1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn kinh tế ngư nghiệp và văn hóa của cư dân ven biển huyện hải hậu tỉnh nam định từ năm 1986 đến 2012

111 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế nói chung, cư dân ven biển đã biết phát huy thế mạnh của kinh tế ngư nghiệp góp phần xây dựng kinh tế địa phương thêm giàu mạnh, đồng thời

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN DIỆU HIỀN

KINH TẾ NGƯ NGHIỆP VÀ VĂN HÓA

CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN DIỆU HIỀN

KINH TẾ NGƯ NGHIỆP VÀ VĂN HÓA

CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2012

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ THỊ THU THỦY

Thái Nguyên - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa được công bố

Người thực hiện

Nguyễn Diệu Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn tốt nghiệp này trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử trường Đại học sư phạm Thái Nguyên

đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hà Thị Thu Thủy, người đã định

hướng, trực tiếp hướng dẫn và đóng góp cụ thể cho kết quả cuối cùng để tôi hoàn thành luận văn này

Cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định, huyện uỷ, ủỷ ban nhân dân huyện Hải Hậu, Phòng giáo dục, Phòng Nông nghiệp, Trung tâm y tế, ủy ban nhân dân sáu xã ven biển cùng các hộ gia đình, các chủ trang trại, cơ sở sản xuất, các cán bộ quản lý đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin bày tỏ lòng biết ơn các đồng nghiệp, bạn bè và toàn thể những người thân yêu trong gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng những thiếu sót trong luận văn là không thể tránh khỏi Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn để luận văn này được hoàn thiện hơn

Hải Hậu, ngày 15 tháng 5 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Diệu Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục biểu đồ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 5

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của đề tài 8

6 Bố cục của luận văn 8

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN HẢI HẬU VÀ KINH TẾ, VĂN HÓA TRƯỚC 1986 11

1.1 Khái quát về huyện Hải Hậu 11

1.1.1 Vị trí địa lý 11

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 11

1.2.3 Lịch sử hình thành 16

1.2 Kinh tế - văn hóa huyện Hải Hậu trước 1986 19

1.2.1 Về kinh tế 19

1.2.2 Về văn hóa 29

Tiểu kết chương 1 33

Chương 2 KINH TẾ NGƯ NGHIỆP CỦA NGƯ DÂN VEN BIỂN HUYỆN HẢI HẬU TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2012 34

2.1 Bối cảnh lịch sử 34

Trang 6

2.3 Hoạt động phát triển kinh tế ngư nghiệp ở các xã ven biển 38

2.3.1 Khai thác thủy sản 39

2.3.2 Nuôi trồng thủy sản 49

Tiểu kết chương 2 59

Chương 3 VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN HUYỆN HẢI HẬU TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2012 62

3.1 Văn hóa và công tác xây dựng đời sống văn hóa tinh thần 62

3.1.1 Khái niệm văn hóa 62

3.1.2 Nếp sống văn hóa 63

3.2 Về tôn giáo 73

3.3 Những thành tựu trong giáo dục 77

Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC

Trang 7

HĐND Hội đồng nhân dân

VHTT Văn hóa thông tin

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1.Thống kê tình hình khai thác thủy sản ở 6 xã ven biển năm 1996 41

Bảng 2.2: Sản lượng khai thác cá biển phân theo địa phương(1997 - 2000) 43

Bảng 2.3: Thống kê tình hình khai thác thủy sản ở 6 xã ven biển năm 2006 45

Bảng 2.4: Thống kê tình hình khai thác thủy sản ở 6 xã ven biển năm 2012 48

Bảng 2.5: Diễn biến diện tích NTTS của 6 xã ven biển huyện Hải Hậu 52

Bảng 2.6: Diễn biến diện tích NTTS của 6 xã ven biển huyện Hải Hậu 53

Bảng 2.7: Giá trị NTTS của các xã ven biển năm 2006 55

Bảng 2.8: Giá trị NTTS của các xã ven biển năm 2012 55

Bảng 2.9: Thu nhập bình quân của ngư dân ven biển Hải Hậu (2001 - 2012) 57

Bảng 3.1: Số vốn giành cho phong trào khuyến học xã Hải Lý(1997 - 2012) 80

Bảng 3.2: Tình trạng trường học ở các cấp học khu vực ven biển huyện Hải Hậu 81

Bảng 3.3 Thời gian hoàn thành phổ cập của ngư dân ven biển 82

Bảng 3.4: Số lượng học sinh đỗ vào trường THPT ở Hải Hậu 83

Bảng 3.5: Số học sinh đỗ vào chuyên nghiệp qua các năm 84

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 2.1 Sản lượng khai thác thủy sản phân theo địa phương từ 1997 -

2000 (đơn vị : tấn) 43Biểu đồ 2.2 Sản lượng khai thác thủy sản của 2 thời kì 1996 và 2006 (tấn) 46Biểu đồ 2.3 Sự gia tăng sản lượng khai thác thủy sản ở các xã ven biển năm

2006 và năm 2012 (tấn) 48Biểu đồ 2.4 Diễn biến diện tích NTTS của 6 xã ven biển huyện Hải Hậu qua

các năm (1999 - 2012) 53Biểu đồ 2.5 Giá trị nuôi trồng thủy sản của các xã ven biển huyện Hải Hậu 56

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, các nước trên thế giới và trong khu vực đang hướng mạnh sự phát triển kinh tế ra biển Người ta cho rằng khi các nguồn tài nguyên trong đất liền ngày càng có xu hướng cạn kiệt, thì nguồn tài nguyên trên biển lại được quan tâm chú ý hơn bao giờ hết Các nhà khoa học đã nhận định rằng: Thế kỉ

XXI sẽ là “thế kỉ của biển và đại dương” Bối cảnh thế giới tác động đòi hỏi

Việt Nam không thể không có một chiến lược phát triển kinh tế biển và vùng ven biển mang tính cách mạng, tập trung mọi nguồn lực phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế đất nước với vai trò chủ yếu thuộc về các lĩnh vực kinh tế biển Mặt khác, việc phát triển kinh tế biển còn giúp chúng ta hội nhập và mở cửa một cách sâu rộng, rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trên thế giới Phát triển mạnh, bền vững kinh tế biển và vùng ven biển còn là động lực thúc đẩy các vùng khác của đất nước cùng phát triển Yêu cầu cấp bách cho phát triển kinh tế biển đã được Bộ Chính trị xác định từ năm 1993 với việc

khẳng định: “Vị trí và đặc điểm của nước ta cùng với bối cảnh phức tạp trong

khu vực vừa tạo điều kiện vừa đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh kinh tế biển đi đôi với việc tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái biển, phấn đấu trở thành nước mạnh về kinh

tế biển” [96, tr 456]

Nam Định là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng vốn từ xưa

đã nổi tiếng là mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, đất văn hiến với truyền thống

hiếu học nơi sản sinh ra nhiều danh nhân kiệt xuất, nhiều tướng tài giúp ích cho đất nước Mảnh đất Nam Định vốn là quê hương của nhà Trần- một vương triều

có lịch sử tồn tại lâu đời và có nhiều cống hiến lớn cho đất nước Nằm trong vùng văn hóa Bắc Bộ, với tổng số 72 km bờ biển trải dài trên địa bàn 18 xã, thị trấn, thuộc 3 huyện Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ, Hải Hậu, địa phận biên giới biển của tỉnh có 2 tôn giáo lớn là đạo Phật và đạo Thiên chúa, trong đó đồng bào theo đạo Thiên chúa chiếm 41,3% dân số Do vậy, cùng với công tác quốc

Trang 11

phòng ven biển, các địa phương và các đơn vị Bộ đội Biên phòng đóng ở khu vực ven biển đã thường xuyên quan tâm, thực hiện các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng vùng giáo, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên khu vực biên giới biển của tỉnh, tạo thuận lợi cho

kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển theo định hướng của NQTW 4 khóa X “chiến

lược biển Việt Nam đến 2020”

Là huyện ven biển phía Nam tỉnh Nam Định, với chiều dài 32 km bờ biển, Hải Hậu có thể phát huy thế mạnh của kinh tế biển - một trong những nguồn lợi của kinh tế địa phương mà không phải nơi nào cũng có được Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế nói chung, cư dân ven biển đã biết phát huy thế mạnh của kinh tế ngư nghiệp góp phần xây dựng kinh tế địa phương

thêm giàu mạnh, đồng thời vẫn giữ vững truyền thống “Tứ tính - Cửu tộc” của quê

hương Hải Hậu, vượt qua mọi khó khăn, đoàn kết sáng tạo trong lao động sản xuất Với những cố gắng đó, huyện đã 3 lần được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Từ năm 1978 đến nay, huyện liên tục là điển hình Văn hóa Thông tin cấp huyện của cả nước Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới từ

1986 đến nay, văn hóa của huyện đã và đang có rất nhiều sự khởi sắc

Là người con của quê hương Hải Hậu, lại rất yêu biển và con người vùng biển, tác giả cảm thấy rất tự hào và nhận thấy rằng việc hiểu biết sâu sắc

về truyền thống văn hóa của quê hương Hải Hậu nói chung và văn hóa của cư dân ven biển nói riêng là điều hết sức cần thiết Xuất phát từ những lí do trên,

tác giả đã quyết định chọn đề tài “Kinh tế ngư nghiệp và văn hóa của cư dân ven biển huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định từ năm 1986 đến năm 2012” để

làm luận văn Thạc sĩ

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Các nghiên cứu chung

Từ trước đến nay vấn đề kinh tế - xã hội cả nước nói chung, ở các địa phương nói riêng không chỉ được các nhà lãnh đạo mà được cả các nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội quan tâm

Trang 12

Trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960) đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2010), vấn đề kinh tế, xã hội đã được nêu lên thành đường lối chung mang tính định hướng cho sự phát triển Đặc biệt, Đại

hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã thông qua 2 văn kiện quan trọng là “Chiến

lược phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005’’ và “Chiến lược ổn định sự phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2010’’

Cuốn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nền kinh tế

quốc dân, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội 1998 của tác giả Ngô Đình Giao đề

cập đến việc chuyển đổi nền kinh tế từ bao cấp sang kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng XHCN và thực hiện CNH- HĐH nền kinh tế đất nước

Cuốn “Khoa học về biển và kinh tế biển” của đại tướng Võ Nguyên Giáp,

NXB chính trị quốc gia 2014, tác giả đã trình bày những nguồn tài nguyên quý

từ biển và thế mạnh của kinh tế vùng biển nói chung

Lê Duẩn (1968), Nắm vững đường lối cách mạng XHCN tiến lên xây dựng

kinh tế địa phương vững mạnh của Lê Duẩn (1968), Nxb Sư Thật Hà Nội,đã

trình bày về mối quan hệ hữu cơ của kinh tế địa phương với nền kinh tế quốc doanh, vai trò của kinh tế địa phương với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

2.2 Các nghiên cứu ở địa phương

Tại địa phương, cuốn Hải Hậu, Mảnh đất - con người, truyền thống - đổi

mới, Nxb Chính trị quốc gia của tác giả Bùi Xuân Hạc (1994) nêu lên lịch sử

hình thành mảnh đất Hải Hậu và quá trình phát triển kinh tế, văn hóa xã hội nói chung của mảnh đất và con người Hải Hậu trong suốt hơn 5 thế kỉ

Trong Tạp chí lịch sử Đảng, số 12 - 1996 tác giả Phan Văn Kiệm viết bài

“Hải Hậu- 110 năm xây dựng và phát triển” nêu khái quát những thành tựu

của nhân dân Hải Hậu đạt được từ khi thành lập huyện đến chặng đường

10 năm sau đổi mới đất nước (1996)

Trang 13

Tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 10 - 1999,giáo sư Trần Quốc Vượng đã viết

“Hải Hậu trong bối cảnh nền văn hoá khai hoang ven biển Bắc bộ”, trong đó

nêu lên những nét nổi bật về văn hóa vùng ven biển Hải Hậu từ buổi đầu khai hoang lấn biển

Năm 2010, Ban Thường vụ Huyện uỷ đã xuất bản cuốn Lịch sử Đảng bộ

huyện Hải Hậu trình bày một cách đầy đủ về quá trình ra đời và lãnh đạo nhân

dân trong sự nghiệp cách mạng của Đảng bộ huyện Hải Hậu cũng như của sáu

xã ven biển Ban Chấp hành Đảng bộ - Uỷ ban nhân dân huyện Hải Hậu (2010)

xuất bản cuốn Địa chí Hải Hậu, Nxb Hải quân, trong đó nêu lên những nét

chính về địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa nói chung của nhân dân Hải Hậu từ khi mở đất cho đến năm 2000

Ở các xã nghiên cứu xuất bản lịch sử Đảng bộ của xã như:

Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Hải Chính (từ mở đất đến năm 2000)

Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Hải Đông (từ mở đất đến 2005)

Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Hải Lý từ mở đất đến 2005

Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Hải Triều từ mở đất đến 2005

Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Hải Hoà từ mở đất đến 2005

Lịch sử Đảng bộ và nhân dân thị trấn Thịnh Long(từ mở đất đến 2000)

Những cuốn sách này trình bày một cách rõ nét về tình hình kinh tế , văn hóa các xã từ mở đất đến năm 2000 hoặc 2005

Ngoài ra, các báo cáo tổng kết hàng năm, báo cáo về tình hình kinh tế -

xã hội trình bày trong các nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ các xã, Huyện và của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Nam Định là nguồn tư liệu quan trọng trong quá trình thực hiện luận văn này Bên cạnh đó, hệ thống niên giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Hà Nam Ninh (1975), tỉnh Nam Định (1991 - 2010 ), Phòng thống kê huyện Hải Hậu và tư liệu lưu trữ của sáu xã, thị trấn giúp tác giả có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình kinh tế ngư nghiệp, văn hóa xã hội hàng năm, nhất là thời kỳ Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước

Trang 14

2.3 Các luận văn, luận án và công trình NCKH

Năm 2003, Hội chữ thập đỏ Đan Mạch tiến hành dự án phòng ngừa thảm họa thiên tai ở các xã ven biển Hải Hậu đã có những điều tra, đánh giá khá rõ nét về việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng này, đây cũng là nguồn tài liệu có giá trị tham khảo Bên cạnh đó còn có một số luận văn thạc sĩ viết về

đề tài kinh tế, văn hóa - xã hội nói chung của huyện Hải Hậu và 6 xã ven biển :

Luận văn của thạc sĩ Nguyễn Thu Lan : “Lễ hội văn hóa truyền thống

cách mạng trên quê hương Hải Hậu từ đổi mới 1986 đến 2010” đề cập đến

những nét đẹp văn hóa truyền thống trên quê hương Hải Hậu vào dịp Quốc khánh 2/9 hành năm

Luận văn của thạc sĩ Trần Thị Tân: “Chuyển biến kinh tế - xã hội sáu xã

ven biển của huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định từ năm 1986 đến năm 2010” đề

cập đến sự chuyển biến kinh tế, xã hội nói chung của 6 xã ven biển huyện Hải Hậu từ 1986 đến năm 2010

Nhìn chung, những công trình trên đây ở những khía cạnh khác nhau đã

đề cập đến kinh tế văn hóa - xã hội của nhân dân Hải Hậu và sáu xã ven biển của huyện Hải Hậu Song, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về sự chuyển biến trong kinh tế ngư nghiệp và nền văn hóa riêng của cư dân các xã ven biển Do vậy, là một người con sinh ra và lớn lên trên quê hương Hải Hậu, tác giả quyết định chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ với mong muốn đóng góp thêm tư liệu về sự phát triển kinh tế ngư nghiệp và văn hóa của 6 xã ven biển trên quê hương Hải Hậu

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về kinh tế ngư nghiệp, văn hóa của ngư dân ven biển huyện Hải Hậu từ năm 1986 đến năm 2012

3.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về kinh tế ngư nghiệp ở vùng ven biển huyện Hải Hậu trước

và sau thời kì đổi mới, nhằm làm nổi bật thế mạnh và vai trò của nền kinh tế địa phương, đặc biệt là kinh tế vùng ven biển

Trang 15

Nghiên cứu về văn hóa của cư dân vùng ven biển để thấy được những nét chung và những nét đặc thù về văn hóa của vùng ven biển, từ đó kiến nghị

đề xuất giải pháp phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp và khắc phục những hạn chế của cư dân vùng biển để tăng cường giữ vững an ninh chủ quyền biển đảo

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở thực tiễn về kinh tế ngư nghiệp và văn hóa ở 6 xã ven biển,

đề tài phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế ngư nghiệp và văn hóa - xã hội

trước khi đổi mới ở huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định

Làm rõ sự phát triển của kinh tế ngư nghiệp, văn hóa của các xã ven biển huyện Hải Hậu từ năm 1986 đến năm 2012

Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế ngư nghiệp và phát

huy những giá trị văn hóa truyền thống ở các xã ven biển huyện Hải Hậu tỉnh

Nam Định trong thời gian tới

3.4 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Tập trung nghiên cứu tại sáu xã, thị trấn ven biển của

huyện Hải Hậu bao gồm các xã: Hải Đông, Hải Lý, Hải Chính, Hải Triều, Hải Hòa và thị trấn Thịnh Long

Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 1986 đến

năm 2012 Tuy nhiên, để làm rõ nội dung theo yêu cầu của đề tài, Luận văn đề cập tình hình kinh tế ngư nghiệp và văn hóa của 6 xã ven biển những năm trước đó

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Để hoàn thành đề tài này chúng tôi đã sử dụng những nguồn tư liệu sau:

Tài liệu thành văn

Các công trình nghiên cứu, tạp chí, luận văn của của các nhà khoa học Các chỉ thị, nghị quyết TƯ Đảng, tỉnh ủy Nam Định, huyện ủy Hải Hậu các số liệu thống kê, báo cáo, đề án…

Trang 16

Một số văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về kinh tế - xã hội Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết, các báo cáo tổng kết của Đảng bộ tỉnh Nam Định,

Đảng bộ huyện Hải Hậu từ năm 1975 đến nay

Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nam Định, Lịch sử Đảng bộ huyện Hải Hậu, Lịch sử Đảng bộ các xã Hải Đông, Hải Lý, Hải Chính, Hải Triều, Hải Hòa, thị trấn Thịnh Long và các bài viết đề cập đến tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và của sáu xã ven biển huyện Hải Hậu nói riêng

Đặc biệt tác giả dựa vào các báo cáo tình hình phát triển kinh tế ngư nghiệp - văn hóa xã hội của các xã Hải Đông, Hải Lý, Hải Chính, Hải Triều, Hải Hòa, thị trấn Thịnh Long từ 1986 đến 2012

Nguồn thống kê của các sở, ban ngành liên quan như Sở Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Sở Tài nguyên môi trường, Sở Giáo dục và Đào tạo, Cục thống kê tỉnh Nam Định, Phòng Thống kê

huyện Hải Hậu, Ban Tuyên giáo huyện Hải Hậu…

Tài liệu điạ phương

Các tài liệu về dân cư địa phương, sách của dòng họ,các báo cáo của các chi bộ thôn xã, những cá nhân là thành viên trong các thôn xã

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để có thể tái hiện quá trình chuyển biến kinh tế ngư nghiệp và văn hóa

ở 6 xã ven biển huyện Hải Hậu từ năm 1986 đến năm 2012, tác giả chủ yếu sử

dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành.Trong đó có 2 phương pháp cơ bản

là phương pháp lịch sử và phương pháp lô gic.Ngoài ra, tác giả còn sử dụng:

Phương pháp kinh tế học lịch sử: Thấy được tốc độ phát triển, tăng, giảm

của kinh tế ngư nghiệp qua thời gian trước và sau thời kì 1986, qua các giai đoạn phát triển của lịch sử để thấy được sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế

Phương pháp dân tộc học lịch sử: Tìm hiểu nghiên cứu sâu về lịch sử của

các xã, thị trấn vùng ven biển, về phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt

Trang 17

Bên cạnh đó, để có thể hoàn thành bản luận văn, tác giả còn sử dụng

một số phương pháp khác như:: phương pháp phân tích dữ liệu, phương pháp

thống kê,phân tích, tổng hợp,phỏng vấn, so sánh để chọn lọc, bổ sung tư liệu

làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

5 Đóng góp của đề tài

Luận văn góp phần tìm hiểu về lịch sử địa phương huyện Hải Hậu, góp phần làm phong phú thêm nét đẹp trong truyền thống xây dựng phát triển kinh tế- văn hóa của vùng đất và con người huyện Hải Hậu

Góp thêm tư liệu khoa học để các nhà quản lí có những chủ trương chính sách cụ thể trong lĩnh vực quản lí kinh tế, văn hóa, góp thêm tư liệu cho việc giảng dạy lịch sử địa phương

Nêu lên những thành tựu và hạn chế trong quá trình chuyển biến kinh

tế, văn hóa của ngư dân ven biển huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định từ năm 1986 đến năm 2012 và đề xuất những giải pháp thích hợp nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, gìn giữ chủ quyền biển đảo và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của ngư dân ven biển trên quê hương Hải Hậu

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung

luận văn chia làm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về huyện Hải Hậu và kinh tế, văn hóa trước 1986 Chương 2: Kinh tế ngư nghiệp của cư dân ven biển huyện Hải Hậu

từ năm 1986 đến năm 2012

Chương 3: Văn hóa của cư dân ven biển huyện Hải Hậu từ năm 1986 đến năm 2012

Trang 19

(Nguồn: Địa chí Nam Định)

Trang 20

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN HẢI HẬU VÀ KINH TẾ, VĂN HÓA

Hải Hậu nối liền với tỉnh lỵ Nam Định bằng Quốc lộ 21 Dọc Quốc lộ

21 từ huyện lỵ Hải Hậu tới tỉnh lỵ Nam Định dài 36 km Trên địa phận Hải Hậu, Quốc lộ 21 xuyên qua 3 thị trấn là Yên Định, Cồn, Thịnh Long, vấn đề giao thông tương đối thuận lợi

Là một trong ba huyện giáp biển của tỉnh Nam Định, Hải Hậu có cảng Thịnh Long, có cửa biển Văn Lý, sông Ninh Cơ là những tuyến đường thủy quan trọng thuận lợi cho việc neo đậu tàu, thuyền và giao thương buôn bán trong và ngoài huyện

Hải Hậu có 6 xã ven biển là Hải Hòa, Hải Chính, Hải Triều, Hải Lý, Hải Đông, Hải Thịnh (nay là thị trấn Thịnh Long) Sáu xã này nằm kề nhau thành một dải bám lấy đê biển

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Dân số

Với diện tích 226 km2 , dân số là 294.216 người , phân bố ở 32 xã và 3 thị trấn Trong đó chiếm tới 80 % dân số đã qua trường lớp đào tạo Mật độ dân số trung bình 1 301 người / km2 Trong đó đồng bào theo đạo công giáo trên 40%

Trang 21

Riêng 6 xã ven biển có số dân là 23 814người , tỉ lệ theo công giáo khoảng hơn

90 %,chiếm khoảng 60% lao động đã qua trường lớp đào tạo, đặc điểm này có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa của cư dân vùng ven biển

Khí hậu

Huyện Hải Hậu mang tính chất chung của khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ.Nằm trong vùng khí hậu chí tuyến gió mùa, có mùa mưa ẩm và mùa đông khô.Khí hậu này rất thuận lợi cho ngành sản xuất nông nghiệp gồm cả trồng trọt và chăn nuôi Từ rất sớm, Hải Hậu đã nổi tiếng với những nông sản như gạo tám xoan, gạo nếp bắc

Điều đáng chú ý ở đây là sáu xã ven biển do vị trí nằm sát biển nên mang những đặc điểm riêng: nhiệt độ trung bình hằng năm thấp hơn (nhiệt độ mùa hè thấp hơn và nhiệt độ mùa đông cao hơn) và lượng mưa trung bình năm cao hơn so với các xã nội địa của huyện.Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình các tháng và năm thấp hơn so với ở thành phố Nam Định, nhưng nhiệt độ thấp nhất trung bình các tháng và cả năm lại cao hơn Do đó chúng ta có thể thấy được rằng nhiệt độ của sáu xã ven biển của huyện Hải Hậu ôn hoà hơn so với các vùng khác trong nội địa.Đất đai của sáu xã ven biển huyện Hải Hậu được hình thành từ trầm tích sông - biển, mà cụ thể là từ trầm tích sông Hồng và biển Đông Hệ tầng đặc trưng là các lớp bột sét lẫn cát màu xám, có nhiều mảnh vỏ thân mềm và các lớp sét bột, phần trên có lớp sét đen đặc trưng của đầm lầy ven biển, trong đó gặp nhiều vỏ trùng lỗ Vùng trầm tích biển nằm ở phía cửa sông Ninh Cơ, tập trung nhiều nhất ở Thịnh Long được đặc trưng bởi lớp cát hạt vừa và nhỏ, thành phần sa khoáng do tác động của sóng

Địa hình, đất đai

Đất đai nơi đây được hình thành là kết quả của trầm tích, nhưng do quá trình đắp đê, khai sông lấy phù sa cải tạo, trải qua 400 - 500 năm đã làm thay đổi tầng đất canh tác khác hẳn so với quy luật của tầng đất ban đầu: tầng dưới sâu mang đặc điểm của tầng đất trầm tích sông - biển, tầng đất mặt mang đặc điểm của trầm sông Huyện Hải Hậu là một trong chín huyện của tỉnh Nam

Trang 22

Định - một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, nên đất đai được phù sa sông Hồng bồi đắp, rất thuận lợi cho ngành sản xuất nông nghiệp

Hệ tầng trầm tích sông - biển tạo dựng nên vùng đất này quyết định đến địa hình thổ nhưỡng Hệ tầng bên dưới chỉ có ý về mặt địa chất - thủy văn: các khoáng sản chỉ có phi kim loại (như sét, gạch ngói), khoáng sản kim loại chỉ ở dạng sa khoáng như Titan ở vùng bãi biển xã Hải Chính, xã Hải Lý, xã Hải Triều, thị trấn Thịnh Long

Nhìn tổng quát địa hình các xã trong tương đối bằng phẳng, cao ở phía bắc, thấp dần về phía nam nhưng độ chênh lệch không lớn Đất đai ở đây phần lớn là nằm ngoài đường bờ biển của thế kỷ XV Đây là vùng châu thổ, địa hình thấp, không có đồi gò, độ cao tuyệt đối từ 0,1- 1,8m trong khi đó thủy triều biển Đông có thể lên tới 3 - 4m Khu vực xã Hải Hoà, thị trấn Thịnh Long là khu vực thấp (độ cao 0,1 - 0,2m), vùng xã Hải Lý, Hải Chính, Hải Triều và Hải Hoà độ cao ruộng muối 0,3 - 0,5m, trên cánh đồng muối được san gạch nên khá bằng phẳng Chính vì vậy, nếu không có hệ thống đê biển, đê sông vững chắc thì đây chỉ là vùng đầm lầy mặn Để sử dụng vùng đất này con người từ đời này qua đời khác đã nỗ lực đắp đê, ngăn mặn không cho thuỷ triều tràn vào, đồng thời khai sông đắp đập, xây kè cống lấy nước ngọt đầu nguồn, lấy phù sa từ sông Hồng cải tạo đất, thau rửa mặn thành ruộng lúa

Sáu xã ven biển của huyện Hải Hậu thuộc khu vực đất ngoài đê biển Vùng đất này chịu ảnh hưởng trực tiếp của sóng biển và thuỷ triều Kiểu địa hình chủ yếu là bãi cát ven biển, có nơi cát được gió vun lại thành đụn cát, cồn cát, có nơi là bãi triều bùn lắng Do đó, ở khu vực này thực vật chịu mặn phát triển, đặc biệt là ở xã Hải Đông, thị trấn Thịnh Long Ngoài hai vùng trên phần lớn các bãi cát ven biển của các xã đều rất hẹp, khi triều cường thì nhiều chỗ sóng đập trực tiếp vào chân đê, nhiều chỗ bãi biển nhìn thấy hôm nay là vùng trong đê của những đoạn đê đã bị sóng biển phá vỡ

Quá trình tạo thành địa hình gắn liền với quá trình phân phối các vật liệu hình thành đất đai: bao gồm cả vị trí loại đất và thành phần đất Với nguồn gốc

Trang 23

đất đai từ trầm tích sông - biển và biển, lớp đất canh tác của vùng này gồm hai nhóm đất chính là đất phù sa sông và đất cát vùng ven biển, trong đó nhóm đất phù sa chiếm chủ yếu và luôn được con người cải tạo, bồi dưỡng Vùng đất này

có độ phì cao, độ mùn từ 1 - 2%, hàm lượng các chất dinh dưỡng (đạm, lân, kali) đều khá tốt, tuy nhiên lân dễ tiêu thường ở dạng trung bình và nghèo Thành phần cơ giới thuộc đất thịt nhẹ đến trung bình (như ở xã Hải Hoà và thị trấn Thịnh Long)

Đất cát bãi thường phân bố ở địa hình phẳng, hay bị ngập nước Loại đất này được người dân nơi đây cải tạo thành các ruộng muối Vùng đất cát cao không bị ngập nước, đất có màu xám trắng đến nâu nhạt, thành phần cơ giới từ cát đến cát pha, đất nghèo dinh dưỡng, tỉ lệ mùn < 1% Xã Hải Hoà, thị trấn Thịnh Long là đặc trưng của kiểu đất này, nhân dân ở đây đã cải tạo đất để gieo trồng các loại cây trồng trên cạn như khoai lang, lạc và các loại rau

Tóm lại, từ nguồn gốc của đất, đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng có thể thấy rằng đất đai sáu xã ven biển của huyện Hải Hậu nghèo chất dinh dưỡng, khả năng giữ nước giữ phân hạn chế, vì vậy không thích hợp cho việc trồng cây lúa nước Tuy nhiên, vùng đất này lại rất thích hợp với việc trồng các loại cây rau, hoa màu và cho năng suất cao, phục vụ cho chế biến và xuất khẩu Ngoài

ra, đất đai nơi đây còn thích hợp cho nuôi trồng thuỷ hải sản Đặc biệt thị trấn Thịnh Long có cửa biển, cầu cảng, bãi tắm và khu du lịch, đất đai có thể thay đổi phương hướng và cơ cấu cây trồng để phục vụ cho xuất khẩu, du lịch và chế biến nông sản Đây là đặc điểm riêng và cũng là tiền đề để sáu xã ven biển huyện Hải Hậu phát triển kinh tế, đồng thời cho thấy thế mạnh riêng của vùng này Khai thác thế mạnh này một cách đúng hướng chính là mũi nhọn trong chương trình phát triển kinh tế tạo sự chuyển biến rõ rệt cho vùng quê này Phần chương 2 của đề tài sẽ đề cập cụ thể hơn về vấn đề này

Tài nguyên

Do đất đai của sáu xã ven biển chịu ảnh hưởng mạnh của thuỷ triều nên sinh vật có khả năng chịu mặn rộng Trên cạn có cả chim di cư do nguồn thức

Trang 24

ăn phong phú, thậm chí có cả những loài thú sử dụng thức ăn là lương thực và thực vật Nguồn vi sinh vật ở vùng này rất đa dạng do môi trường đất, nước phong phú Bởi vậy vùng này có một tập đoàn sinh vật bao gồm cả thực vật và động vật đa dạng cả vùng nước mặn, nước ngang và nước ngọt Thực vật nổi có

50 giống và 111 loài, rong biển có 21 giống 32 loài Động vật có 83 loài trong

đó 46 loài cá và 37 loài giáp xác Trong đó có nhiều loại động thực vật có giá trị kinh tế cao: cá chim, cá thu, cá song, cá hồng, cá ngừ, tôm he, rong câu… Các loại cây trồng và vật nuôi đều rất phong phú đa dạng gồm cây lương thực(lúa, ngô, khoai, sắn ), cây công nghiệp, thực phẩm (mít,nhãn, vải, hồng, bưởi, chuối, cam chanh, quýt, na ), cây công nghiệp, thực phẩm (dâu, cói, mía, lạc, đậu ) Vật nuôi cũng hết sức đa dạng gồm đủ các loại gia súc và gia cầm

Ngoài các nguồn tài nguyên thiên nhiên, huyện Hải Hậu còn có tài nguyên nhân văn và du lịch Vốn là mảnh đất được hình thành từ quá trình lao

động cần cù, “quai đê lấn biển”, vật lộn với sóng to gió lớn, nên người dân Hải

Hậu không chỉ cần cù trong lao động mà còn biết cách chăm lo cho sự nghiệp giáo dục Đến đầu thế kỷ XIX, tính ra Hải Hậu đã có 60 người hiển đạt khoa bảng, có người đỗ phó bảng như Trần Tông Lệ, đỗ tiến sĩ như Đỗ Tông Phát

Sự nghiệp giáo dục không ngừng phát triển, mỗi năm có hàng nghìn học sinh

đỗ đại học, huyện có hàng trăm người đạt học vị thạc sĩ, TS, PGS

Với vị trí giáp biển, có nhiều thuận lợi do thiên nhiên ưu đãi, đường bờ biển dài 32 km, HảiHậu giàu tài nguyên về thủy hải sản, sinh vật, du lịch Hải Hậu nói chung và nhân dân 6 xã ven biển nói riêng có sản phẩm thủy hải sản tự nhiên vô cùng phong phú Đó là những nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất đầy sóng gió này

Như vậy với những thuận lợi của vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng, nhân lực dồi dào Hải Hậu thực sự có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế toàn diện và bền vững [1, tr.167]

Trang 25

Tuy nhiên bên cạnh những mặt thuận lợi, điều kiện tự nhiên cũng đặt ra cho con người Hải Hậu nhiều thách thức lớn Nếu không có những biện pháp tích cực để ngăn chặn, phòng ngừa thì rất dễ phá vỡ cân bằng địa - sinh thái hiện tại- thậm chí hủy diệt môi trường, sự đe dọa của nước biển tràn ngập nếu

đê biển không được tôn cao, việc khai thác thủy sản không đúng cách sẽ làm tài nguyên bị cạn kiệt hoặc bị hủy diệt, ô nhiễm môi trường gây mất cân bằng sinh thái Vì vậy trong quá trình sinh sống và lao động sản xuất đòi hỏi con người phải đặc biệt lưu ý

là biển sâu thăm thẳm Xung quanh các cửa lạch là những cốt đất mới nổi lên ngày một vươn xa ra biển

Lúc đó, Hải Hậu còn là bãi biển hoang hóa Thấy đất Tương Đông chật hẹp, cụ Trần Quốc Hiến - cháu đời thứ 11 của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - đã đi tìm thế đất mới trong vùng Sơn Nam Khi tới phía Nam Lác

cụ đã tìm thấy bãi bồi Với tầm nhìn xa trông rộng, cụ đã khẳng định đây là một vùng đất tốt, có hình thế rộng bằng, bãi bồi màu mỡ, có thể xây dựng cơ nghiệp muôn đời Sau khi đánh thắng quân Minh, nước Đại Việt chú trọng chính sách khuyến nông Ngày 19 tháng Chạp năm Kỷ Dậu, Thuận Thiên thứ 2 (1429 ) Vua Lê Thái Tổ ra chiếu dụ cho dân phát triển dinh điền Kế tục sự nghiệp của cha anh, cụ Trần Vu tên tự là Phúc Đức đã kết nghĩa với các cụ Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập đưa quyến thuộc xuống khai khẩn khu bãi bồi này Khu khai khẩn phía tây sông Hà Lạn có điều kiện lấn biển hơn

Trang 26

Năm 1463, cụ Trần Vu làm sớ tâu với vua Lê cho khai khẩn, được vua

phong chức quan Doanh điền phó sở sứ Cụ cùng 3 người làng là Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập hiệp lực khẩn hoang Nhưng công cuộc khai khẩn còn dang dở thì cụ qua đời Con cả của cụ Trần Quốc Hiến là cụ Trần Vu nối chí cha tiếp tục sự nghiệp Khoảng năm 1463 cụ Trần Vu làm đơn xin Vua Lê cho khai khẩn ở đây Cụ Trần Vu cùng 3 cụ người làng là Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập cùng gia quyến tổ chức khai khẩn Trước sau các cụ đắp được 5 con đê: đê Cường Giang (đê sông Ninh Cơ), đê Đông, đê Hậu Đồng, đê Đồng Mộc

và đê Nam

Nhờ có các con đê các cụ biến bãi bồi Lạch Lác thành vùng đất rộng lớn Xóm Phú Cường (nay là xóm 6 và xóm 7 xã Hải Trung) là xóm khai thác thành công đầu tiên của Quần Anh, cũng là xóm đầu tiên của Hải Hậu, rồi tiếp đến Trại Quần Anh, Cồn ấp - Quần Cường ấp.Năm 1511 xã Quần Anh có tên trong bản đồ quốc gia Lúc này xã Quần Anh thuộc tổng Thần Lộ, sau này thuộc tổng Kim Giả, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, trấn Sơn Nam Giai đoạn từ 1955 - 1804 là giai đoạn mở rộng đất Quần Anh từ phía nam đê Hồng Đức (con đê được đắp vào thời Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức, dấu tích đoạn đê này là đường 56 và còn một số dấu tích ở các xã Hải Hưng, Hải Thanh, Hải Hà, Hải Lộc) ra đê Tiền Cồn, đồng thời phân lập Quần Anh thành nhiều thôn, xã Sau khi thành lập xã Quần Anh (1511), con cháu Tứ Tổ cùng với Cửu Tộc (Lại, Nguyễn, Lê, Bùi, Phan, Đoàn, Đỗ, Trần, Vũ) cùng Kế chí, Hậu chí Liệt Tổ tiếp tục đắp được 5 con đê ngăn mặn ở nam đê Hồng Đức gồm đê Nhất Trùng, đê Nhị Trùng, đê Tam Trùng, đê Tứ Trùng, đê Tiền Cồn Đồng thời đắp nối con đê Đông xuống đê Tiền Cồn xuống con đê sông Ninh từ bến đò sông Ninh Cường xuống Ninh Mỹ ngày nay Đắp được các con đê trên, Quần Anh

có khu đất mới từ đê Hồng Đức xuống đê Tiền Cồn dài khoảng 9 - 10 km.Trong thời kỳ này Quần Anh liên tục xảy xa việc chuyển nhượng, chia cắt đất, thành lập nhiều thôn, xã như sau: Đất Đầm Cát: thuộc thôn Bắc Cường xã

Trang 27

Quần Anh, sau đổi là thôn Hùng Mỹ Năm 1884, thôn Hùng Mỹ được thăng thành xã Hùng Mỹ, thuộc huyện Nam Chân, đầu thế kỉ XX mới thuộc huyện Trực Ninh

Đất Xối Tây Trì: thuộc thôn Bắc Cường xã Quần Anh, sau đó sáp nhập vào huyện Trực Ninh, được chuẩn y thành lập thôn mới, đổi tên là An Ninh Đầu thế kỉ XX, thôn An Ninh đổi thành xã An Ninh (năm 1956 xã An Ninh sáp nhập với xã mới thành Hải Thành, năm 1976 xã Hải Thành sáp nhập vào xã Hải Trung).Đất Kim Đê: vùng đất này đầu thế kỷ XV vẫn là bãi bồi hoang hóa thuộc phía nam sông Cường Giang (nay là sông Ninh Cơ), huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường Năm 1804, tổng Quần Anh được thành lập, xã Kim Đê thuộc tổng này, đến năm 1862, xã Kim Đê đổi thành Phương Đê (vì kiêng huý Nguyễn Kim).Năm 1804, xã Quần Anh chia thành 3 xã: Quần Anh Thượng,

Quần Anh Trung, Quần Anh Hạ

Giai đoạn từ 1804 - 1888, là giai đoạn tổng Quần Anh đổi làm tổng Quần Phương Ở xã Quần Anh Thượng, vào khoảng đời Vua Thiệu Trị (1841-1847), được khai khẩn tiếp khu phía nam hơn 2000 mẫu ruộng Trong khoảng thời gian 73 năm (tính từ năm 1804 đến năm 1877) xã Quần Anh khai khẩn được 4968 mẫu ruộng Bắc Bộ Bên cạnh đó các cụ còn đắp được các con đê: đê Cồn Ngoài (nay là cuối xã Hải Cường), đê Ngoại Bao (nay thuộc xã Hải Hoà).Năm 1887 vì tránh miếu hiệu vua Tự Đức nên có một số thay đổi trong cách gọi tên địa danh ở đây Tổng Quần Anh đổi làm tổng Quần Phương Sau khi công cuộc dinh điền Ninh Nhất chấm dứt, người Quần Anh tiếp tục khai khẩn vùng đất tiếp phía tây và phía nam của tổng Ninh Nhất, đồng thời khai khẩn cả phía đông của khu Hoài Nghĩa Như vậy, khu vực phía đông ngày càng được mở rộng Năm 1888, thực dân Pháp cho Nam triều cắt tổng Quần Phương

và Ninh Nhất (của huyện Chân Ninh) và 7 xã phía nam của huyện Giao Thuỷ (đặt tên là tổng Kiên Trung), còn vùng đất mới đang khai khẩn ở ven biển gọi

là tổng Tân Khai Cả bốn tổng trên hợp lại thành huyện Hải Hậu Ngày 27 - 12

Trang 28

- 1888 (Nguyễn Đồng Khánh thứ 3, năm Quý Mùi), Kinh lược Bắc Kỳ ra quyết định, được Tổng Trú sứ Trung - Bắc Kỳ chuẩn y thành lập huyện Hải Hậu Phủ huyện đặt tại thôn Đông Cường, tri huyện là Tiến sĩ Đỗ Tông Phát Đến năm

1890 huyện Hải Hậu có thêm tổng Ninh Mỹ và năm 1893 thêm tổng Quế Hải.Như vậy, huyện Hải Hậu được hình thành trên cơ sở đất đai của 6 tổng kể trên Năm 1968, nhà nước cho 7 xã phía nam sông Ninh Cơ (thuộc huyện Trực Ninh) là mảnh đất vốn chung một lịch sử tạo lập sáp nhập vào Từ đó vùng đất Hải Hậu liền một dải với diện tích 264 km2

Vùng đất Hải Hậu ngày nay là kết quả của quá trình “quai đê, lấn biển”, chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt khôn lường Trong cuộc đấu tranh dai dẳng, quyết liệt đó, nhân dân Hải Hậu đã hun đúc nên tinh thần đoàn kết, lòng quả cảm, tính cần cù nhẫn nại Đó là những truyền thống quý báu kết tinh từ trí tuệ, mồ hôi, nước mắt và cả máu của bao thế hệ người Hải Hậu để khai phá, xây dựng và bảo vệ mảnh đất này

1.2 Kinh tế - văn hóa huyện Hải Hậu trước 1986

1.2.1 Về kinh tế

Từ rất sớm người Hải Hậu đã có truyền thống cần cù, thông minh và sáng tạo trong lao động Thấu hiểu mảnh đất mình đang sống nên từ khi mở đất người Hải Hậu đã đoàn kết với nhau, chung tay góp sức để phát triển một nền kinh tế tổng hợp đa dạng, nhưng vẫn lấy nông nghiệp và thủ công nghiệp làm trung tâm

Nền nông nghiệp phát triển theo hướng thâm canh và tổng hợp, chủ yếu

là trồng lúa và hoa màu Mùa nào thức ấy, cả 4 mùa xanh tươi, mùa nào cũng

có thu nhập, tháng nào cũng có việc làm

Với phương châm: làm ngay, ăn liền, lấy ngắn nuôi dài, sản xuất để mở đất, mở đất để phát triển sản xuất Do đó ngay từ đầu cư dân nơi đây đã tận dụng tài nguyên để sản xuất đảm bảo cuộc sống cho mình, nam giới đi đánh bắt

cá, phụ nữ và trẻ nhỏ thì làm muối Cùng với làm muối, cư dân nơi đây còn mở chợ muối để tiêu thụ sản phẩm đã sản xuất ra Vùng chua mặn người dân trồng

Trang 29

cói, gò cao trồng dâu Trên cơ sở nguồn nguyên liệu là cói, dâu, người dân ươm

tơ dệt lụa, dệt chiếu, đan dụng cụ, gia dụng bằng cói Quá trình cải tạo đất đai

đã mở rộng thêm đất nông nghiệp và có sự phân vùng sản xuất.Vùng thấp trồng lúa, trồng khoai, vùng cao trồng bông, trồng cây ăn quả Đời sống nhân dân được nâng lên, thu nhập của người dân ngày càng cao, tích luỹ ngày càng lớn, tạo tiền đề vật chất cho công cuộc lấn biển ngày càng được đẩy mạnh.Trước năm 1960, vụ mùa ở đây trồng các loại lúa cổ truyền do tổ tiên để lại, người dân ở đây tuyển chọn các loại giống lúa phù hợp với chân ruộng của mình, gồm: Lúa nếp mùa có: nếp bắc, nếp hương, nếp thầu dầu, nếp ông lão, nếp cái, nếp cái rụt, nếp vò di Các loại lúa nếp mùa đều ngon, nhưng ngon nhất là nếp bắc Gạo này nấu xôi tinh khiết, rền, dẻo, thơm ngon; nấu rượu nước trong như nước lọc, uống thơm, êm, qua họng để lại vị ngọt ngây ngất Lúa tám mùa có: tám xoan, tám thơm, tám cổ ngỗng, tám biếc, dự râu đều là lúa tám có đặc trưng dòn, dẻo, thơm ngon; trong đó ngon nhất, hấp dẫn nhất là tám xoan Giống lúa tám xoan được cấy ở nhiều nơi nhưng chỉ có tám xoan cấy ở vùng này mới có được hương vị, chất lượng đặc biệt Giống lúa đó được tổ tiên xưa tuyển chọn để cấy trên chân ruộng có độ chua phù hợp, tưới bằng nước phù sa

7 - 8 lần trong một vụ, được bón phân chuồng, phân xanh và gặt lúc vừa chín

Vì vậy tám xoan vùng này có độ trắng xanh, dòn cơm, hương thơm man mác Giống lúa dự râu cấy được ở đất ngập nước, cả làn sông, làn ao đều được Đây

là giống lúa nấu cơm dẻo mà không dính, có hương thơm đặc biệt, cơm ngon

ăn không biết chán Về vụ chiêm cũng có các giống lúa khác nhau như lúa chiêm tẻ, lúa hom, chiêm dong, chiêm tép, chiêm câu, ré đỏ, chiêm cút, chiêm

bù cu, chiêm vịt Các giống lúa chiêm tẻ đều ngon nhưng gạo khô hơn gạo mùa Lúa nếp chiêm có: nếp cái chiêm, nếp trắng, nếp bầu, nếp ông lão (cây thấp và cây cao), nếp trụi, nếp nõn tre, nếp cà cuống Các giống lúa nếp cấy vụ chiêm nấu xôi đều không dẻo, không rền như nếp mùa Các loại cây lương thực khác có cây khoai nước là cây quan trọng đứng sau cây lúa Cây khoai nước có hai loại là khoai trắng và khoai tía riềng Khoai trắng củ ăn rất ngon, dọc dùng

Trang 30

làm thức ăn trong chăn nuôi Khoai tía riềng được cấy được cả dưới nước và trên cạn Loại cấy trên cạn củ vàng óng, luộc ăn vừa dẻo vừa thơm, thân cây dùng để nấu canh Cây chóc ngái (còn gọi là cây dong riềng) là loại cây có năng suất cao, người dân nơi đây thường dùng làm miến bán và dùng làm thức

ăn trong gia đình

Trải qua kinh nghiệm sống của nhiều thế hệ, con người nơi đây đã quyết định lựa chọn ra giống cây trồng, gia súc phù hợp với đồng đất và điều kiện tự nhiên Đồng thời, vận dụng nắm chắc quy luật của tự nhiên để tính toán cho kịp thời vụ với từng loại cây trồng Đặc biệt cây lúa là cây trồng chủ lực quyết định

sự sinh tồn cho con người nơi đây nên được đặc biệt coi trọng Vụ mùa mới là

vụ chính nên được các chức dịch tính toán và lấy ý kiến của các bậc lão nông

để quyết định ngày hạ điền Chỉ sau khi đã hạ điền thì xã viên mới được bắt đầu cấy Nguyên tắc chọn ngày hạ điền như sau: lấy ngày hạ chí làm chuẩn Sau ngày hạ chí đến ngày sơ phục chọn không phải ngày Tý thì tổ chức lễ hạ điền

Lễ hạ điền này là một nét đặc sắc của văn hoá Hải Hậu nói riêng và của cư dân làm nông nghiệp nói chung trên đất nước Việt Nam

Chăn nuôi

Về chăn nuôi, người dân nơi đây chủ yếu nuôi lợn, trâu, bò, dê, gia cầm nhằm phục vụ cho sản xuất và mục đích sử dụng của gia đình trong những dịp hội hè, lễ, tết Ngoài ra nghề đánh cá cũng phát triển mạnh Đây là nghề truyền thống và có ngay từ khi con người mở mang vùng đất này Cá khai thác được một phần mang ra các chợ bán, một phần được chế biến thành nước mắm Lưu thông tiêu thụ lại kích thích hàng hoá phát triển Có thể nói quá trình tái sản xuất: sản xuất - tiêu thụ - tiêu dùng được thực hiện thuận lợi, đưa vùng đất này ngày càng đi lên

Diêm nghiệp

Nghề làm muối vốn là nghề truyền thống của Hải Hậu Trước đây, muối sản xuất ra đến đâu bán hết ngay đến đó Để làm ra hạt muối người dân Hải Hậu rất vất vả Từ phơi cát cho ngấm nước mặn, đến khi có được hạt muối, các

Trang 31

công đoạn đó phải diễn ra trong ngày Nếu để sang ngày hôm sau muối sẽ giảm mặn Để giúp người dân Hải Hậu duy trì được nghề muối truyền thống, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Tổng công ty muối, dự án OPAM và huyện đã hỗ trợ, giúp các xã cải tạo đồng ruộng, nâng cấp hệ thống thuỷ lợi, đưa máy móc vào khai thác muối, nhằm tăng năng suất và giảm bớt sức lao động cho người dân Tuy nhiên, kết quả không được như mong muốn Máy móc chiếm nhiều diện tích, tuổi thọ phục vụ sản xuất ngắn, bị han rỉ nên không

sử dụng được Hải Hậu cũng đã dầu tư xây dựng xí nghiệp chế biến muối iốt, song sản xuất không mấy hiệu quả, không tìm được đầu ra Hiện nay có bốn công ty tư nhân chuyên thu mua và chế biến muối Các công ty này đã đầu tư hàng tỉ đồng vào dây chuyền sản xuất muối sạch để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của vệ sinh an toàn thực phẩm, mẫu mã và bao bì đẹp nên đã được người tiêu dùng chấp nhận Những năm gần đây, Phòng Nông nghiệp cũng đã đưa công nghệ sản xuất muối sạch vào thử nghiệm Huyện hỗ trợ người dân sản xuất muối sạch với diện tích 17ha ở ba hợp tác xã: Đông Hải, Thống Nhất và Tiến Thắng Quá trình áp dụng công nghệ đã đưa năng xuất muối tăng khá cao, khoảng 500 - 600 tấn/năm, giá bán muối sạch cũng tăng gấp đôi muối thường Sản lượng muối sạch tuy chưa được nhiều song cũng mở ra một hướng mới, giúp người dân tăng thu nhập Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết trong thời gian tới công nghệ sản xuất muối sạch sẽ được nhân rộng ra toàn huyện, hy vọng đây sẽ là một hướng đi mới cho Hải Hậu nói chung và sáu xã ven biển nói riêng

Nghề dệt

Vùng gò đống, bãi ven đê sông, đê biển được trải xanh ngát màu của cây dâu, cây đay Nghề trồng dâu phát triển đến đâu, nghề nuôi tằm được phát triển đến đấy Sản phẩm của tằm được chế biến thành sợi tơ, sợi nái vàng óng Việc đồng áng do đàn ông làm, phụ nữ chủ yếu chăn nuôi, kéo tơ sợi, kéo kén, dệt lụa, dệt chiếu, đan bao manh… Phụ nữ chỉ khi thu hoạch lúa mới làm các khâu như dần, sàng, làm sạch lúa đổ vào kho Với đôi bàn tay khéo léo, người phụ

Trang 32

nữ đã biến những ổ kén thành những sợi tơ nhỏ, đều, đẹp và dệt nên những tấm

lụa tuyệt vời để làm duyên làm dáng, làm đẹp cho đời: “phụ nữ Quần Phương

không quen nghề làm ruộng như cày bừa gặt hái khó nhọc, chỉ biết tới mùa thì

vò đạp, rê sàng thôi nên nhiều người làm nghề dệt lụa Thường bán lụa hoặc nái

ở chợ Lương, vải thô thì bán ở chợ xã Trung” [ 1, tr.459]

Những sợi cói, sợi đay được dệt thành các loại chiếu rộng hay hẹp, nhiều kiểu dáng được khách hàng thị thành ưa chuộng, tiêu thụ khối lượng lớn ở các chợ Sản phẩm tận dụng còn lại của cói được đan thành bao manh, đan thành làn cói, bị cói, ró… rất tiện lợi cho các bà các chị đi chợ Những cái ró là vật chứa thóc, gạo, ngô, khoai… có giá trị sử dụng như những bao tải ngày nay Những chiếc làn cói được nhuộm màu sắc thanh nhã có thể dùng đi chợ, đi du lịch rất thanh cảnh, tao nhã, duyên dáng Nghề trồng cói, chế biến cói phát triển mạnh ở nơi đây và được coi là một trong những nghề quan trọng của vùng

- Nghề rèn

Đây là một nghề có từ rất sớm ở vùng đất này Trước đây, công cuộc khai khẩn đất hoang đòi hỏi rất nhiều công cụ Nơi đây lại có nhiều sú, vẹt nên được khai thác tôi thành than hoa phục vụ cho nghề rèn rất có hiệu quả Những vật dụng như dao, cuốc, thuổng, móng… được rèn bằng thứ than hoa này rất sắc, cứng và dẻo Đặc biệt, người dân đã sáng tạo ta cái móng - một công cụ đào đất làm cho hòn đất gọn gàng, không bị gãy, an toàn cho người chuyển đất Chính nhờ đó mà công cuộc đắp đê, đào kênh mương được thuận lợi và là một trợ thủ đắc lực cho con người trong công cuộc chiến thắng tự nhiên

- Nghề mộc

Đây là nghề cổ truyền được gìn giữ qua nhiều đời Sản phẩm của nghề mộc có khung cửi dệt vải, dệt lụa, những xa quay tơ, bàn ươm tơ… đáp ứng thao tác cho người thợ ươm tơ kéo ra sợi tơ nhỏ, đều, cho người thợ dệt làm ra những tấm lụa đẹp, những tấm vải đẹp

Với bàn tay khéo léo, người dân còn trạm khắc khảm trai, khảm ốc làm nên những bức đại tự, câu đối tại các chùa, đền, từ đường với đường nét sắc

Trang 33

xảo, tinh tuý, bay bổng Họ làm ra những chiếc tủ kinh, tủ chè, sập gụ, sa lông Tàu, tràng kỷ… như có phép màu nhiệm thổi hồn vào từng thớ gỗ, để nó trường tồn cùng lịch sử và là minh chứng cho sự khéo léo của con người vùng biển đầy nắng và gió này

- Nghề nề

Đây cũng là nghề có từ lâu đời Người ta đã sáng tạo ra loại vữa rất đặc biệt và trở thành kỹ nghệ Họ pha vữa với mật đường tạo nên một chất keo vừa dẻo vừa bền Xây không cần vôi nhưng các công trình vẫn đứng vững, trường tồn vời thời gian, có khả năng chịu mặn và thách thức hàng trăm trận bão lớn

Có những chiếc cống cuốn bằng gạch mật vẫn bền chắc, khẩu độ nhỏ nhưng thời đó nó là đường tưới tiêu quan trọng Do sự phát triển của sản xuất nên phải xây dựng công trình tưới tiêu khác phù hợp hơn Người ta huy động rất nhiều thanh niên trai tráng khỏe mạnh, dùng xà beng bẩy hết sức mà không thể phá được Cuối cùng người ta phải huy động công binh phá bằng thuốc nổ mới được

- Nghề đan lát

Nghề đan rổ, rá, thúng, mủng, dần, sàng… được đưa vào sản xuất khá sớm để phục vụ cho cuộc sống và nhất là công cuộc khai hoang lấn biển, mở rộng đất đai Đặc biệt người dân vùng này còn biết đan thuyền nan phục vụ cho việc khai thác cá ven sông, lạch, ven biển Những chiếc thuyền đan bằng tre, ngoài trát vỏ sắn có độ bền, dẻo cao, có khả năng chịu được sóng biển tốt mà nước lại không thấm được vào bên trong thuyền Ưu điển của loại thuyền này

là nhẹ, dễ cơ động trên mọi địa hình

Người ta làm lưới bằng những sợi tơ, sợi săn có độ dài hàng trăm mét, rộng 4 - 5m để đánh cá trên biển

Như vậy, dù còn lắm gian truân, nhọc nhằn nhưng con người nơi đầu sóng ngọn gió của vùng ven biển Hải Hậu này đã biết phát huy sức mạnh của đôi bàn tay, của trí tuệ mà làm nên những điều kì diệu Song song với sản xuất nông nghiệp, con người đã biết làm ra những sản phẩm phục vụ cho cuộc sống

Trang 34

của mình, phù hợp với từng lĩnh vực, ngành nghề Sự sáng tạo này chính là một tiền đề quan trọng để vùng quê ấy đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong tương lai

Thương mại - dịch vụ

Hệ thống các con sông lớn nhỏ có vị trí vô cùng quan trọng trong việc vận chuyển hàng hoá Các loại nông - thuỷ sản nhờ đó được vận chuyển, luồn lạch đến tận các ngõ ngách của các xã Có thể nói rằng hệ thống giao thông, trong đó có vai trò của các con sông, lạch này đã nối các làng xã lại gần nhau

hơn “Đây là một điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, đặc biệt là việc buôn

bán, trao đổi hàng hoá giữa các làng xã với nhau.”[62, , tr 551]

Mạng lưới giao thông giúp cho việc lưu chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ được thông suốt Điểm tiêu thụ có vị trí vô cùng quan trọng để người tiêu dùng tiếp cận được với hàng hoá và thực hiện quá trình trao đổi, thực hiện khâu cuối cùng là đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng và trở thành hàng hoá

Thời kỳ đầu, để tiêu thụ được sản phẩm, người ta mở chợ muối để bán muối và cá Sản lượng muối sản xuất ngày càng nhiều, cá biển, cá sông đánh bắt được ngày càng tăng về số lượng Chợ bán cá và muối được đặt tại Trung Cường (Chợ Đền, xã Hải Anh ngày nay) Chợ họp theo phiên và các ngày 3 - 8 -13 - 18 - 23 - 28 hàng tháng Về sau do nền kinh tế phát triển, chợ này bán nhiều mặt hàng khác phục vụ cho nhu cầu của người dân trong vùng

Nền sản xuất phát triển ngày một nhanh chóng, các ngành nông nghiệp, thủ công nghiệp, đánh bắt cá, làm muối… ngày càng có nhiều bước tiến Chính

vì vậy, đời sống con người ngày càng được cải thiện và nâng cao

Sản phẩm của vùng này được đem đi trao đổi ở các chợ như Đông Biên, Thượng Trại, Cồn, Đông Cường, chợ Trung… Tại các chợ người ta còn trao đổi kinh nghiệm làm ăn, sản xuất, gieo trồng… Qua đó mà người dân ngày càng tiếp cận được với những điều mới mẻ, áp dụng vào sản xuất Đồng thời,

Trang 35

đây cũng là yếu tố thuận lợi kích thích thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng Mạng lưới chợ dày đặc, họp nhiều phiên là điều kiện thuận lợi để giao lưu, trao đổi sản xuất, kích thích nhu cầu tiêu dùng Các mặt hàng của địa phương với mỗi phong vị của từng xã, thôn mang đặc trưng của từng vùng quê nơi đầu sóng ngọn gió Đây là tiền đề quan trọng để phát triển ngành thương nghiệp của vùng ven biển huyện Hải Hậu

Như vậy, trong nội bộ mỗi xã đều song song tồn tại hai vùng kinh tế: kinh tế nội đồng và kinh tế ven biển Hai vùng kinh tế này hỗ trợ cho nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển

Ngư nghiệp:

Kinh tế ngư nghiệp là ngành kinh tế có chức năng và nhiệm vụ nuôi trồng và khai thác các loài thuỷ sản, chủ yếu là cá ở các ao hồ, đầm, ruộng nước, sông ngòi, trong nội địa và ở biển

Nam Định là một tỉnh có mạng lưới sông ngòi dày đặc, lại có đường bờ biển dài tới 72 km,gồm 3 huyện Giao Thủy, Nghĩa Hưng và Hải Hậu Trong 3 huyện giáp biển thì Hải Hậu chiếm 32 km bờ biển

Vốn là một huyện ven biển nên ngoài các đặc điểm chung của nền kinh

tế tỉnh Nam Định, huyện Hải Hậu còn có thế mạnh về kinh tế ngư nghiệp Huyện Hải Hậu có chiều dài 32 km bờ biển Với địa hình như vậy, huyện có thể phát triển kinh tế ngư nghiệp Đây là điểm rất riêng và là thế mạnh của

dân cư vùng ven biển Tuy nhiên trước đây do tư tưởng lấy “nghề nông trồng

lúa nước” làm chủ đạo nên kinh tế ngư nghiệp chỉ đóng vai trò phụ trợ Cư dân

6 xã ven biển của huyện Hải hậu đã biết tận dụng thế mạnh của tự nhiên gắn với địa hình địa vật nơi mình sinh sống cùng với những kinh nghiệm của bản thân để đánh bắt cá ven bờ cải thiện cuộc sống vật chất Khi cuộc sống vật chất thay đổi cũng ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của ngư dân vùng biển

Ngành kinh tế ngư nghiệp ở huyện Hải Hậu được được thể hiện rõ nét trên 2 lĩnh vực chủ yếu đó là: Ngành khai thác thủy sản và nuôi trồng thủy sản

Trang 36

Trước 1986, kinh tế ngư nghiệp ở Hải Hậu mặc dù có truyền thống lâu đời nhưng chỉ là một ngành kinh tế bổ trợ cho kinh tế nông nghiệp do bối cảnh của nhiều năm đất nước có chiến tranh, cơ sở hạ tầng và trang bị kĩ thuật còn nghèo nàn lạc hậu nên chưa có những đóng góp lớn Việc khai thác hải sản tồn tại dưới 2 hình thức chủ yếu: quốc doanh và hợp tác xã Các quốc doanh đánh

cá được Nhà nước bao cấp về công cụ, vật tư, lưới sợi, nhiên liệu, tiền lương, tiền thưởng Nhà nước chỉ quy định chỉ tiêu sản phẩm và giá bán sản phẩm Do chỉ chạy theo sản lượng nên chi phí tàu đánh cá quốc doanh cao dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp

Trong thời kì xây dựng CNXH (1954 - 1975), cuộc cải cách ruộng đất

đã xóa bỏ hoàn toàn giai cấp địa chủ, phú nông, nông dân và thợ thủ công thoát cảnh tô thuế nặng nề, trên địa bàn huyện đã hình thành nhiều thành phần kinh

tế, nông dân cá thể, thợ thủ công cá thể, người buôn bán nhỏ Cuối năm 1960

đã có 330 HTX nông nghiệp với khoảng 87,27 % dân số toàn huyện Bên cạnh

đó là 42 HTX thủ công nghiệp gồm may, mộc, rèn Ngành khai thác cá biển có

15 HTX, chủ yếu là ở 6 xã ven biển, chiếm khoảng 95,5 % số hộ

Bên cạnh đó có Hợp tác xã tín dụng - một tổ chức kinh tế tập thể hình thành, định hướng cho người sản xuất cá thể Ngân hàng nông nghiệp cùng hợp tác định hướng cho tập thể và cá thể Chỉ sau thời gian ngắn kinh tế được phục hồi, hàn gắn được vết thương chiến tranh.Trong những năm thực hiện kinh tế bao cấp(1965 - 1975) vừa góp phần xây dựng CNXH, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, nhân dân Hải Hậu ra sức lao động góp phần chi viện sức người, sức của cho nhân dân Miền Nam đánh đế quốc Mĩ Với truyền thống

yêu nước, cần cù trong lao động, nhân dân Hải Hậu nêu cao tinh thần “Một

người làm việc bằng hai, Quyết chiến quyết thắng giặc Mĩ xâm lược”, nhân dân

Hải Hậu đã đóng góp cho nhà nước 170.000 tấn thóc, 17.000 tấn thực phẩm, 60.000 tấn muối để nuôi quân đánh Mĩ

Sau ngày đất nước được giải phóng, cả nước đi lên CNXH (1976 - 1985) Theo tinh thần chỉ đạo của ĐH Đảng toàn quốc lần thứ 4 (12/ 1976), đường lối

Trang 37

xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới ở nước ta là: “Đẩy

mạnh công nghiệp hóa XHCN nước nhà, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN Ưu tiên công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công - nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, kết hợp kinh tế với quốc phòng, tăng cường quan hệ hợp tác, tương trợ với các nước XHCN anh em trên

cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và các bên cùng có lợi, làm cho nước Việt Nam trở thành một nước XHCN có kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học, kĩ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh và hạnh phúc” [96, tr 999]

Quán triệt theo tinh thần chỉ đạo của TƯ Đảng, Đảng bộ Tỉnh Nam Định

và Đảng bộ Hải Hậu đã đưa ra nghị quyết đẩy mạnh kinh tế nông nghiệp - công

- thương nghiệp Sau kế hoạch 5 năm lần 2 (1976 - 1980) đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Đặc biệt sau chỉ thị khoán 100 - CT/TW13/1/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết của Tỉnh ủy Hà Nam Ninh ngày 20/1 /1981, ngày 16/2/1981 Ban chấp hành Đảng bộ huyện ra nghị quyết số 01 thực hiện 3 khoán trong nông nghiệp Kết quả là:

Trong nông nghiệp, năm 1982 đã nhập kho nhà nước 25.500 tấn thóc Bình quân toàn huyện, mỗi ha gieo trồng đã đóng góp cho nhà nước 2 tấn thóc Năm 1983 và 1984 năng suất lúa vẫn giữ trên 82 tạ/ha Năm 1983 Hải Hậu được Bộ nông nghiệp tặng cờ thâm canh lúa giỏi của cả nước

Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong 5 năm từ 1981 -

1985 có bước phát triển mới, chặn đứng sự giảm sút của những năm thập kỉ 70 Năm 1985 toàn huyện có 28 HTX tiểu thủ công nghiệp, giải quyết việc làm cho

Trang 38

4 518 người, giá trị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 18.496.000 đồng, tăng 3,2 % so với năm 1984

Ngành sản xuất muối và khai thác thủy sản, sau thực hiện kế hoạch 5 năm (1976 - 1980) vẫn được giữ vững và phát triển Những năm 80 của TK XX hoạt động nuôi trồng thủy sản được duy trì theo phong trào xây dựng mô hình

“Vườn cây”, “Ao cá Bác Hồ” Sau chỉ thị 100 của Ban Bí thư về khoán sản phẩm trong nông nghiệp, phong trào xây dựng “Ao cá Bác Hồ” được coi trọng

và trở thành động lực thúc đẩy nghề nuôi cá đi vào thâm canh

Năm 1981 sản lượng khai thác thủy sản là 1.335 tấn, đến 1985 đạt 2.190 tấn, tăng 755 tấn so với 1981 Từ 1984, ngành khai thác thủy sản đã mở ra hướng mới, thu gom tôm mực để xuất khẩu

Ngành thủy sản ở thời kì đầu mặc dù còn nhiều khó khăn và mới chỉ có khai thác đánh bắt cá ven biển chứ chưa có nuôi trồng thủy hải sản nhưng đã góp phần nâng cao năng xuất lao động trong ngành kinh tế nông nghiệp của địa phương, cải thiện đời sống nhân dân Tổng thu nhập quốc dân do kinh tế ngư nghiệp của 6 xã ven biển Hải Hậu đem lại chiếm tới 30% trong tổng thu nhập quốc dân của kinh tế nông nghiệp trong toàn huyện Đó là một thế mạnh của vùng 6 xã ven biển so với các vùng nội địa, một tiềm năng để nhân dân Hải Hậu có thể phát triển nếu có đường lối chỉ đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng

bộ các cấp

1.2.2 Về văn hóa

Hải Hậu là huyện có truyền thống “dựng nước” và “giữ nước” Theo

sách “Quần Anh dư địa chí”, kể từ “Tứ tính cửu tộc” khởi sự công cuộc khai

hoang lấn biển đến nay, ước chừng hơn 5 thế kỉ, và lịch sử thành lập huyện là

hơn 100 năm nhưng nhà văn hóa Vũ Khiêu đã từng khẳng định: “Ở đây khí

phách con người đã mãnh liệt hơn cả bão to sóng lớn, nên biển cả đã lùi xa, để lại cho con người ruộng lúa mênh mông, đồng muối bát ngát và vườn cây xum xuê” [68, tr 11] Nói đến Hải Hậu, là nói tới sự nỗ lực phi thường của con

người nơi đây, vừa lấn biển vừa ngăn biển lấn

Trang 39

Với những phong tục tập quán thuần hậu theo suốt chiều dài lịch sử gắn liền với cuộc sống của mọi người dân Hải Hậu trong nhiều thế hệ hun đúc lên một nét đẹp tinh thần Năm 1862, xã Quần anh đã được phong thành xã Quần

Anh Trung với bốn chữ vàng: “Mỹ tục khả phong” Năm 1867, xã Quần Anh được phong bốn chữ: “Thiện tục khả mỹ” và được công nhận là mảnh đất “Văn

hiến anh hùng” Những sắc phong cao quý đó đã chứng minh cho những đức

tính tốt đẹp, là giá trị truyền thống “Tứ tính, Cửu tộc” là: “Nếp nhà nhân hậu,

Phúc, Đức, Cần, Kiệm, mây sáng, trời trong, con cháu thảo hiền” Các giá trị

đó đã tô thắm thêm tinh thần đoàn kết, lòng quả cảm, trí thông minh, sáng tạo, tính cần cù, nhẫn nại của con người

Trước khi đổi mới, cuộc sống của nhân dân Hải Hậu dựa chủ yếu vào sản

xuất nông nghiệp, “lấy nghề nông làm gốc” nên sáu xã ven biển của huyện Hải

Hậu cũng mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam Nông thôn Việt Nam có hai đặc trưng cơ bản là: tính cộng đồng và tính tự trị

Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác

Tính tự trị: tính cộng đồng tạo nên những tập thể làng xã khép kín mang tính tự trị, các làng xã đều tồn tại khá biệt lập với nhau và độc lập với chính quyền trung ương Tính tự trị khẳng định sự độc lập của làng xã, ít liên hệ với bên ngoài, làng nào biết làng ấy, mỗi làng là một vương quốc khép kín Từ 10 đến

30 gia đình sống gần nhau có xu hướng liên kết chặt chẽ với nhau thành một xóm Các gia đình sống gần nhau chủ yếu là anh em họ hàng Chính vì vậy, các thành viên trong xóm vừa gắn bó với nhau bằng quan hệ máu mủ vừa gắn bó với nhau trong quan hệ an sinh xã hội Bởi vì, để đáp ứng với yêu cầu khắc nghiệt của tự nhiên, với nhu cầu trồng lúa nước mang tính thời vụ cao cần phải đông người, nhờ xóm giềng đổi công cho nhau Thứ nữa là khi tắt lửa tối đèn, hoặc nạn trộm cướp thì phải trông cậy vào hàng xóm láng giềng Do vậy, các

Trang 40

thành viên trong xóm liên kết chặt chẽ với nhau tới mức: “bán anh em xa mua

láng giềng gần” Trên thực tế, người Việt Nam không thể thiếu anh em họ

hàng, tình cảm họ hàng với nhau, dù “một giọt máu đào hơn ao nước lã”

Con người vùng ven biển của huyện Hải Hậu nói chung và của sáu xã ven biển là cư dân nông nghiệp Do đặc trưng cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên và mang tính thời vụ, nên họ phải dựa vào nhau

để sống Điều đó có nghĩa là, để kịp thời vụ, con người phải liên kết với nhau,

hỗ trợ, đoàn kết cùng nhau phát triển Và như vậy, nét đặc trưng của làng xã Việt Nam nói chung và của vùng này nói riêng là tính cộng đồng được tổ chức chặt chẽ, đồng thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau

Là một huyện của tỉnh Nam Định, mảnh đất từ xưa đã nổi tiếng với

truyền thống hiếu học, đất “địa linh nhân kiệt”, huyện Hải Hậu có phong trào

giáo dục phát triển cao ở tất cả các cấp học từ tiểu học cho đến THCS, THPT,

CĐ, ĐH , ngay từ lớp người đi mở đất, nền giáo dục nơi đây đã được chú trọng Đến đầu thế kỷ XIX, tính ra Hải Hậu đã có 60 người hiển đạt khoa bảng,

có người đỗ phó bảng như Trần Tông Lệ, đỗ tiến sĩ như Đỗ Tông Phát Sự nghiệp giáo dục không ngừng phát triển Ngay sau cách mạng tháng Tám thành

công, hưởng ứng phong trào “xóa nạn mù chữ”, chống “giặc dốt”, “Hải Hậu có

129.760 người thoát nạn mù chữ, chiếm 80% dân số, 700 giáo viên được đào tạo hoạt động tích cực ở các thôn xóm nhằm nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân Trong kháng chiến chống Pháp, huyện được coi là địa phương có phong trào bình dân học vụ khá nhất ở Liên khu Ba và là huyện đạt loại khá của cả nước” [ 1, tr 656]

Trong kháng chiến chống Mĩ, mặc dù trong “mưa bom bão đạn” của kẻ thù, phong trào thi đua “hai tốt” tiếp tục được đẩy mạnh Hệ thống các trường lớp ngày càng được mở rộng, số học sinh không ngừng tăng lên so với trước Toàn huyện có 47.131 học sinh phổ thông, 6314 học sinh mẫu giáo đến trường

Ngày đăng: 20/07/2020, 08:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w