Vì vậy hoạt động giáo dục và đào tạo ở trường cao đẳng, chuyên nghiệp không còn đóng khung trong các giờ dạy kiến thức trên lớp mà còn phải bao gồm các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên l
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Thị Kim Linh
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Hà Thị Kim Linh Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như
số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 6 năm 2017
Học viên thực hiện
VIENGSOUTCHAY PHONLAYMA
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nhận và triển khai nghiên cứu đề tài, hoàn thành luận văn, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy
Cô trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Trước hết, em xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban lãnh đạo, Phòng Đào tạo, các thầy cô giáo khoa sau Đại học, các thầy cô khoa Tâm lý giáo dục
đã tham gia giảng dạy lớp cao học chuyên ngành Quản lí giáo dục khoá 23b do trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên tổ chức đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Hà Thị Kim Linh đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn và có thể áp dụng có hiệu quả trong quá trình công tác
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong Ban Giám hiệu, cán bộ giáo viên trong trường CĐSP Pakse đã tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn
Xin cám ơn và chia sẻ niềm vui này với gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu song luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em mong tiếp tục nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo cùng các đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc của đề tài 5
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu về quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp cho sinh viên 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Những nghiên cứu ở nước CHDCND Lào 10
1.2 Một số khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 13
1.2.3 Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 14
1.2.4 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 14
1.2.5 Quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên ở trường Cao đẳng sư phạm 16
1.3 Tổ chức hoạt HĐGDNGLL cho sinh viên ở trường CĐSP 17
1.3.1 Mục tiêu của HĐGDNGLL ở trường CĐSP 17
1.3.2 Đặc điểm của hoạt động GDNGLL 18
1.3.3 HĐGDNGLL trong chương trình đào tạo trường Cao đẳng sư phạm 19
Trang 61.3.4 Vai trò của HĐGDNGLL trong các trường CĐSP nước CHDCND Lào 19
1.3.5 Nội dung, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên ở trường CĐSP nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 22
1.4 Quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên 25
1.4.1 Mục tiêu quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên 25
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên 26
1.4.2.1 Lập kế hoạch tổ chức HĐGDNGLL 26
1.4.3 Phương pháp quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm 31
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên 33
1.5.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và sinh viên nhà trường 33
1.5.2 Năng lực của cán bộ quản lý và giáo viên 34
1.5.3 Văn bản quy định và hướng dẫn về công tác quản lí HĐGD NGLL, hoạt động của tổ chức sinh viên trong nhà trường CĐSP 34
Kết luận chương 1 36
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CĐSP PAKSE, TỈNH CHAMPASAK 37
2.1 Vài nét về khách thể và tổ chức khảo sát 37
2.1.1 Vài nét về Trường Cao đẳng Sư phạm Pakse, tỉnh Champasak 37
2.1.2 Đặc điểm sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Pakse 38
2.1.3 Tổ chức khảo sát 39
2.2 Thực trạng quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Pakse 40
2.2.1 Thực trạng nhận thức về quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Pakse 40
2.2.2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài lên lớp cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Paske 42
2.2.2 Thực trạng phương pháp và hình thức QL HĐGDNGLL 45
Trang 7v
2.2.3 Thực trạng các lực lượng tham gia tổ chức hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp 46
2.3 Thực trạng về tổ chức thực hiện các nội dung hoạt động ngoài giờ lên lớp cho sinh viên Trường CĐSP Pakse, tỉnh Champask 47
2.3.1 Các điều kiện bảo đảm cho quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 47
2.3.2 Hỗ trợ kinh phí; đầu tư và sử dụng có hiệu quả CSVC cho các hoạt động GDNGLL của SV trong trường 48
2.3.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của sinh viên Trường cao đẳng sư phạm Pakse, tỉnh Champaska 48
2.3.4 Thực trạng về kết quả hoạt động ngoài giờ lên lớp của Sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Pakse 51
2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động ngoài giờ lên lớp của Sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Pakse 52
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Pakse: 53
2.4.1 Những kết quả đạt được 53
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 54
Kết luận chương 2 58
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CĐSP PAKSE, TỈNH CHAMPASK 59
3.1 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp 59
3.1.1 Đảm bảo mục tiêu đào tạo của trường CĐSP 59
3.1.2 Đảm bảo phù hợp điều kiện thực tiễn của nhà trường 59
3.1.3 Đảm bảo tính kế thừa 59
3.1.4 Đảm bảo tính phát triển, tính hiệu quả 60
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL cho sinh viên trường cao đẳng Sư phạm Pakse, tỉnh Champask 60
Trang 83.2.1 Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, giáo viên
trường CĐSP Paske về tổ chức các HĐGDNGLL cho sinh viên 60
3.2.2 Xây dựng nội dung HĐGDNGLL phù hợp mục tiêu giáo dục của nhà trường 62
3.2.3 Bồi dưỡng năng lực tổ chức HĐGDNGLL cho giảng viên phụ trách công tác học sinh, sinh viên trường CĐSP Paske 65
3.2.4 Tăng cường điều kiện phục vụ quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp cho sinh viên trường cao đẳng Sư phạm Pakse 66
3.2.5 Thiết lập cơ chế quản lý phối hợp chặt chẽ giữa cấp Khoa - Phòng chức năng trong quản lý động GDNGLL cho sinh viên ở trường Cao đẳng Sư phạm 68
3.2.6 Kiểm tra, đánh giá tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho Sinh viên trường cao đẳng Sư phạm Pakse 69
3.3 Tổ chức khảo nghiệm hệ thống biện pháp 73
3.3.1 Đối với đội ngũ Cán bộ quản lý trường Cao đẳng Sư phạm Pakse 73
3.3.2 Đối với đội ngũ Giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Pakse 73
3.4 Khảo nghiệm về nhận thức tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp 73
Kết luận chương 3 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Khuyến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Viết đầy đủ
Trang 11v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức của GV trường CĐSP Paske nội dung
HĐGDNGLL 40 Bảng 2.2 Thực trạng nhận thức của CBQL về khái niệm QLHĐGDNGLL 41 Bảng 2.3 Thực trạng các nội dung đã được quan tâm tổ chức thông qua
HĐGDNGLL 42 Bảng 2.4 Thực trạng mức độ thực hiện nội dung HĐGDNGLL 43 Bảng 2.5 Thực trạng các HĐGDNGLL được tổ chức trong nhà trường 44 Bảng 2.6 Thực trạng phương pháp QL HĐGDNGLL ở trường CĐSP Paske 45 Bảng 2.7 Thực trạng hình thức quản lý hoạt động GDNGLL 45 Bảng 2.8 Thực trạng lực lượng tham gia tổ chức HĐGDNGLL 46 Bảng 2.9 Thực trạng cơ sở vật chất, kinh phí đảm bảo cho HĐGD NGLL 47 Bảng 2.10 Thực trạng chỉ đạo tổ chức HĐGD NGLL của Ban chỉ đạo
HĐGD NGLL 50 Bảng 3.11 Về mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý 73 Bảng 3.12 Về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý 75
Trang 13tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, đầu tư có hiệu quả nhằm đưa chất lượng giáo dục Lào từng bước phát triển ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới
Các chủ trương của Đảng, quan điểm của Nhà nước Lào đã khẳng định vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển của đất nước cũng như khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục trong sự nghiệp phát triển con người Đồng thời nhấn mạnh con người phát triển toàn diện không chỉ giỏi về tri thức khoa học mà còn cần có hệ thống năng lực cơ bản để đáp ứng những yêu cầu ngày một cao của xã hội Vì vậy hoạt động giáo dục và đào tạo ở trường cao đẳng, chuyên nghiệp không còn đóng khung trong các giờ dạy kiến thức trên lớp mà còn phải bao gồm các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) nhằm rèn luyện những kỹ năng cơ bản cho sinh viên, góp phần giáo dục nên những con người đáp ứng được yêu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội HĐGDNGLL là một bộ phận của quá trình giáo dục trong trường cao đẳng Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài các giờ học kiến thức văn hóa ở trên lớp HĐGDNGLL gắn bó chặt chẽ với hoạt động dạy học, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin đúng đắn ở sinh viên HĐGDNGLL là điều kiện tốt nhất để rèn luyện các kỹ năng cơ bản, phát huy vai trò chủ thể, phát triển tính tích cực, chủ động ở Sinh viên, đáp ứng mục tiêu
Trang 142
giáo dục đặt ra đối với nhà trường Một trong những mục tiêu của nhà trường là đào tạo các giáo viên có khả năng giảng dạy và làm tốt công tác giáo dục sinh viên Vì vậy sinh viên cần được trang bị hệ thống tri thức và kỹ năng để thực hiện tốt các nhiệm vụ của người giáo viên trong giai đoạn hiện nay, trong đó có nhiệm vụ hướng dẫn sinh viên tổ chức các HĐGDNGLL Thực tế trong quá trình đào tạo những năm vừa qua, cụ thể trong các đợt thực hành, thực tập sư phạm cho thấy sinh viên năm thứ 2, 3 còn gặp nhiều lúng túng khi phải hướng dẫn sinh viên tổ chức các hoạt động giáo dục nói chung, HĐGDNGLL nói riêng Để khắc phục tình trạng trên, cần thiết phải nghiên cứu một cách cơ bản quá trình rèn luyện hệ thống kỹ năng tổ chức HĐGDNGLL Điều đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quá trình rèn luyện hệ thống kỹ năng sư phạm cho sinh viên CĐSP
Hệ thống giáo dục của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào cũng mang trên mình trách nhiệm nặng nề đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy, đặc biệt là đội ngũ giảng viên các trường đại học và cao đẳng sư phạm vì những đơn vị này chịu trách nhiệm đào tạo những “máy cái”, đảm bảo cung cấp cho xã hội những công dân tốt, có chất lượng; hơn nữa giảng viên đại học, cao đẳng sư phạm giữ vai trò quyết định trong việc hình thành năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị, định hình nhân cách sinh viên nói riêng và con người của xã hội nói chung Quá trình giáo dục ở các trường đại học và cao đẳng sư phạm muốn đạt chất lượng cao cần phải được thực hiện bởi một đội ngũ giảng viên giỏi; nói cách khác giảng viên các trường đại học và cao đẳng sư phạm là lực lượng nòng cốt, quan trọng quyết định đến chất lượng phát triển của toàn xã hội
Trường CĐSP Pakse, tỉnh Champasak là một trong những trường thuộc
hệ thống giáo dục của nước CHDCND Lào có lịch sử phát triển nửa thế kỷ, cùng với những nỗ lực nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, tạo ra những người có nhân cách tốt, là tấm gương sáng về đạo đức và tu dưỡng chuyên môn
Trang 153
cho các thế hệ các thầy cô giáo ở Champasak nói riêng và nước Lào nói chung, với mục đích chính là đáp ứng yêu cầu ngày càng cao đối với sự nghiệp giáo dục của đất nước, tăng cường đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của sinh viên trong yêu cầu hội nhập hiện nay
Hoạt động GDNGLL có khả năng góp phần đào tạo người học toàn diện
về các mặt: đức, trí, thể mĩ, vừa có lý luận vừa có thực hành, vừa có kiến thức vừa có kĩ năng sản xuất vừa có văn hóa nhà trường vừa có tri thức về đời sống xã hội Hoạt động ngoài giờ lên lớp chính là cầu nối giúp sinh viên vận dựng kiến thức vào trong đời sống, sinh hoạt tạo sự gần gũi, gắn kết cá nhân với tập thể và với cộng đồng
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Pakse, tỉnh Champasak" làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho SV trường Cao đẳng sư phạm Pakse, đề tài đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho SV trường Cao đẳng sư phạm Pakse, tỉnh Champasak góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nói riêng, chất lượng giáo dục của nhà trường CĐSP Pakse, tỉnh Champasak nói chung
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm ở nước CHDCND Lào
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên ở Trường Cao đẳng Sư phạm Pakse, tỉnh Champasak
Trang 164
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xây dựng cơ sở lý luận hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên các trường Cao đẳng sư phạm
4.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Pakse
4.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Pakse
5 Giả thuyết khoa học
Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một nội dung trong tổ chức quá trình đào tạo của nhà trường CĐSP góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp trong trường CĐSP Paske đã được quan tâm nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định Nếu nghiên cứu được thực trạng quản lý HĐGDNGLL và đề xuất được biện pháp quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên tại trường CĐSP Paske tỉnh Champasak sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc, phân tích các tài liệu, giáo trình, tạp chí có liên quan để phục vụ
hoạt động nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát các HĐGDNGLL được tổ chức trong nhà trường CĐSP Paske như: hoạt động tập thể, hoạt động sinh hoạt Đoàn thanh niên,…để thu thập thông tin làm làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng
6.2.2 Phương pháp điều tra
- Điều tra bằng bảng hỏi về thực trạng quản lý HĐGDNGLL cho SV trường CĐSP Paske, tỉnh Champasak
- Sử dụng số liệu thống kê về HĐGDNGLL của các phòng chức năng trường CĐSP Paske
Trang 175
6.2.3 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục về các thông tin thực trạng tổ chức các HĐGDNGLL, công tác quản lý tổ HĐGDNGLL cho sinh viên tại trường CĐSP
6.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu kế hoạch tổ chức hoạt động, nghiên cứu hồ sơ, giáo án của các giáo viên để thu thập thông tin làm cơ sở đánh giá thực trạng quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên tại trường CĐSP Paske
6.2.5 Phương pháp xử lý thông tin và đánh giá
Sử dụng toán thống kê, tin học để xử lý các số liệu thu được qua điều tra
và khảo nghiệm
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp cho sinh
viên Trường Cao đẳng Sư phạm
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp cho sinh viên
Trường Cao đẳng Sư phạm Pakse, tỉnh Champasak
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp cho sinh viên
Trường Cao đẳng Sư phạm Pakse, tỉnh Champasak
Trang 18
J.A.Kômenxki (1592 - 1670), người đặt nền móng cho sự ra đời của nhà trường hiện nay, lại xem quản lý việc học tập của sinh viên kết hợp với các hoạt động ngoài giờ học như một cách giải phóng học tập ra khỏi sự “giam hãm trong bốn bức tường” của trường học thời trung cổ và cho rằng “Học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, cây sồi,…”; John Locke (1632-1704), nhà triết học Anh thế kỉ XVII đã đánh giá rất cao ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát triển nhân cách của trẻ; vì vậy quản lý các hoạt động bên ngoài lớp học là hết sức cần thiết để định hướng trẻ trong quá trình trải nghiệm thực tiễn của chúng với môi trường xung quanh; C Mác (1818 - 1883) và Ph Ăng-ghen (1820 - 1895) đã xác định mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là đào tạo ra “con người phát 21 triển toàn diện” Muốn vậy, phải quản lý được phương thức giáo dục hiện đại là quản lý các HĐGD kết hợp với lao động sản xuất”; A X Macarenco (1888 -
Trang 197
1939) đã chứng minh được: một trong những logic của quá trình sư phạm là quá trình quản lý, tổ chức hợp lý các hoạt động tham gia vào cách mạng xã hội, lao động sản xuất, các hoạt động tập thể như vui chơi, thể dục thể thao (TDTT), tham quan du lịch, văn hoá nghệ thuật cho sinh viên
T A Ilina, nhà giáo dục Xô Viết của thế kỷ XX đã cho rằng quản lý các HĐGD ngoài giờ học với mục đích bổ sung và làm sâu hơn công tác giáo dục nội khóa; trước tiên, nó là phương tiện để phát hiện đầy đủ năng lực sinh viên, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hướng của các em đối với hoạt động nào đó và cũng là hình thức tổ chức giải trí cho các em, là cơ sở để quản lý việc thực tập
về hành vi đạo đức để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này
Ngày nay, trong hệ thống giáo dục ở các nước trên thế giới, quản lý các HĐGD nằm ngoài chương trình chính khóa có các tên gọi như “Hoạt động ngoại khóa”, “Hoạt động sau giờ học hoặc bên ngoài lớp học”, “Cuộc sống bên ngoài lớp học” được gọi chung là hoạt động ngoại khoá (HĐNK) đang được các nhà QLGD quan tâm vì được đánh giá là các hoạt động mang tính toàn diện
và đạt hiệu quả giáo dục cao Đây là những HĐGD có chương trình cụ thể bắt đầu từ lớp bốn ở tiểu học đến các khối lớp ở trung học cơ sở (THCS), CĐSP và cao đẳng, đại học bao gồm các hoạt động đa dạng ở nhiều lĩnh vực như học thuật, TDTT, xã hội, từ thiện, dịch vụ cộng đồng, các công việc tự nguyện, sở thích,…đang được quản lý trong các nhà trường theo các phương thức khác nhau (tự nguyện hay bắt buộc) tùy vào cách thức tổ chức, nội dung chương trình và tính chất của các hoạt động Hrold Koontz, Cyri O Donnll và Heinz Weibrich (1994), trong các hoạt động này, sinh viên chủ động tổ chức các hoạt động dưới sự quản lý và tư vấn của các giáo viên qua một số hoạt động điển hình như [16]
Hoạt động nghệ thuật - âm nhạc: sân khấu, đồng ca, đơn ca, ban nhạc, lời động, múa, hội họa, nhiếp ảnh, sáng tạo văn bản và các hoạt động sáng tạo khác thông qua trường học, nhà thờ, cộng đồng hoặc nhóm cá nhân
Trang 208
Hoạt động TDTT: bóng đá, bóng chày, khúc côn cầu, thể dục nhịp điệu, khiêu vũ, bơi lội, bóng đá, trượt tuyết, cổ vũ,… được tổ chức trong nhà trường hoặc ngoài cộng đồng
Hoạt động phương tiện truyền thông: truyền hình địa phương, phát thanh
và truyền hình học đường, nhân viên kỷ yếu, tạp chí văn học, tờ báo của trường học, của địa phương, viết nhật ký trực tuyến và các công việc khác liên quan đến thực hiện các chương trình, bộ phim truyền hình, hiển thị hoặc xuất bản (dưới hình thức trực tuyến hoặc in ấn)
Hoạt động quản trị: Ban quản trị sinh viên, ban tư vấn, ủy ban, hội sinh viên - sinh viên, hội đồng quản trị thanh niên cộng đồng,…
Hoạt động thuộc về sở thích - câu lạc bộ: các hoạt động thuộc về đam mê
và sáng tạo như chế tạo tên lửa, đường xe lửa mô hình, các hoạt động sưu tầm, viết nhật ký điện tử (blog), câu lạc bộ (CLB) chơi cờ, học thuật Toán, thử nghiệm mô hình, hùng biện, âm nhạc, trò chơi, ngôn ngữ,…
Hoạt động Giáo Hội tiếp cận cộng đồng: các hoạt động giúp người cao tuổi, phục vụ các bữa ăn tối nhẹ cho cộng đồng, tổ chức sự kiện, bảo trợ các hoạt động có liên quan đến nhà thờ
Hoạt động quân đội: các hoạt động liên quan đến quân đội
Hoạt động tình nguyện và dịch vụ cộng đồng: các hoạt động giúp cộng đồng (có thể của riêng cộng đồng, không phải của trường học) nhưng không được phép thu tiền như dịch vụ cư trú nhân đạo, dạy kèm và cố vấn, hoạt động tiếp cận, gây quỹ cộng đồng, làm việc ở bệnh viện, cứu hộ động vật, công việc điều dưỡng tại nhà, nhân viên phòng phiếu, nhân viên lễ hội, tình nguyện viên phòng cháy chữa cháy, sửa chữa cầu đường, Khi nghiên cứu về công tác quản
lý các HĐNK của sinh viên CĐSP, Kimiko Fujita - thạc sĩ QLGD Nhật Bản đã nhận định: ở Hoa Kỳ trước năm 1900, các nhà QLGD đã cho rằng công tác quản lý các HĐNK sẽ gặp khó khăn vì HĐNK chỉ là một kiểu phong trào nhất thời và sau đó sẽ tự mai một theo thời gian Họ còn hoài nghi về nhu cầu tham
Trang 219
gia HĐNK của sinh viên vì tin rằng "Trường học chỉ nên tập trung đơn thuần vào quản lý các vấn đề học 23 tập và kết quả học tập trên lớp"; những hoạt động nào không mang tính chất học thuật, chủ yếu là giải trí, được xem là gây hại đến thành tích học tập; vì thế không khuyến khích sinh viên tham gia và nên đặt ngoài tầm kiểm soát của nhà trường Tuy nhiên, các chuyên gia nghiên cứu HĐNK ở Canada, đã chứng minh ngược lại rằng, quá trình quản lý các HĐNK trong nhà trường đã giúp các nhà QLGD có nhiều kinh nghiệm hơn trong các khâu lên kế hoạch, triển khai thực hiện và kiểm tra giám sát; đặc biệt là khâu tổ chức các hoạt động vì sự đa dạng của chúng và có thêm cơ hội mở rộng kiến thức cho chương trình học chính thức trong ngày cũng như tăng cường giáo dục toàn diện sinh viên
Một số các nghiên cứu khác cũng chứng minh được rằng sinh viên và các nhà QLGD đã có một quan điểm tích cực hơn khi nhận thức được tác động tốt của HĐNK trong việc cung cấp kỹ năng sống và mang lại lợi ích cho thành tích học tập Các nghiên cứu này còn cho thấy không chỉ tham gia vào các HĐNK
mà việc chọn lựa loại hoạt động nào để tham gia cũng có tác động cụ thể đến kết quả học tập của sinh viên; ví dụ, sinh viên chơi thể thao, xem truyền hình và tham gia phục vụ cộng đồng sẽ cải thiện được thành tích học tập nhiều hơn là chơi một nhạc cụ Điều này kết luận rằng HĐNK có ảnh hưởng tốt đến thành tích học tập và nếu được quản lý và định hướng ngay từ đầu để sinh viên lựa chọn tham gia vào các loại hình hoạt động phù hợp với bản thân thì hiệu quả giáo dục sẽ tăng lên đáng kể Căn cứ vào khảo sát của một tổ chức xã hội tìm hiểu nhu cầu tham gia các HĐNK của thanh thiếu niên Mỹ dựa vào sở thích của họ năm 2008 và một thống kê của Viện Giáo dục Khoa học - Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ năm 2010 đã cho thấy một trong những kinh nghiệm để quản lý hiệu quả các HĐNK là phải tổ chức các loại hình hoạt động này phù hợp với nhu cầu của sinh viên trong nhà trường Thông qua kết quả khảo sát và thống kê nêu trên, đa số sinh viên thích
Trang 2210
các hoạt động TDTT, kế đến là nghệ thuật, sinh hoạt CLB, các hoạt động hội đoàn và các hoạt động trí tuệ Nếu xét về giới tính, nữ sinh thiên về chọn các HĐNK mang tính nghệ thuật và tôn giáo, còn nam sinh lại thích TDTT và các hoạt động tập thể; những HĐNK đòi hỏi vận 24 dụng trí tuệ thì cả nam và nữ đều quan tâm, nhưng số lượng nam sinh tham gia vẫn nhiều hơn Nguồn Internet (biến đổi giới tính, các hoạt động ngoại khóa, cơ hội sống được nhận thức, tương lai định hướng, Trinidad và Tobago): sự khác nhau về giới tính trong việc tham gia các hoạt động ngoại khóa của thanh thiếu niên
Tỷ lệ sinh viên trung học đã tham gia vào nhiều hoạt động ngoại khóa, theo loại hoạt động: 1990-2010, Nguồn ĐH Michigan (Viện NCXH, Giám sát tương lai, lựa chọn năm, 1990-2010 Cũng trong năm 2010, Viện Giáo dục Khoa học - Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ tiếp tục tìm hiểu về công tác quản lý các HĐNK và thống kê về tỷ lệ tham gia HĐNK theo loại hình hoạt động và giới tính, có bổ sung nội dung khảo sát kế hoạch học lên đại học của sinh viên trung học cho thấy sinh viên có kế hoạch học lên đại học sẽ tham gia HĐNK với tỷ lệ cao hơn nhiều so với sinh viên không có kế hoạch học lên đại học
1.1.2 Những nghiên cứu ở nước CHDCND Lào
Tại nước CHDCND Lào, HĐGDNGLL được Bộ GD&TT đưa vào chương trình thí điểm CĐSP năm học 2009 - 2010 đáp ứng cho việc đổi mới chương trình giáo dục của Chính phủ Lào về nội dung, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông; và tiếp tục được triển khai cuốn chiếu bằng chương trình đại trà với tất cả các trường CDSP từ năm học 2012 - 2013 cho đến nay Có thể nói tiền thân của HĐGDNGLL
ở Lào là HĐNK; tuy nhiên hầu hết các HĐNK trước đây đều mang tính tự phát, chưa được phân cấp quản lý; do đó chưa có mục tiêu rõ ràng, không nằm trong chương trình chính thức, không có thời gian nhất định và không yêu cầu kiểm tra, đánh giá về chất lượng và hiệu quả hoạt động Việc đưa HĐGDNGLL vào
Trang 2311
chương trình với mục tiêu giáo dục cụ thể, có chương trình và phân phối thời lượng cho các hoạt động được mang tên chủ đề từng tháng, có quy định người quản lý trong thành phần ban giám hiệu, có phân công người hướng dẫn tổ chức trực tiếp các hoạt động là giáo viên chủ nhiệm (GVCN), là một trong những cải cách mới của giáo dục Lào, nhằm tạo điều kiện tốt nhất để giáo dục sinh viên, sinh viên một cách đầy đủ và toàn diện hơn [19, tr.20], thông qua các HĐGDNGLL, sinh viên sẽ củng cố, bổ sung và mở rộng thêm tri thức đã học, phát triển óc thẩm mỹ, biết cảm thụ và đánh giá cái đẹp trong cuộc sống; tăng cường thể chất, nhận thức xã hội và ý thức công dân về quyền và trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội, thêm yêu quê hương, đất nước; từ
đó có thái độ tích cực, tinh thần đoàn kết và ý thức chủ động, mạnh dạn trong các hoạt động tập thể, có thái độ đúng đắn trước những vấn đề cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân; đấu tranh tích cực với những biểu hiện sai trái của bản thân (tự hoàn thiện mình) và của người khác; phát triển các
kỹ năng sống để trở thành người công dân tốt trong tương lai Như vậy, ngoài phân biệt, đánh giá, tự đánh giá và tự điều chỉnh để hoàn thiện bản thân, còn có thể giúp người khác cùng hướng tới mục tiêu: chân, thiện, mĩ [33, tr.50] với vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong quá trình quản lý HĐGDNGLL tại trường học HĐGDNGL đã thể hiện được tính thống nhất trong giáo dục; do đó, dù chỉ mới
ra đời trong khoảng hơn năm năm, HĐGDNGLL đang là đối tượng được các nhà giáo dục, các nhà quản lý quan tâm, nghiên cứu, được biên soạn thành nhiều sách tham khảo Có thể nói, hầu hết các công trình nghiên cứu về HĐGDNGLL đều tập trung vào đề xuất các biện pháp quản lý cũng như tổ chức thực hiện HĐGDNGLL tuỳ vào đặc thù của các loại hình trường (ĐH,
CĐ, CĐSP…); cách đặt vấn đề và đề ra những biện pháp của các tác giả cũng tương đối giống nhau dù đã nỗ lực thể hiện riêng điều kiện và hoàn cảnh ra đời của từng đề tài nghiên cứu Với các biện pháp đã đề xuất, các tác giả đã giải
Trang 2412
quyết được các vấn đề quan trọng và cần thiết trong quản lý HĐGDNGLL tại đơn vị mình trong thời gian ngắn, đáp ứng kịp thời cho nhiệm vụ trước mắt như trong một số luận văn thạc sĩ đã nêu Luận văn đã khẳng định rõ ưu thế vượt trội của HĐGDNGLL trong việc gắn kết nhà trường với cuộc sống xã hội, tạo lập năng lực thích ứng cao, hình thành kỹ năng sống cho sinh viên đáp ứng yêu cầu của xã hội hội nhập Một số biện pháp tổ chức HĐGĐNLL cho SV trường CĐSP có hiệu quả như nâng cao nhận thức cho các LLGD; nâng cao năng lực đội ngũ tổ chức; phát huy vai trò của chủ thể sinh viên; biện pháp thi đua; đầu
tư các điều kiện và cơ sở vật chất (CSVC); XHHGD; đa dạng hoá các loại hình hoạt động và các hình thức tổ chức; biện pháp xây dựng quy trình tổ chức các dạng hoạt động Ngoài ra, với một lượng sách khá lớn về HĐGDNGLL, chủ yếu là sách dành cho giáo viên ở các bậc học, sách tham khảo cũng kịp thời ra đời để phục vụ cho việc tổ chức hoạt động Chính vì đặc thù của quá trình giáo dục ở đây là tổ chức hoạt động nên hầu hết các sách đều thể hiện mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình, phương thức tổ chức, trang thiết bị cho việc tổ chức, đánh giá kết quả hoạt động của sinh viên và cách thức tổ chức các hoạt động được thực hiện theo chủ đề từng tháng của năm học như sách giáo viên [33, tr.43-45] cũng dùng để phục vụ cho các hoạt động này Như đã trình bày, HĐGDNGLL đã được nghiên cứu khá nhiều trong thời gian gần đây ở nước Lào, ở nhiều cấp độ khác nhau, dù chỉ nhằm đáp ứng một số yêu cầu nhất định trong các điều kiện cụ thể nhưng đã tạo ra một hiệu quả đáng khích lệ trong việc nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của HĐGDNGLL và khẳng định vị trí tất yếu của hoạt động này trong quá trình QLGD ở nhà trường nói riêng và
là con đường hình thành và phát triển các kỹ năng, tình cảm, niềm tin đúng đắn
ở sinh viên, nhằm phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ nói chung Tuy nhiên, việc nghiên cứu quản lý, tổ chức thực hiện HĐGDNGLL vẫn còn là một lĩnh vực chưa được quan tâm, dù rằng việc huy động các nguồn lực, phối hợp
Trang 2513
các LLGD trong và ngoài trường tham gia vào HĐGDNGLL đã được đề cập đến trong các biện pháp quản lý nhưng vẫn chỉ dừng lại ở giới hạn nhất định hoặc chỉ đơn thuần là đáp ứng về mặt tài lực trong hầu hết mọi hoạt động
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Theo Tác giả Bùi Sỹ Tụng “Hoạt động GDNGLL là một bộ phận của quá trình giáo dục ở nhà trường phổ thông Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học trên lớp Hoạt động ngoài giờ là sự tiếp nối
bổ sung hoạt động dạy học trên lớp" [30, tr.67]
Tác giả Phạm Hồng Vinh quan niệm: “Hoạt động GDNGLL là hoạt động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức được thực hiện trong các hoạt động thực tiễn về khoa học- kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, văn hóa văn nghệ - TDTT, vui chơi giải trí… được thực hiện ngoài giờ lên lớp nhằm hình thành và phát triển toàn bộ nhân cách cho trẻ” [31, tr.34]
Theo Đặng vũ Hoạt, “Hoạt động GDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hoá nghệ thuật, thẩm mỹ, TDTT, vui chơi giải chí… để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách”
[14, tr.89]
Theo tác giả Chanthavilay Santisouk “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là hoạt động giáo dục có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức được thực hiện trong các hoạt động thực tiễn, lao động công ích, hoạt dộng xã hội, văn hóa nghệ thuật, hoạt động thể thao, vui chơi giải trí, thăm quan du lịch, được thực hiện ngoài giờ lên lớp nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách người học” [4, tr.57]
Theo tác giả Sompadith Vongsouvanh, “Hoạt động GDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học chính khóa trên lớp Đó là các hoạt động như: thể dục thể thao, tham quan du lịch, lao động công ích, ”
[24, tr 23]
Trang 2614
Như vậy, chúng ta có thể nói: “Hoạt động GDNGLL là một hệ thống các hoạt động phong phú, đa dạng của cả chủ thể và đối tượng giáo dục được tổ chức ngoài giờ học chính khoá nhằm thực hiên mục tiêu giáo dục”
1.2.3 Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
HĐGDNGLL bao gồm cả các HĐNK về khoa học, văn học, nghệ thuật, TDTT, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; Các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên [33, tr.15]
Tổ chức HĐGDNGLL là quá trình sư phạm tổ chức cho sinh viên tham gia trải nghiệm kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp nói riêng cũng như các kiến thức và
kỹ năng xã hội cần thiết thông qua các HĐGDNGLL nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường CĐSP, đồng thời đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của
xã hội về mô hình nhân cách người giáo viên phổ thông trong các nhà trường cao đẳng sư phạm
1.2.4 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.4.1 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một bộ phận quan trọng của xã hội, vì vậy QLGD là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống quản lý xã hội Theo tác giả Trần Kiểm, QLGD có thể chia hai cấp độ là vĩ mô và vi mô QLGD ở cấp vĩ mô là quản lý nền giáo dục hoặc hệ thống giáo dục; ở cấp vi mô - là QLGD tại các cơ sở giáo dục, các trường học [20, tr.10]
Tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng QLGD ở cấp độ rộng “là hoạt động, điều hành, phối hợp các LLXH nhằm đẩy mạnh hoạt động đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội hiện nay”; với nghĩa hẹp: “QLGD, quản lý trường học
cụ thể là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích tự giác, có kế hoạch, có hệ thống) mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và
Trang 2715
sinh viên, đến những LLGD trong và ngoài trường, nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào hoạt động của nhà trường, làm cho quy trình này vận hành tới việc hoàn thành những mục đích dự kiến” [dẫn theo 13] Dù hiểu theo nghĩa nào đặc trưng chủ yếu của QLGD là: Sản phẩm giáo dục có tính đặc thù, là nhân cách nên QLGD phải ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng như không cho phép tạo ra phế phẩm
Như vậy, QLGD có thể hiểu khái quát như sau: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản
lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ
sở giáo dục nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra
1.2.4.2 Quản lý nhà trường
Theo Trần Kiểm thì quản lý nhà trường là QLGD ở tầm vi mô trong
phạm vi một nhà trường; “là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực có được, nhằm đảm bảo cho các hoạt động của nhà trường tiến triển tốt, đạt được mục tiêu giáo dục mà trọng tâm của nó
là hoạt động dạy học và HĐGD” [20]
Nhà trường là khách thể quản lý cơ bản của tất cả các cấp QLGD trong
hệ thống giáo dục quốc dân; đồng thời, trường học lại là một hệ thống độc lập
tự quản của xã hội; lý do tồn tại của các cấp QLGD trước hết và trên hết là vì chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhà trường mà trung tâm ở đó là HĐGD hay đào tạo (nghĩa rộng) Nguyễn Minh Đường cho rằng quản lý nhà trường là QLGD dưới cấp độ nghĩa hẹp; ngoài ra, quản lý nhà trường là quản lý theo mục tiêu chất lượng, tức là phải làm cho chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp với các đối tượng sinh viên cụ thể, các điều kiện học tập cụ thể [dẫn theo 13] Điều này, một mặt đòi hỏi nhà QLGD phải quản lý được mục tiêu, quản lý các nguồn lực, quản lý các hoạt động, phải có
kế hoạch tổ chức thực hiện chương trình, mặt khác chỉ đạo tổ chức thực hiện tất
Trang 2816
cả các HĐGD trong nhà trường, điều kiện CSVC, ứng dụng công nghệ thông tin, công tác đào tạo, bồi dưỡng… tức là triển khai đồng bộ các giải pháp quản
lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Như vậy, quản lý nhà trường, nhìn chung, là tác động có mục đích, kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, sinh viên và các LLGD khác cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD-ĐT của nhà trường; đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và tiến đến mục tiêu giáo dục Có nhiều cấp quản lý trường học: cấp cao nhất là Bộ GD&TT, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô; hai cấp trung gian là Sở GD&TT ở tỉnh/thành phố và các Phòng GD&TT ở các quận/ huyện; cấp quản lý quan trọng trực tiếp của HĐGD trong các trường học là Ban Giám hiệu nhà trường
1.2.5 Quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên ở trường Cao đẳng sư phạm
Quản lý HĐGDNGLL của cán bộ QLGD trong nhà trường thực chất là quản lý về mục tiêu giáo dục, quá trình giáo dục, là quản lý về kế hoạch, đội ngũ các điều kiện, công tác kiểm tra, đánh giá, công tác phối hợp các LLGD trong và ngoài trường thực hiện HĐGDNGLL; vì vậy, tham gia tổ chức thực hiện HĐGDNGLL là một trong những tiêu chí để đánh giá thi đua các tập thể
và cá nhân trong mỗi năm học
Quản lý HĐGDNGLL là một hoạt động không thể thiếu và rất quan trọng trong toàn bộ quá trình quản lý ở nhà trường CĐSP; do đó, các nhà QLGD cần chỉ đạo thực hiện chương trình HĐGDNGLL theo quy định của Bộ GD-TT, có kết hợp lồng ghép tuyên truyền giáo dục cũng như tích hợp giảng dạy kỹ năng sống và các luật vào một số môn học (Ngữ văn, Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân, ) Phương thức tổ chức phải rất linh hoạt, sáng tạo để đạt được mục tiêu đề ra, giúp sinh viên thực sự phát huy vai trò là chủ thể trong các hoạt động; từ đó làm phong phú hấp dẫn các HĐGDNGLL và chuẩn bị cho các hoạt động tiếp theo ở các khối lớp học khác nhau
Trang 2917
1.3 Tổ chức hoạt HĐGDNGLL cho sinh viên ở trường CĐSP
1.3.1 Mục tiêu của HĐGDNGLL ở trường CĐSP
1.3.1.1 Về nhận thức
HĐGDNGLL giúp sinh viên củng cố, bổ sung, hoàn thiện những tri thức
đã được học ở trên lớp; mở rộng và nâng cao thêm hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, có một tầm nhìn mở rộng hơn với thế giới xung quanh, với cộng đồng xã hội
Hoạt động này giúp cho sinh viên định hướng chính trị, xã hội, có những hiểu biết nhất định về truyền thống truyền thống văn hoá tốt đẹp của đất nước, những bản sắc văn hoá các dân tộc; định hướng được nhận thức, biết tự điều chỉnh hành vi đạo đức, lối sống cho phù hợp, biết vận dụng những tri thức đã học để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đời sống đặt ra, qua đó củng cố thêm kiến thức, rèn luyện khả năng phản ứng nhanh nhạy trong cuộc sống và trong quá trình giải quyết công việc sau này HĐGDNGLL còn giúp cho sinh viên hiểu biết tối thiểu những vấn đề có tính thời đại như vấn đề quốc tế, hợp tác, hoà bình và hữu nghị; vấn đề bảo vệ môi trường, dân số và kế hoạch hoá gia đình; vấn đề pháp luật và các vấn đề xã hội đáng quan tâm
1.3.1.2 Về kỹ năng
Rèn kỹ năng giao tiếp, ứng xử có văn hoá, thói quen tốt trong học tập, lao động, tạo điều kiện cho sinh viên từng bước trải nghiệm thực tế nghề, đóng góp cho sự phát triển cộng đồng; Rèn luyện năng lực giáo dục và dạy học
HĐGDNGLL rèn cho sinh viên các kỹ năng tự quản các hoạt động tập thể, đó là những kỹ năng kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động Đây là những kỹ năng rất cần thiết cho việc tổ chức các hoạt động của sinh viên theo mức độ khác nhau
Sinh viên biết cách tự điều chỉnh hành vi phù hợp với những yêu cầu xã hội, kỹ năng sống hoà nhập, tạo ra mối quan hệ thân thiện, giúp đỡ nhau trong học tập cũng như trong lao động, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”
Trang 3018
1.3.1.3 Về thái độ
Sinh viên hình thành được lòng tự hào dân tộc, mong muốn làm đẹp thêm truyền thống của trường, của quê hương mình, mong muốn vươn lên để chủ động lĩnh hội tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, trở thành những công dân tích cực cống hiến cho đất nước sau này; Tính tích cực, năng động, sẵn sàng tham gia hoạt động xã hội, hoạt động của tập thể của trường, của lớp, vì lợi ích chung, vì sự tiến bộ của cá nhân và cộng đồng
1.3.2 Đặc điểm của hoạt động GDNGLL
Hoạt động GDNGLL là một hoạt động phong phú, đa dạng diễn ra trong nhà trường với những hoạt động cụ thể và cũng có thể diễn ra ngoài nhà trường
để mở rộng giao lưu cho sinh viên, giúp nhà trường hội nhập với cuộc sống, con người, thâm nhập vào các mặt của cuộc sống tạo điều kiện thuận lợi gắn
“học với hành” Ví dụ: Tham gia các hoạt động tập thể mang tính rèn nghề như: hoạt động tổ chức cuộc thi về kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ sư phạm trong sinh viên sư phạm, tổ chức tìm hiểu kiến thức về giáo dục pháp luật,…
Hoạt động GDNGLL là một hoạt động được tổ chức trong nhà trường thực hiện nhiệm vụ bổ trợ kiến thức, kỹ năng thái độ nghề nghiệp cho sinh viên đồng thời cũng tạo điều kiện cho sinh viên được trải nghiệm kiến thức và kỹ năng xã hội cần thiết góp phần hình thành và phát triển các năng lực xã hội khác cho người giáo viên Không giống với quá trình dạy học, là quá trình tổ chức các dạng hoạt động phong phú, giao lưu cho cho sinh viên nhằm hình thành nhân cách nghề nghiệp thông qua các hoạt động tác động vào nhận thức, tình cảm và rèn luyện hành vi đạo đức, thẩm mĩ, lao động,… cho sinh viên trong quá trình rèn nghề
Hoạt động GDNGLL linh hoạt về chương trình và kế hoạch tổ chức; Chương trình kế hoạch của hoạt động GDNGLL cần căn cứ vào: Mục tiêu đào tạo; tình hình cụ thể của nhà trường; nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn; tâm
lý, đặc điểm sinh viên… Do đó phải xây dựng kế hoạch cụ thể từ đầu năm học,
Trang 3119
song tiêu chuẩn các hoạt động cần được thực hiện mền dẻo, linh hoạt cho phù hợp với nhiệm vụ chính trị từng giai đoạn và tình hình cụ thể của địa phương Nội dung và hình thức hoạt động GDNGLL rất phong phú, đa dạng; đồng thời đây cũng là hoạt động có tính phức tạp khó khăn trong việc kiểm tra, đánh giá
1.3.3 HĐGDNGLL trong chương trình đào tạo trường Cao đẳng sư phạm
HĐGDNGLL là một bộ phận cấu thành trong hoạt động giáo dục nhà trường, là một bộ phận quan trọng trong hoạt động giáo dục ở CĐSP, cầu nối tạo mối liên hệ hai chiều giữa nhà trường và xã hội [18]
HĐGDNGLL không chỉ là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, củng cố kiến thức đã học, gắn lý thuyết với thực tiễn, nhận thức với hành động, khép kín quy trình dạy chữ - dạy người mà còn tạo nên sự hài hoà, cân đối trong quá trình
sư phạm tổng thể nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục nghề nghiệp cho sinh viên
Đây là dịp sinh viên củng cố kết quả hoạt động dạy học ở trên lớp, biến tri thức thành kỹ năng Thông qua các hình thức hoạt động cụ thể, sinh viên có dịp để so sánh đối chiếu, kiểm nghiệm tri thức đã học, bổ sung, cập nhật thông tin nhằm biến tri thức đó trở thành vốn kiến thức của chính mình HĐGDNGLL với nhiều nội dung hấp dẫn, kiến thức tích hợp có tác dụng bổ trợ cho hoạt động dạy học ở trên lớp, nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống, từ đó khơi dậy niềm tự hào của dân tộc
HĐGDNGLL vừa củng cố, vừa phát triển quan hệ giao tiếp giữa các tập thể sinh viên trong trường và với cộng đồng xã hội, góp phần giáo dục tinh thần hợp tác vì mục tiêu chung
1.3.4 Vai trò của HĐGDNGLL trong các trường CĐSP nước CHDCND Lào
Góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của trường CĐSP: đào tạo giáo viên có năng lực tổ chức hoạt động giáo dục và năng lực dạy học trong nhà trường phổ thông Cụ thể: sinh viên sau tốt nghiệp được trang bị kiến thức và
kỹ năng nghề, thích ứng được với thực tiễn giáo dục phổ thông
Trang 3220
Mở rộng phạm vi kiến thức cho sinh viên CĐSP về các lĩnh vực xã hội như: lịch sử, truyền thống dân tộc, văn hóa, nghệ thuật, kinh tế, chính trị, trong và ngoài nước Có ý thức quan tâm đến tình hình chính trị trong nước và ngoài nước Cập nhật kiến thức mới về khoa học kỹ thuật, thực tiễn xã hội đưa vào nội dung dạy học và giáo dục nhằm phát triển vốn kiến thức và kinh nghiệm cho học sinh trong nhà trường phổ thông Ngoài các hoạt động giảng dạy trong các giờ lên lớp, giờ lý thuyết và giờ học thực hành sinh viên cần phải được trang bị và tích lũy hệ thống kiến thức nghề thông qua các hoạt động GDNGLL trong phạm vi nhà trường Hoạt động GDNGLL giúp sinh viên được trải nghiệm kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp qua các hình thức tổ chức bổ trợ phong phú, đa dạng Bổ sung kiến thức xã hội về nghề như: Kỹ năng xã hội cụ thể như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thiết kế và tổ chức hoạt động giáo dục; kỹ năng tìm hiểu nhu cầu của cộng đồng
Hình thành và củng cố các kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ sư phạm khác như: Kỹ năng tìm kiếm và khai thác tri thức, kỹ năng giao tiếp sư phạm, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng tổ chức trò chơi, kỹ năng thiết kế hoạt động, Quá trình rèn luyện các kỹ năng này trong tham gia các HĐGDNGLL chính là điều kiện hình thành năng lực cho sinh viên sư phạm Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp còn là hình thức giúp sinh viên được trải nghiệm kiến thức và kỹ năng nghề sư phạm Qua các hoạt động tổ chức giáo dục gắn với mục đích rèn nghề, tạo điều kiện cho các em từng bước rèn luyện và phát triển
hệ thống năng lực sư phạm cần thiết Có thể nói HĐGDNGLL là một hoạt động
bổ trợ quá trình tổ chức thực hiện chương trình đào tạo của trường CĐSP bên cạnh quá trình tổ chức các hoạt động hướng dẫn học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên
Góp phần giáo dục tình cảm nghề nghiệp cho sinh viên như: lòng yêu nghề, có lý tưởng nghề nghiệp trong sáng, sẵn sàng gắn bó với sự nghiệp giáo dục Giáo dục lòng yêu học sinh, nhân ái, khoan dung, tôn trọng nhân cách người học, sẵn sàng chia sẻ giúp đỡ người học
Trang 3321
Phát triển hứng thú của sinh viên đối với hoạt động rèn nghề, đối với các môn học nghiệp vụ sư phạm thông qua tổ chức HĐGDNGLL Thông qua tham gia HĐGDNGLL sinh viên được vận dụng kiến thức vào hoạt động thực tế, được trải nghiệm trong các điều kiện thực tế hoặc tương tự, qua đó giúp các em xác định lại những định hướng giá trị nghề nghiệp mà các em đã được giáo dục trong nhà trường sư phạm Thông qua quá trình tham gia HĐGDNGLL, sinh viên sư phạm cũng được rèn luyện bản lĩnh sư phạm đồng thời rèn luyện ý chí vươn lên, khắc phục điểm yếu của bản thân, phát huy điểm mạnh của bản thân trong môi trường nhà trường sư phạm
Đối với đào tạo chuyên nghiệp nói chung và đào tạo CĐSP nói riêng , chú trọng xây dựng các cơ sở giáo dục tiên tiến, trọng điểm, chất lượng cao để đào tạo bồi dưỡng các tài năng, nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh tế -
xã hội; tập trung vào quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện giám sát xã hội đối với chất lượng và hiệu quả giáo dục Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, giữa một thế giới đầy biến động, nhiều cơ hội và nhiều thách thức hiện nay, mỗi con người và nhân dân các dân tộc Lào đang đối mặt với những yêu cầu gay gắt về kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, quốc phòng -
an ninh, thì rất cần nghiên cứu, bổ sung để xác định cụ thể và đầy đủ về sứ mạng và mục tiêu của giáo dục Điều quan trọng cần nhấn mạnh lúc này là dạy
và học “làm người”, chứ không thể lấy thi cử che lấp cả sứ mạng và mục tiêu phát triển nhân cách của nhà trường Dù mỗi cấp bậc học có mục tiêu cụ thể khác nhau nhưng mục tiêu đầu tiên phải là phát triển nhân cách, cốt lõi của nguồn nhân lực có chất lượng cao, bởi vì những phẩm chất như lòng nhân ái, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, thức công dân, lương tâm nghề nghiệp, thái độ hợp tác trong lao động, chính là những yếu tố hết sức cần thiết ở một con người, bất kể làm nghề gì, ở vị thế nào trong xã hội Do đó, xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người Lào là nhiệm vụ của toàn xã hội mà nhà trường đóng vai trò tiên phong và nền tảng
Trang 3422
Nhà trường là thiết chế của xã hội, có nhiệm vụ giáo dục toàn diện, song nhà trường không phải là nơi duy nhất chịu trách nhiệm về công tác giáo dục toàn diện cho sinh viên; ngoài tác động của nhà trường, sinh viên còn chịu ảnh hưởng rất nhiều từ gia đình và cộng đồng xã hội Những tác động của điều kiện kinh tế xã hội hiện nay đa và đang tác động mạnh mẽ đến giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp Với vai trò và nhiệm vụ đào tạo giáo viên cho các trường phổ thông, Trường CĐSP thực hiện nhiệm vụ trang bị cho sinh viên kiến thức nghề, kỹ năng nghề, thái độ và phẩm chất nghề nghiệp để sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể đảm nhận tốt vai trò và vị trí của mình tốt nhất có thể
ở các nhà trường phổ thông Do đó, việc tổ chức HĐGDNGLL trong nhà trường CĐSP thực sự cần thiết và là một bộ phận không thể thiếu của quá trình
sư phạm ở trường CĐSP nói riêng và ở chuyên nghiệp nói chung
1.3.5 Nội dung, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên ở trường CĐSP nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
1.3.5.1 Nội dung của HĐGDNGLL ở trường Cao đẳng sư phạm
- Giáo dục kiến thức kỹ năng nghề sư phạm
Thông qua tổ chức HĐGDNGLL, lồng ghép kiến thức, kỹ năng nghề cho sinh viên bao gồm: Hiểu biết về giáo dục phổ thông, hiểu biết về học sinh, hiểu biết về nội dung chương trình giáo dục và các kỹ năng sư phạm cần thiết Những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp này được tổ chức dưới các hình thức hội thi tìm hiểu về kiến thức nghề, các hoạt động hỗ trợ cộng đồng, qua đó sinh viên được trải nghiệm kiên thức và kỹ năng nghề đồng thời qua đó góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường CĐSP
- Giáo dục những vấn đề về thời sự, chính trị xã hội:
Bên cạnh tổ chức và tạo các sân chơi cho sinh viên có dịp rèn nghề thì thông qua HĐGDNGLL sinh viên được cung cấp những kiến thức mang tính thời sự, những vấn đề về chính trị xã hội mà các em sinh viên - đại diện thế hệ trẻ cần phải cập nhật Bên cạnh những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp (nghề
Trang 3523
giáo viên) thì các phẩm chất chính trị, những hiểu biết về thời sự, chính trị sẽ giúp các em xác định được xu hướng lựa chọn phù hợp Sinh viên trường CĐSP - những gió viên tương lai, lực lượng đảm nhận vai trò giáo dục và dạy học thế hệ trẻ cần phải có kiến thức, sự hiểu biết nhất định về tình hình chính trị, xã hội
- Giáo dục về các hoạt động phát triển cộng đồng
Với việc gắn các em vào các hoạt động xã hội để giúp các em nâng cao hiểu biết về con người, đất nước, xã hội nhằm giáo dục tình cảm đối với quê hương đất nước, con người, Các hình thức hoạt động: Tham gia công tác từ thiện, tình nguyện, đóng góp ủng hộ cho nạn nhân chiến tranh, làm vệ sinh sạch đẹp môi trường, Bên cạnh việc tổ chức thành các hoạt động cụ thể sẽ giúp sinh viên mở rộng kiến thức về vai trò của sinh viên sư phạm trong phát triển cộng đồng, đặc biệt đối với sự nghiệp và giáo dục thế trẻ trẻ
Là một loại hình đặc trưng của HĐGDNGLL Thông qua lao động công ích sẽ giúp các bạn sinh viên được gắn mình với đời sống xã hội Lao động công ích góp phần làm cho sinh viên hiểu thêm về giá trị của lao động, từ đó giúp sinh viên có ý thức lao động lành mạnh và trân trọng giá trị sức lao động Lao động công ích giúp sinh viên vận dụng kiến thức vào đời sống như: bảo vệ môi trường, góp phần xây dựng trường học “xanh, sạch, đẹp”
1.3.5.2 Hình thức tổ chức HĐGDNGLL ở trường Cao đẳng Sư phạm
Tổ chức các hoạt động chính trị - xã hội: là hoạt động có liên quan đến
kỷ niệm các ngày lễ lớn; các sự kiện chính trị - xã hội trong nước và quốc tế đang được quan tâm; các hoạt động tìm hiểu truyền thống tốt đẹp của nhà trường, của địa phương, dân tộc; Các hoạt động tuyên truyền về pháp luật, về những chính sách lớn của Đảng, Nhà nước; các hoạt động giao lưu, kết nghĩa, đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện,…
Tổ chức hoạt động văn hoá nghệ thuật: Hoạt động GDNGLL ở trường CĐSP có thẻ được tổ chức qua các hoạt động văn hóa nghệ thuật Có nhiều
Trang 36và tạo tinh thần sảng khoái, có cái nhìn lạc quan trước cuộc sống
Tổ chức các hoạt động TDTT: Các hình thức nghỉ ngơi tích cực (thể dục nhịp điệu, các trò chơi tập thể, ngày hội vui khỏe,…), các môn thể thao luyện tập (bóng đá, bóng chuyền, điền kinh, bơi lội,…), hội thao, sinh viên các cấp nhằm giúp sinh viên rèn luyện thể lực, tăng cường sức khỏe, nâng cao tinh thần, hình thành nhiều phẩm chất tốt đẹp như ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần đồng đội, tinh thần đoàn kết, cạnh tranh lành mạnh, ý chí vượt khó,…
Tổ chức cuộc thi tìm hiểu khoa học kỹ thuật: là các loại hoạt động CLB theo chuyên đề, sưu tầm tìm hiểu về các danh nhân, các nhà bác học, những tấm gương ham học, say mê phát minh, sáng chế; nghe nói chuyện và tìm hiểu các ngành nghề trong xã hội, các thành tựu về khoa học kỹ thuật, các hiện tượng thiên nhiên,… nhằm đáp ứng những hứng thú và niềm say mê tìm tòi cái mới trong học tập, áp dụng kiến thức của sinh viên vào thực tế, phát huy tính tích cực, tư duy và sáng tạo trong học tập
Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí: là những hoạt động mang tính chất nhẹ nhàng, ngắn gọn, cụ thể, dễ thực hiện có tác dụng kích thích hứng thú, giúp sinh viên thư giãn sau những giờ học tập căng thẳng, giảm đi áp lực trong học tập, được thực hiện chủ yếu trong tiết sinh hoạt lớp, tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần, tiết sinh hoạt ngoại khoá và các hoạt động văn nghệ phục vụ cho các chủ điểm trong tháng dưới nhiều hình thức vui chơi, giải trí như thi đố vui, thi đấu giao hữu thể thao, thi ứng xử, các trò chơi trí tuệ, giao lưu kết bạn,…
Tổ chức hoạt động lao động: là những hoạt động mang tính giáo dục vì cộng đồng như tham gia giữ gìn và bảo vệ môi trường, cảnh quan nhà trường,
Trang 3725
địa phương, thành phố; trực nhật, vệ sinh trường, lớp, chăm sóc vườn trường Sinh viên sẽ nâng cao nhận thức về trách nhiệm và ý thức bảo vệ của công, tinh thần yêu lao động và xung kích, tình nguyện từ việc làm hữu ích, thiết thực, phù hợp với khả năng và hứng thú của bản thân
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp hết sức đa dạng và phong phú Các nội dung này rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên Qua HĐGDNGLL giúp cho sinh viên giảm bớt được sự căng thẳng, mệt mỏi qua các tiết học ở trên lớp Ngoài ra, thông qua HĐGDNGLL còn giúp sinh viên hình thành một số kĩ năng như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hoạt động xã hội, kĩ năng chia sẻ, hợp tác trong các hoạt động Sinh viên là những em có sự phát triển hoàn thiện về tâm sinh lý và thể chất, các em có khả năng tư duy tốt, có khả năng tự điều khiển, điều chỉnh hoạt động học tập, hoạt động vui chơi của bản thân Vì vậy khi tổ chức các HĐGDNGLL cho sinh viên, giáo viên cần khai tác triệt để các ưu điểm này từ phía sinh viên, tạo điều kiện cho các em được bộc lộ bản thân, có điều kiện phát huy tính chủ động, tích cực và sáng tạo trong các hoạt động Để làm được điều đó, nội dung của các HĐGDNGLL phải hết sức đa dạng và phong phú Hơn nữa, nội dung cũng cần đảm đảo sự cân đối giữa kiến thức chuyên môn, kiến thức văn hóa liên quan đến thực tiễn học tập phù hợp với lứa tuổi bám sát từng chủ đề hoạt động
Thời gian tổ chức, thực hiện các HĐGDNGLL phải đảm bảo sự cân đối, hài hòa và phù hợp với hoạt động khác của nhà trường Nếu thời lượng quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến việc học văn hóa, ngược lại nếu ít sẽ khó hình thành được những phẩm chất đạo đức và các kĩ năng cần thiết
1.4 Quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên
1.4.1 Mục tiêu quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên
Mục tiêu Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp cho sinh viên là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đảm bảo công tác tổ chức HĐGDNGLL ở trường CĐSP đạt hiệu quả cao
Trang 3826
Mục tiêu quản lý HĐGDNGLL cho sinh viên là nhằm đảm bảo công tác
tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho sinh viên đạt hiệu quả; từ đó nâng cao
hiệu quả hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm đạt tới mục tiêu, hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục toàn diện của nhà trường: giáo dục học sinh hòa hợp và thân thiện, vừa có phẩm chất văn minh, hiện đại, vừa có phẩm chất dân tộc, truyền thống, trở thành người cán bộ đáp ứng nhu cầu xây dựng công cuộc mới cho quê hương
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho sinh viên
1.4.2.1 Lập kế hoạch tổ chức HĐGDNGLL
Kế hoạch HĐGDNGLL của SV là những phương án hành động được vạch ra một cách có hệ thống gắn với những công việc sẽ được tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định, theo trình tự, thời hạn nhất định, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường Xây dựng kế hoạch HĐGDNGLL là một khâu quan trọng trong công tác quản lý SV và quản lý HĐGDNGLL của SV Kế hoạch tổ chức HĐGDNGLL bao gồm kế hoạch cấp trường, kế hoạch cấp Khoa quản lý sinh viên và kế hoạch tổ chức theo từng lớp sinh viên
Khi xây dựng kế hoạch HĐGDNGLL, lãnh đạo trường cần quan tâm chỉ đạo các dơn vị có chức năng liên quan đến QL sinh viên phát huy vai trò
tự quản của sinh viên trong các HĐ Trong công tác kế hoạch HĐGDNGLL của SV, phòng chức năng được giao trách nhiệm làm đầu mối quản lý HĐGDNGLL của SV (tùy từng trường có thể là: Phòng Công tác HS-SV, Phòng Chính trị và Công tác Sinh viên, Phòng Đào tạo, ) chịu trách nhiệm chính trong việc tổng hợp, lập kế hoạch HĐGDNGLL để tham mưu cho lãnh đạo trường ký duyệt, ban hành bản kế hoạch HĐGDNGLL theo từng năm học, học kỳ Phối hợp chặt chẽ với các Khoa, phòng, ban chức năng, trong trường có liên quan đến việc quản lý HĐGDNGLL của SV Kế hoạch HĐGDNGLL cho sinh viên có chú ý đến hoạt động của Đoàn TN, Hội SV và các tổ chức tự quản của SV
Trang 3927
Quản lý việc xây dựng kế hoạch HĐGDNGLL của SV được thể hiện: Lãnh đạo trường chỉ đạo các đơn vị chức năng, tổ chức đoàn thể trong trường, đặc biệt là Đoàn TN, Hội SV và các tổ chức tự quản của SV xây dựng kế hoạch HĐGDNGLL trên cơ sở chương trình, kế hoạch đào tạo của nhà trường và nhiệm vụ năm học Dựa trên hệ thống các văn bản về hoạt động sinh viên, hoạt động đào tạo, nhiệm vụ năm học, phòng chức năng lập kế hoạch tổ chức HĐGDNGLL cho sinh viên của nhà trường Dựa trên kế hoạch chung về hoạt động sinh viên do phòng chức năng xây dựng, khoa quản lý sinh viên có kế hoạch cụ thể về tổ chức các HDDGDNGLL cho sinh viên dựa trên đặc thù của khoa quản lý sinh viên Kế hoạch và nội dung các hoạt động GDNGLL cụ thể do các đơn vị xây dựng, gắn với hoạt động trải nghiệm thực tiễn nghê fnghieepj xã hội, gắn với dặc thù hoạt động của khoa chuyên môn Các đơn vị/khoa quản lý sinh viên sẽ căn cứ đặc thù đào tạo của sinh viên trong khoa (mục tiêu đào tạo, vị trí việc làm sau tốt nghiệp, đặc điểm tổ chức hoạt động đào tạo) và đặc điểm về chuyên ngành đào tạo, trên cơ sở kế hoạch đào tạo chung của toàn trường thực hiện xây dựng kế hoạch tổ chức HĐGDNGLL gắn với chủ đề giáo dục cũng như phương thức và biện pháp tiến hành tổ chức
1.4.2.2 Quản lý HĐ các hoạt động tự học của sinh viên trường CĐSP
Hoạt động học ở trường CĐ và ĐH đòi hỏi sinh viên phải có năng lực tự học, cụ thể: các em tự lập kế hoạch học, tiến hành hoạt động học của bản thân nhằm các mục tiêu học tập đề ra Giảng viên đảm nhận vai trò người hướng dẫn hoạt động tự học cho sinh viên, giới thiệu đầy đủ cho SV đề cương môn học, với những yêu cầu cụ thể về thời gian học, phương pháp và hình thức học, đánh giá kết quả học tập cũng như các yêu cầu, nội dung khác của môn học trước khi bắt đầu môn học/học phần để SV có kế hoạch tự học, tự nghiên cứu bài học Đảm bảo giúp sinh viên đạt mục tiêu môn học/CĐR môn học cũng như mục tiêu chương trình đào tạo, bên cạnh các hoạt động sinh viên cũng như hoạt động Đoàn – Hội sinh viên thì tổ chức hoạt động giảng dạy và hướng dẫn tự
Trang 4028
học cho sinh viên là nội dung cốt lõi, xương sống của các trường chuyên nghiệp Ngoài việc giới thiệu cho sinh vên đề cương môn học để sinh viên hình dung trước được mục tiêu và yêu cầu đối với người học và người dạy khi tham
dự học phần trên cơ sở đó tự có kế hoạt điều chỉnh hoạt động cá nhân thì đòi hỏi người giảng viên ở trường CĐ cần có năng lực hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu và phải có hình thức kiểm tra, kiểm soát và đánh giá kết quả tự học, tự nghiên cứu của SV Nội dung tự học gồm 2 phần:
+ Hệ thống các nhiệm vụ mang tính chất bắt buộc đối với SV: CBQL,
GV phải nắm được mức độ thực hiện yêu cầu trong việc nghiên cứu giáo trình, tài liệu của SV để điều chỉnh cho hợp lý Ngoài ra, CBQL, GV tư vấn cho SV
về nội dung, phương pháp tự học bám sát mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường và thực tế đời sống xã hội
+ Định hướng nghiên cứu đào sâu, mở rộng tri thức từ các vấn đề trong nội dung học tập và hướng vận dụng nghiên cứu: GV và CBQL gợi mở để SV vận dụng được những kiến thức đã học để giải quyết những bài tập khó, liên quan tới các môn khoa học khác; hướng dẫn cho SV nghiên cứu tài liệu tham khảo, tham gia NCKH,
Có thể nói năng lực tự học là yêu cầu bắt buộc đối với người học trình độ
CĐ và ĐH phải có Các trường CĐ và ĐH thường xuyên có các chiến lược dạy học, chiến lược tổ chức quá trình đào tạo sao cho giúp người học đạt được các năng lực trên (trong đó bao gồm cả cách thức thông qua các con đường hoạt động của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên hoặc các tổ chức của sinh viên khác nhằm mục tiêu đào tạo nhà trường) Chuyển hóa cách thức triển khai và kiểm soát được các hoạt động tự học của sinh viên theo các hình thức như” câu lạc
bộ tìm hiểu kiến thức theo môn học/ nhóm mảng chủ đề cần nghiên cứu để bổ sung hoặc mở rộng đào sâu vấn đề chuyên môn hoặc nghiên cứu là cần thiết
1.4.2.3 Quản lý tổ chức các hoạt động văn hoá - thể thao:
Hoạt động văn hóa – TDTT là một loại hình hoạt động song song cùng với các hoạt động đào tạo của nhà trường Cùng với việc tham dự hoạt động đào