1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng bản đồ phân bố và đánh giá dịch vụ sinh thái của các hệ sinh thái thuộc huyện đà bắc, tỉnh hòa bình​

133 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 14,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đáng chú ý hơn là những nghiên cứu về các hệ sinh thái và phân tích tầm quan trọng của dịch vụ sinh thái của các hệ sinh thái tại đây lại không được chú trọng thực hiện - một trong những

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Nghiêm Thị Phượng

XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN BỐ VÀ ĐÁNH GIÁ DỊCH VỤ SINH THÁI CỦA CÁC HỆ SINH THÁI THUỘC HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Nghiêm Thị Phượng

XÂY DỰNG BẢN ĐỒ PHÂN BỐ VÀ ĐÁNH GIÁ DỊCH VỤ SINH THÁI CỦA CÁC HỆ SINH THÁI THUỘC HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60420120

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐOÀN HƯƠNG MAI

Hà Nội - 2016

Trang 3

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo, cán bộ nhân viên trong Phòng thí nghiệm Sinh thái học và Sinh học Môi trường đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập làm khóa luận

Tôi xin cảm ơn Đề tài mã số QG.16.13 của Đại học Quốc gia Hà Nội đã tài trợ kinh phí thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ, nhân dân huyện Đà Bắc, Hòa Bình đã giúp

đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực địa

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình cùng bạn bè về sự động viên, hỗ trợ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu của tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Học viên Nghiêm Thị Phƣợng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC BẢNG 6

DANH MỤC HÌNH 7

MỞ ĐẦU 8

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG NGHIÊN CỨU HỆ SINH THÁI 10

1.1.1 Khái niệm hệ sinh thái 10

1.1.2 Cấu trúc và chức năng hệ sinh thái 12

1.1.3 Dịch vụ sinh thái 14

1.1.4 Phân loại dịch vụ sinh thái 16

1.2 SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HỆ SINH THÁI TẠI VIỆT NAM 17

1.2.1 Đa dạng các hệ sinh thái của Việt Nam 17

1.2.2 Các nghiên cứu về hệ sinh thái ở Việt Nam 21

CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 24

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.2.1 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa (thu thập số liệu sơ cấp) 25

2.2.2 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu (số liệu thứ cấp)…… 26

2.2.3 Phương pháp phân tích không gian 27

Trang 5

2.2.4 Phương pháp phân loại hệ sinh thái 27

2.2.5 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) 28

2.3.6 Phương pháp phân tích dịch vụ sinh thái của các hệ sinh thái 29

2.3.7 Phương pháp lập bản đồ phân bố các hệ sinh thái 29

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI HUYỆN ĐÀ BẮC 31

3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đà Bắc 31

3.1.2 Tình hình kinh tế – xã hội huyện Đà Bắc 34

3.1.3 Tài nguyên thiên nhiên và thực trạng môi trường 41

3.1.4 Đánh giá những lợi thế và hạn chế của huyện Đà Bắc 42

3.2 ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG SINH HỌC CÁC HỆ SINH THÁI HUYỆN ĐÀ BẮC 44

3.2.1 Hệ sinh thái đô thị 44

3.2.2 Hệ sinh thái nông thôn… 46

3.2.3 Hệ sinh thái vườn nhà: các loại cây ăn quả 46

3.2.4 Hệ sinh thái nông nghiệp: lúa nước, cây hàng năm, nương rẫy 51

3.2.5 Hệ sinh thái rừng trồng 54

3.2.6 Hệ sinh thái rừng tự nhiên (trên núi đất, núi đá vôi) 56

3.2.7 Hệ sinh thái đất trống, đồi núi trọc 59

3.2.8 Hệ sinh thái trảng cây bụi, cỏ 61

3.2.9 Hệ sinh thái hang động 62

3.2.10 Hệ sinh thái ao, hồ 64

3.2.11 Hệ sinh thái sông 66

3.2.12 Hệ sinh thái suối 69

Trang 6

3.2.13 Hệ sinh thái khác: công nghiệp, 71

3.3 THÀNH LẬP BẢN ĐỒ CÁC HỆ SINH THÁI CỦA HUYỆN ĐÀ BẮC… 71

3.4 ĐÁNH GIÁ CÁC DỊCH VỤ SINH THÁI CỦA CÁC HỆ SINH THÁI CHÍNH HUYỆN ĐÀ BẮC 74

3.5 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG, QUẢN LÝ HỆ SINH THÁI HUYỆN ĐÀ BẮC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ – XÃ HỘI… 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 85

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân loại dịch vụ sinh thái……… 16 Bảng 1.2 Phân loại các kiểu hệ sinh thái (ecosystem types) ở Việt

Nam…… 20 Bảng 3.1 Diện tích hiện nay của các hệ sinh thái ở huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa

Bảng 3.2 Dịch vụ sinh thái của các hệ sinh thái chính và mức độ quan trọng của

Trang 9

Hình 3.13 Đồi trọc tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc 60

Hình 3.15 Hang động ở xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc 63 Hình 3.16 Hồ nuôi cá lồng ở xã Tiền Phong, huyện Đà Bắc 65 Hình 3.17 Một đoạn sông Đà chảy qua xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc 67 Hình 3.18 Một đoạn suối Láo bên cạnh ngầm suối Láo 70 Hình 3.19 Bản đồ hiện trạng các hệ sinh thái huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa

Bình (Tỉ lệ 1 : 50 000)

72

Trang 10

MỞ ĐẦU

Huyện Đà Bắc nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hòa Bình, là một huyện vùng cao điển hình của vùng Tây Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 90 km, và cách thành phố Hòa Bình 20 km Đây là địa bàn cư trú của 5 dân tộc: Mường, Tày, Dao, Thái và Kinh Với độ cao trung bình 560m so với mặt nước biển, Đà Bắc là một huyện vùng cao, có địa hình đồi, núi, sông, suối xen kẽ tạo thành nhiều dải hẹp bị cắt phá mạnh mẽ nên đất có độ dốc lớn Đà Bắc có những điều kiện tự nhiên tương đối đặc thù Mặc dù là huyện có diện tích lớn nhất nhưng diện tích đất nông nghiệp lại chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu là đất rừng, người dân chủ yếu làm lâm - nông nghiệp, ít ngành nghề nên kinh tế chưa phát triển Nhận định một cách khách quan thì huyện Đà Bắc có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên sinh thái và xã hội để có thể đẩy mạnh phát triển hơn Tuy nhiên cho đến nay những kế hoạch được áp dụng tại huyện nhằm cải cách, phát triển kinh tế - xã hội vẫn chưa cho hiệu quả rõ rệt Nguyên nhân là do huyện chưa có nhận định đúng về hiện trạng tổng quan, hay xác định chính xác được tiềm năng, thế mạnh của huyện để tập trung phát triển

Đáng chú ý hơn là những nghiên cứu về các hệ sinh thái và phân tích tầm quan trọng của dịch vụ sinh thái của các hệ sinh thái tại đây lại không được chú trọng thực hiện - một trong những nghiên cứu không thể thiếu để đưa ra định hướng phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra, theo thống kê mới gần đây nhất về các công trình nghiên cứu về các hệ sinh thái trong địa bàn huyện Đà Bắc thì vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về sự thay đổi diện tích các hệ sinh thái tại huyện Những nghiên cứu khoa học về huyện Đà Bắc hiện nay chưa có nhiều, chưa có cơ sở dữ liệu giúp các nhà quản lý có những biện pháp thích hợp cho công tác quy hoạch phát triển định hướng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên

Với mục tiêu giúp huyện có tầm nhìn bao quát và chính xác hơn về các hệ sinh thái khu vực cũng như có kết quả phân tích dịch vụ sinh thái giúp khai thác triệt để giá trị của dịch vụ sinh thái của các hệ sinh thái đem lại để có quy hoạch hợp

lý và kế hoạch hiệu quả nhằm định hướng cho sự phát triển kinh tế – xã hội, đề tài:

Trang 11

“Xây dựng bản đồ phân bố và đánh giá dịch vụ sinh thái của các hệ sinh thái

thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình” được thực hiện với các mục tiêu chính như

sau:

1 Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học của các hệ sinh thái tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng bản đồ hiện trạng phân bố các hệ sinh thái trong khu vực nghiên cứu

2 Phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng và mức độ quan trọng của các dịch

vụ sinh thái của các hệ sinh thái chính trong khu vực huyện Đà Bắc

3 Đề xuất một số giải pháp sử dụng, quản lý hệ sinh thái theo định hướng phát triển bền vững kinh tế - xã hội cho huyện Đà Bắc

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.1 Khái niệm hệ sinh thái

Hệ sinh thái (HST) như những đơn vị chức năng trong sinh giới, các hoạt động của nó nói riêng hay toàn bộ sinh quyển nói chung làm cho thế giới ngày nay ngày càng phát triển và trở nên ổn định vững chắc Mọi cá thể, mọi quần thể, quần

xã sinh vật và những thành viên sống cấu trúc nên HST cũng được thừa hưởng những thành quả đó để phát triển và tiến hoá không ngừng Con người, đương nhiên cũng là một trong những thành viên của HST

HST là tổ hợp của một quần xã sinh vật với môi trường vật lý mà quần xã đó tồn tại, trong đó các sinh vật tương tác với nhau và với môi trường để tạo nên chu trình vật chất (chu trình sinh-địa-hoá) và sự chuyển hóa của năng lượng [7] Ví dụ:

ao, hồ, một khu rừng, một con sông, thậm chí một vùng biển là những HST điển hình

Khái niệm trên gồm 2 phần: nguyên nhân và hệ quả Nguyên nhân cơ bản là

sự phối hợp của sinh vật với môi trường và sự tác động qua lại giữa chúng Hệ quả quan trọng là từ sự phối hợp và tác động qua lại lẫn nhau đó nên các tác nhân ở các bậc dinh dưỡng có sự trao đổi năng lượng và vòng tuần hoàn vật chất từ sinh vật đến thiên nhiên rồi trở lại sinh vật Như vậy HST bao gồm các sinh vật sống và các điều kiện tự nhiên (môi trường vật lý) như ánh sáng, nước, nhiệt độ, không khí Điều quan trọng là tất cả các điều kiện hữu sinh (biotic component) và vô sinh (abiotic component) tác động tương hỗ với nhau và giữa chúng luôn xảy ra quá trình trao đổi năng lượng, vật chất và thông tin [6]

HST lại trở thành một bộ phận cấu trúc của một HST duy nhất toàn cầu hay còn gọi là sinh quyển (Biosphere)

HST được nghiên cứu từ lâu và vì vậy, khái niệm này đã ra đời ở cuối thế kỷ

Trang 13

thứ XIX dưới các tên goị khác nhau như “Sinh vật quần lạc” (Dakuchaev, 1846, 1903; Mobius,1877) Sukatsev (1944) mở rộng khái niệm “Sinh vật quần lạc” thành khái niệm “Sinh vật địa quần lạc hay Sinh địa quần lạc” (Biogeocenose) [24] Thuật ngữ “Hệ sinh thái” (Ecosystem) được A Tansley nêu ra vào năm 1935 [24] và trở thành phổ biến, được sử dụng rộng rãi nhất vì nó không chỉ bao hàm các HST tự nhiên mà cả các HST nhân tạo, kể cả con tàu vũ trụ Thuật ngữ hệ sinh thái của A Tansley còn chỉ ra nhũng hệ cực bé (Microecosystem), đến các hệ lớn như một khu rừng, cánh đồng rêu (Tundra), biển, đại dương và hệ cực lớn như sinh quyển

Vũ Trung Tạng (2003) đã định nghĩa HST như sau: “HST là tổ hợp của một quần xã sinh vật với môi trường vật lý mà quần xã đó tồn tại, trong đó các sinh vật tương tác với nhau và với môi trường để tạo nên chu trình vật chất và sự chuyển hóa năng lượng” [7]

HST luôn là một hệ động lực hở và tự điều chỉnh, bởi vì trong quá trình tồn tại và phát triển, hệ phải tiếp nhận cả nguồn vật chất và năng lượng từ môi trường Điều này làm cho HST hoàn toàn khác biệt với các hệ thống vật chất khác có trong

tự nhiên

Bản thân HST hoàn chỉnh và toàn vẹn như một cơ thể, cho nên tồn tại trong

tự nhiên, hệ cũng có một giới hạn sinh thái xác định Trong giới hạn đó, khi chịu một tác động vừa phải từ bên ngoài, hệ sẽ phản ứng lại một cách thích nghi bằng cách sắp xếp lại các mối quan hệ trong nội bộ và toàn thể hệ thống phù hợp với môi trường thông qua những “mối liên hệ ngược” để duy trì sự ổn định của mình trong điều kiện môi trường biến động Tất cả những biến đổi trong hệ xảy ra như trong một “hộp đen” mà kết quả tổng hợp của nó là “sự trả lời” (hay “đầu ra”) tương ứng với những tác động (hay “đầu vào”) lên hệ thống Trong sinh thái học người ta gọi

đó là quá trình “nội cân bằng”

Những tác động quá lớn, vượt ra khỏi sức chịu đựng của hệ, hệ không thể tự điều chỉnh được và cuối cùng bị suy thoái rồi bị hủy diệt

Trang 14

Các HST, do đó, được đặc trưng bởi đặc điểm cấu trúc và sự sắp xếp các chức năng hoạt động của mình một cách xác định Cấu trúc của hệ phụ thuộc vào đặc tính phân bố trong không gian giữa các thành viên sống và không sống, vào đặc tính chung của môi trường vật lý cũng như sự biến đổi của các gradient thuộc các điều kiện sống (như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ cao…) theo chiều thẳng đứng và theo chiều nằm ngang Tổ chức các hoạt động chức năng của hệ được thiết lập phù hợp với các quá trình mà chúng đảm bảo cho vật chất được quay vòng và năng lượng được biến đổi [6] Do hoạt động của hệ trước hết là của quần xã sinh vật, các nguyên tố hoá học di chuyển không ngừng dưới dạng các chu trình để tạo nên các hợp chất hữu cơ từ các chất khoáng và nước, còn năng lượng từ dạng nguyên khai (quang năng - ánh sáng Mặt Trời) được chuyển thành dạng năng lượng hóa học (hoá năng) chứa trong cơ thể thực, động vật thông qua các quá trình quang hợp (ở thực vật) và đồng hóa (ở động vật) rồi chuyển đổi thành nhiệt thông qua quá trình hô hấp của chúng [7] Chính vì lẽ đó, bất kỳ một hệ thống nào của động, thực vật và vi sinh vật với các điều kiện thiết yếu của môi trường vật lý, dù rất đơn giản, như một phần

tử phế liệu (Detritus) chẳng hạn, hoàn thành một chu trình sống hoàn chỉnh thì đều

được xem là một HST thực thụ

1.1.2 Cấu trúc và chức năng hệ sinh thái

Một HST điển hình được cấu trúc bởi các thành phần cơ bản sau đây:

- Sinh vật sản xuất (Producer – P);

- Sinh vật tiêu thụ (Consumer – C);

- Sinh vật phân hủy (Decomposer – D);

- Các chất vô cơ (CO2, O2, H2O, CaCO3 );

- Các chất hữu cơ (protein, lipid, glucid, vitamin, enzym, hoocmon…);

- Các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, lượng mưa )

Trang 15

Thực chất, 3 thành phần đầu chính là quần xã sinh vật, còn 3 thành phần sau

là môi trường vật lý mà quần xã đó tồn tại và phát triển [6, 7]

Sinh vật sản xuất (Producer - P) là những sinh vật tự dưỡng (autotrophy), gồm các loài thực vật có màu xanh và một số nấm, vi khuẩn có khả năng quang hợp hoặc hóa tổng hợp Chúng là thành phần không thể thiếu được trong bất kỳ HST hoàn chỉnh nào Nhờ hoạt động quang hợp và hóa tổng hợp của chúng mà nguồn thức ăn ban đầu được tạo thành để nuôi sống, trước tiên chính những sinh vật sản xuất sau đó, nuôi sống cả thế giới sinh vật còn lại, trong đó kể cả con người

Sinh vật tiêu thụ (Consumer - C) là những sinh vật dị dưỡng (heterotrophy) bao gồm tất cả các loài động vật và những vi sinh vật không có khả năng quang hợp

và hóa tổng hợp, nói một cách khác, chúng tồn tại được là dựa vào nguồn thức ăn ban đầu do các sinh vật tự dưỡng tạo ra Tuỳ theo đặc điểm tiêu thụ của chúng, được chia ra:

- Sinh vật tiêu thụ bậc 1 (C1): bao gồm những loài động vật ăn thực vật

- Sinh vật tiêu thụ bậc 2 (C2): Bao gồm sinh vật ăn thịt, sử dụng sinh vật tiêu thụ bậc 1 làm thức ăn

- Sinh vật tiêu thụ bậc 3 và bậc 4 (C3 và C4) có thể là sinh vật ăn thịt, sử dụng sinh vật tiêu thụ bậc 2 làm thức ăn Cũng có thể là ký sinh trùng sống ký sinh trên sinh vật tiêu thụ bậc1 hoặc bậc 2 hoặc động vật ăn xác chết

Sinh vật phân hủy (Decomposer - D) là tất cả các vi sinh vật dị dưỡng, sống hoại sinh (saprophy) Trong quá trình phân hủy các chất, chúng tiếp nhận nguồn lượng hóa học để tồn tại và phát triển, đồng thời giải phóng các chất từ các hợp chất phức tạp ra môi trường dưới dạng những khoáng chất đơn giản hoặc các nguyên tố hóa học ban đầu tham gia vào chu trình (như CO2, O2, N2 )

Ngoài cấu trúc theo thành phần, HST còn có kiểu cấu trúc theo chức năng Theo E.D Odum (1978), cấu trúc của HST gồm các chức năng sau [6]:

- Quá trình chuyển hóa năng lượng của hệ;

Trang 16

- Xích thức ăn trong hệ;

- Các chu trình sinh địa hóa diễn ra trong hệ;

- Sự phân hóa trong không gian và theo thời gian;

- Các quá trình phát triển và tiến hoá của hệ;

- Các quá trình tự điều chỉnh

Một HST cân bằng là một hệ trong đó 4 quá trình đầu tiên đạt được trạng thái cân bằng động tương đối với nhau Sự cân bằng của tự nhiên, nghĩa là mối quan

hệ của quần xã sinh vật với môi trường vật lý mà quần xã đó tồn tại được xác lập và

ít thay đổi từ năm này đến năm khác, chính là kết quả cân bằng của 4 chức năng nêu trên trong các HST lớn [7]

Một hệ thống mới trong quá trình phát triển sẽ đạt đến trạng thái cân bằng ổn định, phải sau một thời gian dài tiến hoá thích nghi, trong đó bao gồm sự phát triển tương hỗ của các thành phần cấu trúc Mỗi một chức năng của hoạt động chức năng lại chứa đựng các phần cấu trúc riêng [7]

Do tính cấu trúc đa dạng như thế, HST ngày càng hướng đến trạng thái cân bằng ổn định và tồn tại vô hạn khi không chịu những tác động mạnh, vượt quá ngưỡng chịu đựng của mình

Cấu trúc và chức năng của HST thay đổi theo không gian và thời gian, vì vậy, cần thay đổi theo không gian và thời gian khi đánh giá, lập bản đồ và quản lý HST

Trong một khu vực nghiên cứu có thể tốt hoặc kém hơn so với các khu vực khác do sự khác nhau về thành phần đất và chế độ thủy văn Mỗi điều kiện này quy định sự hình thành những loài động vật hay thực vật nhất định Ở khu vực không gian rộng hơn, nhiệt độ và gradient độ ẩm thay đổi theo vĩ độ, độ cao Sự thay đổi theo không gian rộng lớn thể hiện sự phong phú của môi trường mà sự thay đổi này ảnh hưởng đến cảnh quan của vùng, cấu trúc chức năng của HST [7]

Trang 17

1.1.3 Dịch vụ hệ sinh thái

Hệ sinh thái (HST) có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống con người thông qua việc cung cấp các dịch vụ Các nhà sinh thái học đã xác định 4 nhóm dịch

vụ sinh thái (DVST) mà các HST cung cấp [29], bao gồm:

- Dịch vụ cung cấp: thực phẩm, nước sạch, nguyên liệu, chất đốt, nguồn gen…

- Dịch vụ điều tiết: phòng hộ đầu nguồn, hạn chế lũ lụt, điều hoà khí hậu, điều tiết nước, lọc nước, thụ phấn, phòng chống dịch bệnh…

- Dịch vụ văn hoá: giá trị thẩm mỹ, quan hệ xã hội, giải trí và du lịch sinh thái, lịch sử, khoa học và giáo dục…

- Dịch vụ hỗ trợ: cấu tạo đất, điều hoà dinh dưỡng…

HST cung cấp cho xã hội dịch vụ đa dạng và phong phú – từ nguồn nước sạch ổn định cho đến đất sản xuất và hấp thụ cacbon Con người, các công ty và xã hội đều dựa vào những dịch vụ này – khai thác nguồn nguyên liệu đầu vào, quá trình sản xuất và điều tiết khí hậu Tuy nhiên hiện nay nhiều HST chưa được định giá đúng mức hoặc không có giá trị kinh tế nào cả Do quyết định hàng ngày được đưa ra chỉ ưu tiên làm sao để thu được lợi nhuận tài chính ngay lập tức, hàng loạt cấu trúc và chức năng của HST đều bị định giá thấp hơn giá trị thực của nó

Thuật ngữ DVST được sử dụng trong dự thảo Luật Đa dạng sinh học và khung chính sách thí điểm của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn “DVST là các lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp mà con người hưởng thụ từ các chức năng của HST” được mô tả trong tài liệu Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ năm 2005 [29] Bản báo cáo đã xác định danh mục các loại hình DVST cung cấp như: sản phẩm lương thực, thực phẩm (như lúa gạo, vật nuôi, thủy hải sản ); các cây công nghiệp (như bông, gỗ, gai dầu ); các nguồn dược liệu; cung cấp nguồn nước; điều hòa

Trang 18

không khí; điều tiết nguồn nước; hạn chế xói mòn; các dịch vụ văn hóa (bao gồm cả tinh thần và tôn giáo, các giá trị thẩm mỹ, giải trí, du lịch sinh thái ) Cũng theo báo cáo, khoảng 60% DVST trên thế giới đang bị suy thoái hoặc khai thác, sử dụng không bền vững

1.1.4 Phân loại dịch vụ hệ sinh thái

Các dịch vụ hệ sinh thái – việc cung cấp tài nguyên thiên nhiên và các chức

năng của hệ sinh thái nhằm tạo ra các hàng hoá và dịch vụ có giá trị về kinh tế và môi trường (Hướng dẫn tài chính cho hoạt động bảo tồn, 2002)

Dựa vào vai trò, chức năng khác nhau của hệ sinh thái, các nhà sinh thái học

đã phân thành 4 nhóm chức năng hay 4 loại dịch vụ của hệ sinh thái với mục đích khác nhau về kinh tế - xã hội, bao gồm:

Bảng 1.1 Phân loại dịch vụ hệ sinh thái

- Điều tiết lũ lụt / thoát dòng chảy

- Điều tiết dịch bệnh

- Phòng hộ đầu nguồn

- Bảo trì chất lượng / Lọc nước

- Điều hòa / Ổn định khí hậu

- Điều tiết dịch bệnh

- Giữ trầm tích

- Điều hòa / Ổn định khí hậu

- Bảo trì chất lượng / Lọc nước

- Hấp thụ CO2

- Thụ phấn

Trang 19

- Năng suất sinh học

- Tái tạo chất dinh dƣỡng

- Sản xuất cơ bản

- Năng suất sinh học

- Tái tạo chất dinh dƣỡng

1.2.1 Đa dạng các hệ sinh thái của Việt Nam

Đa dạng hệ sinh thái (HST) là một trong ba dạng của Đa dạng sinh học (ĐDSH) và ít đƣợc nhắc đến khi nghiên cứu về ĐDSH vì nó khó và hơn nữa, cách tiếp cận để điều tra nghiên cứu nó chƣa đƣợc các nhà khoa học sinh thái quan tâm nhiều

Định nghĩa do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế - WWF (1989) quan niệm rằng: “Đa dạng sinh học (ĐDSH) là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng

Trang 20

triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và

là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” Theo Công ước ĐDSH thì “ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các HST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái

mà chúng tạo nên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các HST (đa dạng HST)” Do vậy, ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng HST Từ ba góc độ này, người ta có thể tiếp cận với ĐDSH ở cả ba mức độ: mức độ phân tử (gen), mức độ cơ thể và mức độ HST (IUCN, 1994) Trong đó, đa dạng HST là sự phong phú về trạng thái và tần số của các HST khác nhau [8] Đa dạng HST có các đặc trưng khác với 2 cấp độ đa dạng còn lại như sau:

- Có quan hệ chặt chẽ với đa dạng loài, lý do là mỗi kiểu HST đều có đa dạng loài riêng: ở cạn khác ở nước, ở vùng nhiệt đới khác ở vùng ôn đới, ở rừng khác ở đồng cỏ, ở sông khác ở hồ…;

- Khi nói đến đa dạng HST là nói đến cả sự đa dạng về các yếu tố môi trường;

- Đa dạng HST liên quan đến quần xã sinh vật trong khi đó đa dạng loài liên quan đến quần thể sinh vật và đa dạng di truyền liên quan đến các cá thể;

- Bảo tồn đa dạng HST với đối tượng chính là cả một HST còn bảo tồn đa dạng loài chỉ với đối tượng là loài hay quần thể;

- Đa dạng HST dẫn đến đa dạng cảnh quan, các sinh cảnh, các tổ sinh thái, các nơi ở của sinh vật… vì các đơn vị này đều có liên quan đến HST

- Đa dạng HST là đối tượng nghiên cứu của các nhà sinh thái học trong lúc

đó đa dạng loài là đối tượng nghiên cứu của các nhà động vật học, thực vật học, vi sinh vật học, và đa dạng di truyền là đối tượng nghiên cứu của các nhà di truyền học, sinh học phân tử;

Trang 21

- Nghiên cứu đánh giá và giám sát đa dạng HST, cảnh quan đòi hỏi phải thực hiện trong một thời gian dài vì đây là hệ thống phức tạp, lớn

- Cách diễn đạt đa dạng HST, cảnh quan thông thường hiện nay là sử dụng các bản đồ, các ảnh, trong lúc đó đa dạng loài là danh lục, đa dạng gen là các sơ đồ phân tích điện di

HST được định nghĩa là một hệ thống bao gồm các sinh vật cùng chung sống với nhau (quần xã sinh vật) và môi trường của chúng (sinh cảnh) Thí dụ như HST

hồ Tây là hệ thống gồm tất cả các sinh vật sống ở hồ Tây và các điều kiện môi trường nước của hồ Tây Rõ ràng hơn, đa dạng HST tại một địa điểm, một vùng nào

đó là tất cả các HST tại địa điểm, vùng đó; đó là các kiểu HST ở cạn cũng như ở nước Nếu chúng có nhiều và rất khác nhau thì là ĐDSH cao hoặc ngược lại

Việc xác định các HST ở ngoài thiên nhiên khó khăn nhất là khi phải xác định ranh giới giữa 2 HST gần kề nhau hoặc cùng ở cạn hoặc cùng ở nước Cách tiếp cận để phân biệt là dựa vào thành phần các loài của quần xã, các loài chỉ thị và các yếu tố môi trường Mỗi HST đều có đa dạng loài riêng Loại hình thực bì là một tiêu chí quan trọng để phân loại các HST trên cạn Tác giả Phan Kế Lộc (1986) đã phân biệt ở Việt Nam có 26 loại hình thực bì trên cạn

Do xác định ranh giới các HST trên cạn ở tự nhiên khó khăn nên Whittaker (1970) đề xuất nên phân ra 4 mức đa dạng HST theo kích thước diện tích cần đánh giá Đa dạng điểm là mức nhỏ nhất tiếp đến là đa dạng alpha, rồi đến đa dạng gamma và cuối cùng là đa dạng epsilon tương đương với vùng địa lý sinh học [25]

Một công việc khi đánh giá đa dạng HST là việc phân loại các kiểu HST, hay còn gọi là sự tổng hợp sắp xếp các HST vào cùng một kiểu để thuận lợi cho việc so sánh các HST cùng kiểu với nhau Các nghiên cứu này trên thế giới tuy đã xuất hiện nhưng còn chưa nhiều, ở Việt Nam có thể nói là mới xuất hiện trong những năm gần đây, điển hình là tác giả Mai Đình Yên (2011) qua nghiên cứu đã được công bố “Hệ sinh thái (Ecosystem): Định nghĩa, tính chất và các kiểu HST ở Việt Nam” Trong

Trang 22

nghiên cứu này, tác giả Mai Đình Yên đã phân loại các kiểu HST ở Việt Nam như sau [8]:

Bảng 1.2 Phân loại các kiểu hệ sinh thái (ecosystem types) ở Việt Nam

A Hệ sinh thái trên cạn B Hệ sinh thái ở nước

I Các HST nhân tạo:

1 HST đô thị / khu công nghiệp

2 HST nông thôn / nông nghiệp

Trang 23

4 HST đồng cỏ

5 HST savan / đất hoang / cây bụi

6 HST đồi cát ven biển

+ Rừng trên núi đá vôi

+ Rừng thường xanh trên núi cao và

17 HST đại dương / đáy biển sâu

Nguồn: Hệ sinh thái (Ecosystem): Định nghĩa, tính chất và các kiểu HST ở Việt Nam [8]

Trên đây, tác giả Mai Đình Yên (2011) đã chỉ ra các kiểu HST có ở Việt Nam gồm có 9 kiểu HST ở cạn và 17 kiểu HST ở nước Tại các vùng, các khu vực cụ thể,

ta sẽ có các kiểu HST khác nhau – đây chính là ĐDSH về các HST

Để thể hiện các kiểu HST có mặt tại một địa điểm hay một vùng nào đó là xây dựng các bản đồ hiện trạng các HST và với phương pháp thông thường hiện nay

là viễn thám và hệ thống thông tin địa lý

Trang 24

1.2.2 Các nghiên cứu về hệ sinh thái tại Việt Nam

Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa

dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các miền Đặc điểm đó là cơ sở rất thuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lượng Có thể nói, Việt Nam là một quốc gia có mức độ

đa dạng các HST cao so với các quốc gia trong khu vực hay các quốc gia có cùng diện tích Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, mức độ ĐDSH của các HST ở Việt Nam có nhiều thay đổi theo thời gian

Các công trình nghiên cứu về HST tại Việt Nam đã được công bố nhiều và cũng tập trung ở nhiều khía cạnh khác nhau như định nghĩa, tính chất các HST, vai trò các HST, hiện trạng sử dụng và mức độ suy thoái của HST, bảo tồn và phát triển bền vững các HST… có thể kể đến một số nghiên cứu như sau: “Phục hồi hệ sinh thái rừng gắn với phát triển kinh tế - xã hội: Thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam” của Võ Thanh Sơn, Phùng Tửu Bôi (2012); “Tiếp cận dịch vụ hệ sinh thái và đánh đổi giữa các dịch vụ hệ sinh thái hướng tới phát triển bền vững” của Hoàng Văn Thắng, Trần Chí Trung (2012); “Tiếp cận liên ngành dựa trên hệ sinh thái trong phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu” của Trương Quang Học (2013);

“Phân tích biến động theo không gian và thời gian của các hệ sinh thái đất ngập nước ở Vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định bằng kỹ thuật viễn thám và GIS” của Hồ Thanh Hải, Hoàng Thị Thanh Nhàn, Trần Anh Tuấn (2015);…

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về Đa dạng các HST tại Việt Nam mới xuất hiện trong những năm gần đây Tác giả tiêu biểu trong nghiên cứu về đa dạng các HST tại Việt Nam là GS TS Mai Đình Yên với một số công trình nghiên cứu như sau: “Hệ sinh thái (Ecosystem): Định nghĩa, tính chất và các kiểu HST ở Việt Nam” (2011) [8] và “Đánh giá tổng quan về ĐDSH các HST của Hà Nội” [9] …

Bên cạnh mức nghiên cứu HST nêu trên, việc nghiên cứu các đơn vị qui mô không gian rộng hơn của các HST “cơ sở” là các vùng sinh thái và khu sinh thái

Trang 25

cũng đã thu hút nhiều tác giả tiếp cận vấn đề này Nếu ta coi các HST như ao, hồ, khu rừng, cánh đồng là các HST “cơ sở” thì khu sinh thái bao gồm các HST “cơ sở” mang tính chất đồng nhất hoặc ít hoặc nhiều Nhiều HST “cơ sở” giống nhau tạo thành khu sinh thái và nhiều khu sinh thái tạo thành vùng sinh thái Các tiếp cận này rất hữu ích trong công tác qui hoạch sử dụng đất đai, khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ tài nguyên Một số công trình và kết quả nghiên cứu tiêu biểu ở cách tiếp cận này như:

- T Kawai (1975) đưa ra ở Đồng bằng sông Cửu Long có 8 khu sinh thái (tác giả vẫn gọi là HST) [25]

- GS TS Mai Đình Yên (1994) phân Việt Nam có tất cả 10 vùng sinh thái

và 38 khu sinh thái [8]

- WWF (2001) phân vùng Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam có 4 vùng sinh thái

- “Phân vùng sinh thái nông nghiệp” của Trần An Phong (1998) [10]

- “Phân vùng sinh thái kiến trúc” của Đỗ Hậu (2002)

Ngày nay, việc nghiên cứu về HST nói chung cũng như đa dạng các HST nói riêng đã thu hút rất nhiều sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh tham gia nghiên cứu Đây đều là những công trình nghiên cứu cơ bản đóng góp cho tổng quan sinh thái học tại Việt Nam

Ở Việt Nam, có thể nói hầu hết các nghiên cứu về ĐDSH của các HST đều tập trung để giải quyết mối quan hệ giữa con người và tự nhiên dựa trên các nguyên

lý sinh thái Các vấn đề chủ yếu tập trung được giải quyết đó là phát triển bền vững, môi trường, bảo tồn…

Những công trình nghiên cứu này đã và đang khẳng định vai trò quan trọng của đa dạng HST trong phát triển kinh tế – xã hội của nước ta, cụ thể là sử dụng, khai thác, bảo tồn các HST hướng tới mục tiêu là đời sống kinh tế - xã hội của

Trang 26

người dân, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, những nhu cầu về quy hoạch, tổ chức sản xuất trên những lãnh thổ nhỏ càng trở nên cấp thiết

Trang 27

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các hệ sinh thái (HST) và các dịch vụ sinh thái

(DVST) của các HST ở huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu là khu vực huyện Đà Bắc thuộc tỉnh Hòa Bình (tọa độ địa lý: 21°11′ B - 20°75′ B, 104°85′ Đ - 105°31′ Đ) Huyện Đà Bắc là một huyện miền núi đặc trưng của Tây Bắc Việt Nam, cách thành phố Hà Nội khoảng 90 km và cách thành phố Hòa Bình khoảng 20 km Huyện bao gồm 1 thị trấn Đà Bắc và 19 xã (Cao Sơn, Đoàn Kết, Đồng Chum, Đồng Nghê, Đồng Ruộng, Giáp Đắt, Hào Lý, Hiền Lương, Mường Chiềng, Mường Tuổng, Suối Nánh, Tân Minh, Tân Pheo, Tiền Phong, Toàn Sơn, Trung Thành, Tu Lý, Vầy Nưa, Yên Hòa)

Huyện Đà Bắc tiếp giáp với:

- Tỉnh Phú Thọ về phía Bắc;

- Các huyện Cao Phong, Mai Châu, Tân Lạc (tỉnh Hòa Bình) về phía Nam;

- Thành phố Hòa Bình về phía Đông;

- Tỉnh Sơn La về phía Tây

Huyện là địa bàn cư trú của 5 dân tộc: Mường, Tày, Dao, Thái và Kinh Với

độ cao trung bình 560m so với mặt nước biển, Đà Bắc là một huyện vùng cao nên điều kiện tự nhiên tương đối đặc thù, có địa hình đồi, núi, sông, suối xen kẽ tạo thành nhiều dải hẹp bị cắt phá mạnh mẽ nên đất có độ dốc lớn Mặc dù là huyện có diện tích lớn nhất nhưng diện tích đất nông nghiệp lại chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu là đất rừng

Trang 28

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

(Ảnh: ArcGIS 10.2 - Đề tài QG.16.13, 2016)

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong nghiên cứu này được

Trang 29

Tất cả các số liệu, tư liệu đã được ghi chép lại cẩn thận và được cung cấp bởi

đề tài QG.16.13 Bước đầu là thực hiện các chuyến đi thực địa xuống tất cả 19 xã của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình nhằm khảo sát khu vực nghiên cứu, thu thập thông tin và tư liệu ảnh, phỏng vấn một số cán bộ làm việc tại UBND huyện và xã, Phòng Tài nguyên huyện và các xã, Ban Quản lý khu du lịch cũng như đối chiếu những số liệu sẵn có với thực tế khu vực nghiên cứu Dựa trên cơ sở ấy để đánh giá

sơ bộ các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hoạt động phát triển, các yếu tố môi trường, sinh thái cảnh quan và các hệ sinh thái, cũng như các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, địa hình – địa mạo, khí hậu, các dạng tài nguyên,… Đồng thời đánh giá hiện trạng tác động của con người trong quá trình sinh sống và khai thác: khai thác tài nguyên, trồng rừng, làm đầm nuôi, khai thác thủy sản, hệ thống tưới tiêu,…

Phương pháp nghiên cứu thực địa đã giúp kiểm chứng lại những tài liệu đã

có, bổ sung những thông tin hiểu biết chưa chính xác đồng thời thu thập và tổng hợp được ý kiến của cộng đồng dân cư cũng như khách du lịch có mặt tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình trong khoảng thời gian thực hiện nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu (số liệu thứ cấp)

Tài liệu nghiên cứu riêng về huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình thì chưa nhiều, hầu như là chưa có nghiên cứu nào đánh giá riêng về huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các loại tài liệu, số liệu về huyện Đà Bắc, chủ yếu là các báo cáo thường kỳ, thường niên về điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, địa chất, địa hình – địa mạo, khí hậu – thủy văn, thổ nhưỡng,…, các số liệu về kinh tế xã hội như: dân số, diện tích, thành phần lao động, hiện trạng sử dụng đất,…, các thông tin về quá trình biến động kinh tế - xã hội, dân số,… theo quý, theo năm,… [12-18] Ngoài ra, việc thu thập các

số liệu thứ cấp còn bao gồm các báo cáo hàng năm của xã, huyện, các nghiên cứu

đã công bố, các tài liệu, dữ liệu cơ bản, sách, báo, các báo cáo Hội nghị khoa học

Trang 30

của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan về các dịch vụ sinh thái, các hệ sinh thái thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình v.v…

Đây là phương pháp khá phổ biến và mang lại hiệu quả cao trong quá trình nghiên cứu Trong nghiên cứu này, thông qua việc tiếp xúc, làm việc với các cơ quan chức năng để thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến nội dung của đề tài Tất cả các số liệu, tài liệu sau khi thu thập được thống kê và tổng hợp, phân tích để đưa ra bức tranh tổng quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương

2.2.3 Phương pháp phân tích không gian

Phương pháp viễn thám: Sử dụng các tư liệu viễn thám để nghiên cứu, đánh giá tổng quát những vùng lãnh thổ rộng lớn trong mối tương tác của các hợp phần bao gồm cả tự nhiên và kinh tế xã hội, đồng thời xác định ranh giới các HST trong

vùng nghiên cứu [Đinh Thị Bảo Hoa, 2006]

Phương pháp giải đoán ảnh vệ tinh bằng mắt: Trong việc xử lý thông tin viễn thám thì giải đoán bằng mắt (visual interpretation) là công việc đầu tiên [Nguyễn Thành Long, 1993] Cơ sở để giải đoán bằng mắt dựa trên các dấu hiệu đoán đọc trực tiếp hoặc gián tiếp và chìa khóa giải đoán Luận văn đã áp dụng phương pháp này để giải đoán ảnh vệ tinh của huyện Đà Bắc hỗ trợ cho phân loại HST

Phương pháp GIS: Hệ thông tin địa lý với vai trò không chỉ tích hợp các bản

đồ lại với nhau mà còn là công cụ tích hợp nhiều nguồn thông tin [Đinh Thị Bảo Hoa, 2006] Sử dụng phần mềm ArcGIS để số hóa sau khi đã giải đoán xong ảnh vệ

tinh và xây dựng bản đồ hiện trạng các HST [1]

2.2.4 Phương pháp phân loại hệ sinh thái

Các hệ sinh thái trên Trái Đất cùng với muôn loài là nguồn giá trị kinh tế, môi trường và văn hóa của loài người Dựa vào vai trò, chức năng khác nhau của hệ sinh thái, các nhà sinh thái học đã phân thành 4 nhóm chức năng hay 4 loại dịch vụ của hệ sinh thái với mục đích khác nhau về kinh tế - xã hội

Trang 31

Sử dụng tài liệu: “Hệ sinh thái (Ecosystem): Định nghĩa, tính chất và các

kiểu hệ sinh thái ở Việt Nam” của Mai Đình Yên, 2011 [8] với vai trò là khóa phân

loại để phân loại và chỉ ra các kiểu hệ sinh thái ở khu vực nghiên cứu

2.2.5 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)

PRA là một phương pháp hệ thống bán chính qui được tiến hành ở một địa điểm cụ thể bởi một nhóm liên ngành và được thiết kế để thu thập được những thông tin cần thiết và những giả thuyết cho sự phát triển nông thôn Mục tiêu của phương pháp là xã hội có thể chấp nhận, có hiệu quả kinh tế, và hệ sinh thái phát triển bền vững PRA giả định rằng sự tham gia tích cực của các cộng đồng địa phương vào suốt các tiến trình của các chương trình/đề án phát triển nông thôn là

yếu tố quyết định sự thành công [Trần Thanh Bé, 1999 Đánh giá nhanh nông thôn

với sự tham gia của người dân (Tài liệu tập huấn - PRA Trà Vinh)]

Nghiên cứu tại thực địa áp dụng phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) nhằm thu thập các thông tin định tính cũng như định lượng để qua

đó có thể hiểu rõ hơn những lợi ích mà các dịch vụ sinh thái mang lại mà cộng đồng người dân được hưởng, cũng như hiểu được các hành động của dân địa phương nhằm đối phó với hoàn cảnh

Một loạt các công cụ của phương pháp PRA đã được sử dụng như phỏng vấn qua bảng hỏi, lịch mùa vụ, ma trận xếp thứ hạng, quan sát, thảo luận nhóm

Trước khi tiến hành điều tra, phỏng vấn và thảo luận tại các thôn xã, nhóm nghiên cứu đã có các buổi làm việc với lãnh đạo và đại diện các ban ngành của huyện và xã Trong các buổi làm việc, các thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và những lợi ích của các dịch vụ sinh thái đã được tìm hiểu và thu thập Tác giả đã tiến hành thảo luận với các lãnh đạo huyện và xã về các vấn đề liên quan Tại các buổi thảo luận với lãnh đạo và các ban ngành liên quan, đề tài sẽ lựa chọn ra các hộ đại diện để tiến hành điều tra, phỏng vấn tại các xã Phương pháp phỏng vấn bán định hướng được sử dụng trong quá trình trao đổi và thu thập thông

Trang 32

tin Các hộ dân được chính quyền huyện và xã lựa chọn sao cho đảm bảo có đại diện của các loại hộ dân với điều kiện kinh tế khác nhau Các cuộc họp cũng như phỏng vấn sâu cũng sẽ được tổ chức tại xã và huyện, tỉnh với sự tham gia của các sở

và phòng ban có liên quan nhằm có được bức tranh tổng thể về tình hình hiện trạng

và phân bố của các hệ sinh thái Quan sát hiện trường để phân tích, tìm hiểu và đánh giá vấn đề nghiên cứu

2.2.6 Phương pháp phân tích dịch vụ sinh thái của các hệ sinh thái

Là quá trình phân tích, đánh giá các giá trị của các thành phần tài nguyên, môi trường của các HST Để xác định được vai trò của các HST đối với con người, các nhà sinh thái học thế giới trong tài liệu “Đánh giá Hệ sinh thái Thiên niên kỷ”

đã đánh giá qua các dịch vụ sinh thái, đối với mỗi HST cụ thể các dịch vụ được phân ra 4 nhóm chính: nhóm sản xuất hàng hóa, nhóm điều tiết, nhóm hỗ trợ và nhóm văn hóa xã hội – mỗi nhóm gồm có các dịch vụ với giá trị khác nhau [29] Trong nghiên cứu này, cách cho điểm về mức quan trọng của từng dịch vụ sinh thái được chia theo 4 mức độ: 0 = không quan trọng; 1 = thấp; 2 = vừa; 3 = cao

Cách cho điểm này mang tính “chủ quan” của cá nhân dựa trên các hiểu biết

về các DVST của HST và có tham khảo ý kiến của các chuyên gia

2.2.7 Phương pháp lập bản đồ phân bố các hệ sinh thái

Mục tiêu của việc xây dựng bản đồ phân bố các hệ sinh thái là “tư liệu hóa” các kết quả thu thập được nhằm có được bức tranh toàn cảnh về phân bố và đặc điểm hiện trạng các hệ sinh thái ở huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình [3]

Bản đồ hiện trạng các hệ sinh thái huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình được xây dựng từ ảnh vệ tinh Phương pháp lập bản đồ hiện trạng các hệ sinh thái là xử lý dữ liệu ảnh vệ tinh, phân tích, giải đoán các hệ sinh thái và lập bản đồ các hệ sinh thái trong GIS [Đinh Thị Bảo Hoa, 2006]

Trang 33

Bước 2: Giải đoán các hệ sinh thái [1], [3]

- Kết hợp số liệu thu thập, tài liệu khảo sát thực địa, thông qua khóa giải đoán và sử dụng phương pháp luận bằng mắt, các HST rừng tự nhiên, HST vườn nhà, HST rừng trồng… được giải đoán trên ảnh vệ tinh → Xây dựng bản đồ chuyên

đề

Bước 3: Xây dựng bản đồ chuyên đề [1], [3]

- Các kết quả giải đoán được số hóa chuyển sang định hướng dạng dữ liệu địa lý và không gian (dữ liệu GIS) để biên tập và xây dựng thành các bản đồ chuyên

đề thông qua sử dụng phần mềm ArcGIS

- Xây dựng bản đồ: Trong môi trường GIS, các bản đồ được xây dựng ở dạng số trên cơ sở thông tin chiết tách từ dữ liệu viễn thám và khảo sát thực tế Kết quả tổng hợp các thông tin được thể hiện trên bản đồ nền tạo ra bản đồ chuyên đề phân bố hiện trạng các HST

- Tính toán diện tích: Sử dụng phần mềm ArcGIS để tính toán diện tích các

hệ sinh thái

Trang 35

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI HUYỆN ĐÀ BẮC

3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đà Bắc

Vị trí địa lý:

Huyện Đà Bắc là một huyện miền núi đặc trưng của Tây Bắc Việt Nam, cách thành phố Hà Nội khoảng 90 km và cách thành phố Hòa Bình khoảng 20 km Huyện Đà Bắc tiếp giáp với các huyện Cao Phong, Mai Châu, Tân Lạc (tỉnh Hòa Bình) về phía Nam; với thành phố Hòa Bình về phía Đông; với tỉnh Phú Thọ ở phía Bắc và với tỉnh Sơn La ở phía Tây [21]

Diện tích và dân số:

Huyện Đà Bắc có diện tích tự nhiên lớn nhất so với các huyện, thành phố khác trong tỉnh Hoà Bình Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 782 km2 (chiếm 17,6% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh), trong khi đó, dân số trung bình là 53.160 người (chiếm 6,4% dân số cả tỉnh), mật độ dân số 68 người/km2 (bằng 0,4 lần mật

độ dân số toàn tỉnh) [22]

Đặc điểm địa hình:

Đà Bắc là một huyện miền núi điển hình, nằm ở độ cao trung bình 560m, có nhiều ngọn núi cao trên 1.000m so với mực nước biển, Đà Bắc có địa hình núi, đồi, sông, suối xen kẽ tạo thành nhiều dải hẹp, độ chia cắt lớn, độ dốc bình quân 35o[21] Địa hình nơi đây mang đặc trưng kiểu địa hình núi cao trung bình, chủ yếu là núi đá vôi, trong đó có những núi cao trên 1.000m như: Phu Canh (1.373m), Phu Xúc (1.373m), Đức Nhân (1.320m), Biều (1.162m)

Khí hậu:

Huyện Đà Bắc nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, thời tiết

ôn hòa, mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa khô lạnh kéo dài từ tháng 11 năm trước

Trang 36

đến tháng 4 năm sau và mùa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10

Nhiệt độ trung bình là 23,5oC, nhiệt độ cao nhất khoảng 38 - 39oC, nhiệt

độ thấp nhất là 12oC Lượng mưa trung bình là 1.570 mm/năm, nhưng tập trung chủ yếu vào khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 (chiếm 79% lượng mưa cả năm) Độ ẩm trung bình cao 81-84% [21]

Hầu hết các xã trong huyện đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của gió tây khô nóng, xuất hiện từ tháng 6 đến tháng 9, có kỳ xảy ra trong 2 - 3 ngày, bình quân 5 - 10 ngày trong 1 năm Vào mùa mưa, ở huyện thường xảy ra những đợt lũ quét phá hoại đường sá, hoa màu

và diện tích ruộng lúa nước [22]

Đất đai:

Huyện Đà Bắc có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh Hoà Bình nhưng diện tích đất nông nghiệp lại chiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu là đất rừng Trong khi đó, diện tích đất lâm nghiệp của Đà Bắc lớn thứ hai toàn tỉnh Hoà Bình với 50.662 ha chiếm 65,12% (trong đó, khu bảo tồn rừng Phu Canh có diện tích trên 500 ha), đất nông nghiệp 3.537 ha chiếm 4,55%, đất phi nông nghiệp 8.556 ha chiếm 11%, đất nuôi trồng thuỷ sản và đất nông nghiệp khác 100,6 ha chiếm 1,3%, đất chưa sử dụng 14.934 ha chiếm 19,2%) [21]

Địa chất:

Quá trình hình thành đất đai trong địa bàn huyện chịu tác động của các kiến tạo địa hình Fansipan và Sầm Nưa Do các quá trình cacxto và trầm tích mạnh, phần lớn đất đai của huyện được hình thành từ các đá mẹ có nguồn gốc đá vôi, đá mẹ sa thạch, phiến thạch, diệp thạch Đất có tầng dày trung bình 50 - 80 cm, riêng ở các thung lũng, đất có tầng dày trên 1m, thành phần cơ giới từ trung bình đến nhẹ [22] Trong khu vực của huyện rải rác có những cao nguyên rộng lớn, khá bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, phù hợp với việc quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nhất là với các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp, cây dược liệu… như cây luồng, quế, hồng, chè tuyết, chăn nuôi bò sữa

Trang 37

Thủy văn:

Hệ thống thủy văn của huyện Đà Bắc nằm trọn trong lưu vực sông Đà (chiều dài sông Đà chảy qua địa phận huyện là 70 km), nên chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ thủy văn của sông Đà Lưu lượng bình quân cả năm 1.602 m3/s của sông

Đà là nguồn nước phong phú, đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt của toàn huyện [22]

Huyện cũng tương đối dồi dào có các dòng suối lớn như Suối Tuổng, Suối Chum, Suối Trầm, Suối Láo, Suối Nhạp… Ngoài việc xây dựng các hồ giữ nước phục vụ nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân, nơi đây còn có thể xây dựng các trạm thuỷ điện, nhà máy thuỷ điện như nhà máy thủy điện Suối Nhạp (xã Đồng Ruộng) để tạo ra năng lượng điện thương phẩm

Nguồn nước ngầm chưa được điều tra đánh giá đầy đủ, nhưng qua khảo sát một số điểm cho thấy mực nước ngầm về mùa khô có độ sâu dưới 5m Với lợi thế gần nguồn nước sông Đà, huyện Đà Bắc có thể tận dụng để phát triển giao thông đường thủy, nuôi trồng thủy sản và du lịch lòng hồ

Khoáng sản:

Ở huyện Đà Bắc, nguồn tài nguyên khoáng sản không được đánh giá cao Huyện có nguồn đá vôi, đá granit là nguyên liệu phục vụ cho sản xuất vật liệu xây dựng Ngoài ra, qua khảo sát bước đầu, cũng đã phát hiện được một số quặng bôxit

và photphorit Huyện Đà Bắc có một số mỏ như mỏ quặng sắt Suối Chuồng (xã Tu

Lý, xã Cao Sơn), mỏ quặng sắt (xã Tân Pheo, xã Đoàn Kết), mỏ đá phấn xã Tân Minh [22] nhưng tất cả vẫn chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ

Tài nguyên du lịch:

Tài nguyên du lịch tự nhiên của huyện Đà Bắc khá phong phú, hấp dẫn với nhiều địa danh thu hút như suối Láo, hang Mưa, hang Sưng xã Cao Sơn, hang Sấm

Trang 38

xã Toàn Sơn; động Hương Lý (xã Tu Lý); rừng, núi Biều, hang Lỗ Làn, vịnh Hiền

Lương tại xã Hiền Lương…

Kết luận: Huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình là một huyện miền núi đặc trưng của Tây

Bắc Việt Nam Đà Bắc nằm ven hồ Hòa Bình, với địa thế vừa có núi non, vừa có hồ, vừa có rừng và có sự phong phú, đa dạng của các nền văn hóa của năm dân tộc anh

em, thời tiết ôn hòa, lại cách thủ đô Hà Nội không xa nên Đà Bắc có tiềm năng và lợi thế lớn trong phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Tuy nhiên, huyện cũng gặp phải những khó khăn đặc trưng của các huyện miền núi như thời tiết, khí hậu

không có lợi cho sản xuất, giao thông, khó khăn trong tiếp thu giáo dục, thông tin…

3.1.2 Tình hình kinh tế – xã hội huyện Đà Bắc

Tình hình kinh tế:

Trong những năm qua, nền kinh tế của Đà Bắc có nhiều bước phát triển đáng kể, mức sống của nhân dân được cải thiện, đời sống vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân được tăng lên không ngừng

Nhịp độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1991 - 2000 đạt 11,7%, trong đó nông nghiệp là 12,7%, công nghiệp - xây dựng là 16,3%, dịch vụ - thương mại là 14,7% Năm 2000, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người đạt 1,6 triệu đồng/người, bằng 78% so với bình quân chung của toàn tỉnh, bằng 45,5% so với cả nước [12] Đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn huyện là 19,4 triệu đồng/người/năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế 14,5% Trong đó nông, lâm, ngư nghiệp đóng vai trò chủ đạo của nền kinh tế với mức tỉ lệ là 43,7% (2015); tiếp đến

là cơ cấu ngành dịch vụ, thương mại và du lịch 38,4%, còn lại là nhóm ngành công nghiệp, xây dựng và tiểu thủ công nghiệp (17,9%) [16]

Đối với một huyện vùng cao còn nhiều khó khăn thì đây là một thách thức không nhỏ để tiến tới thu hẹp dần khoảng cách phát triển so với cả nước Tuy nhiên,

so với điều kiện thực tế của huyện thì sự phát triển như vậy là có bước chuyển biến

Trang 39

theo hướng tích cực Ở Đà Bắc, sản xuất nông nghiệp vẫn đóng vai trò chính trong

cơ cấu kinh tế nông lâm, ngư nghiệp Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm

2002 đạt 21.574 tấn Diện tích trồng lúa cả năm là 1.638 ha, năng suất bình quân là 43,83 tạ/ha Diện tích trồng ngô đạt 3.766 ha, năng suất đạt 25,9 tạ/ha [12] Trong giai đoạn 2010-2015, tổng diện tích cũng như sản lượng lương thực quy thóc trên

địa bàn toàn huyện liên tục tăng

Về diện tích gieo trồng và năng suất các cây lương thực của huyện: Nhìn

chung, diện tích và năng suất các cây lương thực tăng đều đặn qua các năm, năm sau cao hơn năm trước Năng suất trung bình đạt khoảng 3,1 - 3,4 tấn/ha/năm [17]

Do áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đồng thời đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, sử dụng giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt nên trên địa bàn huyện đã dần hình thành các vùng sản xuất lương thực chuyên canh có diện tích lớn tại các xã Tu Lý, Hào Lý, các vùng sản xuất ngô tập trung ở Tiền Phong, Cao Sơn, Yên Hòa, Mường Tuổng, Hiền Lương, Suối Nánh Duy trì mô hình sản xuất giống lúa nông hộ tại các xã Tu Lý

và Mường Chiềng; phối hợp thực hiện mô hình trồng khoai sọ tại xã Toàn Sơn và mô hình trồng giống dong riềng có triển vọng tại các xã Cao Sơn và xã Tân Minh

Phát huy lợi thế phát triển cây ăn quả, nhiều gia đình đã mạnh dạn cải tạo vườn tạp sang chuyên canh, xây dựng mô hình trang trại theo hướng sản xuất hàng hóa, trồng

mơ, mận (ở các xã vùng cao), nhãn, vải, na, bưởi (ở các xã vùng thấp) Mô hình trồng bưởi đỏ tại xã Cao Sơn được thực hiện nhằm thăm dò khả năng thích nghi của cây bưởi

đỏ với địa hình, khí hậu và thổ nhưỡng nơi đây, nếu phù hợp thì mô hình này có thể nhân

rộng ra các xã khác trong huyện

Về chăn nuôi: Ngành chăn nuôi Đà Bắc chú trọng phát triển theo hướng chăn

nuôi đại gia súc (trâu, bò) cung cấp sức kéo và tăng sản lượng thực phẩm cung cấp ra thị trường Số lượng trâu, bò, lợn và gia cầm biến động nhẹ qua các năm liên quan và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thiên tai, dịch bệnh Số lượng trâu bò giảm trong giai đoạn từ năm 2012-2014 do lúc này thời tiết có những biến đổi bất thường, nhiều dịch bệnh thường xuyên xảy ra Năm 2011, thời tiết có những diễn biến phức tạp, rét đậm, rét hại kéo dài

Trang 40

trong nhiều ngày, hạn hán, mưa bão xảy ra đã gây ảnh hưởng rất lớn đến các kết quả sản

xuất nông nghiệp nói chung trong đó ngành chăn nuôi cũng chịu thiệt hại không nhỏ

Về thuỷ lợi và phòng, chống thiên tai: Năm 2015, huyện đã phê duyệt kế hoạch

phòng, chống thiên tai đến năm 2020 Công tác quản lý, khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi được thực hiện tốt, đảm bảo cung cấp đủ nước phục vụ sản xuất Phân bổ 6,5 tấn lúa giống để hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai năm 2014 và cấp 1.500 lít xăng để

hỗ trợ bơm nước chống hạn năm 2015 [15, 16] Hoàn thành chiến dịch toàn dân làm thủy lợi, kết quả: Phát dọn: 443.350 m2; đất đào đắp: 49.200 m3; xây, kè đá: 356 m3; huy động: 54.819 ngày công; giá trị ngày công 3,2 tỷ đồng [18] Từ tháng 4 đến nay mưa lớn kèm theo lốc đã làm sập hoàn toàn 05 nhà ở, tốc mái 60 nhà ở và 01 nhà văn hóa, lật chìm 06 thuyền, làm đổ gãy và cuốn trôi 17 ha lúa, 108,3 ha ngô, làm đổ gãy 5,2 ha mía

và 9.195 cây lâm nghiệp, đánh chìm 17 lồng cá và hỏng 02 bè vó, sạt lở một số tuyến

đường, v.v Ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 02 tỷ đồng [17]

Về nuôi trồng và khai thác thủy sản: Phát huy lợi thế mặt nước hồ Hòa Bình,

ngành thủy sản huyện Đà Bắc đã đẩy mạnh nuôi thả cá lồng, sản xuất thâm canh giống

cá có chất lượng cao như chép lai, cá trắm, trê lai, rô phi đơn tính Với các diện tích hồ, đầm tự nhiên, bà con tiến hành nuôi thả cá theo hướng tận dụng, quảng canh kết hợp với khai thác tự nhiên Mặc dù diện tích mặt nước thì ổn định, không tăng thêm nhưng sản lượng nuôi trồng vẫn tăng đều hàng năm Sản lượng trung bình năm trên toàn địa bàn huyện đạt khoảng từ 900 - 1020 tấn/năm

Về lâm nghiệp và trồng rừng: Diện tích đất lâm nghiệp toàn huyện tính đến năm

2001 là 29.248,36 ha, trong đó rừng tự nhiên là 23.309,8 ha, rừng trồng là 5.230,9 ha [22] Cho đến nay, độ che phủ của rừng trên địa bàn toàn huyện đạt khoảng 58% tổng diện tích tự nhiên (tài liệu chưa công bố của huyện Đà Bắc- điều tra mới nhất), tức là diện tích rừng chiếm hơn 40000 ha Diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh luôn được giữ ở mức ổn định 982,6 ha Tổng thu nhập từ lĩnh vực lâm nghiệp năm 2015 đạt 38,5 tỷ đồng, bằng 107% so với cùng kỳ, trong đó thu từ rừng trồng 10,5 tỷ đồng, thu từ lâm sản ngoài gỗ 28 tỷ đồng [16]

Ngày đăng: 20/07/2020, 02:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w