1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn kinh tế biển ở huyện đảo vân đồn tỉnh quảng ninh (1994 2012)

104 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nằm ở vùng Vịnh Bắc Bộ, gồm 2 quần đảo lớn là Kế Bào và Vân Hải với hơn 600 hòn đảo lớn, nhỏ thuộc Bái Tử Long, bao bọc một phần vùng mỏ Hồng Gai, huyện đảo Vân Đồn có vị trí rất quan tr

Trang 1

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Thu Thủy

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Phan Thu Hằng

Trang 4

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ii

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cám ơn tất cả các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử, đặc biệt là những thầy cô giáo chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, những người đã giảng dạy và động viên tôi trong suốt hai năm học vừa qua giúp tôi hoàn thành nghiên cứu và hoàn thiện nghiên cứu đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hà Thị Thu Thủy,

người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, những người đã luôn ở cạnh tôi trong những lúc khó khăn nhất và giúp tôi có được thành quả ngày hôm nay

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2015

Tác giả luận văn

Phan Thu Hằng

Trang 5

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iii

MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 5

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Bố cục của luận văn 7

Chương 1 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Ở HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH 8

1.1 Điều kiện tự nhiên 8

1.2 Điều kiện dân cư - xã hội 13

1.3 Điều kiện kinh tế 19

Tiểu kết chương 1 21

Chương 2 HOẠT ĐỘNG KINH TẾ BIỂN Ở HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN GIAI ĐOẠN 1994 - 2012 23

2.1 Chủ trương phát triển kinh tế biển ở huyện đảo Vân Đồn 23

2.2 Sự phát triển của kinh tế biển ở huyện đảo Vân Đồn 29

2.2.1 Khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản 29

2.2.2 Du lịch biển, đảo 44

2.2.3 Mạng lưới giao thông và hệ thống cảng biển 66

Tiểu kết chương 2 69

Trang 6

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iv

Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ BIỂN ĐẾN KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH 71

3.1 Tác động về kinh tế 71

3.1.1 Thúc đấy sự phát triển của các ngành kinh tế khác 72

3.1.2 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện đảo 75

3.2 Tác động về xã hội 76

3.2.1 Góp phần xóa đói giảm nghèo 76

3.2.2 Góp phần làm thay đổi diện mạo của huyện đảo 78

3.2.3 Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập 79

Tiểu kết chương 3 82

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CV Mã lực - thước đo công suất động cơ

Trang 8

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN v

chào bán đến Vân Đồn 61 Bảng 2.7 Hiện trạng khách du lịch quốc tế đến Vân Đồn giai đoạn

2004-2009 63 Bảng 2.8 Hiện trạng khách du lịch nội địa đến Vân Đồn giai đoạn

2004-2009 64 Bảng 3.1 Bảng thống kê so sánh một số chỉ tiêu phát triển kinh tế 74

Trang 9

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN vi

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh 9

Hình 1.2 Bản đồ hành chính huyện Vân Đồn - Quảng Ninh 17

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí và mối liên hệ vùng 27

Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc phát triển không gian vùng 28

Hình 2.3 Bản đồ các điểm du lịch tỉnh Quảng Ninh 49

Biểu đồ 3.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa huyện Vân Đồn giai đoạn 2008 - 2012 80

Biểu đồ 3.2 Thu ngân sách từ XNK trên địa bàn Vân Đồn - Quảng Ninh giai đoạn 2007 - 2013 81

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lịch sử phát triển của thế giới cho thấy, biển và kinh tế biển có vị trí đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia có biển trong quá trình phát triển,

là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền Hiện nay, trên

thế giới có 151 quốc gia ven biển, vùng biển rộng gần 109 triệu km2, biển được các nước xác định là vùng đặc quyền kinh tế trong giới hạn 200 hải lý theo công ước quốc tế Các quốc gia có biển trên thế giới đã và đang xúc tiến xây dựng chiến lược cũng như các kế hoạch hành động khai thác biển, khai thác vùng ven bờ hải đảo một cách mạnh mẽ Việt Nam là một quốc gia ven biển, vùng biển rộng 1 triệu km2, bờ biển dài 3.260 km trải dài ở cả

3 hướng Đông, Nam và Tây Nam, có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với khu vực và trên thế giới, có một tài nguyên biển khá phong phú và đa dạng, là điều kiện thuận lợi thúc đẩy kinh tế biển phát triển, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên từ biển, phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nằm ở vùng Vịnh Bắc Bộ, gồm 2 quần đảo lớn là Kế Bào và Vân Hải với hơn 600 hòn đảo lớn, nhỏ thuộc Bái Tử Long, bao bọc một phần vùng mỏ Hồng Gai, huyện đảo Vân Đồn có vị trí rất quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của tỉnh Quảng Ninh và khu vực Đông Bắc của Tổ quốc Hơn

15 năm thành lập (ngày 23-3-1994 Chính phủ ra quyết định đổi tên huyện Cẩm Phả thành huyện Vân Đồn và tách 2 xã: Cô Tô, Thanh Lân thành lập

huyện Cô Tô), nhất là từ khi được Chính phủ phê duyệt đề án xây dựng Khu kinh tế - xã hội Vân Đồn (31-5-2006) thành khu vực kinh tế chiến lược và địa

bàn trọng điểm về quốc phòng - an ninh vùng Bắc Bộ, Đảng bộ, chính quyền

và nhân dân của huyện đã chủ động khắc phục khó khăn, giành được kết quả quan trọng trong khai thác tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế biển, kết hợp

Trang 11

phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh Với diện tích rộng hơn 2.000 km2, Vân Đồn có những điểm khác biệt rất lớn so với 14 khu kinh tế ven biển khác của cả nước, điều kiện giao thông thuận lợi cả đường bộ, hàng không, đường biển Đây là vùng nằm gọn trong khu vực hợp tác “hai hành lang, một vành đai” kinh tế Việt - Trung; hợp tác liên vùng Vịnh Bắc Bộ

mở rộng, là cầu nối giữa ASEAN - Trung Quốc Khu kinh tế Vân Đồn cũng nằm gọn trong Vịnh Bái Tử Long, gắn kết với kỳ quan thiên nhiên thế giới - Vịnh Hạ Long Cùng với đó là những giá trị về tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan, sinh thái, vùng biển rộng với hơn 600 đảo đá và đất là điều kiện để Vân Đồn có cơ hội phát triển kinh tế biển

Từ đó đến năm 2020, huyện Vân Đồn tiếp tục quán triệt và thực hiện

chủ trương của Chính phủ về đầu tư phát triển Khu kinh tế tổng hợp Vân Đồn (du lịch sinh thái chất lượng cao, gắn với nuôi trồng, chế biến đặc hải

sản) thành khu kinh tế chiến lược khu vực Bắc Bộ và cả nước (với vị trí là trung tâm phát triển ra biển và giao thương quốc tế) Tuy vậy, Vân Đồn vẫn còn đối mặt với những khó khăn, hạn chế như: Kinh tế phát triển chưa bền vững, chưa đánh thức hết tiểm năng và thế mạnh của kinh tế biển phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng; chưa thật hợp lý

về cơ cấu ngành nghề; Trình độ kỹ thuật nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản còn hạn chế; vẫn là huyện nghèo; một số vấn đề bức xúc về xã hội chưa được giải quyết kịp thời Do vậy, huyện đảo cần quản lý, khai thác hiệu quả tiềm năng thế mạnh của kinh tế biển, để kinh tế biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cần phải đánh giá thực trạng kinh tế biển để có những giải pháp kịp thời thúc đẩy kinh tế biển Vân Đồn

Từ những phân tích trên đây, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Kinh tế biển ở

huyện đảo Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh (1994-2012)” làm đề tài luận văn thạc

sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam

Trang 12

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ vị thế, vai trò và tiềm lực của kinh tế biển, ngày 06/5/1993, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 03-NQ/TƯ về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt - trong đó khẳng định phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với việc tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia Ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị số 20-CT/TƯ đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ quan điểm chỉ đạo trên, Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, đảm bảo vững chắc chủ quyền biển đảo Bên cạnh đó, còn có những thông tin, bài viết đề cập đến kinh tế biển:

Đầu tiên là cuốn“Thương cảng Vân Đồn” của tác giả Đỗ Văn Ninh,

Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội (2001) được biên soạn và lấy nội dung cơ bản từ “Huyện đảo Vân Đồn” Sách đã giới thiệu một bề dày lịch sử đáng kính của Vân Đồn, giàu, đẹp, anh hùng Đồng thời trình bày rất rõ về những thiên niên kỷ tiền sử của Vân Đồn qua hai di tích tiêu biểu là hang Soi Nhụ và hang Hà Giắt; khái quát về nền văn hóa Hạ Long và đặc biệt, sách đã giành một phần lớn viết về thương cảng Vân Đồn, từ vị trí địa lí đến những bến xưa nhộn nhịp thuyền bè

Tiếp theo là bộ sách “Địa chí Quảng Ninh” của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân

dân tỉnh Quảng Ninh (Hà Nôi, 2002) gồm 3 tập Tập 1 giới thiệu về địa lí hành chính, vị trí, giới hạn, diện tích, lược chí các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh; Địa hình - địa mạo, địa chất - khoáng sản, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn, thực vật, động vật ở Quảng Ninh; dân cư, dân số và dân tộc; tiền sử - sơ sử Quảng Ninh Tập 2 giới thiệu về tổ chức chính trị, xã hội, đô thị ở Quảng Ninh; tổng quan về kinh tế Quảng Ninh, công nghiệp và thủ công nghiệp, nông

Trang 13

nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, du lịch, thương mại và dịch vụ, tài chính ngân hàng, giao thong vận tải, bưu chính viễn thông Tập 3 giới thiệu về các di tích, danh thắng ở Quảng Ninh; khoa học công nghệ, văn học nghệ thuật, giáo dục, phong tục tập quán của các dân tộc Quảng Ninh; tín ngưỡng tôn giáo, y tế, thể dục thể thao Quảng Ninh Trong bộ sách này ít nhiều có nói đến Vân Đồn và hoạt động kinh tế biển ở Vân Đồn

Cuốn “Kinh tế biển Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập” của

Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2012 đã tập hợp những đề xuất cụ thể trong việc khơi dậy tiềm năng kinh tế biển của nước ta, sớm đưa nước ta giành vị trí xứng đáng của một quốc gia biển trong cộng đồng quốc tế

Bài viết "Hiệu quả của chương trình kinh tế biển đảo" của tác giả Quang

Huy đăng trên Báo Quảng Ninh năm 2006 khái quát những kết quả mà huyện Vân Đồn đã đạt được qua 10 năm thực hiện chương trình kinh tế biển đảo trên tất cả các lĩnh vực Từ đó, khẳng định đây là những kết quả to lớn của nhân dân các dân tộc huyện đảo, góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Tiếp nữa là luận văn “Kinh tế biển ở Trà Vinh” của tác giả Dương Văn

Hồng (Luận văn thạc sỹ kinh tế, năm 2008) đã trình bày khái quát lí luận về kinh tế biển và những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển Phân tích thực trạng kinh tế biển ở Trà Vinh, từ đó xác định phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển ở Trà Vinh

Luận văn “Kinh tế biển Sóc Trăng” của tác giả Nguyễn Văn Bon (Luận

văn thạc sỹ kinh tế, năm 2008) đã đè xuất những quan điểm, phương hướng, giải pháp phát huy tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế biển ở Sóc Trăng trên cơ

sở những hoạt động thực tiễn của kinh tế biển ở địa phương

Ở Quảng Ninh, đến nay, đã có một số bài báo đăng trên Báo Quảng Ninh

và báo Quảng Ninh điện tử, Báo mới.com viết về kinh tế biển, như: “Kinh tế biển Quảng Ninh có sự tăng trưởng tích cực” (Hoàng Nhất Thống - 01/6/2012); “Phát triển kinh tế biển: Lợi thế từ khu kinh tế Vân Đồn” (Ngọc Lan -16/05/2012);

Trang 14

“Khu kinh tế Vân Đồn - Đòn bẩy thu hút các nhà đầu tư” - Báo Quảng Ninh số

5129 (28/1/2002); “Vân Đồn - Tiềm năng đang được đánh thức” - Báo Quảng Ninh số 5459 (08/7/2003); “Phát triển kinh tế biển đảo Vân Đồn- Khởi động và tạo đà” - Báo Quảng Ninh số 5796 (09/8/2004) Các bài báo tập trung làm rõ

quá trình phát huy nội lực, thu hút ngoại lực đầu tư vào khu kinh tế Vân Đồn để khi thác tối đa tiềm năng và lợi thế của biển, vùng ven biển và hải đảo, góp phần tạo thêm thế và lực mới để phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Vân Đồn

Như vậy, trong thời gian qua, không ít đề tài nghiên cứu kinh tế biển ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu mô ̣t cách hê ̣ thống toàn diê ̣n về kinh tế biển ở Vân Đồn Chính

vì vậy, tác giả đã quyết định lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu của mình Để hoàn thành được đề tài này , các công trình nghiên cứu tr ên là tài liê ̣u quý giá để tác giả tham khảo và có một góc nhìn sâu sắc , toàn diện vấn đề mà mình nghiên cứu

3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những điều kiện để phát triển kinh tế biển, tình hình hoạt động kinh tế biển ở huyện đảoVân Đồn giai đoạn 1994 - 2012 (từ khi thành lập huyện đến nay) và đánh giá chung về tình hình phát triển kinh

tế biển cũng như tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn giới hạn trong huyện đảo Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh Từ

năm 1994 - thành lập huyện đảo Vân Đồn (ngày 23-3-1994 Chính phủ ra quyết

định đổi tên huyện Cẩm Phả thành huyện Vân Đồn và tách 2 xã: Cô Tô, Thanh Lân thành lập huyện Cô Tô) - đến năm 2012 - sau 5 năm thực hiện chiến lược biển Việt Nam (Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” được thông qua tại Hội nghị lần thứ tư ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X)

Trang 15

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu những điều kiện để phát triển kinh tế biển ở Vân Đồn, Quảng Ninh Làm rõ thực tế hoạt động kinh tế biển ở huyện đảoVân Đồn giai đoạn

1994 - 2012, đặc biệt là sự phát triển của các loại hình kinh tế biển sau khi có

quyết định của Chính phủ phê duyệt Đề án „„Phát triển kinh tế - xã hội khu kinh

tế Vân Đồn - Quảng Ninh‟‟ Qua đó, đánh giá những tác động của kinh tế biển

đến đời sống kinh tế - xã hội huyện đảo Vân Đồn

3.4 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở những nguồn tài liệu thu thập được, đề tài mong muốn làm nổi bật các hoạt động kinh tế biển chủ đạo ở Vân Đồn trong giai đoạn từ 1994 đến 2012, góp phần nêu cao ý thức xây dựng quê hương cho thế hệ trẻ tỉnh Quảng Ninh, đóng góp thêm nguồn tư liệu phục vụ cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu lịch sử địa phương

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Để thực hiện đề tài này, tác giả dựa vào những nguồn tài liệu chủ yếu sau: Các văn kiện, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước của các cấp ủy Đảng, báo cáo tổng kết công tác hằng năm của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, Đảng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic là chủ yếu Bằng phương pháp lịch sử, thông qua các nguồn tư liệu, tác giả khái quát đầy đủ các điều kiện phát triển kinh tế biển ở Vân Đồn, tình hình các hoạt động kinh tế biển chủ đạo ở Vân Đồn trong giai đoạn từ 1994 đến 2012 Từ

đó, thấy được xu hướng phát triển của kinh tế biển Vân Đồn sau khi có chủ

Trang 16

trương và chính sách thu hút đầu tư Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng một số phương pháp khác như so sánh (so sánh giữa các năm, các giai đoạn để thấy được sự phát triển của kinh tế biển nói riêng và kinh tế của huyện Vân Đồn nói chung), điều tra thực địa, thống kê xã hội học, liên ngành (địa lí, kinh tế, lịch sử) Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp: Trên cơ sở tài liệu thực địa, các tài liệu từ sách báo và nhiều nguồn khác để rút ra những nhận định, đánh giá, tiểu kết, kết luận

5 Đóng góp của luận văn

Làm rõ những điều kiện về tự nhiên, dân cư, xã hội để phát triển kinh tế biển

ở Vân Đồn; Khái quát thực trạng tình hình hoạt động kinh tế biển, đặc biệt là những hoạt động kinh tế biển chủ đạo ở huyện đảo Vân Đồn giai đoạn 1994 - 2012; Đánh giá những thành tựu, hạn chế của kinh tế biển Vân Đồn giai đoạn

1994 - 2012 và nguyên nhân của nó, từ đó thấy được tác động của kinh tế biển tới tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện đảo

Luận văn dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan tham mưu của Huyện ủy, UBND huyện Vân Đồn, các cơ quan hữu trách, các trường học, cơ

sở đào tạo khi tìm hiểu về kinh tế biển

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Điều kiện phát triển kinh tế biển ở huyện đảo Vân Đồn tỉnh

Trang 17

Chương 1

ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN

Ở HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN TỈNH QUẢNG NINH

1.1 Điều kiện tự nhiên

Với quy mô diện tích khoảng 2.171 km2 trong đó diện tích đất tự nhiên

551 km2,chiếm 9,3% diện tích toàn tỉnh Quảng Ninh, diện tích vùng biển rộng 1.620 km2, Vân Đồn có những điểm khác biệt rất lớn so với 14 khu kinh tế ven biển của cả nước, điều kiện giao thông thuận lợi cả đường bộ, hàng không, đường biển Cùng với đó là những giá trị về tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan, sinh thái, vùng biển rộng với hơn 600 đảo đá và đất là điều kiện để Vân Đồn có

cơ hội phát triển công nghiệp giải trí và kinh tế biển

Vân Đồn là một huyện đảo miền núi nằm ở vị trí tiền tiêu phía Đông Bắc của tổ quốc, phía Đông Nam của tỉnh Quảng Ninh, được hợp thành từ hai quần đảo Cái Bầu và Vân Hải Phía Bắc giáp với vùng biển thuộc hai huyện Tiên Yên và Quảng Hà Phía Tây giáp thị xã Cẩm Phả, ngăn cách nhau bởi lạch biển Cửa Ông và sông Voi Lớn Phía Đông giáp với vùng biển thuộc huyện Cô Tô

và phía Nam giáp với vịnh Hạ Long, vùng biển Cát Bà- Hải Phòng Huyện Vân Đồn nằm trong khung tọa độ địa lý sau: 20o

40' - 21o16' Vĩ độ Bắc; 107o

15' -

108o00 Kinh độ Đông Đảo lớn nhất là Cái Bầu với 17.212ha gồm thị trấn Cái Rồng và 6 xã, trước có tên là Kế Bào, ở phía Tây Bắc huyện nằm kề cận đất liền lục địa, cách đất liền bởi lạch biển Cửa Ông và sông Voi Lớn Trong địa phận xã Vạn Yên còn có đảo Chàng Ngo cũng tương đối lớn Huyện lỵ là thị trấn Cái Rồng nằm trên đảo Cái Bầu Tuyến đảo Vân Hải nằm ở phía Đông Nam của huyện, gồm các đảo lớn như: Trà Bàn, Cao Lô, Cảnh Tước, Đông Chén, Thẻ Vàng, Ngọc Vừng…và một loạt các đảo nhỏ khác, thành một vành đai che chắn ngoài khơi vịnh Bái Tử Long Diện tích đất đai xã Bản Sen chiếm nửa già diện tích của đảo Trà Bàn, đảo lớn thứ hai trong huyện, cùng với đảo Đông Chén và các đảo nhỏ lân cận khác [7, tr.3]

Trang 18

Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh

Nguồn: Trung tâm lưu trữ - Sở Tài nguyên & Môi trường Quảng Ninh

Vân Đồn nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế sôi động của khu vực, ở điểm giữa của tuyến đường biển Hạ Long - Móng Cái thông thương với các địa phương trong nước qua Quốc lộ 18A, 4B và thông qua đường biển đến với thế giới Nếu đi theo đường biển từ cảng Vạn Hoa hoặc cảng biển phía Bắc đảo Cái Bầu sẽ đến các cảng của đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 200 hải lý, Hồng Kông 580 hải lý và Singapore 1.300 hải lý, đây là khoảng cách mà các doanh

Trang 19

nghiệp lữ hành coi là lý tưởng để mở các tour du lịch đường biển quốc tế Vân Đồn là một huyện đảo có nhiều lợi thế về giao thông đường biển, hàng không

và đường bộ Đặc biệt, Vân Đồn là điểm giao thoa của hành lang kinh tế: một vành đai kinh tế Việt - Trung và hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) [34, tr.2] Đây

có thể nói là những lợi thế vượt trội và khác biệt của huyện đảo này Đặc biệt với điều kiện vị trí địa lý và sự phong phú về tài nguyên biển đảo đã tạo cho Vân Đồn nhiều điều kiện lý tưởng cho phát triển công nghiệp giải trí và các loại hình du lịch chất lượng cao Đây chính là yếu tố cốt lõi để Vân Đồn trở thành trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái biển đảo lớn có đủ sức cạnh tranh trong nước, khu vực và quốc tế

Vân Đồn là huyện có địa hình đồi núi - hải đảo đa dạng, phân dị mạnh

có rừng, có biển, có đảo đá, đảo đất Chính những kiểu địa hình ấy đã tạo cho cảnh quan thiên nhiên Vân Đồn có những nét đặc trưng, hấp dẫn đặc biệt Hình thái chủ yếu của địa hình khu vực Vân Đồn là đồi núi thấp và đảo đá với diện tích khoảng 41.530 ha, chiếm 70% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Một phần nhỏ diện tích có kiểu địa hình đồng bằng ven biển chiếm 1,5% tổng diện tích toàn huyện Như vậy, kiểu địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích trên các xã đảo và ven bờ, địa hình đồng bằng chỉ là những dải nhỏ hẹp ven bờ trải dài từ bến phà Tài Xá tới xã Hạ Long.Vân Đồn có ít sông ngòi, núi có nhiều nhưng không cao, mà chủ yếu là núi đá vôi Các đảo lớn gần đất liền có núi cao trên 300m, các đảo nhỏ và xã chỉ có núi cao dưới 200m Núi Nàng Tiên ở đảo Trà Bản (Bản Sen) cao 450m, núi Vạn Hoa ở đảo Cái Bầu cao 397m Địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam Độ cao trung bình là 40m so với mặt biển; độ dốc trung bình 250, ít bằng phẳng và thường bị chia cắt Hệ thống đảo

ở các khu vực Vân Đồn hầu hết nằm trong đới địa chất duyên hải Bắc Bộ, hướng cấu trúc kiến tạo Đông Bắc - Tây Nam, song song với bờ biển của đất liền Vân Đồn là một huyện đảo được tạo bởi trên 600 hòn đảo lớn nhỏ nằm

Trang 20

trong vịnh Bái Tử Long thơ mộng, bên cạnh vịnh Hạ Long đã 2 lần được UNESCO công nhận là di sản thế giới về giá trị cảnh quan và địa hình địa mạo Vân Đồn vừa có núi đá, vừa có núi đất, trên là rừng, dưới là biển, có bãi cát trắng mịn độ thoải lớn đó là những bãi tắm đẹp: Bãi Dài, Minh Châu, Sơn Hào Quan Lạn, Ngọc Vừng nằm rải rác trên khắp các đảo

Xen vào đó là những khu rừng nguyên sinh quý hiếm như: rừng Bãi Dài, rừng trâm Minh Châu, rừng Ba Mùn, cùng với đó là rất nhiều di tích lịch

sử, văn hóa gắn liền với sự hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư… Đây chính là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng để Vân Đồn xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng Không chỉ có biển, đảo, Vân Đồn còn có một thế giới động thực vật hết sức phong phú Vân Đồn có thềm lục địa rộng lớn khoảng 1.600km2

nằm trong vịnh Bái Tử Long, có nhiều vũng, vịnh, bãi triều

và rừng ngập mặn tạo nên nguồn hải sản khá phong phú cả về số lượng và chủng loại Theo thống kê của các ngành chức năng, Vân Đồn hiện có hệ động vật thủy sinh khá phong phú với 51 loài động vật phù du, 132 loài động vật thủy sản có giá trị cao như: sá sùng, cầu gai, bào ngư, hải sâm, trai ngọc… Khả năng cho phép khai thác hàng năm từ 10 -15 ngàn tấn: Trong đó cá nổi cho phép khai thác từ 7 - 9 ngàn tấn/năm

Các loại động vật quý hiếm khác cũng rất phong phú với nhiều loài như : báo lửa, cầy hương, rái cá, khỉ vàng, tắc kè và nhiều cây dược liệu quý như: ba kích, ngũ da bì, đằng đằng Cùng với đó, san hô và rạn san hô ở vùng này tuy chưa tới mức độ phong phú như một số vùng khác ở nước ta, do những nguyên nhân địa chất biển, hải văn và môi trường liên quan, nhưng vẫn có những đặc điểm riêng Khảo sát sơ bộ cho thấy trong vùng có 66 loài san hô đá, 13 loài san hô sừng và thân mềm… Thềm đảo phía Nam gần Cửa Đối - Quan Lạn là nơi tập trung san hô sau phía Bắc và Đông Bắc Tại khu vực hướng chính đông của đảo Ba Mùn cũng là khu vực tập trung san hô với trên 30 loài Ốc cũng rất phong phú, đặc biệt một số loài ốc có giá trị cao, chỉ có nhiều ở vùng này như

Trang 21

ốc sao, ốc hương, ốc đá, ốc đế Huyện có hàng nghìn ha rừng với các loại gỗ quý như thiết đinh, lát hoa, kim giao, thông tre, táu mật, lim xanh Với sự đa dạng và phong phú của các loài động, thực vật, đặc biệt với những khu rừng nguyên sinh nhiệt đới vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn trong Vườn Quốc gia Bái Tử Long chính là nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên quan trọng để phát triển các loại hình du lịch thân thiện với môi trường trên địa bàn Trong số các danh lam, di tích, nổi bật của Vân Đồn có thể kể đến là khu rừng nguyên sinh trên đảo Ba Mùn Hệ sinh thái ở đây vô cùng phong phú và đa dạng với hơn

700 loài động vật bậc cao, hơn 2.000 loài thực vật Gần đây, lượng khách đến tham quan đảo Ba Mùn ngày một đông, chủ yếu là các đoàn khách thích du lịch mạo hiểm, khám phá những nét độc đáo, hoang sơ riêng có của thiên nhiên, rừng núi vịnh Bái Tử Long [7, tr.3]

Ở Vân Đồn, khả năng bãi bồi, bãi triều ven biển có thể khoanh nuôi trồng thuỷ sản rất lớn: 10.696 ha, tập trung ở các bãi sú vẹt và cát pha bùn trên đảo Cái Bầu Nguồn lợi từ biển này là nguồn thu lớn và tạo cơ sở cho Vân Đồn phát triển thế mạnh kinh tế biển với nghề nuôi trồng thủy hải sản Thêm vào đó, chạy dọc suốt bờ biển các xã đảo Quan Lạn, Minh Châu là những bãi cát trắng dài tới hàng chục km Đây là nguồn nguyên liệu làm thủy tinh cung cấp cho hầu hết các nhà máy sản xuất kính ở miền Bắc nước ta do Công ty Cổ phần Viglacera Vân Hải khai thác Bởi vậy, Vân Đồn còn được mệnh danh là một trong những “vương quốc” cát trắng ở Việt Nam

Nằm trong vùng vịnh Bái Tử Long, bên cạnh vịnh Hạ Long, Vân Đồn có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa Trong lòng các núi đá vôi ở Vân Đồn ẩn chứa nhiều hang động kỳ vĩ, có ý nghĩa lịch sử như: hang Nhà Trò, hang Hà Giắt, Soi Nhụ và nhiều động đá đẹp như Thông Thiên trên núi Phất Cờ, với hệ thống thạch đá và nhũ đá rất đẹp song còn nguyên sơ

vì chưa có sự tác động của bàn tay con người Ngoài ra trong các hang động này còn chứa đựng cả những giá trị lớn lao về lịch sử, tại một số hang động đã

Trang 22

tìm thấy nhiều di chỉ, hiện vật thuộc nền văn hóa Hạ Long Ven chân các đảo

có nhiều vũng, bãi gian triều đất bùn hoặc nhiều bãi cát hẹp, bãi đá do xô trượt

từ núi xuống hoặc nổi tự nhiên, một số bãi đá gốc chân đảo rộng từ 30m đến 70m ngập chiều theo chu kỳ Một số vùng rộng vừa có bãi bùn, vừa có bãi cát, bãi đá,vừa có chỗ sâu, cảnh quan đẹp, thuận lơi leo trú tàu thuyền, diện tích hàng trăm hecta như vùng Cái Quýt, vũng Ổ Lợn (đảo Ba Mùn), bãi cát dài hàng cây số ở bán đảo Minh Châu - Cửa Đối - Hòn Trụi trên đảo Quan Lạn

Thế giới động thực vật cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động du lịch Ngày nay khi mức sống của con người được nâng cao, áp lực của công việc, sự ô nhiễm môi trường sống ngày càng tăng lên, người ta càng muốn được trở về với thiên nhiên Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi, Vân Đồn không chỉ có biển, đảo mà còn có một thế giới động thực vật hết sức phong phú Có thể nói Vân Đồn là nơi chứa đựng sự đa dạng sinh học vào loại bậc nhất khu vực Hạ Long Với sự đa dạng phong phú của các loài động thực vật đặc biệt với những khu rừng nguyên sinh nhiệt đới vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn trong vườn quốc gia, đây chính là nguồn tài nguyên du lịch

tự nhiên quan trọng để phát triển các loại hình du lịch thân thiện với môi trường như du lịch sinh thái, du lịch tìm hiểu tự nhiên

1.2 Điều kiện dân cư - xã hội

Vân Đồn được biết đến là vùng đất có lịch sử lâu đời, ngay từ thời tiền

sử con người đã có mặt và sinh sống ở nơi đây Trải qua bao thăng trầm của lịch sử những dấu ấn của người xưa vẫn còn để lại qua các di chỉ khảo cổ học quan trọng Di chỉ khảo cổ ở đây có mật độ đậm đặc Hang Soi Nhụ là một di chỉ thuộc trung kỳ đồ đá mới, trước cả văn hóa Hạ Long Tại thôn Ðá Bạc xã Minh Châu có di chỉ mộ cổ thời Hán Con người đã có mặt trên các đảo của huyện Vân Đồn từ rất sớm Theo thời gian những cư dân ấy vẫn gắn bó với mảnh đất này để xây dựng và phát triển Lịch sử đã ghi nhận nơi đây đã từng có những thời kỳ kinh tế, thương mại phát triển rực rỡ mà sự ra đời và phát triển

Trang 23

thương cảng Vân Đồn là một ví dụ Vì vậy, đến nay Vân Đồn vẫn còn gìn giữ được một hệ thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể hết sức phong phú, đây cũng là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng cho phát triển du lịch [23, tr.2]

Các đảo trong khu vực Vân Đồn còn lưu giữ các giá trị văn hóa thuộc nền văn hóa Hạ Long Cuối năm 1937 nhà khảo cổ học Thụy Điển An-Đéc-Xen và hai chị em nhà khảo cổ học người Pháp M.Co-Li-Na đã đi điền giã nhiều tháng đến các bãi biển, hang động trên các đảo Ngọc Vừng, Cống Đông, Cống Tây, Thoi Giếng, Soi Nhụ Họ đã phát hiện ra nhiều hiện vật công cụ bằng đá của người nguyên thủy như: bàn mài, chày nghiền, mảnh tước, vòng tay Từ đó tới nay các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục khảo cổ khai quật và đã phát hiện thêm nhiều di chỉ khảo cổ trong khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có giá trị Năm 1968 các nhà khảo cổ đó phát hiện ra hang Soi Nhụ tìm thấy vại sành, vỏ hà ốc có niên đại cách đây 4000 năm Các nhà khảo cổ học Việt Nam và thế giới đã gọi các di chỉ này thuộc nền văn hóa Hạ Long có niên đại cách ngày nay khoảng hơn 4000 năm

Vân Đồn là nơi dân cư sinh sống khá đông đúc trong đó có nhiều người bản địa Qua quá trình sinh sống ở đây họ đã sống tạo ra nhiều giá trị văn hóa mang tính địa vực như: canh tác lúa nước trên đất dốc, đánh bắt chế biến thủy hải sản, sử dụng tài nguyên rừng, phong tục tập quán ăn sóng, nói gió Cùng với sự chịu thương, chịu khó lao động, phẩm chất chất phác của cư dân biển đã hình thành và bảo tồn tới ngày nay nhiều lễ hội và các hình thức nghệ thuật biểu diễn truyền thống như hội đình Quan Lạn với các trò chơi dân gian mang văn hóa biển như tế thần biển, đua thuyền và hò biển

Tên Vân Ðồn có nguồn gốc từ tên núi Vân (núi có mây phủ) ở làng Vân (nay thuộc xã Quan Lạn) nằm trong tuyến đảo ngoài Vân Hải Do ở cửa ngõ của vùng quần đảo hiểm yếu, nên theo sử sách, năm 980 ở đây đã có đồn Vân, trấn giữ vùng biển Đông Bắc, của quân đội nhà Tiền Lê Sang triều Lý năm

Trang 24

1149 vua Lý Anh Tông chính thức lập trang Vân Ðồn, đồng thời Vân Đồn trở thành thương cảng đầu tiên của Đại Việt trong giao thương với các nước trong khu vực Đông Á và Thế giới như: Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêsia… Thương cảng Vân Đồn thịnh vượng suốt 3 triều đại là: Lý - Trần, Hậu Lê (Lê sơ) rồi suy thoái và bị lãng quên vào thời nhà Mạc

Di tích Thương cảng Vân Đồn còn lại vừa chứa đựng dấu ấn của nhà Trần về chiến công chống quân Nguyên lại vừa có dấu ấn về giao thương, buôn bán Trận Vân Đồn năm 1288 trên dòng sông Mang (Quan Lạn) gắn liền với tên tuổi của danh tướng Trần Khánh Dư Dưới sự chỉ huy của ông, quân dân nhà Trần đã đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của trận Bạch Đằng năm 1288 Sau khi Thương cảng Vân Đồn được hình thành từ thời Lý (1149), đến thời Trần đã phát triển tới hưng thịnh Các bến thuyền cổ trung chuyển hàng hoá gồm hương liệu, gốm

sứ, lâm thổ sản hình thành dọc ven sông Bạch Đằng, Cửa Lục cho tới các đảo Cống Đông, Quan Lạn Tại đảo Cống Đông (nay là xã Thắng Lợi), các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu tích của nhiều công trình kiến trúc Phật giáo quy mô thời Trần như chùa, tháp, nhiều di vật bia đá, lan can, chân kê cột Đây là những minh chứng rõ nhất cho sự phát triển phồn thịnh về thương mại dưới triều nhà Trần [19, tr.2]

Trong quá trình lịch sử phát triển, Vân Đồn đã nhiều lần thay tên, có lúc gọi là huyện và cũng có lúc gọi là châu Cách mạng tháng 8 - 1945 thành công, huyện Vân Đồn thuộc Châu Cẩm Phả, bao gồm: Thị xã Cẩm Phả và huyện Vân Đồn ngày nay

Ngày 19 - 7 - 1946, Bộ nội vụ ra nghị định số 269-NV/NĐ tạm lập lại tỉnh Quảng Yên và khu đặc biệt Hòn Gai, ủy ban hành chính khu Đặc Biệt, chịu quyền điều khiển, kiểm soát trực tiếp của ủy ban hành chính Bắc Bộ Khu Đặc Biệt Hòn Gai gồm: Cẩm Phả bến, Cẩm Phả mỏ, Hà Tu, Hà Lầm, Hòn Gai, Bãi Cháy và Châu Cẩm Phả (gồm đảo Cái Bầu và phố Ba Chẽ)

Trang 25

Ngày 9 - 7 - 1947, Bộ nội vụ quốc phòng ra quyết định số 99- NV/QP chuyển các phủ huyện Kinh Môn, Nam Sách, Chí Linh (thuộc tỉnh Hải Dương); Thủy Nguyên thuộc tỉnh Kiến An và khu Đặc Biệt Hòn Gai thuộc quyền điều khiển của ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Yên sáp nhập đặc khu Hòn Gai với tỉnh Quảng Yên thành liên tỉnh Quảng Hồng, đảo Cái Bầu thuộc liên tỉnh Quảng Hồng

Đến tháng 12 năm 1948, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định thành lập huyện Cẩm Phả (được tách ra khỏi thị xã Cẩm Phả)

Ngày 6 - 3 - 1957, Uỷ ban hành chính Hồng Quảng ra quyết định số TCCB chia xã Vân Hải thành 4 xã: Quan Lạn, Bản Sen, Ngọc Vừng, Minh Châu Ngày 12 - 12 - 1957 Uỷ ban hành chính khu Hồng Quảng ra quyết định

336-số 622-TCCB thành lập xã Vạn Hoa Ngày 16 - 7 - 1964, Bộ nội vụ ra quyết định số 198-NV, sáp nhập xã Cô Tô và xã Thanh Lân vào huyện Cẩm Phả Ngày 16 - 9 - 1966, Hội đồng Chính Phủ ra quyết định số 185-CP, sáp nhập xã Thắng Lợi thuộc thị xã Cẩm Phả vào huyện Cẩm Phả Ngày 16 - 1 - 1979 Hội đồng chính phủ ra quyết định số 17-CP giải thể xã Văn Châu sáp nhập vào xã Cộng Hòa, chuyển đất đai dân xã Cộng Hòa về thị xã Cẩm Phả, sáp nhập xã Cộng Hòa của huyện Cẩm Phả vào thị xã Cẩm Phả.Ngày 10 - 9 - 1981, Hội đồng Bộ Trưởng ra quyết định số 63-HĐBT, giải thể xã Tân Hải, sáp nhập vào

xã Ngọc Vừng, giải thể xã Ngọc Hà sát nhập vào xã Đông Xá và xã Hạ Long, thành lập thị trấn Cái Rồng huỵên Cẩm Phả Ngày 16 - 4 -1988, Hội đồng Bộ Trưởng ra quyết định số 6HĐBT hợp nhất xã Vạn Yên và xã Vạn Hoa thành xã Vạn Yên Đến ngày 23 tháng 3 năm 1994, chính phủ ra quyết định số 28/CP, tách hai xã Cô Tô và Thanh Lân của huyện Cẩm Phả để thành lập huyện Cô Tô Đổi tên huyện Cẩm Phả thành huyện Vân Đồn

Hiện nay, Vân Đồn có 12 đơn vị hành chính gồm thị trấn Cái Rồng và 11 xã: 6 xã trên đảo Cái Bầu và các đảo nhỏ trong vùng biển phụ cận đảo Cái Bầu,

ở phía Tây Bắc của huyện là các xã: Đông Xá, Hạ Long, Bình Dân, Đoàn Kết,

Trang 26

Đài Xuyên, Vạn Yên 5 xã thuộc tuyến đảo Vạn Yên vòng ra ngoài khơi ôm lấy rìa phía đông của vịnh Bải Tử Long là các xã: Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Bản Sen, Thắng Lợi

Hình 1.2 Bản đồ hành chính huyện Vân Đồn - Quảng Ninh

Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Vân Đồn

Năm 2007, số dân huyện Vân Đồn khoảng gần 4 vạn người, chiếm 4% dân số tỉnh Quảng Ninh Thành phần dân tộc khá đa dạng, gồm 8 dân tộc sinh sống trên các vùng đồi núi, đồng bằng ven biển và các đảo.Dân tộc Kinh chiếm

tỷ lệ khá cao: 86,6%, người Sán Dìu 10%, người Hoa 1,5%, người Dao 1,3%, người Sán Chỉ, người Tày Đại đa số dân sống ở vùng nông thôn chiếm 81,82%, bình quân 4,7 người/hộ Dân đô thị chiếm 18,18% trung bình 4,1

Trang 27

người /hộ Số người trong độ tuổi lao động (18-60) chiếm 40,3% dân số huyện

Số lao động trong ngành Nông-Lâm-Ngư nghiệp chiếm 87% Trong số này, lao động trong ngành thuỷ sản chiếm 26%, công nghiệp và xây dựng chiếm 6,4%, thương mại và dịch vụ chiếm 6,6% Về mức sống, năm 2007 GDP bình quân đầu người của huyện đạt 7,2 triệu đồng, bằng 58% mức bình quân của tỉnh và 65% mức bình quân cả nước Tỷ lệ nghèo đói cao, tổng số hộ nghèo theo tiếu chí của Nhà nước là 1.102 hộ, chiếm tỷ lệ 14,6%

Các hoạt động văn hoá thể thao diễn ra khá sôi nổi ở các xã gần trung tâm huyện như: Thị trấn Cái Rồng, Hạ Long, Đông Xá Hiện nay các xã này đều có sân bóng đá, bóng chuyền và phong trào thể thao phát triển Ngoài ra, tại thị trấn Cái Rồng còn có một nhà văn hoá, một rạp chiếu phim ngoài trời, 1thư viện công cộng Tuy vậy tại các xã xa trung tâm và xã thuộc các đảo nhỏ, hoạt động văn hoá thể thao phát triển chậm do thiếu cơ sở vật chất kĩ thuật và kinh tế khó khăn

Lễ hội truyền thống hàng năm trên địa bàn huyện và địa phương lân cận

có lễ hội đình Quan Lạn và lễ hội đền Cửa Ông tưởng nhớ công lao các vị tướng đời Trần chống quân xâm lược Nguyên-Mông Lễ hội đình Quan Lạn:(còn gọi là hội đua bơi Quan Lạn), là hội làng của người dân xã đảo Quan Lạn, một hòn đảo ở khu trung tâm thương cảng Vân Đồn Lễ hội được tổ chức vào ngày 18 tháng 6 (âm lịch) hàng năm nhưng hội kéo dài từ ngày 10 đến hết ngày 20 tháng 6 Lễ hội đình Quan Lạn vừa kỷ niệm chiến thắng giặc Nguyên Mông năm 1288 và chiến công của Trần Khánh Dư, một danh tướng của nhà Trần, vừa là ngày hội cầu được mùa của cư dân vùng biển Hội được tổ chức trên bến đình, nơi có đình Quan Lạn, một ngôi đình cổ trong số ít những ngôi đình còn giữ được cho đến ngày nay Trong các năm gần đây, lễ hội đình làng Quan Lạn đã được UBND huyện Vân Đồn quan tâm tổ chức long trọng, với ý nghĩa là một lễ hội truyền thống, gắn việc giáo dục phát triển văn hoá truyền

thống với việc phát triển công tác du lịch trên địa bàn huyện

Trang 28

Hệ thống cơ sở vật chất cho giáo dục, y tế của Vân Đồn cũng được sự quan tâm đầu tư cao Trong 2 năm, 2007-2008, ngành giáo dục của huyện được đầu tư hơn 19 tỷ đồng Toàn huyện đã có 5/12 xã có trường học cao tầng Từ năm 2007, huyện đưa vào sử dụng cơ sở khám chữa bệnh của bệnh viện Đa khoa Vân Đồn với 100 giường bệnh Năm 2008, huyện có 7 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; hiện đã có hai trung tâm điều trị trên địa bàn huyện đó là Bệnh viện Vân Đồn (80 giường bệnh) tại thị trấn Cái Rồng và phân viện tại xã Quan Lạn (15 giường bệnh), ngoài ra còn có các trạm y tế tại 12 xã và thị trấn trong huyện Hiệu suất

sử dụng giường bệnh không đều, trong khi ở bệnh viện trung tâm y tế huyện quá tải thì ở các trạm y tế xã hiệu suất sử dụng thấp Đến nay toàn huyện có 15 bác sỹ (tỷ lệ 2.000 dân/ 1 bác sỹ) và 27 y sỹ (tỷ lệ 1.500 dân/1 y sỹ), có 8/12trạm y tế xã có bác sỹ (đạt 66,7%), 12/12 trạm y tế xã có y sĩ sản nhi

1.3 Điều kiện kinh tế

Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế trên địa bàn huyện vân đồn là: nền kinh

tế của huyện về cơ bản vẫn là nền kinh tế nông-lâm-ngư nghiệp; kinh tế hàng hóa chưa phát triển Hiện nay cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ, du lịch và thuỷ sản, giảm tỷ trọng các ngành nông, lâm nghiệp Bên cạnh đó kinh tế ngoài quốc doanh tăng lên tương đối nhanh so với kinh tế quốc doanh Sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của huyện, đặc biệt sản xuất chế biến thuỷ sản Ngành công nghiệp-xây dựng chiếm tỷ trọng nhỏ nhất

Sản xuất nông nghiệp ở huyện đảo tiến tới sản xuất tập trung, nhân rộng phát triển các loại giống mới thay thế các loại giống cũ có năng suất thấp, sản lượng lương thực hàng năm của huyện đều đạt và vượt kế hoạch Đất nông nghiệp của toàn huyện 1.242 ha trong đó: đất trồng lúa khoảng 600

ha, và gần 100 ha cây ăn quả Đất canh tác chủ yếu tập trung ở các xã: Đoàn Kết, Bình Dân, Đông Xá Cơ cấu cây trồng khá đa dạng: ngô, lạc, khoai, sắn, rau…Người nông dân chủ yếu tập trung vào hai mùa vụ chính: vụ hè thu và

Trang 29

vụ đông xuân Ngoài diện tích đất canh tác, có hàng ngàn ha đất trống đồi trọc và bãi biển có thể cải tạo để trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và nuôi trồng hải sản [15, tr.3].

Kinh tế biển, một lĩnh vực lợi thế tiềm năng của địa phương đang được phát huy mạnh Vùng biển vủa huyện có nhiều chủng loại hải sản quý: tôm he, các mực, sá sùng, ngọc trai, bào ngư,… Nghề khai thác hải sản có từ lâu đời, song chủ yếu là đánh bắt trong lồng bè và ven bờ Huyện đã thực hiện thành công việc nuôi trồng các loại thủy hải sản có giá trị kinh tế cao như ngọc trai, tu hài, hàu, đem lại nguồn lợi kinh tế lớn, đồng thời tạo ra việc làm cho người dân địa phương, nâng cao chất lượng cuộc sống Bên cạnh đó, nuôi nhuyễn thể phát triển mạnh góp phần quan trọng trong việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, môi trường huyện Toàn huyện có 1.479 tàu thuyền khai thác thuỷ sản, trong đó có

471 tàu công suất máy từ 90 CV trở lên Tổng sản lượng thuỷ sản các năm đều đạt và vượt kế hoạch: năm 2007 đạt 256 tỷ đồng; năm 2008 đạt 330 tỷ đồng Ngoài ra, Vân Đồn còn đẩy mạnh các hoạt động quản lý, khai thác, bảo

vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản; các hoạt động về quốc phòng - an ninh, tăng cường quản lý Nhà nước về kinh tế biển

Vân Đồn có hàng ngàn ha rừng, hàng năm cung cấp gỗ cho ngành khai thác than của tỉnh và làm đồ gia dụng Rừng có nhiều cây dược liệu quý: Ba Kích, Đằng Đằng…và một số sinh vật có giá trị kinh tế cao: Tắc Kè, Khỉ vàng…Công nghiệp khai khoáng gồm: than đá được khai thác từ thời pháp thuộc, ở mỏ than Kế Bào Trữ lượng hiện còn khoảng 107 triệu tấn Mỏ quặng sắt Cái Bầu có trữ lượng lớn khoảng 145.000 tấn Mỏ cát trắng Vân Hải có trữ lượng trên 13triệu tấn, hiện đang khai thác với sản lượng 20.000 tấn/năm Vàng

sa khoáng và vàng trong đới quặng sắt có ở đảo Cái Bầu.Tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện có các nghề đóng thuyền, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ mộc, chế biến hải sản

Trang 30

Có thể nói rằng, thiên nhiên ưu đãi cho vùng đất này nhiều tiềm năng, thế mạnh và những điều kiện thuận lợi tạo điều kiện phát triển nền kinh tế đa thành phần, góp phần vào sự phát triển kinh tế huyện Vân Đồn nói riêng và của tỉnh Quảng Ninh nói chung.Khu kinh tế Vân Đồn được Chính phủ phê duyệt từ năm 2007 và hiện đang triển khai xây dựng các cơ sở hạ tầng Theo quy hoạch đây sẽ là một trung tâm du lịch sinh thái biển đảo chất lượng cao và dịch vụ cao cấp Đồng thời là trung tâm hàng không, đầu mối giao thương quốc tế, một trong những điều kiện cơ bản để thúc đẩy phát triển kinh tế ở Vân Đồn nói riêng và Quảng Ninh nói chung.

Trang 31

biển Vì vậy, môi trường tự nhiên của Vân Đồn hiện ít bị ô nhiễm do chất thải của các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp và sinh hoạt Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế biển [21, tr.3]

Tiềm năng diện tích mặt nước, bãi triều rộng lớn, các thông số khí hậu, thuỷ văn, hải văn tương đối thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản biển Biên độ thuỷ triều lớn nên khả năng trao đổi nước giữa các khu vực nuôi trồng thuỷ sản và nguồn nước mặn từ biển vào tương đối dễ dàng, thuận tiện cho việc lấy nước vào ra các đầm nuôi Cùng với đó là nguồn lao động địa phương dồi dào và người dân có nguyện vọng phát triển nuôi trồng thuỷ sản nhằm cải thiện đời sống nâng cao thu nhập Sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản sẽ phục vụ cho nhu cầu tại chỗ của khách du lịch, góp phần thúc đẩy ngành du lịch phát triển, đặc biệt là sau khi Quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế được phê duyệt Du lịch tại khu kinh tế Vân Đồn sẽ phát triển mạnh Mặt khác do địa bàn giáp với Trung Quốc, rất thuận tiện cho việc xuất khẩu sang Trung Quốc, một thị trường tiêu thụ sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản lớn

Mặc dù các yếu tố khí tượng hải văn rất thuận lợi nhưng khu vực biển Vân Đồn có độ sâu thấp (5-10 m) chỉ phù hợp với kỹ thuật nuôi lồng bè đơn giản Địa hình phân cắt mạnh, độ dốc của sông suối lớn, trong mùa mưa nước dồn về nhanh và đột ngột dễ gây vỡ ao đầm nuôi Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, nhiệt độ hạ thấp đột ngột, kéo dài ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của đối tượng nuôi

Đa số các xã trong huyện đảo Vân Đồn là xã nghèo nên rất thiếu vốn đầu

tư cho nuôi trồng thủy sản Những xã có tiềm năng về địa lý, tự nhiên để nuôi trồng thuỷ sản lớn thì người dân lại nghèo không có khả năng và năng lực tài chính đầu tư phát triển, ngược lại những xã có kinh tế khá hơn thì lại thiếu diện tích nuôi trồng (như Thị trấn Cái Rồng) Ngoài ra, nguồn cung cấp con giống không ổn định, chất lượng con giống chưa kiểm soát được, chưa chủ động được nguồn con giống thích hợp với thời vụ nuôi Cơ sở hạ tầng, dịch vụ hậu cần nghề cá đặc biệt phục vụ cho nuôi trồng thủy sản như đê, cống, điện, đường còn thiếu và không đồng bộ Đây là những khó khăn ảnh hưởng lớn đến ngành thủy sản nói riêng và kinh tế của huyện đảo nói chung

Trang 32

Chương 2

HOẠT ĐỘNG KINH TẾ BIỂN Ở HUYỆN ĐẢO VÂN ĐỒN

GIAI ĐOẠN 1994 - 2012

2.1 Chủ trương phát triển kinh tế biển ở huyện đảo Vân Đồn

Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, tình hình kinh tế huyện Vân Đồn đã có những chuyển biến, song việc khai thác tiềm năng ở địa phương còn nhiều hạn chế Giao thông đi lại khó khăn, từ huyện đi các xã đảo chủ yếu là tàu thuyền nhỏ, các xã đảo không có đường, bến cập tàu, giao thông trên đảo Cái Bầu chủ yếu là đường miền núi, điện thắp sáng mới có ở 7

xã và 1 thị trấn, nông - lâm - ngư nghiệp sản xuất chưa vững chắc, năng suất lao động thấp, sản xuất còn manh mún chưa mang tính hàng hóa, chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng , đời sống của người lao động còn nhiều bấp bênh

Trước thực trạng này, Đảng bộ chính quyền huyện đã xây dựng Nghị quyết về chương trình kinh tế biển đảo, tập trung vào các ngành có thế mạnh như thủy sản, đề ra những biện pháp cụ thể và những bước đi thích hợp Hàng năm huyện rà soát lại các mục tiêu, chương trình đã thực hiện đồng thời xây dựng, hoàn chỉnh các dự án, đề án, tranh thủ các cấp, các ngành, tổ chức đầu tư vào các mục tiêu chương trình nên đã khai thác và sử dụng tốt các nguồn vốn đầu tư, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế của huyện Thế mạnh của huyện là khai thác lợi thế của biển đảo, vậy nên, Đảng bộ huyện Vân Đồn đã triển khai thực hiện tốt chủ trương của Trung ương và chương trình của tỉnh Quảng Ninh

về phát triển kinh tế biển đảo theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tập trung mọi nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng mà mũi nhọn là ngành thuỷ sản và phát triển du lịch… Đối với ngành thuỷ sản, huyện tập trung vào các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và chế biến, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề theo

Trang 33

hướng phát triển khai thác, đánh bắt cá tuyến khơi Tăng cường đầu tư về số lượng và chất lượng tàu thuyền, các phương tiện đánh bắt theo chương trình đánh bắt xa bờ Đồng thời hiện đại hoá trang thiết bị nghề cá và kỹ thuật sơ chế sản phẩm cho lực lượng đánh bắt xa bờ Về du lịch, vùng vịnh Bái Tử Long xinh đẹp với hơn 600 hòn đảo lớn nhỏ đang cùng với vịnh Hạ Long tạo nên vẻ đẹp kỳ vĩ và nên thơ của vùng biển phía Đông Bắc Tổ quốc [15, tr.3]

Tỉnh Quảng Ninh đã xác định, Vân Đồn là một trong bốn trung tâm du lịch của tỉnh, là huyện có nhiều đảo và mỗi đảo đều có những bãi tắm lý tưởng cho du khách Ngành thuỷ sản cùng với ngành Du lịch đang từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện đảo với mức đầu tư cơ sở vật chất và nguồn nhân lực ngày càng cao theo xu thế hội nhập và toàn cầu hoá Tiềm năng kinh tế ở Vân Đồn là rất lớn Thời gian qua huyện đã và đang khai thác các tiềm năng thế mạnh đó theo hướng phát triển toàn diện bao gồm: du lịch biển, thương mại - dịch vụ du lịch, khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản, giao thông vận tải biển Trong định hướng phát triển kinh tế giai đoạn 2000 - 2010, Đảng

bộ và chính quyền huyện Vân Đồn xác định kinh tế biển là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện đảo Nhằm từng bước khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển theo hướng bền vững, từ khi thực hiện Nghị định 161/2003/NĐ-CP, huyện Vân Đồn đã hoạch định những đường lối phát triển thông qua các nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo nhân dân phát triển kinh tế một cách toàn diện Để đạt được điều đó, huyện đã tập trung vào những vấn đề sau:

Trước hết, huyện chủ động tranh thủ các nguồn vốn đầu tư để đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng, trong đó, ưu tiên các công trình thiết thực nhất đối với công tác đảm bảo an sinh xã hội Huyện đã đầu tư nhiều tỷ đồng mỗi năm

để từng bước hoàn thiện điện lưới, đường sá, bến cảng, trường học, cơ sở khám chữa bệnh trên tuyến đảo Đến nay, nhiều công trình đã hoàn thành và đưa vào

sử dụng đang phát huy hiệu quả tích cực Các tuyến đường bê tông xuyên đảo Ngọc Vừng, Quan Lạn, cảng cập tàu, công trình thuỷ lợi trên các xã đảo đang từng ngày tạo diện mạo mới cho địa phương

Trang 34

Tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện chương trình kinh tế biển đảo (1992 - 2002) để đánh giá lại những việc đã làm được, những việc chưa làm được, tìm

ra những nguyên nhân, rút ra những bài học để định hướng tiếp tục thực hiện đúng chương trình kinh tế biển đến năm 2010

Nâng cao nhận thức về biển và kinh tế biển thật sâu rộng trong cán bộ nhân dân Đầu tư tăng số lượng, chất lượng tàu thuyền và các phương tiện khai thác, đánh bắt theo đúng chương trình đánh bắt xa bờ Hiện đại hoá trang thiết

bị nghề cá, phát triển công nghệ chế biến, bảo quản sản phẩm cho lực lượng đánh bắt xa bờ Xây dựng và phát triển đội ngũ tàu từ 100 đến 120 chiếc, có công suất từ 90 CV trở lên để khai thác vùng biển khơi, kết hợp với việc bảo vệ

an ninh quốc phòng trên tuyến biển Tổ chức tốt hơn nữa khâu dịch vụ cho nghề cá ở chợ cá trên biển tại Hạ Mai, Cửa Đối - xã Minh Châu và cảng Cái Rồng, đồng thời có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp làm dịch

vụ cho nghề cá Vân Đồn là một trong những huyện có tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản ven biển lớn nhất của tỉnh Quảng Ninh với hơn 1.000 ha diện tích mặt nước và bãi triều có thể nuôi mặn, lợ và hàng vạn ha mặt nước ở các vũng, vịnh, áng tương đối kín gió có thể nuôi cá lồng bè

Từng bước đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ mới vào phát triển nuôi trồng thuỷ sản, chế biến theo hướng sản xuất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu thực phẩm thuỷ sản của địa phương, trong nước và xuất khẩu Quan tâm và chú trọng đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là các công trình văn hoá xã hội trên các tuyến đảo để ổn định đời sống dân cư Đẩy mạnh phát triển ngành “Công nghiệp không khói” “Du lịch dịch vụ biển” [36, tr.2] Vân Đồn trở thành trung tâm kinh tế miền Đông tỉnh Quảng Ninh và vùng đồng bằng sông Hồng và là một trong những cửa ngõ giao thương Quốc

tế quan trọng của vùng Đông Bắc của Tổ quốc; có vị trí quốc phòng, an ninh

quan trong phía Bắc Việt Nam Do vậy, đề án “Phát triển kinh tế - xã hội Khu

Trang 35

kinh tế tổng hợp Vân Đồn”, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2006, mục tiêu là: Phát triển khu kinh tế Vân Đồn trở thành một trung tâm du lịch sinh thái biển - đảo chất lượng cao, trung tâm hàng không quốc tế, trung tâm dịch vụ cao cấp và là đầu mối giao thương quốc tế; đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững cho Quảng Ninh; bảo đảm an ninh - quốc phòng, trật tự an

toàn xã hội, góp phần giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Sau

đó, khu kinh tế ven biển Vân Đồn được thành lập theo Quyết định số 120/2007/QĐ-TTg ngày 26/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ Ngày 19/8/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số: 1296/QĐ-TTg về phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đến năm

đã lập quy hoạch và chuẩn bị cơ sở hạ tầng thiết yếu cho khu kinh tế Vân Đồn trong tương lai nhằm phát huy và khai thác tốt nhất tiềm năng du lịch to lớn, đặc sắc của vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long, tạo động lực để phát triển, đồng thời chủ động khai thác lợi thế trong hợp tác phát triển dọc vành đai kinh

tế ven biển Việt Nam - Trung Quốc Có thể thấy định hướng và mục tiêu phát triển của ĐKKT Vân Đồn có sự khác biệt, không phá vỡ quy hoạch với các khu kinh tế liền kề, mà góp phần liên kết thúc đẩy phát triển khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, Hải Hà và Đình Vũ - Cát Hải

Trang 36

Tỉnh Quảng Ninh đang nỗ lực, quyết tâm và kỳ vọng vào Vân Đồn sẽ trở thành đặc khu kinh tế trọng điểm trong vùng đồng bằng sông Hồng, đồng thời

có sức lan tỏa mạnh tới toàn vùng và là điểm trung chuyển chiến lược từ khu vực Đông Á xuống Đông-Nam Á, cầu nối ASEAN - Trung Quốc, nằm trong khu vực hợp tác "Hai hành lang, một vành đai" kinh tế Việt - Trung, hành lang kinh tế Nam Ninh - Xin-ga-po và khu vực hợp tác liên vùng Vịnh Bắc Bộ mở rộng, đặc biệt là trong chiến lược phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc

Bộ, trục tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và trong chuỗi

đô thị quan trọng của vùng đồng bằng sông Hồng Hướng đến xây dựng thành công mô hình đặc khu kinh tế, tỉnh Quảng Ninh kỳ vọng sẽ tạo ra bước đột phá trong việc thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước mà không phải trông chờ vào nguồn ngân sách nhà nước

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí và mối liên hệ vùng

Nguồn: Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ninh

Trang 37

Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc phát triển không gian vùng

Nguồn: Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ninh

Theo cấu trúc phát triển không gian vùng trong Dự án “Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và ngoài 2050” của Sở xây dựng tỉnh Quảng Ninh, huyện Vân Đồn nằm trong vành đai cảnh quan và du lịch biển, thuộc tiểu vùng khu kinh tế Vân Đồn

và huyện đảo Cô Tô

Trang 38

Từ năm 1993 đến 2003, mỗi năm trên 80% tổng số vốn vay và vốn tài trợ ngân sách được tập trung đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn của huyện Ngoài ra hệ thống dịch vụ phục vụ sản xuất nghề cá cũng được hình thành và phát triển, chủ yếu là các tư nhân như các cơ sở đóng tàu thuyền, cụm cơ khí, sản xuất đá lạnh, cung ứng vật tư, nhiên liệu, ngư lưới cụ, ché biến tôm cá và thuốc phòng dịch bệnh cho tôm cá Hệ thống giao thông thủy,

bộ cơ bản hoàn thành với tổng vốn đầu tư hàng trăm tỉ đồng Đến 2003, toàn huyện xây dựng được 5 bến cập tàu, các phương tiện thủy, vận tải hành khách được khép kín trong ngày với chất lượng ngày một tốt hơn, các đường liên thôn liên xã được nâng cấp, mở rộng khang trang, tạo điều kiện cho bà con đi lại thuận lợi Nhân dân trên đảo yên tâm bám đất bám đảo, không bỏ vào đất liền như những năm trước Hệ thống thông tin liên lạc được đầu tư nâng cấp, những năm 1990 huyện có rất ít máy điện thoại gia đình thì đến những năm

2000, điện thoại đa phổ biến, các chương trình phát thanh truyền hình đã đáp ứng được nhu cầu cho nhân dân huyện đảo Phát huy thế mạnh về điều kiện tự nhiên, huyện đã lập kế hoạch chi tiết các khu du lịch, tôn tạo một số di tích văn hóa như đình Quan Lạn, đền Cặp Tiên để khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn

2.2 Sự phát triển của kinh tế biển ở huyện đảo Vân Đồn

2.2.1 Khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản

2.2.1.1 Nguồn lợi thủy hải sản

Vùng biển huyện Vân Đồn nằm trong vùng biển tỉnh Quảng Ninh và giáp vùng biển vịnh Bắc Bộ; rất đa dạng về địa hình, chất đáy; có nhiều hệ sinh thái đặc trưng của vùng biển nhiệt đới gồm hệ sinh thái rừng ngập mặn, vùng bãi triều, vùng rạn san hô, vùng thảm cỏ rong biển… Vì vậy vùng biển huyện vân Đồn rất đa dạng về các giống loài hải sản Theo số liệu điều tra của viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng phối hợp với sở Thuỷ sản Quảng Ninh năm (1998-1999), trên vùng biển Quảng Ninh giàu về tiềm năng, phong phú về

Trang 39

thành phần giống loài với 173 loài hải sản chiếm 25,3%, thuộc 117 giống trong

73 họ chiếm 51% so với tiềm năng nguồn lợi hải sản có trong vịnh Bắc bộ; trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như: cá thu, nhụ, song, gáy, nọi, hồng, mực ống, mực nang, tôm các loại, sá sùng, hải sâm, bào ngư, gà ghim Trữ lượng khai thác ước tính khoảng 82.000 tấn; trong đó trữ lượng khai thác

xa bờ là 44.000 tấn, khai thác gần bờ là 38.000 tấn [6, tr.5]

Đối với vùng biển huyện Vân Đồn nằm trong vùng biển Quảng Ninh, nên hầu hết các giống loài hải sản đều có đầy đủ thành phần giống loài như ở vùng biển Quảng ninh; Đặc biệt trữ lượng khai thác nguồn lợi sá sùng ở vùng bãi triều xã Minh Châu, Quan Lạn, Đông Xá nhiều hơn ở các vùng biển địa phương khác trong vùng biển Quảng Ninh; ước tính trữ lượng khai thác hàng năm khoảng trên 100 tấn tươi

Đối với các loài cá biển: Được chia thành ba nhóm: cá tầng nổi, cá

tầng đáy, cá ran san hô Nhìn chung chu kỳ sống của chúng là trong các mùa của năm như: Nhóm cá nổi là đối tượng khai thác của nghề lưới chài chụp kết hợp ánh sáng, lưới vây, lưới te xiệp, đăng đọn, lưới chắn vùng ven bờ; Chúng thường sống gần bờ, tập trung chủ yếu ở các khu vực nước nông vùng gần bãi triều, tuổi thọ ngắn, nhưng sức sinh sản rất lớn và thường tập trung thành đàn như: cá trích, cá cơm, cá nục, cá mòi, cá nẹp… Và xuất hiện tại ngư trường Năm Đầu, Soi Đen, Đảo Nét… Thời gian xuất hiện quanh năm, tập trung vào các tháng 2-5 và tháng 10-12; Ngoài ra còn có một số loài cá nổi lớn như: cá xước bè, cá ngừ, cá thu, cá nục, cá nhám, cá quẩn, cá chim… loài cá này có kích thước lớn hoặc vừa, sống ở vùng nước khá sâu, thường tập trung thành đàn và có sự di chuyển đi xa, chỉ vào gần bờ khi sinh sản và kiếm ăn, thường xuất hiện ở ngư trường từ Sậu Đông đến Ba Mùn(Minh Châu), Quan Lạn, Thượng Hạ Mai đến Năm Đầu Ngọc Vừng Nhóm cá đáy và gần đáy là đối tượng khai thác của nghề lưới kéo, giã cào, lưới rê, câu Các loại cá này thường xuyên cư trú và sinh sản, sinh trưởng vùng các rạn san hô, rạn cồn đá,

Trang 40

quanh chân các núi đá vùng ven khơi, ven bờ như: cá song, hồng, tráp, mối, phèn, dò, mó, khế, thác, gáy và xuất hiện quanh năm, nhưng tập trung vào các tháng 2,3,4,5,6… trên các ngư trường vùng biển huyện Vân Đồn, Bái Tử Long, vịnh Hạ Long Đặc biệt đối với giống cá song, hồng, dò Hàng năm, ngư dân dùng các loại ngư cụ khai thác như lưới rê, lờ, bóng, lồng, lưới chắn,

để khai thác hàng triệu con giống cá song nhỏ để phục vụ cho ngư dân phát triển nuôi cá biển bằng lồng bè

Đối với các loài giáp xác là đối tượng khai thác chính của các nghề lưới

kéo tôm, lưới giã cào, lưới rê mực, lưới ghẹ như: Tôm thẻ, tôm sú, tôm sắt, tôm bạc, tôm he chân trắng, bề bề Loại hải sản này thường sống ở vùng đáy và gần đáy, nơi vùng nước nông gần bờ,có độ mặn không lớn trên vùng biển Vân Đồn,

có nhiều loài sống trong vùng rạn san hô như: tôm hùm (rồng), ghẹ, cù kỳ, cua…là mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao; Nhưng một số có nguy cơ cạn kiệt như: tôm hùm, tôm he nhật bản Hiện nay một số loài tôm đã đợc nuôi trong ao

đầm và bằng lồng bè như: tôm sú, tôm he chân trắng, tôm hùm

Đối với các loài nhuyễn thể là đối tượng khai thác chính của các loại

nghề lưới rê mực, chài chụp kết hợp ánh sáng, bóng mực, câu mực, nghề cào, bớt, vớt Chúng bao gồm nhóm nhuyễn thể chân đầu, nhuyễn thể 2 mảnh vỏ, nhuyễn thể có vỏ chân bụng, nhóm bò sát, thú biển và các loài hải sản khác

Loài nhuyễn thể chân đầu: Bao gồm mực ống, mực nang, mực tuộc (bạch

tuộc), mực lá, mực sim, sứa và mực tuộc đốm trắng(ruốc nhện), ruốc bãi… Chúng xuất hiện nhiều ở ngư trường từ Sậu Đông đến Thượng Hạ Mai và Năm Đầu thuộc xã Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng… Đồng thời đây cũng là nơi

sinh trưởng, nơi sinh sản,bãi đẻ của mực nang, mực ống Loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ: Là đối tượng khai thác của nghề cào bới, bắt bằng tay; là nhóm động

vật thuỷ sản có độ đa dạng sinh học phong phú Chúng thường sống sinh ởng và sinh sản rất nhiều ở những ngư trường trên vùng biển Vân Đồn, Quảng Ninh có chất đáy đa dạng như: cát, cát bùn, sởi nhỏ, san hô, bãi đá ngầm, rừng ngập mặn, chân núi đá… đó là các loài: sò lông, con phi, ngao, vạng, ngán,

Ngày đăng: 20/07/2020, 08:36

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w