1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc ở huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang hiện nay

104 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là công trình có giá trị khoa học và thực tiễn, tác giả đã đề cập đến nội dung “các tôn giáo gắn bó với dân tộc, đồng hành cùng dân tộc” trang 128, cũng phần nào thể hiện được những

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THANH BÌNH

VAI TRÕ CỦA TÔN GIÁO TRONG XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở HUYỆN AN BIÊN,

TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

Hà Nội - 2020

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THANH BÌNH

VAI TRÕ CỦA TÔN GIÁO TRONG XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở HUYỆN AN BIÊN,

TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY

Chuyên ngành: Tôn giáo học

Trang 3

3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa

học của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận

văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết

luận khoa học trong luận văn chƣa từng đƣợc công bố

trên bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Bình

Trang 4

4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÕ CỦA TÔN GIÁO TRONG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 11

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 11

1.1.1 Khái niệm tôn giáo và đoàn kết dân tộc 11

1.1.2 Mối quan hệ giữa tôn giáo và đoàn kết dân tộc, vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc 15

1.2 Cở sở thực tiễn về vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc huyện An Biên 23

1.2.1 Tình hình và đặc điểm dân tộc huyện An Biên 23

1.2.2 Tình hình và đặc điểm tôn giáo huyện An Biên 26

Tiểu kết chương 1 33

Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÕ CỦA CÁC TÔN GIÁO GÓP PHẦN XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TỘC HUYỆN AN BIÊN 34

2.1 Vai trò của tôn giáo trong quá trình phát triển kinh tế - văn hoá các dân tộc huyện An Biên 34

2.2.1 Thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế 34

2.1.2 Thúc đẩy giao lưu văn hoá cộng đồng các dân tộc 36

2.2 Vai trò của tôn giáo trong đoàn kết đồng bào, tham gia từ thiện xã hội 40

2.1.1 Đoàn kết và củng cố đồng bào các dân tộc huyện An Biên 40

2.2.2 Vai trò của tôn giáo trong các hoạt động từ thiện xã hội 47

2.3 Vai trò của tôn giáo trong xây dựng chính quyền cơ sở và vận động quần chúng nhân dân, bảo vệ quốc phòng an ninh 50

2.3.1 Tham gia xây dựng hệ thống chính quyền cơ sở các cấp ở địa phương 50 2.3.2 Vận động quần chúng nhân dân, bảo vệ quốc phòng, an ninh 54

Tiểu kết chương 2 57

Trang 5

5

Chương 3 KHUYẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA TÔN GIÁO TRONG XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở HUYỆN

AN BIÊN HIỆN NAY 58

3.1 Một số khuyến nghị phát huy vai trò của tôn giáo trên địa bàn huyện An Biên 58

3.1.1 Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về tôn giáo nhằm phát huy vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc 58

3.1.2 Đẩy mạnh công tác vận động quần chúng tôn giáo, nâng cao tinh thần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc huyện 65

3.2 Khuyến nghị nâng cao nhận thức và thực tiễn pháp phát huy vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc huyện 68

3.2.1 Khuyến nghị nâng cao nhận thức 68

3.2.2 Khuyến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động công tác tôn giáo trong thực tiễn 71

Tiểu kết chương 3 83

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 96

Trang 6

và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nội dung mang tính chiến lược

để khơi dậy mọi nguồn lực, tạo ra sức mạnh to lớn, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế Để xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải luôn chú trọng đến nhiều yếu tố phát triển kinh tế, xã hội, đời sống văn hoá tinh thần, thực hiện dân chủ cơ sở và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Bởi, tôn giáo được xem là một trong những nguồn lực quan trọng bên cạnh những nguồn lực khác trên mặt đoàn kết dân tộc Vai trò này được thực hiện một cách nhất quán từ Trung ương đến địa phương, trong toàn bộ hệ thống chính trị các cấp và đặc biệt cấp cơ sở

Huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang là một trong những địa phương có nhiều thành phần dân tộc sinh sống, trong đó chủ yếu là người Kinh, Hoa, Khmer chiếm đại đa số Đời sống tôn giáo của huyện thời gian gần đây có nhiều khởi sắc và đạt được những thành tựu rõ rệt Các tôn giáo đã phát huy sức mạnh to lớn của mình trên mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội địa phương Đặc biệt, trên lĩnh vực gắn kết, thực hiện nhiệm vụ cùng chung tay xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Trên địa bàn huyện An Biên, trong thời gian qua, được sự quan tâm của các cấp, các ngành, phối hợp với các đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên,… các tôn giáo đã đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động trong vùng đồng bào dân tộc, tín đồ của mình Chức sắc tôn giáo, Giáo hội, tổ chức tôn giáo luôn đề cao phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”, hưởng ứng

Trang 7

2

các cuộc vận động, tham gia phong trào thi đua yêu nước, xoá đói giảm nghèo, phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường, phát huy các giá trị văn hoá địa phương Và nhất là, tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước tới quần chúng nhân dân, tín đồ, đảm bảo an ninh trật tự xã hội, đấu tranh cảnh giác trước các âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đấu tranh xóa bỏ các tà đạo, các tổ chức bất hợp pháp tuyên truyền trái phép vào địa phương

Xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương, tôi đã nghiên cứu và

chọn đề tài "Vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc ở

huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang hiện nay" làm luận văn thạc sĩ chuyên

ngành Tôn giáo học

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về vấn đề tôn giáo, dân tộc và vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc nói chung có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau đây

Nguyễn Minh Khải (2013), Tín ngưỡng tôn giáo và thực hiện chính

sách tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội Trình bày những vấn đề chung nhất về tình hình, đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; Quan điểm, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo và kết quả công tác tôn giáo ở Việt Nam; Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam Qua những nội dung trình bày, công trình này các tác giả đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung về tín ngưỡng, tôn giáo và thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta Đặc biệt, tác giả cũng đề cập đến một phần nhỏ vấn đề đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc ở mục kết quả công tác tôn giáo ở Việt Nam

Nguyễn Hồng Dương (2012), Quan điểm đường lối của Đảng về tôn

giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia,

Trang 8

3

Hà Nội Công trình cung cấp cho người đọc những nội dung về vấn đề lý luận chung về tín ngưỡng, tôn giáo; Tình hình, đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam hiện nay; Những kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, cái nhìn đối sánh với một số nước Đây là công trình có giá trị khoa học và thực tiễn, tác giả đã đề cập đến nội dung “các tôn giáo gắn bó với dân tộc, đồng hành cùng dân tộc” (trang 128), cũng phần nào thể hiện được những đánh giá tổng quan nhất về vai trò của tôn giáo đối với dân tộc nói chung và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói riêng

Nguyễn Thanh Xuân (2015), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt

Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Đây là công trình chuyên khảo về những vấn đề

tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam; Chính sách tôn giáo ở Việt Nam Trong tác phẩm này, người viết đã cho người đọc thấy được bức tranh cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam Đặc biệt, khi nói về đời sống tôn giáo Việt Nam thời kỳ đổi mới, công trình đã phân tích khá rõ những vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trên các khía cạnh về đời sống kinh

tế, xã hội, từ thiện, an sinh xã hội

Nguyễn Đức Lữ (2007), Tôn giáo – Quan điểm, chính sách đối với tôn

giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị hành chính, Hà

Nội Công trình phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam; Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình cách mạng Việt Nam trước thời

kỳ đổi mới; Nhận thức, quan điểm và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới; Quản lý Nhà nước đối với tôn giáo của Việt Nam hiện nay Trong những nội dung trên tác giả cũng đã trình bày và nhấn mạnh quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết tôn giáo làm nền tảng cho đại đoàn kết toàn dân tộc Bước đầu nêu lên vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Trang 9

4

Công trình “Một số vấn đề về dân tộc và tôn giáo ở Nam Bộ trong phát

triển”, của Vương Hoàng Trù – Phú Văn Hẳn, Nxb Khoa học xã hội, 2017,

Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ, Trung tâm nghiên cứu dân tộc và tôn giáo Tập hợp những bài viết nghiên cứu

về vấn đề dân tộc và tôn giáo vùng Nam Bộ, cơ sở lý luận và thực tiễn, đặc biệt ở phần II, các tác giả có những bài viết bàn về vai trò của tôn giáo, chức năng của tôn giáo đối với sự phát triển dân tộc ở Nam Bộ Tuy nhiên, những bài viết này mới chỉ đề cập một cách khái lược mà chưa thể hiện rõ tính hệ thống và xuyên suốt toàn bộ công trình

“Quan điểm Hồ Chí Minh về tôn giáo đối với nhiệm vụ xây dựng khối

đại đoàn kết ở nước ta” của Lê Bá Trình (2017), có nội dung đề cập đến

những vấn đề về Quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo và đoàn kết dân tộc; Sự vận dụng quan điểm về tôn giáo của Hồ Chí Minh để xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta trong thời gian qua; Tình hình tôn giáo, một

số vấn đề đặt ra và các giải pháp tăng cường khối đại đoàn kết ở nước ta hiện nay Công trình đi phân tích những nội dung về đoàn kết tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta, những vấn đề lý luận và thực tiễn, phần nào giúp người đọc thấy được vai trò, mối quan hệ giữa đoàn kết tôn giáo với đoàn kết dân tộc

Đỗ Quang Hưng (2003), “Nhà nước và Giáo hội”, Nxb Tôn giáo, Hà

Nội, phần nào tác giả đã khái quát được những về đề chính yếu về mối quan

hệ giữa dân tộc và tôn giáo, vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thông qua những biểu hiện về quan hệ của Nhà nước và Giáo hội, giữ tổ chức tôn giáo và hệ thống chính quyền các cấp từ trung ương tới địa phương thông qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc Thông qua công trình này, một lần nữa người nghiên cứu lại được chứng kiến sự đồng hành của tôn giáo trong tiến trình đồng hành cùng dân tộc

Trang 10

5

Đỗ Quang Hưng (2014), Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, cung cấp cho người đọc những vấn đề lý luận

và thực tiễn về thực trạng và chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay Qua công trình này, một lần nữa bằng cách phân tích mối quan hệ giữa Nhà nước với các Giáo hội, tác giả đã có những nhận định và đánh giá về vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc nhằm hướng đến xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

Lê Hữu Nghĩa – Nguyễn Đức Lữ (2003, đồng chủ biên), Tư tưởng Hồ

Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Đề cập đến

những vấn đề về tôn giáo, đoàn kết tôn giáo theo quan điểm của Hồ Chí Minh Cũng thông qua mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc, các tác giả cho thấy quá trình làm công tác tôn giáo chính là quá trình vận động và phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, tín đồ, chức sắc, vai trò của mỗi tôn giáo

để tạo thành nguồn lực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Vũ Oanh (1998), “Đại đoàn kết dân tộc, phát huy nội lực nâng cao

hiệu quả hợp tác quốc tế thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội Công trình nêu khái quát những vấn đề chung của đoàn kết dân tộc ở nước ta trong bối cảnh mới, phát huy các yếu tố nguồn lực để tạo ra sức mạnh xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc Đặc biệt, tác giả cũng chỉ rõ, tôn giáo cũng là một nội lực quan trọng, có vai trò to lớn trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nguyễn Xuân Trung (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn

giáo và sự vận dụng tư tưởng đó vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc s Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Đã nghiên cứu nghiên cứu một cách hệ thống

tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp, nội dung nhằm quán triệt và phát huy tư

Trang 11

6

tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp đổi mới hiện nay ở Việt Nam

Nguyễn Thị Vân Hà (2014), “Tôn giáo và luật pháp về tôn giáo trong

thời k đổi mới ở Việt Nam” Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Hà

Nội Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam tác giả đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý trong quản lý Nhà nước về Tôn giáo Tác giả cũng ít nhiều đề cập đến vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bùi Hữu Dược (2014), “Quản l nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam t

n m 1975 đến nay” Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học, Học viện Khoa học Xã hội,

Hà Nội Trên cơ sở phân tích những vấn đề về quản lý Nhà nước đối với tôn giáo, mối quan hệ của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tôn giáo từ năm 1975 đến năm 2013, tác giả cũng có đề cập đến vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội nói chung và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân nói riêng

Ngoài ra, có thể kể đến các bài nghiên cứu đăng trên các báo và tạp chí

sau đây: Phiếm Đình (2018), “Đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh –

l luận và thực tiễn bác bỏ mọi xuyên tạc”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân,

Nguyễn Xuân Trung (2014), “Tư tưởng Hồ chí Minh về đoàn kết tôn giáo”, Tạp chí Lý luận chính trị số 11; Ngô Hữu Thảo (2018) “Công tác tôn giáo

hiện nay-một số vấn đề đặt ra t hệ thống chính trị ở nước ta”, Tạp chí Công

tác Tôn giáo; Lê Đại Nghĩa (2001), “Về tư tưởng đoàn kết lư ng giáo của

Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1 2001

Nghiên cứu về tôn giáo và đại đoàn kết dân tộc, vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết ở tỉnh Kiên Giang, có thể kể đến một số

công trình cụ thể:

Ngô Văn Quang (2017), Công tác quản l nhà nước đối với hoạt động

của Phật giáo trên địa bàn tỉnh Kiên Giang hiện nay - Thực trạng và giải

Trang 12

7

pháp, Luận văn Thạc sĩ ngành quản lý công, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh Đây là công trình tiếp cận nghiên cứu về vấn đề quản lý Nhà nước đối với Phật giáo ở Kiên Giang dưới góc độ của quản lý công, tác giả cũng bước đầu nêu được những đánh giá về thực trạng của Phật giáo và vấn đề quản lý Nhà nước đối với Phật giáo trên địa bàn tỉnh Qua đó, cung cấp cho người đọc tư liệu để đánh giá rõ hơn vai trò của Phật giáo đối với mọi mặt của đời sống, đặc biệt xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Kiên Giang nói chung

và huyện An Biên nói riêng

Trần Ngọc Quyên (2017), Quản l Nhà nước đối với hoạt động tôn

giáo trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, Luận văn Thạc s ngành

quản lý công, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Là công trình phân tích dưới góc độ quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo tại thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn thị xã

Thái Châu Báu (2015), Quản l Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, Luận văn Thạc s quản lý công, Học viện chính

trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Đã cung cấp cho người đọc những vấn đề chung nhất về tình hình tôn giáo, công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo và đề xuất các giải pháp Qua đó ít nhiều cũng đề cập vai trò của tôn giáo trong xây dựng đời sống xã hội, đặc biệt là xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn tỉnh

Bài viết của Thành Huy, “Kiên Giang: Công tác tôn giáo góp phần ổn

định kinh tế, chính trị - xã hội”, Tạp chí điện tử ban Tôn giáo Chính Phủ (http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/169/0/2611/Kien_Giang_Cong_t ac_ton_giao_gop_phan_on_dinh_kinh_te_chinh_tri_xa_hoi) đã cung cấp bức

tranh chung về tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo, vai trò của tôn giáo trong xây dựng phát triển kinh tế, xã hội, ổn định đời sống ở Kiên Giang;

Trang 13

tien/item/2575-phat-giao-nam-tong-trong-doi-song-tinh-than-cua-dong-bao-Khmer trong đời sống văn hóa văn hóa tinh thần tỉnh Kiên Giang, và tác giả cũng nhắc tới vai trò của Phật giáo đối với các lĩnh vực, trong đó có xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trên địa bàn tỉnh;… Điểm qua những công trình nghiên cứu trên cho thấy, những vấn đề lý luận và thực tiễn về tôn giáo, vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng đều đã được đề cập, mặc dù chưa thành hệ thống Tuy nhiên, đối với địa bàn huyện An Biên, vấn đề này còn đang bỏ ngỏ, và cần phải được nghiên cứu để bổ sung cho lý luận và thực tiễn tôn giáo Việt Nam nói chung, Kiên Giang, huyện An Biên nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là nghiên cứu về vai trò của tôn giáo trong xây

dựng khối đoàn Đại kết dân tộc huyện An Biên

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:

Thứ nhất, Phân tích những tiền đề cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Thứ hai, Phân tích thực trạng vai trò của tôn giáo trong phát triển kinh tế, văn hóa, gắn kết cộng đồng, chăm lo đời sống và đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc huyện An Biên

Thứ ba, một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc huyện An Biên hiện nay

Trang 14

9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc ở huyện An Biên-Kiên Giang

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang

- Về thời gian: Quá trình hình thành trong lịch sử và những hoạt động của tôn giáo trong xây dựng khối đoàn kết dân tộc ở An Biên từ năm

2010 đến nay Sở dĩ tác giả lấy mốc 2010 bởi đây là năm đánh dấu bước tiến vượt bậc trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, tạo được sự đột phá

về công tác tôn giáo, phát huy vai trò của tôn giáo trên địa bàn huyện

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, đoàn kết tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng các chủ trương chính sách của địa phương, thực trạng đời sống tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn huyện An Biên làm cơ sở lý luận nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu Tôn giáo học, cụ thể là các phương pháp triết học tôn giáo, xã hội học tôn giáo, thực thể tôn giáo, địa lý học tôn giáo, hiện tượng học và nhân học tôn giáo… cùng các phương pháp nghiên cứu liên ngành khác khi đánh giá, khảo tả, đưa ra các luận điểm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn cung cấp những vấn đề lý luận về tôn giáo, đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc, vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc huyện An Biên

Trang 15

10

6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Luận văn có thể làm tài liệu cho những nghiên cứu và vận dụng trong công tác tôn giáo, công tác Mặt trận cũng như nâng cao vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn huyện An Biên

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 16

11

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÕ CỦA TÔN GIÁO TRONG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

1.1.1 Khái niệm tôn giáo và đoàn kết dân tộc

Khi nghiên cứu về tôn giáo, phần lớn các học giả đều có cùng quan điểm cho rằng nó là một khái niệm hết sức phức tạp, có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau để đưa ra một định nghĩa, một khái niệm phù hợp với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của mình Chính vì vậy, rất khó để có một tiếng nói chung, một định nghĩa chung nhất về tôn giáo là gì mang tính phổ quát mà tất cả các lĩnh vực khoa học nghiên cứu về tôn giáo đều có thể sử dụng Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi không đi sâu phân tích tất cả các khái niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo mà chỉ tập trung làm rõ khái niệm tôn giáo được tiếp cận từ góc độ của nghiên cứu Tôn giáo học, xem xét tôn giáo như một hiện tượng xã hội nảy sinh từ rất sớm trong lịch sử phát triển của loài người, dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích khái niệm này nhằm nhận thức đúng về tôn giáo, giúp Đảng, Nhà nước có chính sách thích hợp hơn, những người làm công tác tôn giáo ở các địa phương sẽ thực hiện tốt chính sách này, góp phần tập hợp được tất cả các lực lượng xã hội thực hiện mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới đất nước

“Theo nghĩa rộng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội, gồm những quan niệm dựa trên cơ sở niềm tin và sùng bái những lực lượng siêu nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng tôn thờ” [66;1112]

“Tôn giáo là sự tin tưởng và sùng bái sức mạnh siêu phàm của thần linh, bắt đầu xuất hiện từ cuối công xã nguyên thủy, lúc đầu có hình thức sơ

Trang 17

12

khai, gọi là tôn giáo nguyên thủy, sùng bái tự nhiên như bái vật giáo, thờ thần lửa, sinh thực khí, thờ Tô tem, sau đó phát triển thành đa thần giáo, nhất thần giáo và thành tôn giáo quốc tế”[65; 254]

Theo nghĩa hẹp, tôn giáo là hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức về lực lượng siêu nhiên, tổ chức, hoạt động tôn thờ lực lượng siêu nhiên mà sự tồn tại và phát triển của nó là do sự phản ánh hư ảo hiện thực khách quan vào đầu óc con người [58;15]

Theo tác giả Vương Hoàng Trù [65], đối với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác tuy không coi tôn giáo là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của mình nhưng khi xây dựng nên học thuyết cho cuộc đấu tranh của phong trào công nhân quốc tế đã quan niệm, nhận thức sâu sắc về tôn giáo Một số đánh giá, nhận xét của C.Mác, Ph.Ăngghen về tôn giáo về sau này được những người

kế thừa sự nghiệp của các ông và những nhà nghiên cứu lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin làm kim chỉ nam coi đó là nòng cốt trong lý luận về tôn giáo Cũng có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa bao giờ đưa ra định nghĩa về hình thái ý thức xã hội này nhưng một số nhận xét của các ông sau đây được coi là những định nghĩa về tôn giáo Đó là nhận xét của C.Mác trong Lời nói đầu cho tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel được viết vào cuối năm 1843 đầu năm 1844: “Tôn giáo là sự tự ý thức

và sự tự tri giác của con người chưa tìm thấy bản thân mình hoặc đã lại đánh mất bản thân mình một lần nữa” [11;14]; “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những điều kiện xã hội không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[12;267];

Một nhận xét của Ph.Ăngghen trong tác phẩm Chống Duhing được viết

từ năm 1876 cũng được xem là một trong những định nghĩa về tôn giáo: “Tất

cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ,

Trang 18

“Theo nghĩa rộng nhất, từ tôn giáo có nghĩa là sự trung tín với một tập hợp các niềm tin hay lời giảng dạy về những điều huyền bí về sự sống sâu xa nhất và khó hiểu nhất”[65;14]

Ở Việt Nam, khi nghiên cứu về tôn giáo, một số nhà nghiên cứu cũng

đã đưa ra quan niệm của mình về khái niệm tôn giáo Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: “Tôn giáo là một bộ phận văn hoá tinh thần mà con người cảm nhận những điều kiện của thế giới vô hình rút ra từ xã hội và tự nhiên mà họ đang sống, tác động hư ảo vào sinh hoạt đời thường và “cuộc sống thế giới bên kia”, theo cách suy nghĩ của nền văn hoá đang chi phối họ”[81;14-15]

Qua những định nghĩa trên cho thấy các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác cũng như các nhà nghiên cứu tôn giáo đã đứng trên quan điểm Mác xít

do hướng tới mục tiêu là cách mạng xã hội nên nhận thức về tôn giáo có xu hướng thiên về triết học, nhân học và xã hội học

Bên cạnh khái niệm về tôn giáo, khái niệm dân tộc và đại đoàn kết dân tộc cũng là nội dung cần làm rõ trong luận văn này

Khái niệm dân tộc, theo T điển luật học [8;1124] “Dân tộc (tộc người,

ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua

Trang 19

14

hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất

Dân tộc (nation) - hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xã hội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là

bộ tộc) Dân tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người”[8; 1124]

Khái niệm đoàn kết, đại đoàn kết Theo từ điển tiếng Việt, “Đoàn kết là đồng lòng, kết hợp thành khối, thành nhóm chặt chẽ”[66;237] Đoàn kết có thể hiểu một cách đơn giản “là sự tập hợp, kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó Còn đại đoàn kết là đoàn kết rộng rãi tức muốn nhấn mạnh tới thành phần, quy mô, lực lượng của khối đoàn kết”[48;2449] Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng định nghĩa về khái niệm đại đoàn kết: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, cái gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”[47;119]

Đại đoàn kết dân tộc, đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, toàn dân tộc ta đoàn kết Được diễn đạt theo các ngôn từ khác nhau nhưng đều mang nghĩa thống nhất là sự tập hợp của đại đa số quần chúng nhân dân thuộc mọi thành phần, tầng lớp xã hội, không kể địa vị, quyền lực, chính trị, giai cấp trong cùng một khối thống nhất

Khái niệm “đoàn kết tôn giáo” được hiểu là các tôn giáo cùng kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung Ở Việt Nam,

Trang 20

có Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước luôn lấy phương châm thực hiện nhất quán quan điểm tự do tín ngưỡng tôn giáo để góp phần tạo ra sự đồng thuận

xã hội, khuyến khích đồng bào các tôn giáo gắn bó trong khối đại đoàn kết dân tộc, cùng chung sức, đồng lòng đóng góp cho sự nghiệp giải phóng đất nước và xây dựng, phát triển xã hội, bảo vệ non sông, Tổ quốc

Chính sách đại đoàn kết dân tộc, đặc biệt là đoàn kết tôn giáo vì lợi ích của quốc gia luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong quá trình điều hành, lãnh đạo đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

1.1.2 Mối quan hệ giữa tôn giáo và đoàn kết dân tộc, vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

Tôn giáo có vai trò quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc không chỉ trên các lĩnh vực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hoá cộng đồng các dân tộc, tôn giáo còn thực hiện vai trò gắn kết cộng đồng, cùng với Đảng và Nhà nước chăm lo đời sống cho đồng bào các dân tộc, tham gia xây dựng hệ thống chính quyền cơ sở các cấp ở địa phương, vận động quần chúng, củng cố quốc phòng an ninh, và thúc đẩy thực hiện công tác xã hội cộng đồng, bảo vệ môi trường…

Tôn giáo và dân tộc là hai mặt thống nhất của xã hội, ở Việt Nam, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề này Theo đó, Người cho rằng muốn thực hiện đoàn kết dân tộc trước tiên phải tạo được sự đoàn kết tôn giáo Vấn đề dân tộc và tôn giáo là hai vấn đề sống còn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng ta Ngay sau khi nước nhà độc lập, ngay trong

Trang 21

16

phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (3 9 1945), Người đã tuyên bố:

“Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ thống trị Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự

do, lương giáo đoàn kết” và khẳng định: “Phải đoàn kết chặt chẽ không phân biệt đảng phái, giai cấp, tôn giáo Đoàn kết tức là lực lượng; chia rẽ tức là yếu hèn”[46;10] “Kế thừa, phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết tôn giáo, xuất phát từ nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay, từ vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng và tính quần chúng của tôn giáo những năm qua, Ðảng và Nhà nước luôn đặc biệt coi trọng vấn đề dân tộc, tôn giáo và coi đó là tư tưởng xuyên suốt, một trong những nội dung quan trọng trọng việc hoạch định đường lối xây dựng và phát triển đất nước Ðảng ta đã khẳng định: Ðồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đoàn kết dân tộc, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm trên thực tế quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của nhân dân, quyền sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật” Đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết về công tác tôn giáo

đã khẳng định: “Tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HÐH đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc

Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”[21;165]

Tôn giáo trong quá trình xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, luôn thể hiện vai trò tiên phong của mình, Giáo hội, tín đồ các tôn giáo đã

có sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả với các tổ chức Đảng, chính quyền và nhân dân, các cấp từ trung ương đến địa phương làm tốt công tác trợ giúp đồng bào các dân tộc, tín đồ các tôn giáo phát triển kinh tế, văn hoá cộng đồng các dân tộc

Trang 22

17

Theo phương châm đã đề ra của các tôn giáo được Nhà nước Cộng hoà

xã hội Việt Nam công nhận, các tổ chức tôn giáo đều xác định cho mình một đường hướng hành đạo riêng, phù hợp với đạo lý của mình và lợi ích của dân tộc như: Đối với Phật giáo là “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”; Đối với Công giáo là “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”; Đối với Hội thánh Tin Lành là “Sống Phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”; còn của Cao Đài là “Nước vinh, Đạo sáng” Trong quan điểm, tư tưởng hành đạo đó của các tôn giáo nhìn chung vừa phát huy được những đặc tính hướng thiện trong giáo lý của mình, vừa phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc, Hiến pháp, pháp luật và xu hướng phát triển của thời đại Cùng với những thuận lợi của các yếu tố khách quan và chủ quan khác như sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước, sức mạnh của quần nhân dân và truyền thống lịch

sử dân tộc, các tôn giáo cùng chung tay thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay

Đảng và Nhà nước ta nhận định về những đóng góp tích cực của các tôn giáo, cho rằng: “Các tổ chức tôn giáo đã xây dựng đường hướng hành đạo, hoạt động theo pháp luật; các tôn giáo được Nhà nước công nhận đã hoạt động theo hướng gắn bó với dân tộc, tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước” Nhận định trên là sự ghi nhận những thành tựu quan trọng của công tác tôn giáo trong thời gian qua; đồng thời chỉ ra yêu cầu cơ bản, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo trong việc giải quyết vấn đề tôn

giáo ở nước ta trong giai đoạn mới của cách mạng[6]

Trên phương diện thúc đẩy văn hoá cộng đồng các dân tộc, tôn giáo đã

tỏ rõ vai trò của mình đó là sự hệ thống các chức năng điều chỉnh, liên kết xã hội, tạo ra cho cộng đồng các dân tộc một lối sống giản dị, nhân văn và đạo đức cao đẹp Trong hệ thống giáo lý, giáo luật của mình, đạo đức tôn giáo

Trang 23

vô cùng nguy hiểm, tạo nên tình trạng chia rẽ cục bộ, thậm chí có thể gây ra những rạn nứt xã hội, hoặc mâu thuẫn giữa các tôn giáo, giữa người theo đạo với người không theo đạo, dễ bị kẻ xấu lợi dụng phá hoại khối đoàn kết, làm suy yếu sức mạnh quốc gia Đảng ta nhận định, tình hình hoạt động tôn giáo còn có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định, vì vậy, giải quyết vấn đề tôn giáo phải tăng cường được khối đại đoàn kết toàn dân, không để xảy ra tình trạng sự cố kết cộng đồng trong một tôn giáo nhưng lại dẫn đến sự biệt lập, ảnh hưởng xấu đến đoàn kết toàn dân tộc [6]

Các tôn giáo còn có một vai trò to lớn trong công tác vận đồng quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đó là sự tham gia của tôn giáo vào giáo dục truyền thống, phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào các dân tộc theo đạo trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Chỉ có thể khơi dậy được truyền thống yêu nước, gắn bó với sự nghiệp cách mạng, tuân thủ đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước thì mới nâng cao ý thức, trách nhiệm của đồng bào các dân tộc gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đóng góp xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [6]

Trang 24

Với mục đích “tốt đời, đẹp đạo”, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo đã có nhiều nỗ lực để thực hiện tốt trách nhiệm công dân của mình đối với dân tộc, Tổ quốc hài hoà trong nghĩa vụ tôn giáo của mình Trách nhiệm công dân và trách nhiệm tín đồ luôn song hành, gắn bó chặt chẽ với nhau Chỉ có thể thực hiện tốt trách nhiệm công dân thì mới thực hiện tốt nghĩa vụ tín đồ tôn giáo và ngược lại Người tín đồ của tôn giáo đồng thời phải là người công dân tích cực của đất nước trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Giáo dục làm cho các tín đồ, các chức sắc tôn giáo nhận thức sâu sắc nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm, nghĩa

vụ của chính bản thân họ; động viên đồng bào đóng góp sức người, sức của nhiều hơn cho sự nghiệp cách mạng Chừng nào các tín đồ tôn giáo còn đứng ngoài cuộc, thờ ơ, thiếu trách nhiệm với đất nước, còn coi sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ của chính quyền, của những người không theo tôn giáo, thì chừng đó còn tạo kẽ hở cho sự chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch; và khi đó công tác giáo dục, tuyên truyền, công

Trang 25

20

tác tôn giáo còn chưa thực sự đạt hiệu quả Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của công tác tôn giáo phải giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập

và thống nhất của Tổ quốc, làm cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất

nước và chủ nghĩa xã hội, hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [6]

Các tôn giáo còn đóng góp vai trò của mình trong việc đảm bảo trật tự

xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh quốc gia Ở nước ta hiện nay, sự lợi dụng của các thế lực thù địch với nhiều âm mưu “diễn biến hoà bình”, chống

phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc chống phá cách mạng Việt Nam

Cuối cùng, các tôn giáo luôn là một trong những tổ chức đi đầu theo tinh thần của giáo lý, giới luật và ý nghĩa nhân văn tôn giáo, làm tốt công tác

xã hội, bảo vệ môi trường, tham gia từ thiện xã hội Qua đó, tôn giáo đã phát huy vai trò củng cố và liên kết xã hội, là nhân tố làm ổn định những trật tự xã hội đang tồn tại, dựa trên những hệ thống giá trị và chuẩn mực chung, những nhận thức chung nhất của mỗi tôn giáo trong xã hội đó Góp phần duy trì, bảo

vệ những trật tự xã hội hiện hành Nhìn từ góc độ tích cực, Tôn giáo đã hình thành song song với quá trình phát triển của xã hội Các tổ chức tôn giáo đóng vai trò trụ cột trong lĩnh vực từ thiện xã hội, tham gia vào nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường Bởi đây là những lĩnh vực nhận được nhiều sự quan tâm của tín đồ, cũng như của các tôn giáo Bên cạnh việc đóng góp trực tiếp vào quá trình phát triển xã hội, công tác từ thiện xã hội còn được các tôn giáo quan tâm và đẩy mạnh Hoạt động từ thiện được các tôn giáo xem như chính trách nhiệm của họ; khi các tôn giáo tích cực tham gia hoạt động: Vận động ủng hộ người nghèo trong họ đạo, quyên góp mở các trường học từ thiện, xây dựng y tế phiễn phí, huy động và hỗ trợ người nghèo, tham gia làm cầu-đường góp phần nông thôn mới… những điều đó đã thể hiện những đóng góp rất lớn của tôn giáo và phần rất lớn cho xã hội, địa phương phát triển

Trang 26

21

Đặc biệt đối với Việt Nam hiện nay, chúng ta đang trong thời kỳ quá độ còn nhiều thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với những lợi ích khác nhau của các giai tầng xã hội, sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội vẫn là một thực tế; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân chưa cao, thì con người càng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố ngẫu nhiên, may rủi Điều đó đã làm cho con người có tâm lý thụ động, nhờ cậy, cầu mong vào những lực lượng siêu nhiên

Với những đặc trưng cơ bản của thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội tôn giáo đã tác động tới đời sống xã hội dưới nhiều hình thức và trên cả phương diện tích cực lẫn tiêu cực Sự đóng góp tích cực của Tôn giáo là không thể phủ nhận, bởi mỗi tôn giáo đều mang trong nó bản chất và mục tiêu hướng con người, xã hội, cộng đồng đến với chân – thiện – mĩ Làm phong phú đời sống tinh thần, nhất là đời sống tâm linh, góp phần điều chỉnh cách hành xử trong các mối quan hệ xã hội; củng cố nền tảng đạo lý của quốc gia, dân tộc về đời sống vật chất, Tôn giáo cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo ra những hoạt động kinh tế giữa các cộng đồng tôn giáo; giữa các hoạt động kinh doanh trong môi trường du lịch, văn hóa tâm linh Văn kiện lần thứ Đại hội XII của Đảng ta một lần nữa đã khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo

để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”

Quan điểm “Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo”, trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: vai trò tôn giáo không thuần túy chỉ là vấn đề đời sống tâm linh, tinh thần, mà còn là vấn

Trang 27

22

đề kinh tế, văn hoá, đạo đức, lối sống Thông qua các sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người, tín ngưỡng, tôn giáo đã thay đổi diện mạu của văn hoá dân tộc Trên quan điểm và nhận thức chung đó, Đảng ta coi những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo có thể được tiếp thu, vận dụng vào công cuộc xây dựng xã hội mới Tuy nhiên, mọi hoạt động của các tôn giáo phải đặt trong khuôn khổ pháp luật, thể hiện sự trân trọng, giữ gìn, bảo lưu những giá trị văn hoá của dân tộc, không thể xem nhẹ đồng thời lên án cái xấu, cái ác” Chính điều đó đã góp phần ngăn chặn, hạn chế những suy nghĩ tiêu cực; những ham muốn, dục vọng ở con người - nhất là khi nước ta đang chịu sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, lối sống tư sản đã và đang thâm nhập vào trong đời sống xã hội Đó chính là điểm tương đồng giữa các giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo với công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Theo tác giã Đỗ Quang Hưng “Tôn giáo cũng là một nguồn lực trí tuệ”, điều đó có nghĩa là Tôn giáo đã có những những đóng góp về mặt nhận thức của con người Mặt khác tôn giáo và hoạt động tín ngưỡng tôn giáo luôn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc giữ gìn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đã và đang càng hội nhập sâu vào thế giới văn hóa tôn giáo nói chung, tôn giáo Tinh Lành, Công Giáo sẽ giữ vai trò chủ đạo Sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo có khả năng đáp ứng ở một mức độ nào đó nhu cầu văn hoá tinh thần

và có ý nghĩa nhất định về giáo dục ý thức cộng đồng, đạo đức, phong cách, lối sống Vì vậy, việc kế thừa, bảo tồn và phát huy văn hoá (có chọn lọc) của nhân loại, trong đó có đạo đức tôn giáo là cần thiết Mặt khác, tín ngưỡng, tôn giáo có liên quan đến tình cảm, tư tưởng của một bộ phận dân cư, do đó sự tồn tại của tín ngưỡng, tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như một hiện tượng xã hội khách quan [19, tr46, 47] Với cách nhìn nhận và đánh giá của Đảng, Nhà nuốc ta về vai trò của Tôn giáo nước ta từ vai trò là cầu nối văn hóa, cho đến vai trò kiến tạo và củng cố nền tảng phát triển xã hội

Trang 28

23

chúng ta có thể thấy rằng tôn giáo đang đóng nhiều vai trò quan trọng trong

xã hội hiện nay

1.2 Cở sở thực tiễn về vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc huyện An Biên

1.2.1 Tình hình và đặc điểm dân tộc huyện An Biên

Huyện An Biên ở phía Đông tỉnh Kiên Giang, nằm trong vùng U Minh Thượng, với vị trí phía Bắc giáp biển (vịnh Rạch Giá), phía Đông giáp huyện Châu Thành và Gò Quao, phía Nam giáp huyện U Minh Thượng và phía Tây Nam giáp huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang Về hành chính, huyện bao gồm thị trấn Thứ Ba và 8 xã là: Tây Yên, Tây Yên A, Nam Yên, Nam Thái, Nam Thái A, Hưng Yên, Đông Yên và Đông Thái

Diện tích tự nhiên là 40.028 ha, có 08 xã, 01 thị trấn, 74 ấp, khu phố và

634 tổ nhân dân tự quản Tổng dân số 127.251 người; dân tộc Kinh chiếm

87,03% (110.793 người), Khmer chiếm 12,32% (15.230 người), Hoa chiếm 0,59% (743 người) và một số ít dân tộc khác chiếm 0,06% (65 người) Huyện

có 90% dân cư sống tập trung ở nông thôn; sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, nuôi trồng và khai thác thủy hải sản [72;34]

Thế mạnh kinh tế của An Biên là nông nghiệp và thủy sản Từ năm

2000 trở lại đây, kinh tế An Biên đã có bước phát triển đáng kể, mức tăng trưởng GDP bình quân trên 10% năm Huyện đã và đang xuất hiện nhiều mô hình làm kinh tế hiệu quả: mô hình sản xuất nông - lâm nghiệp - thủy sản kết hợp cho hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt là lĩnh vực khai thác nuôi trồng thủy sản phát triển khá mạnh Đây cũng là lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng nhanh và được xem là ngành kinh tế mũi nhọn, với sản lượng thủy hải sản bình quân 47.000 tấn năm, nhờ duy trì đội tàu đánh bắt trên biển cộng với việc khuyến khích, tạo điều kiện cho nông dân, các nhà đầu tư trong và ngoài huyện đến khai thác lợi thế vùng ven biển, bãi bồi để nuôi trồng thủy hải sản có giá trị cao Những năm sắp tới, Huyện An Biên đã tập trung chuyển dịch cơ cấu

Trang 29

24

kinh tế từ 02 vụ lúa kém hiệu quả sang 01 vụ tôm - 01 vụ lúa, đồng thời áp dụng các tiến bộ khoa học k thuật vào sản xuất để đời sống nhân dân được nâng lên; gắn với thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững

Do đặc điểm của huyện là thuộc vùng U Minh Thượng của tỉnh Kiên Giang, nên Dân tộc của huyện cùng cư trú, sống xen nhau theo những dòng sông, kênh rạch, cùng tồn tại và phát triển theo xu hướng chung của cả nước,

đã hình thành các đặc điểm cơ bản:

Các dân tộc cùng chung sống đoàn kết, hoà hợp, cố kết, chung sức, chung lòng chống chọi với thiên nhiên, bão lũ; tinh thần đoàn kết càng được phát huy hơn trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm nổi bật là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc M , giải phóng dân tộc Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, không ngừng được củng cố và phát triển, đã chiến thắng thiên tai, chiến thắng giặc ngoại xâm, góp phần cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; năm 1994 huyện An Biên được Nhà nước công nhận là huyện Anh Hùng

Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau, có trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đồng đều, việc cư trú xen kẽ giữa các dân tộc anh em, đã tạo nên sự thống nhất của cộng đồng dân tộc Việt Nam Những năm gần đây, gắn liền với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; hiện huyện có ba dân tộc sinh sống,

như: Kinh, Khmer, Hoa và người dân tộc Chăm (cũng chỉ tính theo đầu

người) Do địa hình sông rạch chằng chịt, tư duy còn lạc hậu, kinh tế phát

triển không đồng đều nên đời sống người Khmer còn gặp nhiều khó khăn Theo Báo cáo người nghèo của Ủy ban MTTQ huyện An Biên, hộ nghèo của huyện chiếm trên 19% tổng số hộ, trong đó hộ người Khmer chiếm trên 60% [74; 38]

Trang 30

25

Đối với văn hóa, các dân tộc dù cư trú chung trên một địa bàn chung, nhưng vẫn mang bản sắc văn hóa riêng, tạo nên văn hóa chung, đa dạng, phong phú, thống nhất Đều có phong tục, tập quán, tâm lý, lối sống, tín ngưỡng tôn giáo mang sắc thái riêng, nên đã tồn tại và phát triển độc lập trong nền văn hóa các dân tộc Việt Nam

Nhìn chung, các dân tộc huyện An Biên luôn có tinh thần đoàn kết, cần

cù lao động sản xuất, luôn giúp đỡ nhau trong cuộc sống, có tình làng nghĩa xóm, gắn bó với nhau sống theo những con kênh trong toàn địa bàn huyện, bằng nghề nông nghiệp và buôn bán lẻ, luôn chấp hành chủ chương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

Bên cạnh đó, kinh tế còn chậm phát triển Kết cấu hạ tầng (điện, đường,

trường, trạm, dịch vụ) còn thấp, bởi vì huyện còn thuộc vùng sâu, vùng xa,

vùng căn cứ cách mạng nên vẫn còn khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo còn mức cao so với bình quân của tỉnh, chất lượng, hiệu quả về giáo dục đào tạo còn thấp, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn, một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển

Hệ thống chính trị trong huyện cơ bản ổn định Năng lực, trình độ cán

bộ làm công tác tôn giáo dân tộc có mặt còn hạn chế, số lượng đảng viên là người dân tộc thiểu số thấp Hoạt động của cấp ủy, chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở nhiều nơi chưa sát dân, chưa tập hợp được đồng bào nhiều

Xuất phát từ những đặc điểm như trên, nên người dân trong huyện nói chung; tín đồ theo các tôn giáo nói riêng cũng còn thụ động; trong quá trình phát triển thích học hỏi, dễ tiếp thu cái mới nhưng thiếu tính chọn lộc, dễ bị lôi cuốn, nhận thức không đồng đều…từ đó các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng những khó khăn về đời sống, về trình độ dân trí thấp và những sai sót của các cấp, các ngành trong thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo để kích động lôi kéo, xuyên tạc, phá hoại truyền thống đoàn kết, gây mất ổn định chính trị, nhất là chia rẻ khối đại đoàn kết của huyện

Trang 31

26

1.2.2 Tình hình và đặc điểm tôn giáo huyện An Biên

Hiện nay, trên địa bàn huyện An Biên có 20 cơ sở thờ tự, 7 tổ chức tôn giáo trực thuộc, có 23.145 tín đồ (trong đó Phật giáo 18.746 tín đồ, Cao Đài

có 2.027 tín đồ, Hòa Hảo 529 tín đồ, Công Giáo có 1.179 tín đồ, Tin Lành có

230 tín đồ, Tứ Ân Hiếu Nghĩa 15 tín đồ, Hồi giáo có 419 tín đồ, chiếm 18.24% dân số toàn huyện), có 162 chức sắc, 192 chức việc, đại đa số là nông dân và tầng lớp lao động [76;27], dưới tác động thành quả của công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước, sự tự thân vận động của các tôn giáo trong huyện

An Biên đang có những biến đổi nhiều mặt:

Các tôn giáo đều tuân thủ Hiến chương, giáo lý và thực hiện đúng pháp luật của nhà nước về hoạt động tôn giáo, tích cực tham gia phát triển kinh tế xã hội, tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, theo phương châm “tốt đời, đẹp đạo” Hoạt động từ thiện, nhân đạo của các tổ chức và cá nhân có liên quan đến tôn giáo bảo đảm đúng quy định pháp luật, các hoạt động đem lại hiệu quả tích cực cho cộng đồng, cho xã hội được khuyến khích tham gia và có hiệu quả đối với các phong trào do địa phương phát động và tín đồ tôn giáo tham gia ngày càng nhiều vào các cuộc vận động, các phong trào yêu nước của Trung ương và địa phương phát động, cụ thể như tham gia vào Cuộc vận động

“Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn Minh”, vận động qu

vì người nghèo, phong trào đoàn kết sáng tạo, hội nhập quốc tế; phong trào Chung tai bảo vệ môi trường ứng phó biến đổi khí hậu, xây dựng mô hình ở địa phương, đóng góp các loại qu của địa phương như: Phòng chống thiên tai tìm kiếm cứu nạn, Qu an ninh quốc phòng, Qu đền ơn đáp nghĩa, qu vì người nghèo, cứu trợ, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, xây dựng cầu, đường giao thông nông thôn…

Các sinh hoạt tôn giáo thuần tuý diễn ra bình thường trong khuôn viên

cơ sở thờ tự, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng chính đáng của người có đạo Còn sinh hoạt tôn giáo vượt ra ngoài khuôn viên cơ sở thờ tự hoặc những sinh hoạt

Trang 32

27

tôn giáo mà người chủ trì cơ sở thờ tự chưa đăng ký và các đơn thư có chiều hướng gia tăng Theo báo cáo số 313-BC HU, ngày 17 tháng 9 năm 2018 của Ban Thường vụ Huyện ủy An Biên về việc tổng kết báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết Đảng bộ huyện giữa nhiệm kỳ 2015 – 2020, thì tình hình giải quyết đơn, thư, yêu cầu liên quan đến công tác Tôn giáo từ năm 2010 đến nay, các cấp trong huyện nhận và giải quyết hơn 100 đơn, cơ sở nhận và giải quyết hơn 300 đơn có liên quan đến nhu cầu tôn giáo; chỉ tính riêng năm 2018 cấp huyện An Biên nhận và giải quyết nhận và giải quyết 78 đơn có liên quan đến nhu cầu tôn giáo như mua đất, xây dựng cơ sở thờ tự, sinh hoạt phát sinh,

tổ chức lễ trong đó 52 đơn sinh hoạt phát sinh, xây dựng nơi thờ tự 08 trường hợp, tranh chấp nội bộ 3 đơn, 6 đơn xin phép xin hoạt, 7 đơn mua đất

và một số trường hợp khác[74;34] Thực tế trên cho thấy số lượng đơn tôn giáo ngày càng nhiều, thể hiện các sinh hoạt tôn giáo vượt ra ngoài khuôn viên cơ sở thờ tự [76;39]

Tham gia an sinh xã hội, tín từ năm 2014 đến nay các tôn giáo tham gia

an sinh xã hội trên địa bàn huyện hơn 50 tỷ đồng như: vận động cất trên 500 căn nhà đại đoàn kết cho người nghèo, hơn 100 trạm nước sạch công cộng, 17

Km lộ nông thôn, 52 cây cầu hàng ngàn xuất quà tết, hàng ngàn giếng nước, xuồng, giường, thuốc trị bệnh… các công trình phúc lợi xã hội trong vùng có đông đồng bào tôn giáo được xây dựng ngày càng nhiều [74; 42]

Nguyên nhân phát huy tính tích cực trong các tôn giáo huyện An Biên thời gian qua là do Đảng và nhà nước có đường lối, chủ trương, chính sách tôn giáo đúng đắn, được Đảng bộ huyện An Biên quán triệt và vận dụng thực hiện một cách phù hợp, sáng tạo: như Huyện uỷ ban hành Quy chế 04 quy định hệ thống chính trị trong huyện An Biên tham gia làm công tác tôn giáo, lập ban chỉ đạo công tác tôn giáo, Ủy ban nhân dân huyện An Biên ban hành Bản quy định về phân cấp quản lý giải quyết những vấn đề tôn giáo trong huyện An Biên, Ủy ban MTTQ xây dựng kế hoạch thực hiện công tác tôn

Trang 33

28

giáo trong tình hình mới; làm cho cả hệ thống chính trị các cấp trong huyện

An Biên tác động vào các tôn giáo trong huyện bằng chủ trương, chính sách đáp ứng nhu cầu hợp lý của các tôn giáo nhằm phát huy vai trò tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc của huyện

Những vấn đề đặt ra và những khó khăn hạn chế trong phát huy vai trò tôn giáo là niềm tin của tín đồ, chức sắc tôn giáo đối với việc thực hiện chủ trương, chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo chưa thật sự vững chắc; Các tôn giáo cần thỏa mãn nhu cầu "hội nhập xã hội" trong tình hình hiện nay; vấn đề đoàn kết giữa các tôn giáo, những người có tín ngưỡng, tôn giáo với người không có tín ngưỡng, tôn giáo; những âm mưu hành động lợi dụng tôn giáo phục vụ các mưu đồ chính trị, phản động vẫn không ngừng diễn biến phức tạp; vấn đề đa dạng tôn giáo; hoạt động 'diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tôn giáo; giải quyết về tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác tôn giáo; về tình hình hoạt động của tôn giáo, việc xây dựng mới các công trình tôn giáo, hoạt động quốc tế của tôn giáo và đối với hoạt động xã hội, hiện tượng tôn giáo mới, cần có biện pháp phương hướng phù hợp nhằm phát huy vai trò tôn giáo và cũng cố khối đại đoàn kết ngày vững chắc

Bên cạnh thiếu sự đồng bộ trong nhận thức về tôn giáo; chậm đổi mới phương thức xử lý những vấn đề về tôn giáo theo quan điểm của Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng; Chưa phát huy hết vai trò trách nhiệm của các tôn giáo trong nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; Chưa khắc phục triệt để những vấn đề tồn tại do lịch sử để lại

Phương thức vận động, tập hợp xây dựng khối đoàn kết toàn dân vẫn chưa theo kịp yêu cầu mới; các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước

có nơi còn hình thức, hiệu quả chưa cao; vai trò đại diện, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân và giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận có mặt còn hạn chế; chưa khắc phục được tình trạng hành chính hóa Phối hợp với các ngành

Trang 34

Cấp ủy, chính quyền chưa thật sự quan tâm và nhận thức chưa đầy đủ tầm quan trọng của công tác tôn giáo và vai trò tôn giáo trong đời sống xã hội, việc tuyên truyền giáo dục cho các tầng lớp nhân dân về vai trò tôn giáo trong đời sống xã hội thiếu quan tâm

Công tác tuyên truyền quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước về tôn giáo trong huyện, nhất là ở cơ sở chưa được quan tâm tổ chức thường xuyên, nội dung, hình thức tuyên truyền chưa đổi mới, giải quyết các vấn đề đất đai, thành lập, chia tách tổ chức tôn giáo còn nhiều bất cập, một số nơi xảy ra tình trạng biến nhà thành cơ sở thờ tự

Việc cụ thể chính sách, pháp luật về tôn giáo có một số nội dung chưa

rõ, thiếu đồng bộ, trong thực hiện gặp khó khăn, lúng túng, ngán ngại và đùn đẩy trách nhiệm Công tác quản lý nhà nước về hoạt động lễ hội, xây dựng cơ

sở thờ tự, thiếu chặt chẽ, phát hiện, xử lý không kịp thời Thực trạng hệ thống chính trị hiện nay của huyện chưa theo kịp yêu cầu phát triển của tôn giáo, chưa đáp ứng nhu cầu của sự phát triển tôn giáo

Các tôn giáo đang đẩy mạnh công tác truyền giáo; các cơ sở thờ tự được xây dựng sửa chữa, phát huy các hoạt động văn hoá xã hội để mở rộng ảnh hưởng, có những hoạt động vượt ra ngoài khuôn khổ luật pháp và có chiều hướng phức tạp hơn

Hoạt động mê tín dị đoan xuất hiện trên địa bàn An Biên, hoạt động mạnh như: Hòa Hảo, Cao đài Trong những năm gần đây các nhóm chống đối trong các tôn giáo ở ngoài huyện lôi kéo tín đồ đi biểu tình (trong huyện có 2

Trang 35

30

người đi biểu tình luật đặc khu), theo đạo lạ làm mất đoàn kết nội bộ Bên cạnh thế lực thù địch ngầm ngắm âm mưu lợi dụng tôn giáo để thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình diễn ra ngày càng phức tạp hơn Cộng thêm do trình độ dân trí còn thấp, tiêu cực xã hội gia tăng, thiên tai, bệnh tật hiểm nghèo phát sinh ngày càng nhiều làm cơ sở cho nhu cầu tâm linh và các hoạt động mê tín dị đoan phát triển

Tình hình hoạt động các tôn giáo trong huyện cơ bản ổn định: các chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể quan tâm thực hiện khá tốt các chính sách về tôn giáo, kịp thời giải quyết các mâu thuẫn, khiếu kiện liên quan đến tôn giáo; các phòng, ban, ngành, đơn vị đã kịp thời giải quyết những vấn đề còn vướng mắc trong lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo

Sự hình thành và phát triển các tôn giáo ở An Biên khá đa dạng, các tôn giáo phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của đất nước Phật giáo người Việt có mặt ở An Biên ngay từ khi vùng đất này được khai mở, do những di dân từ miền Bắc, miền Trung đem theo tôn giáo này từ nguyên quán đến vùng đất mới trong đó có vùng đất An Biên Công giáo được truyền vào

An Biên sau năm 1954, hình thành nên cộng đồng Công giáo người Việt gốc Bắc Đạo Tin lành phát triển đến huyện An Biên năm 2007; Đạo Cao đài ra đời năm 1926 tại Tây Ninh, mãi đến đầu những năm 70 đã phát triển đến An Biên [72;29] Quá trình phát triển đạo Cao đài cũng là quá trình phân hoá thành nhiều hệ phái An Biên Phật giáo Hoà Hảo ra đời tại An Giang năm

1939 và truyền đến An Biên năm 1940, đến năm 1998 mới được chính quyền công nhận và phát triển cho đến ngày nay, Hồi giáo vào An Biên vào những năm 70 mãi đến 2018 được chính quyền công nhận điểm sinh hoạt Hồi giáo

(gọi là tiểu thánh đường)

Đặc điểm tôn giáo của huyện gắn liền đặc điểm chung của tôn giáo cả

Trang 36

31

nước, thậm chí cả thế giới Tôn giáo có nhiều thay đổi; huyện có 7 tôn giáo:

Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hoà Hảo và Hồi Giáo Là

huyện có nhiều tôn giáo đang sinh hoạt trên địa bàn, luôn thể hiện tinh thần đoàn kết gắn bó nội bộ, góp phần làm ổn định xã hội tại địa phương Tôn giáo

và đồng bào tín đồ tôn giáo chấp hành tốt Chủ trương của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước, yên tâm hành đạo đúng pháp luật, hăng hái tham gia sản xuất, góp phần xóa đói giảm nghèo luôn thực hiện tốt phương trâm "tốt đời đẹp đạo"; ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước, nhiều chủ trương chính sách của địa phương tín đồ tôn giáo thực hiện ngày càng có hiệu quả, sức mạnh khối đoàn kết ngày càng được tăng cường và phát huy, cơ sở thờ tự rãi rác ở khắp nơi trong huyện; luôn gắn bó; Bộ mặt tôn giáo có nhiều thay đổi, tổ chức tôn giáo ngày càng được củng cố

Tôn giáo của huyện có sự trở lại của niềm tin tôn giáo, công giáo tín

đồ luôn có niềm tin vào giáo lý, thực hành đầy đủ các lễ nghi Với phật giáo nhất là phật giáo nam tông khmer là niềm tin không chỉ ở tín đồ mà còn ảnh hưởng tới bộ phận cán bộ, viên chức, thậm chí đảng viên, cả hưu trí, theo thống kê tổ chức của huyện hưu trí tham gia tôn giáo chiếm 20%, đảng viên

là tín đồ tôn giáo là 15 người[74;31] Tin lành lúc đầu các hộ dân ít tham gia ngày lễ, nhưng những năm gần đây những người dân tham gia ngày lễ ngày càng nhiều

Các tôn giáo trong huyện phát triển ngày càng nhiều, tín đồ các tôn giáo năm 2014 trong huyện có trên 14 ngàn, đến năm 2019 tín đồ trong huyện lên đến hơn 20 ngàn tín đồ, nhất là tín đồ theo đạo Tin lành Bên cạnh hệ thống lễ nghi ngày càng được củng cố, cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ Cụ thể theo thống kê của phòng nội vụ riêng năm 2018 tôn giáo tổ chức các lễ phát xin phép chính quyền địa phương trên 10 đơn tăng năm 2017 là 3 đơn, thông báo thay đổi các chức sắc, chức việc tăng hơn so với năm trước Tôn

Trang 37

32

giáo cũng tổ chức đại hội theo định kỳ, các tôn giáo không bỏ kỳ đại hội nào, hàng năm có ít nhất một hệ phái tôn giáo tổ chức Đại hội; bên cạnh tôn giáo của huyện quan tâm đến đào tạo các chức sắc, chức việc, hàng năm đưa đi đào tạo ở các trường của các tôn giáo trên 25 vị [54, 9]

Các tôn giáo ngày càng gắn bó với dân tộc và đồng hành cùng dân tộc, bởi vì các tôn giáo hoạt động theo đường hướng của tôn giáo cấp trên, ví dụ công giáo là đồng hành gắn bó với dân tộc, vì lợi ích dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; Tin Lành là “Sống phúc âm, phụng sự thiên chúa, phục sự tổ quốc và dân tộc”…, thực tế của huyện thấy rỏ các tôn giáo tham gia ngày càng nhiều trong các lĩnh vực đời sống xã hội như tham gia hệ thống chính trị, tham gia phát triển kinh tế, thực hiện an sinh xã hội…, bên cạnh các tôn giáo hòa nhập ngày càng mạnh mẽ với văn hóa nói chung, lĩnh vực văn hóa của huyện nói riêng, như sữa chữa các cơ sở thờ tự ngày càng nhiều, tham gia giao lưu văn hóa văn nghệ, lễ hội của tôn giáo này mời tôn giáo khác tham dự…

Tuy nhiên tôn giáo của huyện chứa ẩn nhiều yếu tố tiêu cực: tu hành nhưng bị địch và kẻ xấu mua chuộc, lợi dụng, Tin Lành không hòa hợp được với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, chú trọng đến cơ sở thờ tự, tốn sức người, sức của của tín đồ, bị lôi cuốn vào hiện tượng tôn giáo mới (trong huyện có 4 người đi theo hiện tượng Đức chúa trời), hiện tượng bỏ tôn giáo này theo tô giáo khác, sự xuống cấp đạo đức của một số vị chủ trì

Trước đặc điểm tôn giáo của huyện đòi hỏi các cấp ủy Đảng, chính quyền và MTTQ trong huyện có những chủ trương chính sách phù hợp với sự tồn tại khách quan của tôn giáo trong đời sống xã hội để phát huy vai trò của tôn giáo đóng góp cho xã hội và đồng thời có những giải pháp mềm dẻo khéo léo hạn chế tối đa mặt tiêu cực của tôn giáo, góp phần xây dựng khối đoàn kết dân tộc của huyện nói riêng

Trang 38

33

Tiểu kết chương 1

Vấn đề dân tộc, mối quan hệ dân tộc và tôn giáo, vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là nhiệm vụ cách mạng quan trọng của nước ta Có thể khẳng định, sự kết hợp những giá trị nhân bản trong tôn giáo với giá trị nhân văn của dân tộc có tác dụng huy động sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Làm rõ các giá trị tôn giáo, tìm kiếm sự tương đồng, tạo sự đồng thuận giữa người theo các tôn giáo khác nhau và giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo sẽ tạo ra động lực tổng hợp trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước Trên

cơ sở nhận thức được những vấn đề lý luận về tôn giáo, dân tộc, đánh giá và phân tích vai trò của tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc nói chung ở Việt Nam, gắn với thực tiễn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, huyện An Biên nói riêng là nội dung chính sẽ được tác giả phân tích và làm sáng rõ hơn nữa ở chương 2 của luận văn

Trang 39

34

Chương 2:

THỰC TRẠNG VAI TRÕ CỦA CÁC TÔN GIÁO GÓP PHẦN XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TỘC HUYỆN AN BIÊN

2.1 Vai trò của tôn giáo trong quá trình phát triển kinh tế - văn

hoá các dân tộc huyện An Biên

2.2.1 Thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế

Các tôn giáo huyện An Biên có vai trò không nhỏ, luôn tích cực phối hợp với tín đồ, quần chúng nhân dân và chính quyền địa phương góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của huyện Dưới sự lãnh đạo của Đảng

Uỷ, Uỷ ban nhân dân và Mặt trận các đoàn thể, chính quyền các cấp trên địa bàn huyện, các tôn giáo hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, bên cạnh đã nỗ lực tham gia phát triển sản xuất, đầu tư kinh doanh góp phần không nhỏ trong sự phát triển kinh tế chung của huyện cụ thể như:

Trong sản xuất nông nghiệp, nhiều nơi tiếp tục mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương, ứng dụng các tiến bộ khoa học k thuật vào sản xuất, phát triển kinh

tế Qua phong trào đã có nhiều điển hình tiêu biểu; nhiều khu dân cư tập trung thâm canh theo mô hình Tôm - Lúa; nhiều hộ gia đình giáo dân đầu tư vườn ươm cây giống để phục vụ cho trồng rừng có thu nhập từ 100 - đến 150 triệu đồng năm

Một số linh mục, chủ trì hướng dẫn tín đồ thực hiện những mô hình sản xuất giúp dân thoát nghèo như mô hình chăn nuôi bò sinh sản, mô hình nuôi

sò, mô hình tôm lúa, nước lọc Nhiều khu dân cư vùng Phật giáo nam Tông khmer ở các xã Nam Thái, thị trấn thứ ba với sự hỗ trợ của chính quyền, bà con phật tử đã đẩy mạnh khai thác tiềm năng ven biển, bải bồi như: nuôi sò, nuôi hến, nuôi ngheo tạo việc làm cho hàng trăm lao động, góp phần cải thiện đời sống của người dân mà trước hết là của tín đồ

Trang 40

35

Theo báo cáo tổng kết về tình hình kinh tế huyện An Biên, trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và thách thức đan xen, đặc biệt tình hình diễn biến thời tiết từ mùa khô kéo dài, hạn hán xâm nhập mặn sâu… đã ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế-xã hội huyện Song với quyết tâm thực hiện nhiệm vụ đã đề ra lãnh đạo và người dân, cùng sự đóng góp tích cực của tín đồ, chức sắc, các tổ chức tôn giáo đã đưa huyện An Biên có những chuyển biến tích cực, hoàn thành và vượt 22 25 chỉ tiêu kế hoạch Cụ thể, giá trị sản xuất trong năm ước thực hiện hơn 1,5 nghìn tỷ đồng, đạt 72,8 % kế hoạch (trong đó, nông nghiệp – thủy sản hơn 500 tỷ đồng, đạt 86,37 % kế hoạch; công nghiệp 186,05 tỷ, đạt 100% kế hoạch…) Sản lượng lúa cả năm thực hiện hơn 10,5 nghìn tấn, đạt 53,2% kế hoạch Tổng thu ngân sách nhà nước địa phương đạt 59,43 tỷ (vượt 156,19% kế hoạch đề ra)[10] Huyện An Biên cũng luôn nêu cao trách nhiệm đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn; quan tâm công tác chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh cho người dân địa phương “Những hiệu quả hoạt động từ năm 2018 chính là tiền đề trong trong những năm tiếp theo Cụ thể, trong quý I,II 2018, giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản huyện thực hiện hơn 800 tỷ đồng, đạt 44,35% kế hoạch; sản xuất công nghiệp – xây dựng là 481,5 tỷ đồng, đạt 57,76% kế hoạch Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ước đạt hơn 500 tỷ đồng, bằng 40% kế hoạch và tăng 9,04% so với cùng kỳ.[10]

Cùng với những nỗ lực không chỉ của toàn thể nhân dân huyện, dưới sự lãnh đạo của các cấp, các ngành, cùng sự trợ giúp của các tổ chức tôn giáo trong vận động chức sắc, tín đồ đã tạo ra những khởi sắc về kinh tế trên địa bàn huyện Các tổ chức tôn giáo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền, huyện An Biên đã vận động bà con tín đồ của mình phát triển nông nghiệp, tập trung chăm sóc tốt vụ lúa hè thu, vụ mùa và đông xuân, đảm bảo theo lịch thời vụ Trong đó đặc biệt thực hiện tốt quy trình, k thuật phục vụ sản xuất

và nuôi trồng Cộng với đề cao công tác tuyên truyền thực hiện xây dựng

Ngày đăng: 20/07/2020, 09:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w