1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

93 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 động nên trong quá trình lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện các cấp ủy đảng, chắnh quyền, Mặt trận, các đoàn thể CT-XH cũng như các ban, ngành trong hệ thống chắnh trị trên địa bàn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THÁI THỊ THÚY LAN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THÁI THỊ THÚY LAN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Chính sách công với nội

dung “Thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng

Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung

thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Quảng Nam, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Thái Thị Thúy Lan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình dự thảo và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình và quý báu của thầy cô giáo, các đồng nghiệp, quý cơ quan chuyên môn liên quan cũng với sự động viên, cổ vũ của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

Tôi rất chân thành cảm ơn đến các giảng viên Học viện Khoa học Xã hội đã giảng dạy, cung cấp cho bản thân tôi những phương pháp nghiên cứu khoa học, những cách nhìn về thế giới quan, nhân sinh quan một cách khoa học Từ đó rất giúp ích cho bản thân trong công tác cũng như đề xuất những chủ trương chính sách cho các cấp, các ngành

Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Vũ Thị Thu Hà, cô giáo hướng dẫn tận tình và chu đáo, cũng như giúp cho tôi được hoàn thiện luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự quan tâm, tạo điều kiện của lãnh đạo Huyện ủy, Ban Dân vận Huyện ủy Quế Sơn cũng như sự giúp đỡ, cung cấp các lài liệu liên quan đến đề tài này của Văn phòng Huyện ủy, Phòng Nội vụ, Công an huyện, huyện

Với năng lực của bản thân và thời gian có hạn, luận văn của tôi chắc chắn

sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi mong nhận được sự cảm thông chia sẽ cũng như sự góp ý quý báu của quý thầy cô Học viện để tôi có thể an tâm tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện hơn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO; CÁC NHÂN TỔ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 111.1 Cơ sở lý luận 11 1.2 Cơ sở thực tiễn 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 40

2.1 Tình hình thực hiện chính sách tôn giáo ở huyện Quế Sơn hiện nay 40 2.2 Những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân 59

CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM TRONG THỜI GIAN ĐẾN 66

3.1 Vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chính sách tôn giáo ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam 66 3.2 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của việc việc thực hiện chính sách tôn giáo ở huyện Quế Sơn 73

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ

1 ANQG An ninh quốc gia

13 GHPG Giáo hội Phật giáo

14 HĐND Hội đồng nhân dân

15 QLNN Quản lý nhà nước

Trang 8

Bảng thống kê số lượng cơ sở, điểm nhóm và chức sắc, chức việc

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, ra đời từ rất lâu và tồn tại gắn liền với lịch

sử xã hội loài người Để tồn tại và phát triển tôn giáo luôn hoàn thiện và biến đổi thích ứng cùng với sự phát triển của các mối quan hệ về kinh tế, chính trị, văn hóa -

xã hội và đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, từ thiết chế chính trị đến pháp luật, từ văn hóa đến đạo đức, lối sống của con người đến sự tăng trưởng kinh tế; từ các quan điểm triết học, về nhận định thế giới đến những ứng xử và phong tục, tập quán của nhiều nước, tộc người trên thế giới và nước ta cũng không ngoại lệ

Theo số liệu thống kê của BTG Chính phủ tính đến tháng 6 năm 2017, Việt Nam có 27% dân số theo tôn giáo với 25,3 triệu tín đồ, trong đó có gần 200.000 chức sắc, chức việc Tôn giáo ở Việt Nam 15 năm qua có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng So với số liệu thống kê năm 2003, cả nước có khoảng 18 triệu tín đồ, 34.181 chức sắc, 78.913 chức việc, 20.929 cơ sở thờ tự tôn giáo, thì hiện nay số lượng tín

đồ đã tăng 35%, số lượng chức sắc, chức việc tăng 70%, số lượng cơ sở tôn giáo tăng 33%

Trong mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử của đất nước do tác động của nhiều yếu

tố, nguyên nhân khác nhau mà tôn giáo có lúc trở thành điểm nóng, phức tạp gây mất ổn định ANCT tại một số địa phương trong cả nước, nhất là giai đoạn hiện nay trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì bên cạnh thời cơ, thuận lợi cũng gặp những hạn chế, thách thức nhất định Do đó công tác QLNN, thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta cũng gặp không ít khó khăn

Cũng như các địa bàn trong tỉnh Quảng Nam nói riêng, cả nước nói chung trong những năm gần đây tôn giáo ở huyện ngày càng phát triển, các tôn giáo đều

có xu hướng mở rộng, nâng cao vị thế của mình, tín đồ các tôn giáo ngày càng tăng lên hằng năm, trong đó nhiều nhất là đạo Phật Trên cơ sở xác định là chính sách quan trọng, nhaỵ cảm, dễ bị các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng, kích

Trang 10

2

động nên trong quá trình lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện các cấp ủy đảng, chắnh quyền, Mặt trận, các đoàn thể CT-XH cũng như các ban, ngành trong hệ thống chắnh trị trên địa bàn Quế Sơn đã quan tâm đến công tác tôn giáo; trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện luôn đảm bảo theo chủ trương của Đảng, chắnh sách của Nhà nước và sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh cùng các ngành chức năng của tỉnh Quảng Nam về công tác tôn giáo Đến nay đã đạt được những kết quả tắch cực, quan trọng trên các mặt về công tác phổ biến, tuyên truyền chắnh sách, quản lý hoạt động của các tôn giáo, công tác sơ, tổng kết, kiểm tra, giám sát, qua

đó quyền tự do tôn giáo của công dân được phát huy; tắn đồ, chức sắc tôn giáo tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, tắch cực tham gia các phong trào xã hội

ở địa phương

Song, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tôn giáo trên địa bàn huyện Quế Sơn vẫn còn những hạn chế nhất định đó là: công tác tuyên truyền chưa thường xuyên nên nhận thức của một vài cấp ủy, chắnh quyền, một số cơ quan, ban ngành cũng như một bộ phận cán bộ, đảng viên đối với công tác tôn giáo chưa đảm bảo theo chủ trương, đường lối của Đảng, chắnh sách, pháp luật về tôn giáo của Nhà nước; công tác quản lý đất đai liên quan đến tôn giáo còn nhiều bất cập, trong quá trình thực thi có lúc chýa đúng theo quy định; sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo có lúc chýa đồng bộ; bên cạnh đó nhận thức của một bộ phận chức sắc, chức việc, tắn đồ của một số tôn giáo còn hạn chế, thiếu hợp tác với cơ quan QLNN về công tác đất đai liên quan đến tôn giáo,

Là nhóm chắnh sách nhạy cảm, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng gây mất ổn định CT-XH, xuất phát từ vị trắ làm việc của bản thân là chuyên viên công tác tại Ban Dân vận Huyện ủy huyện Quế Sơn-một cơ quan Thường trực của BCĐ công tác tôn giáo của huyện có chức năng tham mưu Huyện ủy lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện công tác tôn giáo trên toàn huyện; đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế việc tổ chức thực hiện chắnh sách tôn giáo tại địa phương trong những năm qua, tôi nhận thức rõ tầm quan trọng của chắnh sách tôn giáo nếu chắnh sách này

Trang 11

3

được triển khai thực hiện tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy sự ổn định xã hội và ngược lại Tuy nhiên, cho đến nay tại huyện Quế Sơn chưa có công trình nào nghiên cứu về

việc thực hiện chính sách tôn giáo Do đó, tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách

tôn giáo trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài Luận văn cao

học chuyên ngành Chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu

Qua tìm hiểu, cho đến nay có khá nhiều công trình trực tiếp hay gián tiếp của các nhà khoa học, học giả ngoài nước cũng như trong nước đã đầu tư nghiên cứu, đề cập đến nhiều khía cạnh, vấn đề khác nhau về lĩnh vực tôn giáo: về quan điểm, lý luận về tôn giáo; công tác tôn giáo; về chính sách, thực hiện chính sách và công tác QLNN về tôn giáo trong mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử nhất định Đối với luận văn này bản thân xin nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu lý luận về tôn giáo, chính sách tôn giáo, mối quan hệ giữa chính trị với tôn giáo như: Ngô Hữu Thảo (1998), Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong thời kỳ mở rộng giao lưu quốc

tế và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, đề tài khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác

tôn giáo, NXB Ban Tôn giáo Chính phủ; Đỗ Quang Hưng (2008) Vấn đề tôn giáo

trong cách mạng Việt Nam về lý luận và thực tiễn, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội;

Đỗ Quang Hưng (2009), Vấn đề Tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, NXB Lý luận

Chính trị, Hà Nội; Đỗ Quang Hưng (2014), Chính sách Tôn giáo và Nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; Đỗ Quang Hưng (2014), Nhà nước-Tôn

giáo- Pháp luật, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội; Đỗ Quang Hưng (2015), Quan hệ Nhà nước - Giáo hội và chính sách tôn giáo, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, Đối với công trình nghiên cứu về thực hiện chính sách tôn giáo bản thân đã

tham khảo luận văn của các tác giả như: Tào Gia Cát Linh (2016) thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, luận văn thạc sĩ Chính sách Công, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Nguyễn Thị Thu Oanh (2019) thực hiện chính

Trang 12

4

sách tôn giáo ở tỉnh Phú Yên hiện nay, luận văn thạc sĩ Chính sách Công, Học viện

Khoa học xã hội, Hà Nội Đối với công trình nghiên cứu công tác QLNN về tôn giáo bản thân đã tham khảo các luận văn của các tác giả như: Lê Ngọc Sĩ (2014)

Công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo ở huyện đảo Phú Quốc - Kiên Giang hiện nay, luận văn thạc sĩ Tôn giáo học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,

Hà Nội; Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2015) QLNN đối với các hoạt động tôn giáo ở tỉnh Quảng Nam hiện nay, luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc

gia Hồ Chí Minh, Hà Nội v.v

Qua tìm hiểu từng công trình nghiên cứu về công tác tôn giáo sẽ thấy được ý nghĩa, giá trị to lớn của từng công trình, các nhận định, đánh giá ở mỗi công trình nghiên cứu sẽ được bản thân nghiên cứu, học hỏi, chọn lọc, tiếp thu - là tài liệu hữu ích tham khảo khi làm luận văn này

Đối với tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo

của Lê Hữu Nghĩa và Nguyễn Đức Lữ (2003) đã cho thấy Hồ Chí Minh là người cán bộ mẫu mực, không những giỏi về nghệ thuật quản lý mà còn giỏi về công tác vận động quần chúng, trong đó có đồng bào theo đạo; người đã chỉ ra những phương thức vận động quần chúng rất nhạy bén, linh hoạt trước biến động của thực tiễn; với chính sách này Người đã vận động đông đảo tín đồ trong các tôn giáo cùng các tầng lớp nhân dân trong cả nước đứng lên đấu tranh giành độc lập cho dân tộc

và thực tế cách mạng Việt Nam đã chứng minh khi vận dụng tư tưởng về tôn giáo

và công tác tôn giáo của Người trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Hiện nay trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo không chỉ riêng huyện Quế Sơn mà các cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, ban ngành ở từng địa phương luôn vận dụng tư tưởng của Bác để vận động các tổ chức,

cá nhân tôn giáo sinh hoạt tôn giáo theo Giáo lý, Giáo luật của từng tôn giáo và theo quy định của pháp luật

Đối với công trình nghiên cứu về Nhà nước, Tôn giáo, Luật pháp của Đỗ

Quang Hưng, nội dung công trình của tác giả gồm có 3 phần, phần 1 tác giả đã nêu

Trang 13

5

lên Mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội; phần 2 là tôn giáo, phần 3 là Luật pháp

và tôn giáo Đây là một công trình vô cùng quí giá, tác giả Luận văn tham khảo nghiên cứu nhằm không chỉ nắm bắt cụ thể về phần nội dung và đặc điểm đời sống tôn giáo, về mối quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo mà còn ở chỗ công trình này tác giả đã khái quát hóa lộ trình xây dựng, hoàn thiện chính sách, luật pháp về tôn giáo của Nhà nước Việt Nam trong quá trình nỗ lực hướng tới một môi trường thích hợp để các cộng đồng tôn giáo không những thực hiện tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước với tư cách như một tổ chức, một công dân bình thường mà còn thông qua luật pháp về tôn giáo có thể tìm thấy sự thỏa mãn, đáp ứng được nhu cầu đời sống tâm linh của người có đạo; đồng thời công trình đã gợi mở những suy ngẫm,

đề xuất đối với việc xây dựng một nhà nước pháp quyền về tôn giáo ở nước ta hiện nay

Công trình Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam về lý luận và thực

tiễn của tác giả Đỗ Quang Hưng xuất bản năm 2008 cho thấy đây là một công trình

nghiên cứu về quan điểm, chủ trương cũng như chính sách của Đảng và Nhà nước

ta về vấn đề tôn giáo trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam có tính tổng hợp và toàn diện nhất Cuốn sách tác giả đã giới thiệu về bối cảnh quốc tế, vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo cũng như quá trình nhận thức, phát triển quan điểm, đường lối về tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từng bước hoàn thiện chính sách, pháp luật đối với tôn giáo ở Việt Nam Cuốn sách là tài liệu tham khảo rất cần thiết đối với luận văn, nó giúp cho bản thân nắm bắt tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo và thực tiễn về thực hiện chính sách tôn giáo; đồng thời công trình này cũng đã chỉ ra những bất cập và đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện chính sách tôn giáo ở nước ta trong thời gian qua

Đối với công trình QLNN đối với các hoạt động tôn giáo ở tỉnh Quảng Nam hiện nay (2015), luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia Hồ

Chí Minh, Hà Nội, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Ánh đã phân tích lý luận về tôn giáo, quan điểm chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo, khái quát lịch sử hình

Trang 14

6

thành và phát triển của các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; đồng thời tác giả

đã nêu lên thực trạng công tác QLNN về tôn giáo ở Quảng Nam, trên cở sở đó đã đề

ra những giải pháp thiết thực, sát thực tiễn nhằm thực hiện tốt công tác QLNN về tôn giáo trên địa bàn tỉnh trong thời gian đến Qua tìm hiểu công trình này bản thân nắm được đặc điểm hình thành và phát triển của từng tôn giáo cũng như thực trạng hoạt động của nó trên địa bàn tỉnh, trong đó có Quế Sơn, để từ đó có nhận định chính xác trên cơ sở đố tham mưu cấp ủy, chính quyền huyện nhà đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm tổ chức triển khai thực hiện chính sách tôn giáo ở huyện trong thời gian đến đạt những kết quả quan trọng hơn

Đối với công trình Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực tiễn thành phố Đà

Nẵng của Tào Gia Cát Linh (2016), tác giả đã nêu những vấn đề về lý luận về chính

sách tôn giáo, thực trạng công tác thực hiện chính sách tôn giáo, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách trong thời gian đến của thŕnh phố Qua tìm hiểu, bản thân sẽ tham mưu cấp ủy, chính quyền huyện nhà sẽ có những giải pháp thiết thực

về thực hiện chính sách tôn giáo trong thời gian đến

Tóm lại, các thông tin cũng như nhận định của những công trình tác giả nêu trên sẽ được bản thân kế thừa, có chọn lọc cho đề tài luận văn này Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cũng như phân tích tình hình thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn huyện Quế Sơn, trong khi việc tổ chức thực hiện chính sách này gặp không ít khó khăn, hạn chế nhất định Một số vấn đề liên quan đến chính sách và thực trạng chính sách tôn giáo mới chỉ được đề cập trong các báo cáo chuyên đề, báo cáo sơ kết và tổng kết của các ban, ngành, đoàn thể ở huyện Quế Sơn có liên quan đến công tác tôn giáo như: Phòng Nội vụ, Công an, Ban Dân vận, Mật trận Tổ quốc và các báo cáo cấp ủy đảng, chính quyền địa phương

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 15

7

Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách tôn giáo ở huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam hiện nay đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức thực thi chính sách tôn giáo trên địa bàn huyện trong thời gian đến

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm đạt được các mục đích nêu trên luận văn sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:

Một là: Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận, quan điểm của Mác-Lê nin,

Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo; làm rõ thực tiễn liên quan đến việc thực hiện chính sách và đặc điểm của từng tôn giáo tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

- Hai là: Luận văn phân tích làm rõ thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong những năm qua

- Ba là: Luận văn đề ra phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả của việc tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam trong tình hình mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà

nước ta trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

- Phạm vi về nội dung: Luận văn chủ yếu nghiên cứu việc tổ chức thực hiện

chính sách tôn giáo tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong đó tập trung nghiên cứu thực trạng của việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách tôn giáo ở địa phương trong những năm qua Tìm hiểu những vấn đề đặt ra hiện nay đồng thời qua

đó đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm tổ chức thực hiện tốt chính sách tôn giáo tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến

- Phạm vi về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo ở huyện Quế Sơn giai đoạn từ năm 2013 đến nay

Trang 16

8

Đây là giai đoạn sau khi chia tách huyện Quế Sơn thành hai huyện: Quế Sơn

và huyện Nông Sơn thì tình hình tôn giáo có những thay đổi nhất định về số lượng tín đồ cũng như chức sắc, chức việc và cơ sở thờ tự tôn giáo Bên cạnh đó, trên địa bàn huyện không còn Phòng tôn giáo (do bị giải thể theo quy định vào năm 2007) nên không có cán bộ công chức chuyên trách về tôn giáo như trước đây mà chỉ có cán bộ, chuyên viên Phòng Nội vụ phụ trách công tác tôn giáo (theo quy định) Phòng tôn giáo - cơ quan chuyên trách về QLNN ở huyện bị giải thể, thay vào đó BCĐ công tác tôn giáo thuộc Huyện ủy thành lập vào năm 2012 và quản lý về công tác tôn giáo trên toàn huyện, trong đó về phía Nhà nước phân công Phòng Nội vụ có trách nhiệm tham mưu UBND huyện triển khai, phổ biến chính sách của Nhà nước

và QLNN về tôn giáo Đồng thời hiện nay tôn giáo và hoạt động của một số tổ chức tôn giáo trên địa bàn huyện có một vấn đề cần phải quan tâm đó là: tín đồ tôn giáo ngày tăng lên, hoạt động của một số cơ sở, tín đồ tôn giáo có biểu hiện trái quy định của pháp luật vẫn còn, qua đó tiềm ẩn những nguy cơ phức tạp, trong khi đó cấp ủy, chính quyền một số xã chưa quan tâm, chưa chú trọng đến công tác tôn giáo; công tác tuyên truyền về các văn bản, quy định của Đảng, Nhà nước về công tác tôn giáo, nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng còn hạn chế nhất định; chưa có đội ngũ chuyên trách làm công tác tôn giáo, chỉ có cán bộ phụ trách tôn giáo ở các cấp trên địa bàn, trong khi đó năng lực của một bộ phận cán bộ phụ trách công tác tôn giáo còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình mới

- Phạm vi về không gian: Trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách,

pháp luật của Nhà nước về tôn giáo

Trang 17

9

- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở chuyên ngành chính sách công, chu trình chính sách: từ hoạch định chính sách đến việc xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách và đánh giá trong đó có sự tham gia của chủ thể chính sách

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích, các yêu cầu đặt ra đối với luận văn này, ngoài sử dụng phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp chính sách công; tác giả Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành như chính trị học tôn giáo, tôn giáo học kết hợp với các phương pháp cơ bản như: Phỏng vấn, phương pháp phân tích-tổng hợp, thống kê-so sánh, nghiên cứu tài liệu, tổng kết, đánh giá thực tiễn tổ chức triển khai thực hiện chính sách tôn giáo

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Qua kết quả nghiên cứu sẽ làm rõ thêm những cơ sở lý luận về tôn giáo, công tác quản lý, thực hiện chính sách tôn giáo từ góc độ chuyên ngành của chính sách công Luận văn sẽ cung cấp những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách tôn giáo ở nước ta nói chung, huyện Quế Sơn nói riêng; cung cấp thêm những cơ sở cho việc nghiên cứu thực hiện chính sách đối với các tôn giáo ở huyện Đồng thời góp phần tích cực trong quá trình hoàn thiện chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước nói chung và quá trình thực hiện chính sách tôn giáo tại địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam nói riêng trong quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng Ngoài ra, Luận văn sẽ góp phần tích cực trong việc nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trên địa bàn về tôn giáo và công tác tôn giáo và việc thực hiện chính sách tôn giáo từ góc nhìn của chuyên ngành chính sách công hiện nay

6.1 Ý Nghĩa thực tiễn

Trang 18

10

Qua nghiên cứu đề tài thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn huyện Quế Sơn thời gian qua sẽ góp phần tích cực quan trọng trong việc duy trì và hoàn thiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta nói chung và quá trình thực thi chính sách tôn giáo nói riêng Đây là tài liệu rất quý và quan trọng cho việc biên soạn các chuyên đề về công tác tôn giáo, quản lý, thực hiện chính sách tôn giáo của các báo cáo viên của huyện để giảng bài tại các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên đề về công tác tôn giáo cho đội ngũ cán bộ phụ trách công tác tôn giáo các cấp, nhất là đối với cán bộ chính quyền các cấp trong công tác quản lý, thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn huyện trong thời gian đến

7 Kết cấu của luận văn

Bên cạnh phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình thực hiện

chính sách tôn giáo ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

Chương 2 Thực trạng công tác thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam Nam

Chương 3 Những vấn đề đặt ra và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện chính sách tôn giáo tại huyện Quế Sơn trong thời gian đến

Trang 19

1.1.1 Một số khái niệm sử dụng trong luận văn

1.1.1.1 Khái niệm tôn giáo

Qua tìm hiểu, trong lịch sử xã hội loài người có khoảng gần mười nghìn tôn giáo đang tồn tại, về định nghĩa tôn giáo, hiện nay có gần 250 định nghĩa Theo ḍng lịch sử định nghĩa về tôn giáo được mở rộng về nội hàm và phạm vi của nó; tùy theo mỗi tôn giáo khác nhau, cách tiếp cận và mỗi quốc gia mà nó được hiểu theo

nghĩa khác nhau Trong Tiếng anh, tôn giáo có nghĩa là religion-có nghĩa là thu

lượm thêm sức mạnh siêu nhiên, tôn trọng những gì linh thiên, huyền bí, tôn kính thần linh; cho rằng giữa Chúa với Thượng đế có sự gắn bó; thể hiện mối quan hệ giữa con người với thế giới khác-một thế giới siêu nhiên, vô hình; sự tồn tại một quyền lực huyền bí bên ngoài mà con người chịu tác động, chi phối đến, một cảm giác đạo mộ mà con người phải tuân theo Trong tiếng Hy Lạp cho rằng: tôn giáo là regere-quan niệm rằng giữa con người và thế giới thần linh có mối quan hệ, ràng buộc lẫn nhau

Theo từ điển tiếng việt ghi rằng: “Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội hình thành nhờ vào lòng tin và sùng bái thượng đế, thần linh” [40, tr 239 ] Trong

Luật tín ngưỡng, tôn giáo có định nghĩa: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại

với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật,

lễ nghi và tổ chức” [20, tr.8]

1.1.1.2 Khái niệm Chính sách công

Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời

Trang 20

12

sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định

1.1.1.3 Khái niệm Chính sách tôn giáo

Chính sách tôn giáo ở nước ta được thể hiện ở chủ trương, đường lối của

Đảng và hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác tôn giáo Là quá trình dùng quyền lực của Nhà nước, các cơ quan chức năng liên quan từ trung ương đến địa phương sử dụng nhằm tác động, định hướng, hướng dẫn, điều chỉnh hoạt động của các tổ chức, cá nhân tôn giáo được Nhà nước công nhận hoạt động theo chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta đối với tôn giáo Bên cạnh đó, có thể hiểu chính sách tôn giáo còn là quá trình chấp hành và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp nhằm tác động, định hướng, điều chỉnh hoạt động của tôn giáo và hành vi, hoạt động của tổ chức, cá

nhân tôn giáo theo quy định của Nhà nước đề ra

1.1.1.4 Khái niệm Thực hiện chính sách tôn giáo

Thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu nhất định và thực hiện hóa chính sách để đưa chính sách đi vào đời sống xã hội theo định hướng của Nhà nước

Trên cơ sở khái niệm thực hiện chính sách ta có thể hiểu về thực hiện chính sách tôn giáo là quá trình chuyển hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác tôn giáo, đưa chính sách này đi vào cuộc sống, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của một bộ phận nhân dân; đây là giai đoạn đặc biệt, có ý nghĩa quan trọng trong chu trình đối với chính sách tôn giáo, là trung tâm kết nối giữa các bước trong chu trình chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta

Trang 21

13

1.1.2 Quan điểm của Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ chương của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo

1.1.2.1 Quan điểm của Mác-Lênin

Chủ nghĩa Mác-Lênin khi nghiên cứu về tôn giáo đều xuất phát từ những ý tưởng có tính phương pháp luận và phương pháp cách mạng (chủ nghĩa duy vật biện chứng) từ đó nhận định rằng tôn giáo có nguồn gốc và bản chất của nó:

Về nguồn gốc tôn giáo là một hiện tượng xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng

Từ phương pháp khoa học lịch sử, với thế giới quan duy vật C.Mác và Ăng ghen đã chỉ ra nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của tôn giáo Chính con người sinh

ra tôn giáo, chớ tôn giáo không sáng tạo ra con người và tôn giáo quay lại chi phối con người trong cuộc sống đời thường Mà trong đó con người là thế giới con người - là xã hội loài người, là nhà nước

Ăngghen, trong tác phẩm Chống Duyrinh đã đưa ra lý giải về nguồn gốc tôn

giáo, là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế Như vậy, tôn giáo với tính cách là một hình thái ý thức phản ánh thế giới tự nhiên vào bộ não con người một cách sai lầm hoặc là một sự phản ánh không toàn diện thế giới khách quan, khiến con người hiểu sai hoặc không đầy đủ các hiện tượng trong tự nhiên

C.Mác trong tác phẩm Góp phần phê phán Triết học pháp quyền của Hêghen cũng đã khẳng định rằng: " Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn của hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân" [34, tr 570 ] Với cách nhận định này cho thấy

tính chất của tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó có chức năng và tính xã hội rất đặc biệt Tôn giáo ra đời nhằm bù đắp cho sự nghèo nàn của tri thức để lý giải hiện thực xã hội, thế giới; nguyên nhân là do sự thấp kém của trình độ khoa học kỹ thuật

Trang 22

14

cùng sự bất an, phức tạp của đời sống xã hội Do đó, con người cần có tôn giáo như một liều thuốc an thần xoa dịu những nỗi đau, những bất hạnh, trắc ẩn trong đời sống thường ngày

Lê-nin trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Mác-Ănghen về tôn giáo, ông đã trình bày chính kiến của mình về tôn giáo: “Nguồn gốc sâu xa nhất của các thành kiến tôn giáo là cùng khổ và dốt nát”, “Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn đè nặng lên vai quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động cho người khác hưởng vì phải chịu cảnh bần cùng, cô độc” [32, tr 221 ]

Qua đó cho thấy ở thời Mác-Ănghen đã nghiên cứu về bản chất của tôn giáo, đến thời đại Lê nin thì bản chất của tôn giáo là vấn đề trở thành cơ sở để lý giải, giải quyết về vị trí của tôn giáo trong đời sống xã hội; mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị, quan điểm của nhà nước mới-xã hội chủ nghĩa về tôn giáo Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội, có quan hệ mật thiết và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội

Phạm trù lịch sử của tôn giáo phản ánh ý thức của con người về tồn tại xã hội của hiện thực thời đại mình Chỗ dựa của tôn giáo là những điều bí ẩn của đời sống hằng ngày không giải thích được và một số hiện tượng mà các nhà khoa học chưa giải thích được Đối với tôn giáo trong tiến trình phát triển nhận thức của con người, khoa học phát triển và dần cắt nghĩa được một số điểm cho tôn giáo làm chỗ dựa và tồn tại, khoa học phát triển tới đâu, tôn giáo lùi tới đó Song thế giới mà con người chúng ta sinh sống là vô cùng vô tận, trong khi nhận thức về thế giới thì có hạn, khoa học đã chứng minh, giải thích được hiện tượng này lại xuất hiện những cái mới, chưa giải thích được Vì thế tôn giáo luôn có chỗ dựa cùng với sự năng động điều chỉnh theo những tiến bộ của khoa học và biến đổi của xã hội Đồng thời, hiện thực sự phát triển của tôn giáo trong xã hội hiện đại cho thấy, cơ sở tồn tại và điều kiện tiêu vong của tôn giáo trở nên rất phức tạp Vì ngày nay con người vẫn chưa giải quyết được một cách triệt để và hợp lý các mối quan hệ đối lập giữa lý tưởng và

Trang 23

15

hiện thực, giữa chủ quan và khách quan, giữa ngẫu nhiên và tất nhiên, giữa hữu hạn

và vô hạn, giữa đau khổ và hạnh phúc, Nhất là trong giai đoạn hiện nay, con người vẫn phải đối mặt với những bất hạnh cá nhân, cảm giác thiếu hụt, bất an và mất cân bằng về tâm lý trước tình hình dịch bệnh tràn lan và bệnh tật hiểm nghèo ngày càng tăng, sự chênh lệch giàu nghèo, rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống, Đó là những cơ sở để cho tôn giáo tiếp tục tồn tại và phát triển Cùng với tiến trình lịch sử của con người, tôn giáo được sinh ra, tồn tại và mất đi khi nền tảng cho sự tồn tại của nó không còn Đó là cả một tiến trình lâu dài trong lịch sử phát triển của xã hội loài người

1.1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

Sinh thời Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác tôn giáo, trên cơ sở kế thừa

về quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê-nin về tôn giáo, Người đã vận dụng một cách linh hoạt vào đặc điểm, điều kiện lịch sử của Việt Nam, Người đã xây dựng nên hệ thống quan điểm về tôn giáo rất phong phú, đa dạng, độc đáo, sáng tạo Trong các

tư tưởng của Người về tôn giáo thì tư tưởng Đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc, nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là tư tưởng nổi bật nhất, chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống di sản lý luận mà Người để lại cho đất nước Tư tưởng này được xây dựng trên đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam là các tôn giáo luôn đoàn kết, chấp hành tốt chính sách của nhà nước, là đất nước không có xung đột, chiến tranh tôn giáo như một số quốc gia trên thế giới Người khẳng định rằng giữa đồng bào theo đạo hay không theo đạo đều là công dân Việt Nam, đều là người lao động

và sự nghiệp cách mạng là việc lớn, 1à sự nghiệp chung không phải chỉ của một hai người Người đã chỉ ra mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo một cách mộc mạc, dễ hiểu nhưng có ý nghĩa vô cùng sâu sắc: Kính chúa yêu nước, mỗi người vừa là một tín đồ chân chính vừa là một công dân yêu nước; nước nhà vinh thì đạo mới sáng, đất nước có độc lập thì mới có tự do, trong đó có tự do tôn giáo Người quan niệm rằng giữa đức tin tôn giáo và lòng yêu nước là không mâu thuẫn nhau Đồng thời, Người cũng đã chú trọng nội dung tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo của công dân Đây là một quan điểm đúng đắn của Người về tôn giáo, sự tôn trọng ấy

Trang 24

16

không chỉ thể hiện trên văn bản, lời nói mà còn trên cả hoạt động thực tiễn của Bác đối với tôn giáo trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Theo Người mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do tôn giáo Người nhận ra rằng ở trong mỗi tôn giáo có những giá trị đạo đức nhân văn cao cả cần tiếp thu, đạo đức là bác ái (Chúa Giêsu dạy), đạo đức là từ bi (Phật Thích ca dạy), đạo đức là nhân nghĩa (Khổng tử) mà mọi người cần học hỏi và phát huy

Đối với nước ta trong quá trình đổi mới, mở rộng hội nhập quốc tế, việc kế thừa, tiếp thu tư tưởng của Người về đoàn kết tôn giáo xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước, từ truyền thống đoàn kết, từ tinh hoa văn hóa dân tộc, từ lý luận Mác-

Lê Nin xem cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Tư tưởng về đảm bảo quyền

tự do tôn giáo và tư tưởng đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc của Hồ Chí Minh

có một ý nghĩa rất to lớn, đến nay vẫn còn nguyên giá trị và là bài học quý giá đối với quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta Tư tưởng này được thể hiện nhất quán và khẳng định từ Luận cương cách mạng tư sản dân quyền năm 1930 đến Nghị quyết Đại hội lần thứ 12 của Đảng năm 2016 và trong các bản Hiến pháp của Nhà nước ta

1.1.2.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo

Quan điểm này được xây dựng trên cơ sở kế thừa, vận dụng linh hoạt, sáng tạo những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo cũng như kinh nghiệm của việc giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác tôn giáo trong quá trình lãnh đạo và xây dựng đất nước; đồng thời căn cứ vào tình hình khu vực và thế giới về tôn giáo và đặc điểm, tình hình tôn giáo ở Việt Nam Bởi ở nước ta dù tôn giáo nội sinh hay ngoại sinh và mỗi tôn giáo đều có đặc điểm, tổ chức hoạt động khác nhau nhưng đều có điểm chung là luôn chung sống hoà hợp, gắn bó với dân tộc, tích cực tham gia công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Theo dòng lịch sử, cho thấy trong quá trình dựng và giữ nước, nhất là giai đoạn khó khăn của dân tộc, đồng bào có đạo cũng như không đạo đã một lòng đoàn kết bên nhau đứng về phía cách mạng, cùng toàn dân, toàn quân đánh thắng giặc

Trang 25

17

ngoại xâm và trong thời bình họ đã tích cực tham gia xây dựng, phát triển quê hương, đất nước Chính vì vậy, trong quá trình lãnh đạo, quản lý đối với tôn giáo Đảng, Nhà nước ta thể hiện quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong hệ thống chính sách tôn giáo trước sau như một đó là luôn tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tôn giáo của công dân Mặt khác lại nghiêm cấm những hành vi miệt thị hay phân biệt đối xử, giữ khoảng cách đối với người có đạo; đồng thời kiên quyết đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng chính sách tự do tôn giáo để thực hiện mục đích phi tôn giáo, tổ chức sinh hoạt tôn giáo trái quy định pháp luật Việt Nam; gây mất trật tự ATXH, làm ảnh hưởng đến ANQG, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết toàn dân hay xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự của công dân hoặc có những hành vi trái với phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam

Đặc biệt, từ năm 1986 đến nay khi đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới các tôn giáo trong nước có sự phục hồi và phát triển; dù tự nhiên hay chủ ý nó đã tác động và ảnh hưởng trực tiếp đối với tình hình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và ANTT ở một số địa phương trong cả nước Nhận thức điều đó, Đảng ta đã kịp thời tổ chức tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác tôn giáo trong thời gian qua; đồng thời tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới Để lãnh đạo và tạo điều kiện cho tôn giáo phát triển một cách ổn định theo quy định của pháp luật như BCT đã ban hành Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 02/7/1998 về công tác tôn giáo trong tình hình mới, đây được xem là khởi đầu cho bước ngoặc về nhận thức đối với tôn giáo và công tác tôn giáo trong bối cảnh mới; không lâu sau BCT ban hành Nghị quyết số

24 -NQ/TW ngày 06/10/1990 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới Đặc biệt nhất, đến năm 2003, trên cơ sở đánh giá tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo đạt được những kết quả tích cực trên các mặt, song có những hạn chế, bất cập, tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định, do vậy, tại Hội nghị lần thứ bảy của

BCH Trung ương Đảng (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 25 Về công tác tôn giáo Nghị quyết này xác định phương hướng và mục đích cơ bản của hoạt động tôn

giáo và công tác tôn giáo; trong đó đã thể hiện 5 quan điểm và chính sách đối với

Trang 26

18

tôn giáo đó là: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật; các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật

Qua đó, cho thấy đây là lần đầu tiên chính sách tôn giáo được đưa ra bàn bạc, quyết định ở cấp BCH Trung ương và được phổ biến, quán triệt rộng rãi đến cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước Trải qua các kỳ đại hội từ Đại hội Toàn quốc lần thứ X đến đại Hội lần thứ XI và Đại hội lần thứ XII của Đảng công tác tôn giáo tiếp tục được chú trọng, thể hiện trong các văn kiện Đại hộị; cụ thể Đến Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng công tác tôn giáo tiếp tục được quan tâm và được thể hiện trong văn kiện Đại hội như sau: Tiếp tục hoàn thiện

chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo

đức tốt đẹp của các tôn giáo Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật” Điều đặc

biệt sau khi tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 25 Về công tác tôn giáo của

BCH Trung ương Đảng khóa IX vào ngày 10/01/2018 BCT đã ban hành Chỉ thị CT/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW của BCH Trung ương (khóa IX) về công tác tôn giáo trong tình hình mới và triển khai Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

18-Với việc ban hành các chỉ thị, nghị quyết nêu trên cho thấy rằng trong quá trình lãnh đạo xây dựng đất nước Đảng ta rất quan tâm đến công tác tôn giáo, trong các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết công tác tôn giáo được bàn bạc, đều khẳng định những quan điểm đúng đắn trước đây; đồng thời đã không ngừng đổi mới nhận thức

Trang 27

19

về tôn giáo và trong công tác quản lư trong lĩnh vực này; đề cao những quan điểm, chính sách đổi mới về tôn giáo và công tác tôn giáo trong tình hình mới; nhất là hiện nay trong xu thế hội nhập, hợp tác quốc tế sâu rộng thì công tác này được quan tâm hơn, cụ thể (Văn kiện tại đại hội lần thứ XII của Đảng nêu tiếp tục hoàn thiện

chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo)

Qua các quan điểm nêu trên cho thấy trong quá trình lãnh đạo xây dựng đất

nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng ta đã có những bước nhận thức mới, phát triển, hoàn thiện hơn trong công tác tôn giáo; các quan điểm, định hướng của Đảng về công tác tôn giáo được thể hiện ở các văn kiện đại hội Đảng cũng như các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tôn giáo; các văn bản, văn kiện đã khái quát được những quan điểm chỉ đạo, định hướng có tính chiến lược và những phương hướng, giải pháp quan trọng làm nền tảng cho nhận thức mới về công tác tôn giáo nói chung, thực hiện chính sách về tôn giáo nói riêng trong xu thế mới Trên cơ sở đó Nhà nước ta đã kịp thời ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật, có giá trị pháp lý nhằm thể chế, cụ thể hóa những chủ trương, quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và công tác tôn giáo trong tình hình mới

1.1.2.4 Quy trình thực hiện chính sách tôn giáo

Thực hiện chính sách tôn giáo gồm các bước sau

Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách tôn giáo

Việc thực thi chính sách công nói chung và thực thi chính sách tôn giáo nói riêng là một chu trình diễn ra trong thời gian tương đối dài, do đó để triển khai một cách hiệu quả, trong quá trình thực hiện phải lập kế hoạch một cách cụ thể để các cơ quan chức năng QLNN về tôn giáo thực hiện một cách chủ động, không bị lúng túng Có thể khẳng định đây là nhiệm vụ đầu tiên trong thực hiện chính sách tôn giáo Để chính sách tôn giáo đạt hiệu quả cao, các cấp chính quyền từ trung ương

đến tỉnh, huyện và xã, phường đều phải xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện

thành một hệ thống, đồng bộ Thực hiện chính sách tôn giáo ở cấp nào sẽ do cơ quan chủ trì của cấp đó xây dựng kế hoạch, thông qua và triển khai thực hiện Trong

Trang 28

20

quá trình xây dựng kế hoạch nếu cấp có thẩm quyền xây dựng tốt thì việc triển khai thực hiện chính sách có hiệu quả tốt và không cần phải điều chỉnh, bổ sung trong quá trình triển khai thực hiện và ngược lại Việc điều chỉnh kế hoạch trong quá trình thực hiện chính sách chỉ có những cấp có thẩm quyền xây dựng chính sách tôn giáo mới có quyền

- Nội dung Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách tôn giáo:

Thứ nhất, Kế hoạch tổ chức gồm: Các cơ quan chủ trì, phối hợp triển khai thực hiện chính sách Số lượng, chất lượng cán bộ phụ trách công tác tôn giáo tham gia Sự tác động giữa các cấp thực hiện chính sách và dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ, công chức thực hiện chính sách

Thứ hai, Kế hoạch dự kiến các nguồn lực gồm: điều kiện về phương tiện, trang thiết bị máy móc, hỗ trợ, phục vụ thực hiện chính sách tôn giáo; kinh phí thực hiện

Thứ ba, Kế hoạch thời gian thực hiện chính sách: là dự kiến về một khoản thời gian cho các bước thực hiện chính sách, từ việc tuyên truyền đến công tác sơ, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm Trong đó mỗi bước thực hiện đề ra thời gian và mục đích cần đạt được

Thứ tư, Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực thi chính sách tôn giáo gồm: dự kiến về nội quy, quy chế đối với hệ thống các cấp, ngành trong tham gia thực hiện chính sách; dự kiến về cách thức, phương pháp để kiểm tra, giám sát việc thực hiện; dự kiến về quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ phụ trách công tác tôn giáo các cấp Đồng thời dự kiến các hình thức khen thưởng những tập thể và cá nhân thực hiện tốt, đồng thời xử lý những tập thể,

cá nhân thực hiện không tốt chính sách tôn giáo

Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách tôn giáo

Sau khi lãnh đạo xem xét thông qua kế hoạch thực hiện chính sách tôn giáo, thì các cơ quan tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo ở cấp đó bám sát kế hoạch đã

Trang 29

21

được xem xét thông qua để triển khai thực hiện đúng tiến độ đề ra Nhiệm vụ đầu tiên là phải phổ biến, tuyên truyền chính sách và vận động quần chúng thực hiện chính sách Đây là nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan nhà nước phụ trách công tác tôn giáo và đối tượng thực hiện chính sách tôn giáo Bởi công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách tôn giáo tốt sẽ giúp cho chức sắc, chức việc, tín đồ hiểu mục đích, yêu cầu, tầm quan trọng của chính sách tôn giáo, để từ đó ý thức chấp hành theo yêu cầu của các cấp chính quyền, cơ quan QLNN về tôn giáo Hơn thế nữa đây là chính sách quan trọng, nhạy cảm, nếu công tác tuyên tuyền tốt sẽ giúp cho đồng bào, các chức sắc tôn giáo hiểu rõ mục tiêu chính sách đặt ra Phổ biến, tuyên truyền chính sách tôn giáo đạt hiệu quả bằng các hình thức, phương pháp như: Hội nghị, tập huấn chuyên đề các tôn giáo, gặp gỡ chức sắc, chức việc, nhà tu hành,

Bước 3: Phân công phối hợp thực hiện chính sách tôn giáo

Để tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra thì trong quá trình tổ chức thực hiện phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan, ngành, các cấp chính quyền địa phương, đây là việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thực hiện chính sách tôn giáo, trong đó cấp có thẩm quyền cần phải có sự phân công công việc cụ thể cho các ban, ngành, địa phương cũng như công tác phối hợp, hỗ trợ và tạo điều kiện của các đơn vị có liên quan đến việc thực hiện chính sách Trong hoạt động phân công, phối hợp nhiệm vụ cần được thực hiện theo tiến trình, có kế hoạch một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, đặc biệt quan tâm đến trình độ chuyên môn và lợi thế của từng tập thể, cá nhân; trong quá trình phân công phải phân công rõ ràng nhiệm vụ từng cơ quan, cơ quan nào là chủ trì, cơ quan nào là phối hợp; tránh tình trạng phân công nhiệm vụ không cụ thể, bị chồng chéo sẽ dẫn đến việc chính sách không đạt được hiệu quả Đối với nước ta, đã quy định Chính phủ QLNN về tôn giáo; Bộ Nội vụ-cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm QLNN về tôn giáo, có trách nhiệm tuyên tuyền, phổ biến giáo dục pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật đối với tôn giáo; BTG Chính phủ-thuộc Bộ Nội vụ có trách nhiệm tham mưu Bộ trưởng của Bộ này

Trang 30

22

có trách nhiệm QLNN về tôn giáo cùng các bộ, ngành của Trung ương; đối với cấp tỉnh, huyện, xã thì do UBND cấp đó thực hiện chức năng QLNN về tôn giáo ở cấp mình

Bước 4: Duy trì chính sách đối với tôn giáo

Để chính sách tôn giáo được tồn tại trong đời sống xã hội, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của đồng bào các tôn giáo đòi hỏi cần có sự thống nhất, đồng tâm hiệp lực của chủ thể và khách thể trong quá trình thực thi chính sách tôn giáo của Đảng, nhà nước và môi trường tồn tại của nó Trong thực tiễn cho thấy một số chính sách sau khi ban hành đến giai đoạn triển khai thực hiện thì gặp không ít những khó khăn, vướng mắc nhất định, nguyên nhân do môi trường thực tế biến động, trong đó có chính sách tôn giáo Vì thế, để triển khai thực hiện tốt chính sách tôn giáo thì các cơ quan QLNN về tôn giáo ở các cấp cần linh hoạt, chủ động, sáng tạo, sử dụng hệ thống, những công cụ quản lý sao cho phù hợp để tác động, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thực thi chính sách tôn giáo Đồng thời, trong quá trình triển khai thực hiện các cơ quan nhà nước cần chủ động, linh hoạt điều chỉnh chính sách tôn giáo sao cho cho phù hợp với tình hình của địa phương, đất nước trong tình hình mới Trong thực tế, các cơ quan QLNN về tôn giáo trong một chừng mực nhất định có thể dùng hiện pháp hành chính để duy trì chính sách tôn giáo để đảm bảo lợi ích chung của xã hội

Bước 5: Điều chỉnh chính sách tôn giáo

Trong quá trình triển khai thực hiện chính sách tôn giáo cần phải có sự điều chỉnh kịp thời để chính sách phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tiễn; đây

là việc làm cần thiết và diễn ra thường xuyên trong quá trình thực hiện chính sách tôn giáo; việc điều chỉnh chính sách tôn giáo được thực hiện bởi cơ quan QLNN ở cấp Trung ương Cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh và bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế, việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế, chính sách diễn ra rất năng động, linh hoạt, do vậy các cơ quan QLNN ở cấp Trung ương, các ngành, UBND các cấp về chính sách tôn giáo cần chủ động điều chỉnh biện

Trang 31

23

pháp, cơ chế, chính sách cho phù hợp tình hình và tôn giáo ở cấp mình Để chính sách tôn giáo được duy trì, trong khi điều chỉnh chính sách phải chấp hành nguyên tắc đó là chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu chính sách hay bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn Do đó, nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu chính sách tôn giáo, thì chính sách đó không tồn tại

Bước 6: Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách tôn giáo

Tôn giáo và tình hình tôn giáo ở từng vùng, địa phương không giống nhau cũng như trình độ, năng lực của đội ngũ của cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước của cả hệ thống chính trị trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo không đồng nhất, do đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc tổ

chức thực hiện chính sách tôn giáo phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc

việc thực hiện chính sách Thông qua đó, nếu phát hiện những hạn chế, bất cập thì kịp thời tham mưu cấp có thẩm quyền điều chỉnh bổ sung, đính chính hoàn thiện và chấn chỉnh công tác thực hiện chính sách tôn giáo ở các cấp, đồng thời giúp cho việc triển khai thực hiện chính sách tôn giáo trên địa bàn đạt hiệu quả, đảm bảo theo nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tôn giáo của một bộ phận quần chúng nhân dân Ngoài ra, qua kiểm tra, phát hiện và xử lý những vi phạm của các tổ chức,

cá nhân tôn giáo trong hoạt động tôn giáo

Bước 7: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách tôn giáo

Nội dung tổng kết, đánh giá công tác tôn giáo là công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai, điều hành những văn bản như nội quy, quy định, chương trình phối hợp,

ký kết liên tịch cùng các văn bản quy phạm pháp luật khác về tôn giáo để xem xét tình hình thực hiện chính sách tôn giáo Trong quá trình thực hiện chính sách tôn giáo, ngoài tổng kết, đánh giá các cơ quan QLNN về kết quả điều hành chính sách tôn giáo cần phải đánh giá việc ý thức chấp hành chính sách, pháp luật của các tổ chức, cá nhân tôn giáo Thực hiện chính sách là một khâu trong chu trình chính sách

Trang 32

24

nhằm chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách đối với các đối tượng quản lý thành hiện thực, nhằm đạt mục tiêu đề ra Thực hiện chính sách tôn giáo là một khâu trong chu trình chính sách của chủ thể cầm quyền, có nhiệm vụ quan trọng trong việc đưa chính sách này thành hiện thực Việc thực hiện chính sách được xem như là trung tâm để tập hợp, kết nối các bước thực hiện thành một hệ thống logic Việc ban hành một chính sách đúng, sát với thực tiễn hay không rất quan trọng đối với chủ thể cầm quyền, nhằm quản lý các đối tượng xã hội, nhưng việc thực hiện chính sách hiệu quả còn có ý nghĩa quan trọng hơn Nếu như chính sách của Nhà nước đúng mà thực hiện không hiệu quả, không đáp ứng được thực tiễn thì chính sách sẽ trở nên

vô nghĩa, ảnh hưởng rất lớn đối với chủ thể ban hành chính sách, đó là Nhà nước Chính sách tôn giáo là chính sách quan trọng nếu như thực hiện không đúng sẽ bị tín đồ, nhân dân thiếu tin tưởng, thậm chí còn phản đối, tổ chức biểu tình ảnh hưởng đến tình hình ANCT, trật tự ATXH Đặc biệt nguy hiểm hơn, đây là chính sách rất nhạy cảm dễ bị các thể lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng, xuyên tạc, bóp méo sự thật, nói xấu đường hướng lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đối với tôn giáo, gây biểu tình, bạo động ở một số địa phương, chống phá Đảng, Nhà nước trong quá trình xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó gây khó khăn trong công tác QLNN về tôn giáo

Qua thực tế cho thấy chỉ có đi sâu sát cơ sở trong quá trình thực thi chính sách tôn giáo trên cơ sở đó mới xây dựng chính sách phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đồng bào có đạo, cũng là sự phù hợp giữa tôn giáo với chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với tôn giáo Trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách nói chung và chính sách tôn giáo nói riêng do nguyên nhân chủ quan và khách quan, các nhà nghiên cứu tham mưu ban hành chính sách chưa lường hết được những vấn đề mới phát sinh trong quá trình thực hiện, chưa tính đến thì trong giai đoạn tổ chức thực hiện mới phát sinh cái mới, cho nên khi thực hiện chính sách nói chung, đặc biệt chính sách đối với tôn giáo nói riêng thì sẽ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn, nhằm tạo cơ sở pháp lý để thực hiện chính sách tôn giáo, đáp ứng nhu cầu sinh

Trang 33

25

hoạt tôn giáo của một bộ phận nhân dân Qua đó cũng đã phát huy được những mặt tích cực của lĩnh vực này trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong giai đoạn hiện nay

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình thực hiện Chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam

Nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương, quan điểm đổi mới của Đảng về tôn giáo, nước ra đã ban hành hàng loạt văn bản pháp quy về quản lý, hướng dẫn thực hiện chính sách tôn giáo (pháp lệnh, nghị định, Luật, cùng các văn bản khác) như: sau khi BCH Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 24/NQ/TW ngày

16/10/1990 “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” thì ngày

21/3/1991 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định

69/NĐ-HĐBT về Quy định về các hoạt động tôn giáo Vào năm 1999 sau khi BCT ban

hành Chỉ thị số 37-CT/TW thì ngày 19/4/1999 Thủ tướng Chính phủ ký công bố

ban hành Nghị định 26/1999/NĐ-CP Về các hoạt động tôn giáo Tại Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương khóa IX, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 25/NQ-TW, ngày 12/3/2003 Về công tác tôn giáo, ngay sau đó Thường vụ Quốc hội khóa XI đã thông qua Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và tháng 6/2004 Chủ tịch nước Trần Đức Lương ký Sắc lệnh công bố văn bản pháp luật này Sau khi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ban hành, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 22/NĐ-CP ngày 11/3/2005 về Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (thì ngày 8/11/2012 được thay bằng Nghị định số 92/NĐ-CP) Mới đây nhất trong

kỳ họp thứ 2 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa XIV) ngày 18/11/2016 tại Thủ đô Hà Nội, Quốc Hội đã bỏ phiếu tán thành và đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo Luật gồm 9 chương, 68 Điều và để triển khai thực hiện

có hiệu quả Luật tín ngưỡng, tôn giáo vào ngày 30/12/2017 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định Số 162/2017/NĐ-CP về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016,

Trang 34

26

Trên đây là những văn bản cụ thể hóa của Nhà nước ta đối với tôn giáo trên cơ

sở thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về công tác tôn giáo, bên cạnh đó Nhà nước ta ban hành các chính sách khác nhằm phát huy những mặc tích cực của từng

tổ chức, cá nhân tôn giáo trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước như: Chỉ thị

số 01/2005 của Thủ tưởng Chính phủ Về một số công tác đối với đạo Tin Lành, với

việc ban hành Chỉ thị này thể hiện đây là “một chính sách rất táo bạo” đối với tôn giáo này Qua đó cho thấy Đảng, Nhà nước ta rất linh hoạt sáng tạo trong lãnh đạo đối với công tác tôn giáo hay như ngày 31/12/2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành

Chỉ thị số 1940 Về vấn đề nhà, đất liên quan đến tôn giáo nhằm giải quyết kịp thời

về nhà, đất liên quan đến tôn giáo trong bối cảnh lúc này tình hình đất đai liên quan đến công tác tôn giáo cần phải quan tâm; hay như chính sách cơ cấu các chức sắc, chức việc của các tôn giáo tham gia vào các cơ quan bầu cử như Quốc hội, HĐND

và tham gia vào các tổ chức CT-XH các cấp; chính sách phát triển đảng viên là người có đạo; chính sách xây dựng cốt cán tôn giáo, chính sách đoàn kết các tôn giáo…Việc ban hành các văn bản pháp lý nêu trên làm nền tảng hết sức quan trọng trong việc tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo, nhất là xác định rõ hơn quyền và nghĩa vụ của chủ thể và khách thể trong thực thi chính sách Từ đó, giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị nước ta, nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn về quyền tự do tôn giáo của công dân, về mối quan hệ giữa các tổ chức tôn giáo với chính quyền các cấp, về trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong quá tŕnh phối hợp và kết hợp giải quyết các vấn đề trong công tác tôn giáo; qua đó khắc phục những nhận thức lệch lạc và những hành động không đúng trong quá trình tổ chức thực thi chính sách tôn giáo theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

1.2.2 Tình hình tôn giáo trên địa bàn huyện Quế Sơn

1.2.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách tôn giáo ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

* Ảnh hưởng của vị trí địa lý, tự nhiên, xã hội

Trang 35

27

Huyện Quế Sơn là huyện đồng bằng-trung du của tỉnh Quảng Nam, diện tích

tự nhiên toàn huyện là 25.117,15 ha Huyện có diện tích vùng đồi núi chiếm trên 60% tổng diện tích tự nhiên của huyện (nằm chủ yếu ở phía Tây của huyện), đồng bằng tập trung ở phía Đông (xã Quế Xuân 1, Hương An và phía Đông của xã Quế Xuân 2) nhưng diện tích không lớn, còn lại là những vùng nhỏ hẹp và nằm đan xen giữa các khu vực gò đồi Trung tâm huyện cách Đà Nẵng 50 km về hướng Đông Bắc, cách Tam kỳ khoảng trên 55 km về phía Đông Nam, về phía Bắc giáp ranh với huyện Duy Xuyên, phía Đông giáp với huyện Thăng Bình và phía Đông của huyện Duy Xuyên, phía Tây và Tây Bắc giáp với huyện Nông Sơn, phía Nam giáp với huyện Hiệp Đức và phía Tây của huyện Thăng Bình Với vị trí địa lý thuận lợi như trên, Quế Sơn là nơi du nhập, tọa lạc của các tôn giáo (với 05 loại hình tôn giáo du nhập), đồng thời cũng bị tác động của các hoạt động tôn giáo của các vùng lân cận như Giáo phận Đà Nẵng,

Đơn vị hành chính của huyện: có 13 xã và 01 thị trấn: nằm dọc theo Quốc lộ 1

A gồm 04 xã (Hương An, Quế Xuân 1, Quế Xuân 2 và xã Quế Phú), có diện tích tự nhiên 53,44 km2 , nằm dọc theo tỉnh lộ ĐT 611 là các xã Phú Thọ, Quế Cường, Quế Thuận, xã Quế Châu, Thị trấn Đông Phú, xã Quế Minh, xã Quế Hiệp, xã Quế Long,

xã Quế An, với diện tích 154,78 km2 và 01 xã Quế Phong xã miền núi, với diện tích

tự nhiên là 30,24 km2

Giao thông - Thủy lợi: Có tuyến Đường Quốc lộ 1A, có chiều dài là 8,5 km

chạy qua địa bàn các xã: xã Hương An, Quế Xuân 1, Quế Xuân 2 và xã Quế Phú

Có tuyến đường ĐT 611A và ĐT 611B với tổng chiều dài tuyến 37,5 km chạy qua nhiều xã địa bàn huyện Ngoài ra, trên địa bàn huyện có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy song song với tuyến đường Quốc lộ 1A và chạy trên địa phận của các xã (Quế Xuân 2, Quế Xuân 1, Phú Thọ và Quế Cường) và tuyến đường cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi đi qua địa bàn của 03 xã (Quế Xuân 2, Quế Cường và xã Phú Thọ) Với hệ thống giao thông chằng chịt, nhiều loại hình như trên đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu, buôn bán, góp phần quan trọng trong việc phát triển KT-XH

ở địa phương Tuy nhiên, đây cũng chính là yếu tố gây khó khăn trong công tác

Trang 36

28

QLNN về hoạt động tôn giáo, như khó quản lý được lượng tín đồ của các địa phương khác đến sinh hoạt, việc truyền đạo trái quy định pháp luật ở một số cơ sở tôn giáo

* Về đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội

Về di tích lịch sử: huyện có Nhà tưởng niệm Cụ Đỗ Quang (một vị Quan Nhà Nguyễn rất tài giỏi), Nhà thờ Tiến sĩ-Phan Quan, một trong “Ngũ tụng tề phi: của đất Quảng Nam; đặc biệt là di tích lịch sử địa điểm Chiến thắng Cấm Dơi, nằm ngay ở Trung tâm huyện lị, Bia Phạm Nhữ Dục-danh tướng thời Nhà Trần, người

có công khai phá vùng Quế Sơn; 02 Khu du lịch, gồm: Khu du lịch sinh thái Suối Tiên (Quế Hiệp), Suối Nước Mác, Đèo Le (Quế Long) Bên cạnh đó, trên địa bàn huyện có các di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh, gồm các nhà thờ tộc, các di tích cách mạng, miếu và các kiến trúc, vật thể Chăm Pa cổ như: Ngôi miếu thờ bò thần Nandin độc đáo tại xã Quế Phú, Lăng Mộ Phạm Nhữ Tăng (Quế Phú) , là nơi tổ chức nhiều lễ hội thu hút nhiều người dân ở địa phương tham gia, như Đình Làng

An Long (xã Quế Phong), Đình Làng Châu Sơn xã Quế An, ) cùng hệ thống miếu thờ, Nhà thờ tộc lớn được phân bổ rải rác các địa phương trong toàn huyện Đặc biệt trên địa bàn huyện có Lễ hội Khai Sơn (Thôn Nghi Trung thuộc xã Quế Hiệp)

và 35 cơ sở, điểm nhóm tôn giáo là một trong những địa điểm sinh hoạt tôn giáo của một bộ phận nhân dân trên địa bàn

Về dân số: Tính đến thời điểm hiện nay, huyện có 84.000 người, chủ yếu tập

trung ở các xã đồng bằng, chiếm hơn chiếm 60% dân số và còn tại phân tán ở các xã khu vực trung du, miền núi Mật độ dân số phân bố không đồng đều giữa khu vực đồng bằng và khu vực trung du, miền núi, cao nhất là xã đồng bằng Quế Xuân 1 và

xã Quế Hiệp là thấp nhất

Về kinh tế: Trong những năm qua, Đảng bộ huyện Quế Sơn đã tập trung lãnh

đạo, chỉ đạo triển khai nhiều phương án, giải pháp để phát triển kinh tế phù hợp với tiềm năng, lợi thế của địa phương, trong đó chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp, thu hút kêu gọi doanh nghiệp trong và

Trang 37

29

ngoài nước vào đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp của huyện (Khu Công nghiệp Đông Quế Sơn, Cụm công nghiệp Quế Cường, Đông Phú) Qua đó tạo chuyển biến

tích cực trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tăng trưởng kinh tế được duy trì và

có phát triển, năm sau cao hơn năm trước Qua đó đã nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần của nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo, thu nhập bình quân đầu

người được tăng hằng năm Tuy nhiên, Quế Sơn vẫn là huyện còn nghèo so với các

huyện đồng bằng lân cận trong tỉnh, với cơ cấu kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, nhân dân tham gia trong lĩnh vực này chủ yếu, chiếm 75% dân số của huyện Song trong lĩnh vực này do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, khí hậu khắc nghiệt, có hai mùa mưa và khô, mùa khô rõ rệt đã gây khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, nhất là cho diện tích đất nông nghiệp ở các xã vùng Trung và vùng Tây trong mùa khô, trong khi đó mùa đông gây ngập úng ở các xã vùng Đông của huyện nên đời sống của một bộ phận nhân dân gặp không ít khó khăn, trong đó có đồng bào có đạo Bên cạnh đó, do tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau, số lượng người mắc bệnh hiểm nghèo càng tăng; khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, trong cuộc sống gặp tai nạn, biến cố bất ngờ xảy ra, ở một bộ phận nhân dân; do đó họ cảm thấy bất hạnh nên tìm đến tôn giáo để hóa giải; chính vì đó mà số lượng tín đồ tôn giáo tăng lên hằng năm, nhất là đạo Phật Bên cạnh đó có một vấn đề cần quan tâm nữa đó là tình trạng người dân không theo đạo nhưng tự tu tại gia diễn ra rất nhiều ở hầu hết các xã, chiếm khoảng 40% dân số của huyện (họ không đến chùa thường xuyên nhưng tự ăn chay vào ngày rằm, mồng một hằng tháng, đầu năm đến chùa và đến khi cảm thấy bất hạnh Ngoài ra, số lượng người không theo đạo, không ăn chay vào ngày rằm, mồng một hằng tháng nhưng đến Chùa hái lộc, bốc thăm, dương sao, giải hạn đầu năm tăng đáng kể trong những năm gần đây, trung bình mỗi chùa vào có khoảng trên nghìn người đến dương sao, giải hạn, hái lộc, bốc thăm đầu năm trong 02 ngày 14-15 tháng giêng, qua đó đã gây khó khăn trong QLNN về sinh hoạt tôn giáo, nhất là tình hình ANTT trên địa bàn

1.2.2.2 Tình hình tôn giáo trên địa bàn

Trang 38

30

Là huyện gần như là trung tâm của tỉnh với hệ thống giao thông đa dạng;

Quế Sơn được xem là nơi hội tụ đầy đủ các tôn giáo lớn như: Phật giáo, Tin Lành,

Công giáo, Cao đài, BaHa’i, Tính đến thời điểm hiện nay tổng số tín đồ các tôn

giáo trên địa bàn huyện là 4.286 người, chiếm khoảng 5,2% tổng dân số toàn huyện

(thể hiện ở bảng thống kê dưới đây)

Bảng 1.1 Bảng thống kê các tôn giáo ở huyện Quế Sơn hiện nay

Trang 39

31

Hình 1.1 Biểu đồ các tôn giáo ở Quế Sơn

Qua bảng 1.1 và biểu đồ hình 1.1 cho thấy trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam gồm có 05 tôn giáo chính: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Baha,i với tổng tín đồ là 4.286 tín đồ, chiếm 5.2% dân số của huyện, tín đồ từng tôn giáo như sau: Phật giáo khoảng 2.396 đạo hữu; Công giáo có 780 tín đồ/1281, tín

đồ còn lại từ huyện lân cận đến sinh hoạt tôn giáo; Tin lành có 765 tín đồ; Cao đài

265 đạo hữu; Baha’i có 80 tín đồ

* Số lượng cơ sở, chức sắc, chức việc các tôn giáo trên địa bàn huyện

Số lượng cơ sở tôn giáo, chức sắc, chức việc các tôn giáo được thể hiện ở bảng thống kê sau:

Bảng 1.2 Bảng thống kê số lượng cơ sở, điểm nhóm và chức sắc, chức việc của

các tổ chức tôn giáo

STT Cơ sở tôn giáo Điểm nhóm Chức

sắc

Chức việc

Trang 40

Nguồn: Phòng Nội vụ huyện Quế Sơn

Qua bảng thống kê số liệu cơ sở tôn giáo và chức sắc, chức việc tôn giáo cho thấy: Phật giáo có 23 cơ sở tôn giáo chiếm 66.6% cơ sở tôn giáo toàn huyện, sở dĩ như vậy là do lịch sử để lại (vùng Đông của huyện nhiều chùa chiền) và số người theo đạo càng tăng (chưa kể tín đồ ở các xã của các huyện lân cận đến sinh hoạt có trên 1.000 tín đồ), có 20 chức sắc và 116 chức việc; tiếp đến là Công giáo có 03 cơ

sở (01 Giáo xứ và 01 Nhà nguyện, 01 Giáo họ, có 01 chức sắc và 08 chức việc); về

đạo Tin lành: Tin lành Miền Nam ở huyện có 02 cơ sở và 01 điểm nhóm (Hương An), 02 điểm nhóm Tin lành được công nhận (Tin lành Trưởng lão Liên hiệp Việt Nam) với 05 chức sắc và 16 chức việc Cao đài có 01 cơ sở với 01 chức sắc và 08 chức việc và Baha’i là 03 điểm nhóm đã được công nhận với 01 chức sắc và 06 chức việc

Huyện với 14 đơn vị hành chính xã, thị trấn, địa bàn nào cũng có tín đồ, nhưng sự phân bổ các cơ sở không đồng đều, được thể hiện ở bảng thống kê dưới đây:

Ngày đăng: 20/07/2020, 09:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w