1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh

21 3,5K 40
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 449,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Adam Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoạithương. Quan điểm kinh tế cơ bản của ông trong lý thuyết này là:Khẳng định vai trò của cá nhân và hệ thống kinh tế tư doanh. Ngược lại với quan điểmcủa phái trọng thương, ông cho rằng Chính phủ không cần can thiệp vào các hoạt độngmậu dịch quốc tế mà hãy để các cá nhân và doanh nghiệp tự do hoạt động. Như vậy sẽcó một “Bàn tay vô hình” dẫn dắt mỗi cá nhân hướng đến lợi ích chung

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu 1

3 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu của Tiểu luận 2

PHẦN NỘI DUNG 2

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ CHÍNH TRỊ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN ANH 2

1.1 Hoàn cảnh xuất hiện trường phái kinh tế chính trị cổ điển Anh 2

1.2 Những đặc điểm của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh 3

1.3 Đánh giá chung về trường phái kinh tế chính trị cổ điển Anh 3

1.3.1 Ưu điểm: 3

1.3.2 Hạn chế 4

Chương 2: PHÂN TÍCH LÝ THUYẾT LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI VÀ LỢI THẾ SO SÁNH TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI CHÍNH TRỊ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN ANH 5

2.1 Phân tích Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 5

2.1.1 Sơ lược về tác giả và lịch sử ra đời của Lý thuyết lợi thế tuyệt đối 5

2.1.2 Nội dung Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 6

2.1.2.1.Quan điểm kinh tế cơ bản của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối 6

2.1.2.2.Mô hình thương mại dựa trên lý thuyết lợi thế tuyệt đối 7

2.1.2.3.Ưu và nhược điểm của lý thuyết Lợi thế tuyệt đối 8

2.2 Phân tích Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo 9

2.2.1 Sơ lược về tác giả và sự ra đời của Lý thuyết lợi thế so sánh 9

2.2.2 Nội dung cơ bản của lý thuyết lợi thế so sánh 10

2.2.2.1.Quan điểm của David Ricardo về Lý thuyết lợi thế so sánh 10

2.2.2.2.Mô hình thương mại dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh 12

2.2.2.3.Ưu điểm và nhược điểm của lý thuyết lợi thế so sánh 15

Chương 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ LÝ THUYẾT LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI VÀ LỢI THẾ SO SÁNH, LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM 16

3.1 Đánh giá chung về Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 16

3.2 Đánh giá chung về Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo 17

3.3 Liên hệ thực tiễn Việt Nam 18

KẾT LUẬN 19

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển, đã tạo ra sự đột biến về khả năng sản xuất hàng hóa của mỗi quốc gia, dân tộc Việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cũng như sự xuất hiện của các chủng loại hàng hóa mới, đã xóa nhòa ưu thế tuyệt đối trước đây giữa các nước Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, lãnh thổ, làm thúc đẩy quá trình giao lưu kinh tế giữa các nước, các châu lục và các khu vực kinh tế trên toàn thế giới Ngoại thương trở thành nhân tố quan trọng, quyết định đến tăng trưởng kinh tế của mỗi nước, do vậy các nước cần có chính sách về thương mại quốc tế phù hợp với thực tiễn nền kinh tế đất nước và xu thế của thời cuộc để nâng cao hiệu quả kinh tế trong thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế Lý luận về lợi thế trong quan hệ kinh tế quốc tế

ra đời với tư cách là hệ thống, giữ vai trò chủ đạo, chi phối đến chủ trương, chính sách phát triển quan hệ kinh tế quốc tế của mỗi quốc gia, dân tộc Lý luận đó ngày càng được phát triển và hoàn thiện cùng với sự vận động và phát triển không ngừng nền sản xuất hàng hóa Các lý thuyết thương mại quốc tế là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, phát triển từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp Lý thuyết sau bao giờ cũng có sự kế thừa

và phát triển của lý thuyết trước và mang tính khoa học ngày càng cao, ngày càng sát với thực tiễn Trải qua nhiều thế kỷ, thực tiễn thường xuyên biến đổi, xã hội ngày càng hiện đại và văn minh, nhưng các tư tưởng của các nhà kinh tế vẫn luôn có giá trị áp dụng cho đến hiện tại, đặc biệt là lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo hiện nay vẫn được các nước tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào đời sống thực tiễn của mỗi quốc gia Vậy lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế

so sánh là gì? Ý nghĩa của việc vận dụng các lý thuyết này trong điều kiện hiện nay?

Sau khi nghiên cứu và tìm hiểu em chọn đề tài “Phân tích lý thuyết lợi thế tuyệt đối

và lợi thế so sánh trong Thương mại quốc tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh Ý nghĩa của các lý thuyết này trong điều kiện hiện nay” làm đề tài

nghiên cứu để kết thúc học phần này

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong Thương mại quốc tế của trường phái chính trị tư sản cổ điển Anh

Trang 3

3 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích để hiểu được lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong Thương mại quốc tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh Trong điều kiện hiện nay thì các lý thuyết này được vận dụng như thế nào để đạt được hiệu quả cao

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: bài tiểu luận này đã sử dụng một số phương pháp luận biện chứng duy vật, phương pháp phân tích, tổng hợp, khát quát hóa và hệ thống hóa

5 Kết cấu của Tiểu luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận thì Nội dung của tiểu luận gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh

Chương 2: Phân tích Lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh trong thương mại quốc

tế của trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh

Chương 3: Đánh giá chung Lý thuyết lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh, liên hệ thực tiễn tại Việt Nam

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ CHÍNH TRỊ

TƯ SẢN CỔ ĐIỂN ANH 1.1 Hoàn cảnh xuất hiện trường phái kinh tế chính trị cổ điển Anh

Chủ nghĩa trọng thương đã trở thành lỗi thời và bắt đầu tan rã ngay từ thế kỷ XVII, trước hết là Anh, một nước phát triển nhất về mặt kinh tế Tiền đề của việc đó được tạo ra chủ yếu là do sự phát triển các công trường thủ công ở Anh, đặc biệt là trong ngành dệt, sau

đó là công nghiệp khai thác Giai cấp tư sản đã nhận thức được rằng, muốn làm giàu phải bóc lột lao động, lao động làm thuê của những người nghèo là nguồn gốc làm giàu

vô tận cho những người giàu

Cuộc cách mạng tư sản Anh tạo ra một tình hình chính trị mới Những thành tựu khoa học: triết học, toán học đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy những tư

tưởng tiến bộ Tóm lại, tất cả những điều kiện kinh tế, xã hội, khoa học của cuối thế kỷ

XVII đã chứng tỏ thời kỳ sản xuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu Tính chất phiến diện của

Trang 4

học thuyết trọng thương trở nên quá rõ ràng, đòi hỏi phải có lý luận để đáp ứng sự vận động và phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa Trên cơ sở đó kinh tế chính trị học cổ

điển Anh ra đời

Theo K Marx, kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh bắt đầu từ William Petty và kết thúc ở David Ricardo

1.2 Những đặc điểm của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh

+Về đối tượng nghiên cứu: Kinh tế chính trị tư sản cổ điển chuyển đối tượng nghiên cứu

từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất, trình bày có hệ thống các phạm trù kinh tế trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa: hàng hoá, giá trị, tiền tệ, giá cả, tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô… để rút

ra các quy luật vận động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

+ Về mục tiêu nghiên cứu: Luận chứng cương lĩnh kinh tế và các chính sách kinh tế của

giai cấp tư sản, cơ chế thực hiện lợi ích kinh tế trong xã hội tư bản nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất

+Về nội dung nghiên cứu: Lần đầu tiên đã xây dựng được một hệ thống phạm trù, quy

luật của nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa đặc biệt là lý luận Giá trị - Lao động

Tư tưởng bao trùm là ủng hộ tự do kinh tế, chống lại sự can thiệp của nhà nước, nghiên cứu sự vận động của nền kinh tế đơn thuần do các quy luật tự nhiên điều tiết

+ Về phương pháp nghiên cứu: Thể hiện tính chất hai mặt:

Một là, sử dụng phương pháp trừu tượng hoá để tìm hiểu các mối liên hệ bản chất bên trong các hiện tượng và các quá trình kinh tế, nên đã rút ra những kết luận có giá trị khoa học

Hai là, do những hạn chế về mặt thế giới quan, phương pháp luận và điều kiện lịch sử cho nên khi gặp phải những vấn đề phức tạp, họ chỉ mô tả một cách hời hợt và rút ra một số kết luận sai lầm

+ Các đại biểu: Wiliam Petty: (1623 - 1687), Adam Smith: (1723 - 1790), David Ricardo: (1772 – 1823)

1.3 Đánh giá chung về trường phái kinh tế chính trị cổ điển Anh

1.3.1 Ưu điểm:

Trang 5

+ Kinh tế chính trị tư sản cổ điển là một trường phái khoa học có nhiều đóng góp to lớn cho lịch sử tư tưởng kinh tế chung của loài người Trong những thành tự nổi bật của trường phái này, phải kể tới đó là phương pháp nghiên cứu khoa học, dựa vào phương pháp nghiên cứu, những đại biểu của trường phái cổ điển đã phát hiện và đi sâu nghiên cứu, vạch rõ nhiều vấn đề có tính quy luật nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

+ Lý luận kinh tế cổ điển được phân tích trên cơ sở một hệ thống các phạm trù và khái niệm kinh tế và còn nguyên giá trị cho tới ngày nay

+ Những đóng góp lớn nhất về trường phái tư sản cổ điển bao gồm lý luận giá trị lao động, lý luận về tiền công, lợi nhuận, địa tô

+ Các nhà kinh tế học tư sản cổ điển là người đầu tiên đặt cơ sở khoa học cho sự phân tích các phạm trù và quy luật kinh tế của phương thức sản xuất chủ nghĩa tư bản + Những đại biểu nổi tiếng nhất của trường phái tư sản cổ điển có thể được coi là người

đã thực hiện những bước cách mạng quan trọng nhất trong việc phân tích nền kinh tế thị trường nói chung và cơ chế thị trường nói riêng trong chủ nghĩa tư bản Điều đó có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế học hiện đại ở tất cả các nước đang thực hiện nền kinh tế thị trường

1.3.2 Hạn chế

Trường phái kinh tế học tư sản cổ điển vẫn có những hạn chế nhất định:

+ Kinh tế học tư sản cổ điển mang tính chất hai mặt trong phương pháp nghiên cứu khoa học, khách quan để phân tích bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, lại vừa bị sự ràng buộc bởi tính chất phi lịch sử trong việc đánh giá phương thức sản xuất này

+ Kinh tế học tư sản cổ điển cổ vũ mạnh mẽ cho sự phát triển tự do của kinh tế thị trường

và tuyệt đối hoá vai trò tự điều tiết của thị trường, những người cổ điển cũng chưa có thái độ khách quan và thực tế đối với vai trò của nhà nước, điều mà chính thực tế phát triển của chủ nghĩa tư bản không thể phủ nhận được

+ Trong khi cống hiến cho kinh tế học nhiều quan điểm xuất sắc, các nhà kinh tế học tư sản cổ điển cũng để lại nhiều quan điểm tầm thường mà những người kế tục họ đã biến

Trang 6

thành một trào lưu tầm thường hoá và làm giảm giá trị của học thuyết kinh tế học tư sản

cổ điển nói chung

Chương 2: PHÂN TÍCH LÝ THUYẾT LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI VÀ LỢI THẾ SO SÁNH TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI CHÍNH TRỊ

TƯ SẢN CỔ ĐIỂN ANH 2.1 Phân tích Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

2.1.1 Sơ lược về tác giả và lịch sử ra đời của Lý thuyết lợi thế tuyệt đối

Adam Smith (1723 – 1790) là nhà kinh tế chính trị học và triết gia đạo đức học người Scotland, ông sinh ra và lớn lên trong giai đoạn phát triển công trường thủ công của chủ nghĩa tư bản, là người có kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực như: chính trị, văn học, vật lý học, thiên văn học, ông là người mở ra giai đoạn mới trong sự phát triển của kinh

tế chính trị tư sản, ông là bậc tiền bối lớn nhất của Mác

Về thế giới quan và phương pháp luận của A.Smith cơ bản là thế giới quan duy vật nhưng còn mang tính tự phát và máy móc, trong phương pháp còn song song tồn tại cả hai phương pháp khoa học và tầm thường Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến các học thuyết kinh tế tư sản sau này

Học thuyết của A.Smith là một trong những học thuyết có tiếng vang lớn, nó trình bày một cách có hệ thống các phạm trù kinh tế, xuất phát từ các quan hệ kinh tế khách quan Học thuyết kinh tế của ông có cương lĩnh rõ ràng về chính sách kinh tế, có lợi cho giai cấp tư sản trong nhiều năm

Chủ nghĩa trọng thương tồn tại khá nhiều hạn chế và dần trở nên lỗi thời Đặc biệt là sau khi cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ vào giữa thế kỷ 18 kéo theo sự phát triển của kinh tế hàng hóa và hệ thống ngân hàng, tại thời điểm này, đòi hỏi những quan điểm mới và tiến bộ hơn về thương mại quốc tế thay thế quan điểm trọng thương, từ bối cảnh này, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith ra đời

Trong cuốn sách nổi tiếng của mình xuất bản năm 1776 với nhan đề “Sự giàu có của các quốc gia”, Adam Smith đã đưa ra quan điểm phản bác lại nhìn nhận của chủ nghĩa trọng thương cho rằng thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không Ông lập luận rằng các quốc gia khác nhau chính là về khả năng sản xuất các hàng hóa một cách có hiệu quả và theo ông, một nước có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất một sản phẩm khi mà

Trang 7

nước đó sản xuất sản phẩm đó một cách hiệu quả hơn so với nước khác Vào thời kỳ của Adam Smith, người Anh là những nhà sản xuất hàng dệt hiệu quả nhất trên thế giới với

sự ưu việt hơn hẳn về các quy trình chế tạo Trong khi đó, nhờ sự kết hợp của khí hậu thuận lợi, đất đai phì nhiêu, và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ, người Pháp lại là những người sản xuất rượu vang hiệu quả nhất Như vậy, có thể nói rằng người Anh có được lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất hàng dệt, trong khi người Pháp lại có lợi thế tuyệt đối về sản xuất rượu vang

Theo Adam Smith, các nước nên chuyên môn hóa vào sản xuất những sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh và sau đó trao đổi những hàng hóa đó lấy những hàng hóa sản xuất bởi những nước khác Lập luận cơ bản của Adam Smith là một quốc gia không bao giờ nên tự sản xuất những hàng hóa mà thực tế có thể mua được từ các nước khác với chi phí thấp hơn Và bằng cách chuyên môn hóa sản xuất những hàng hóa mà một nước có lợi thế tuyệt đối, cả hai nước sẽ thu được lợi ích khi tham gia vào thương mại quốc tế

2.1.2 Nội dung Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

2.1.2.1 Quan điểm kinh tế cơ bản của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối

Adam Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương Quan điểm kinh tế cơ bản của ông trong lý thuyết này là:

Khẳng định vai trò của cá nhân và hệ thống kinh tế tư doanh Ngược lại với quan điểm của phái trọng thương, ông cho rằng Chính phủ không cần can thiệp vào các hoạt động mậu dịch quốc tế mà hãy để các cá nhân và doanh nghiệp tự do hoạt động Như vậy sẽ

có một “Bàn tay vô hình” dẫn dắt mỗi cá nhân hướng đến lợi ích chung

Khẳng định nguyên tắc phân công lao động để tạo ra nhiều lợi nhuận là cơ sở cho sự ra đời của lí thuyết lợi thế tuyệt đối Theo Adam Smith, hai quốc gia tham gia mậu dịch với nhau là tự nguyện và cả hai đều cùng phải có lợi (Quan điểm này khác hẳn trường phái trọng thương khi cho rằng trong mậu dịch quốc tế, một quốc gia chỉ có thể có lợi trên sự hi sinh của một quốc gia khác)

Những lợi ích mậu dịch đó do đâu mà có? Theo ông, cơ sở mậu dịch giữa hai quốc gia chính là lợi thế tuyệt đối Lợi thế tuyệt đối ở đây là chi phí sản xuất thấp hơn (nhưng chỉ

có chi phí lao động mà thôi) Theo A.Smith, chẳng hạn, quốc gia I có lợi thế tuyệt đối

Trang 8

về một sản phẩm A nào đó và không có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm B Trong khi đó quốc gia II có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm B và không có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm

A Khi đó, cả hai quốc gia đều có thể có lợi nếu quốc gia I chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm A, quốc gia II chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm B và tự nguyện trao đổi cùng nhau Bằng cách đó, tài nguyên của mỗi nước sẽ được sử dụng có hiệu quả hơn và sản phẩm sản xuất của hai nước sẽ tăng lên Phần tăng lên này chính là lợi ích thu được từ chuyên môn hóa

Để xây dựng lý thuyết lợi thế tuyệt đối, A.Smith đã đưa ra một số giả thiết lợi thế tuyệt đối như sau:

- Chỉ có 1 yếu tố Chi phí sản xuất là không đổi

- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

- Lao động (yếu tố sản xuất) có thể tự do di chuyển trong khuôn khổ một quốc gia

- Yếu tố sản xuất không di chuyển giữa các quốc gia

- Tất cả các nguồn lực sản xuất được sử dụng hoàn toàn

- Có 2 quốc gia tham gia thương mại quốc tế và trao đổi 2 mặt hàng

- Thương mại quốc tế hoàn toàn tự do

- Chi phí vận tải bằng 0

- Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất

Quy luật lợi thế tuyệt đối mà ông rút ra là: Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sản xuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chi phí trung bình của quốc tế thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi

2.1.2.2 Mô hình thương mại dựa trên lý thuyết lợi thế tuyệt đối

Giả sử 1 giờ lao động ở Mỹ sản xuất được 6m vải, 1 giờ lao động ở Việt Nam chỉ sản xuất được 1m vải Trong khi đó 1 giờ lao động ở Mỹ thì chỉ sản xuất được 4kg gạo, còn

ở Việt Nam thì sản xuất được 5kg gạo Các số liệu được biểu thị ở bảng như sau:

Trang 9

Bảng 1: Ví dụ minh họa về lý thuyết lợi thế tuyệt đối giữa hai nước Việt Nam và Mỹ

Vải( mét/người/giờ) 6 1 Gạo( kg/người/giờ) 4 5

Nếu theo quy luật lợi thế tuyệt đối (so sánh cùng 1 sản phẩm về năng suất lao động ở 2 quốc gia Mỹ và Việt Nam) thì Mỹ có năng suất lao động cao hơn về sản xuất vải so với Việt Nam và ngược lại Việt Nam có năng suất lao động cao hơn về sản xuất gạo so với

Mỹ Do đó, Mỹ sẽ tập trung sản xuất vải để đem trao đổi lấy gạo của Việt Nam (xuất khẩu vải và nhập khẩu gạo) Còn Việt Nam sẽ tập trung sản xuất gạo và xuất khẩu để nhập khẩu vải

Nếu Mỹ đổi 6m vải lấy 6kg gạo của Việt Nam thì Mỹ được lợi 2kg gạo vì nếu 1 giờ sản xuất trong nước thì Mỹ chỉ sản xuất được 4kg gạo mà thôi Như vậy, Mỹ sẽ có lợi 2:4=1/2 giờ lao động

Việt Nam sản xuất trong 1 giờ lao động chỉ được 1m vải, với 6m vải trao đổi được Việt Nam phải mất 6 giờ đồng hồ Nếu Việt Nam tập trung 6 giờ đó vào sản xuất gạo sẽ được 6 giờ x 5kg/giờ = 30 kg gạo Mang 6kg đem trao đổi lấy 6m vải, còn lại 24kg Như vậy Việt Nam sẽ tiết kiệm được 24:5kg/h tương đương gần 5 giờ lao động Qua ví dụ trên ta thấy thực tế là Việt Nam có lợi nhiều hơn so với Mỹ Tuy nhiên điều này không quan trọng, mà quan trọng hơn là cả hai bên đều có lợi khi chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm mà họ có lợi thế so sánh và mang đi trao đổi

2.1.2.3 Ưu và nhược điểm của lý thuyết Lợi thế tuyệt đối

+ Ưu điểm:

- Bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa trọng thương, ông chứng minh rằng mậu dịch quốc

tế đem lại lợi ích cho cả hai nước tham gia thông qua việc thực thi một nguyên tắc cơ bản là phân công lao động Chứng minh được lợi ích của tất cả các quốc gia khi tham gia mậu dịch quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi

Trang 10

- Về chính sách ngoại thương của Chính phủ, Adam Smith khẳng định rằng thương mại

tự do có lợi cho tất cả các quốc gia và Chính phủ không nên can thiệp vào hoạt động thương mại quốc tế nói riêng và hoạt động kinh tế nói chung

+ Nhược điểm:

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith không giải thích được các trường hợp sau: Nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất ra tất cả các mặt hàng thì quốc gia đó có cần thiết phải tham gia vào thương mại quốc tế hay không?

Nếu một quốc gia không có lợi thế tuyệt đối về bất cứ sản phẩm nào thì liệu quốc gia đó

có thể tham gia vào thương mại quốc tế được không?

Nếu diễn ra thì lợi ích của các quốc gia sẽ như thế nào?

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối có thể giúp giải thích được một phần nhỏ của mậu dịch quốc

tế, đó là sự trao đổi giữa các quốc gia có điều kiện sản xuất khác nhau Còn giữa các quốc gia có điều kiện sản xuất khá giống nhau, cùng có lợi thế về một sản phẩm hoặc một số sản phẩm nào đó, họ có thể trao đổi với nhau được hay không thì học thuyết này không giải thích được

2.2 Phân tích Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo

2.2.1 Sơ lược về tác giả và sự ra đời của Lý thuyết lợi thế so sánh

David Ricardo (1772 – 1823) xuất thân từ gia đình tư sản, năm 12 tuổi vào trường trung học thương nghiệp hai năm Ông có địa vị quan trọng trong sở Giao dịch châu Âu, là một trong những người giàu có nhất nước Anh lúc bấy giờ Thế giới quan của D.Ricardo

là thế giới quan duy vật tự phát và máy móc, trong phương pháp cũng song song tồn tại

cả phương pháp khoa học và phương pháp tầm thường Ông rất ham mê nghiên cứu khoa học, đặc biệt là môn kinh tế chính trị David Ricardo là đại biểu xuất sắc của kinh

tế chính trị tư sản cổ điển Phần lớn các tài sản vô giá ông để lại xuất phát từ kiến thức kinh tế thực tế, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ

Lý thuyết lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế Thương mại quốc tế xuất hiện từ rất lâu và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng Để giải thích cơ sở kinh tế của thương mại quốc tế đã có nhiều trường phái đưa ra những quan niệm khác nhau Trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ, các nhà trọng thương chủ trương Nhà nước phải tích cực tác động

Ngày đăng: 20/07/2020, 10:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w