêu cực đến tất cả các tội phạm trong đó có tội LĐCĐTS

+ Qua phân tích thấy mặc dù số vụ án XXST luôn ít hơn số bị cáo XXST

về tội LĐCĐTS chứng tỏ trong các vụ án có đồng phạm từ từ 02 người trở lên có

xu hướng gia tăng Xét cho cùng nó phù hợp với sự gia tăng của tội phạm nói chung, trước hết về sự câu kết của các đối tượng, về gia tăng tội phạm băng, ổ, nhóm hay tội phạm có tổ chức Cho thấy rằng mức độ, thủ đoạn ngày càng tinh

vi, xảo quyệt và phức tạp hơn trong thủ đoạn thực hiện cũng như che dấu tội phạm

+ Năm 2019 số vụ và số bị cáo XXST có chiều hướng giảm hơn so với năm

Trang 36

2018 tuy không nhiều nhưng phần nào cho thấy quyết tâm của chính quyền của tỉnh Thừa Thiên Huế trong đấu tranh trấn áp tội phạm đặc biệt là của lực lượng Công an, nó cho thấy hiệu quả phần nào từ mô hình chính quy hóa lực lượng Công an xã của Bộ Công an

2.1.1.3 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2015 – 2019

Cơ cấu THTP là một chỉ số về chất của tình hình tội phạm Cơ cấu của THTP được đo lường trong các chỉ số tuyệt đối (các số lượng chung) và các chỉ

số tương đối (các phần trăm, các phần, các hệ số, các bộ chỉ số) các tội phạm Các chỉ số này không chỉ đặc trưng cho THTP về mặt chất mà còn cả về mặt lượng, điều này đã được phân tích ở mục trước

Nghiên cứu cơ cấu tình hình tội phạm có ý nghĩa:

Một là, cơ cấu của THTP đặc trưng cho tính chất của tình hình tội phạm, mức độ nguy hiểm của THTP đối với các khách thể khác nhau của sự xâm hại, các mối liên hệ nhân quả của tình hình tội phạm với các hiện tượng và quá trình khác nhau

Hai là, việc nghiên cứu các chỉ số về cơ cấu theo thời gian đưa đến khả năng làm sáng tỏ các xu hướng khác nhau của các bộ phận cấu thành của THTP

mà dựa vào các xu hướng đó có thể dự báo có cơ sở hơn về THTP, về các nhóm

và loại THTP cụ thể nào đó

Cơ cấu THTP được xem xét trên nhiều chỉ số khác nhau Tuy nhiên để làm

rõ tình hình tội phạm tội LĐCĐTS thì tác giả lựa chọn một số chỉ số để phân tích dựa trên đặc điểm của địa phương và điều kiện thống kê

- Cơ cấu theo phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm:

Qua phân tích, lựa chọn nghiên cứu, thống kê 100 bản án hình sự sơ thẩm trong thời gian từ 2015 – 2019 Từ đó rút ra tổng kết tùy theo từng lĩnh vực khác nhau mà đối tượng sử dụng các phương thức, thủ đoạn khác nhau để thực hiện hành vi phạm tội Qua nghiên cứu 100 bản án cho thấy các đối tượng thực hiện tội LĐCĐTS chủ yếu dưới hình thức đơn lẻ là 89%, còn thực hiện theo hình thức

Trang 37

đồng phạm là 11% nhóm từ 2 hoặc 3 đối tượng

Trong thời gian từ năm 2015 – 2019 toàn tỉnh đã xét xử với tội LĐCĐTS tổng cộng 199 vụ với 243 bị cáo với các hình phạt được mô tả tại (Bảng 2.6 – Phụ lục và 2.7 – Phụ lục)

Nhìn từ bảng thống kê (Bảng 2.6 – Phụ lục) cho thấy, trong 05 năm qua, Tòa án cấp sơ thẩm của Tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử chủ yếu áp dụng các hình phạt tù từ 03 năm trở xuống với mức 59,26%; tiếp theo là tù từ 7 đến 15 năm với mức 16,87%; Án treo là 10,29%; tù từ 3 đến 7 năm là 8,23%; tù chung thân thì mức 0,41%; tử hình chưa có hình phạt nào; các loại chế tài hình sự còn lại chỉ ở mức 0,82% đến 2,88%

Qua kết hợp cả hai (Bảng 2.6 – phụ lục và Bảng 2.7 – Phụ lục) nhận thấy rằng: Trách nhiệm hình sự chủ yếu tập trung ở tội ít nghiêm trọng Tuy nhiên xét thấy tỷ lệ tội rất nghiêm trọng cũng chiếm tỷ lệ cao so với tội nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng Nếu xét theo từng năm thì thấy những năm trở lại đây tòa

án áp dụng mức hình phạt tăng dần của tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng

và đặc biệt nghiêm trọng Điều đó cho thấy tình hình tội LĐCĐTS ngày càng phức tạp, hậu quả cũng như mức độ thiệt hại, tính chất vụ việc có chiều hướng gia tăng

- Cơ cấu theo đơn vị hành chính lãnh thổ:

Theo bảng xét cơ cấu theo đơn vị hành chính lãnh thổ (Bảng 2.8 – Phụ lục

và Bảng 2.8.1 – Phụ lục) thì tội LĐCĐTS xảy ra hầu hết ở các địa bàn trong tỉnh Thừa Thiên Huế Trong đó tập trung chủ yếu ở Thành phố Huế với tỷ lệ 53,27%; Thị xã Hương Thủy với tỷ lệ 16,58 %; Huyện Phú Vang với tỷ lệ 9,05%; Thị xã Hương Trà với tỷ lệ 6,53% Nếu đối chiếu với điều kiện kinh tế, đặc điểm tự nhiên, mật độ dân cư thì tình hình tội LĐCĐTS luôn ở mức cao và có chiều hướng gia tăng với các đơn vị hành chính có điều kiện kinh tế, hạ tầng phát triển,

có nhiều hình thức kinh doanh cũng như sở hữu cá nhân Còn các vùng có điều kiện kinh tế, địa hình, điều kiện đi lại khó khăn thì chiếm tỷ lệ tội LĐCĐTS xảy

ra ít như các huyện Quảng Điền, Nam Đông, A Lưới Do vậy trong hoạt động

Trang 38

đấu tranh cũng như phòng ngừa cần tập trung lực lượng ở các địa bàn trọng điểm như Thành phố Huế, Thị xã Hương Thủy, Phú Vang và Thị xã Hương Trà

- Cơ cấu theo đặc điểm nhân thân người phạm tội:

+ Cơ cấu về giới tính

Theo số liệu thống kê (Bảng 2.9 – Phụ lục) trong 05 năm, thì tổng số 243 bị cáo xét xử về tội LĐCĐTS thì có đến 86,01% bị cáo là nam giới trong khi đó nữ giới phạm tội này chỉ 13,99% Kết quả trên cho thấy tỷ lệ phạm tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế chủ yếu là nam giới, chiếm tỷ lệ áp đảo so với

nữ giới Đây là một đặc điểm cần nghiên cứu kỹ để xác định đối tượng đấu tranh cũng như tập trung phòng ngừa vào số đối tượng nam

+ Cơ cấu vào độ tuổi:

Qua nghiên cứu 243 người bị xét xử về tội LĐCĐTS (Theo Bảng 2.10 – Phụ lục) thì thấy số người từ 14 đến 18 tuổi chiếm tỷ lệ thấp 3,70%; Tỷ lệ người phạm tội từ 17 đến 30 chiếm tỉ lệ 29,22% Xét như vậy thấy rằng đa số người phạm tội chủ yếu trên 30 tuổi, đây là số đối tượng có kinh nghiệm sống nhất định và có nhận thức và suy nghĩ chính chắn trong cuộc sống Do đó đây là số đối tượng có nhiều mánh khóe, thủ đoạn; đặc biệt khả năng tạo ra niềm tin, vỏ bọc, khả năng ăn nói, diễn đạt để thực hiện hành vi gian đối, dễ lừa dối để chiếm đoạt tài sản Còn xét thấy đối tượng từ 14 đến 18 tuồi khả năng thực hiện tội này

có khó khăn, do kinh nghiệm, vốn sống, sự trải nghiệm chưa nhiều, kinh tế chưa

có nên khó để đánh lừa nạn nhân Tuy nhiên để xem xét kỹ tính chất mức độ THTP cần phải liên hệ giữa độ tuổi và cơ cấu trình độ học vấn

+ Cơ cấu trình độ học vấn:

Trình độ học vấn là phương thức giúp con người phát triển hình thành nhân cách lựa chọn hành vi và có điều kiện nắm bắt các sự kiện chính trị, tình hình văn hóa và cũng như mặt trái của xã hội Theo thống kê (tại Bảng 2.11 – Phụ lục) cho thấy trình độ của các bị cáo thực hiện hành vi LĐCĐTS có trình độ học vấn ở mức trung bình Nếu xét về tỉ lệ trình độ từ trung học phổ thông đến đại học chiếm 33,33% chứng tỏ các đối tượng phạm tội có trình độ nhận thức cơ bản

Trang 39

là cao Tỉ lệ đối tượng phạm tội không biết chữ chiếm 15,23 % tỷ lệ chỉ cao hơn đối tượng có trình độ đại học và cao đẳng Như vậy khi xem xét xây dựng các giải pháp phòng ngừa tội phạm này cần hướng tới đối tượng có nhận thức, kỹ năng đọc viết tốt

- Cơ cấu nghề nghiệp của đối tượng phạm tội:

Các đối tượng dù không nghề nghiệp hay có nghề nghiệp ổn định thì đều tham gia hoạt động phạm tội LĐCĐTS; chủ yếu các đối tượng hoạt động riêng lẻ hoặc có từ 2 đến 3 đối tượng tham gia với vai trò chủ yếu tổ chức hoặc tham gia;

cụ thể không nghề nghiệp và nghề nghiệp không ổn định chiếm tới 78,37%, còn nghề nghiệp ổn định chiếm 21,63%

2.1.1.4 Tính chất của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2015 – 2019

Tính chất của THTP là một chỉ số về chất đặc biệt của tình hình tội phạm, gắn liền chặt chẽ với cơ cấu của tình hình tội phạm, với sự phân bố về lượng của các tội phạm theo các loại, với nội dung cơ bản của các loại hành vi phạm tội, chiếm ưu thế của các hành vi phạm tội đó trong cơ cấu của THTP được thống kê

và tình hình tội phạm được hiện thực, ở sự phân bố tội phạm theo các nhóm dân

cư, theo các lĩnh vực kinh tế xã hội Tính chất của THTP được thể hiện trong các đánh giá về chất như: Tính nguy hiểm cho xã hội, tính nghiêm trọng, mức độ nghiêm trọng; diễn biến, phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội, tỷ lệ tái phạm…

Qua phân tích đánh giá các số liệu thống kê và qua việc nghiên cứu chọn mẫu ngẫu nhiên 100 bản kết luận điều tra và bản án của tòa án thì có thể rút ra một số tính chất đặc trưng cơ bản của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2015-2019 như sau:

- Về tính chất mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Trong 05 năm qua tội phạm LĐCĐTS diễn ra khắp các địa phương trên địa bàn tỉnh gây thiệt hại lớn

về tài sản Phần lớn tập trung ở tội phạm ít nghiêm trọng, những năm 2018, năm

2019 tỷ lệ tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng có chiều hướng tăng theo như

Trang 40

bảng 2.7;

Tuy nhiên theo đánh giá của các cán bộ trực tiếp làm công tác đấu tranh phòng chống tội phạm thì thấy mức án áp dụng các bị cáo còn chưa tương xứng với thực tế, và chưa phản ánh được mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi

Vì một số lý do:

Nạn nhân của tội phạm nhiều lúc không dám khai báo, che dấu số tiền thực

tế bị chiếm đoạt vì lo sợ trả thù; lo sợ gia đình, người thân biết được; sợ dư luận

xã hội đàm tiếu; sợ làm việc với cơ quan pháp luật…

Hành vi phạm tội có thể chưa bị phát hiện, rơi vào tội phạm ẩn Việc phát hiện tội phạm này thường do nạn nhân tố cáo Hoặc khi bị phát hiện thì có thể gia đình, người thân tìm cách khắc phục hậu quả

Hành vi phạm tội xảy ra nhưng quá trình điều tra, truy tố khó khăn, chưa phát hiện hết hậu quả của hành vi lừa đảo…

Đó là một vài nguyên nhân cho thấy mức độ nguy hiểm của tội phạm LĐCĐTS, nó gây mất ổn định trật tự an toàn xã hội, làm bất ổn về chính trị và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế

- Về phương thức, thủ đoạn phạm tội:

+ Hoạt động chuẩn bị phạm tội: Qua nghiên cứu phần lớn các đối tượng chủ yếu làm giả các loại giấy tờ như: Giấy chứng minh nhân dân, bằng lái xe; giấy tờ chứng nhận sở hữu xe oto, xe máy; giấy tờ chứng chỉ nghề nghiệp giả mạo và các loại giấy tờ giả khác để thực hiện hành vi lừa dối chiếm đoạt tài sản Đối với các đối tượng làm kinh doanh, buôn bán nhỏ lẻ lợi dụng mối quan hệ trong kinh doanh, bạn hàng, người mua hàng để vẽ ra các kế hoạch, các hình thức, thương vụ kinh doanh có lãi lớn, chiết khấu, khuyến mãi cao để lừa đảo Ngoài ra các đối tượng còn đóng giả vai doanh nhân thành đạt, có nhiều tiền, nhiều tài sản, nhiều mối quan hệ có nhiều bất động sản, cửa hàng … để kêu gọi góp vốn đầu tư, vay mượn tiền với lãi suất cao rồi chiếm đoạt Một số dưới vỏ bọc cán bộ nhà nước, tầng lớp trí thức có nhiều mối quan hệ đặc biệt là các quan chức lớn, có tiếng tăm, người có thẩm quyền có thể ra một số quyết định có lợi

Ngày đăng: 20/07/2020, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w