1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng dân chủ của phan bội châu với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở việt nam hiện nay

199 66 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung tác phẩm với 179 trang viết được tác giả phân làm 3 chương, 9 tiết, trong đó chương 1 với tiêu đề Điều kiện hình thành và phát triển tư tưởng triết học của Phan Bội Châu từ tra

Trang 1

-o0o -

LẠI VĂN NAM

TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU VỚI QUÁ TRÌNH DÂN CHỦ HÓA ĐỜI SỐNG

XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN N TI N S TRI T HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2019

Trang 2

-o0o -

LẠI VĂN NAM

TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU VỚI QUÁ TRÌNH DÂN CHỦ HÓA ĐỜI SỐNG

XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ hết sức quý báu của các tập thể và cá nhân

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng tri ân của tôi đến PGS,TS Lương Minh Cừ

đã tận tâm hướng dẫn tôi nghiên cứu và thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cám ơn tập thể quý thầy cô trong Khoa Triết học, Phòng Sau đại học Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ tôi trong qúa trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Tài Marketing, lãnh đạo Khoa Cơ bản, Khoa Lý luận chính trị đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án

chính-Xin được biết ơn sâu sắc gia đình, những người thân, bạn bè đồng nghiệp

đã luôn là nguồn động viên to lớn về mọi mặt để tôi hoàn thành luận án này

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2019

Nghiên cứu sinh

LẠI VĂN NAM

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Lương Minh Cừ Kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa được công bố Các tài liệu sử dụng trong luận án có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2019

Nghiên cứu sinh

LẠI VĂN NAM

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 16

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 16

6 Cái mới của luận án 16

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án 17

8 Kết cấu cơ bản của luận án 17

PHẦN NỘI DUNG 18

Chương 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU 18

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU 18

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu 18

1.1.2 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu 32

1.2 TIỀN ĐỀ VĂN HO , TƯ TƯỞNG HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU 46

1.2.1 Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam với sự hình thành tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu 46

1.2.2 Tinh hoa tư tưởng, văn hóa phương Đông và phương Tây với sự hình thành tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu 52

Kết luận chương 1 69

Chương 2 QU TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU 72

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU 72

Trang 6

2.1.2 Giai đoạn hoạt động ở nước ngoài - tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu

chịu ảnh hưởng của tư tưởng canh tân 78

2.1.3 Giai đoạn bị thực dân Pháp giam lỏng tại Huế (1925-1940) - tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu chịu ảnh hưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin 90

2.2 NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU 96

2.2.1 Quan điểm của Phan Bội Châu về nhà nước dân chủ 99

2.2.2 Quan điểm của Phan Bội Châu về các quyền và nghĩa vụ của công dân 107

Kết luận chương 2 123

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ, HẠN CH VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU 125

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHỦ Y U TRONG TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU 125 3.1.1 Tính chất quá độ trong tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu 125

3.1.2 Tính kế thừa và phát triển trong tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu 134

3.1.3 Tính nhân văn trong tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu 142

3.2 GIÁ TRỊ, HẠN CH VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ TRONG TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU 145

3.2.1 Giá trị và hạn chế trong tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu 145

3.2.2 Bài học lịch sử từ tưởng dân chủ của Phan Bội Châu với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay 162

Kết luận chương 3 179

K T LUẬN CHUNG 182

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 186

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC Đ CÔNG BỐ LIÊN QUAN Đ N ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 193

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình phát triển của xã hội, cùng với các yếu tố, các lĩnh vực khác như: kinh tế, văn hóa, khoa học, pháp luật, an ninh, quốc phòng… việc phát huy dân chủ có một vai quan trọng đối với sự tiến bộ của xã hội Bởi lẽ, dân chủ là chế độ chính trị trong đó toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua đại diện do nhân dân bầu ra, là yếu tố có ý nghĩa quyết định, đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của xã hội một cách ổn định và bền vững

Dân chủ không phải là sản phẩm của tự nhiên, nó là kết quả của quá trình phấn đấu, đấu tranh của các giai cấp, các lực lượng tiến bộ trong công cuộc chống áp bức, bất công trong xã hội Vì vậy trong lịch sử tư tưởng nhân loại, dân chủ là một trong những vấn đề luôn được quan tâm, với nhiều cách tiếp cận

khác nhau Lý luận về dân chủ là một tiến trình phát triển không ngừng, từ tư

tưởng chống bất bình đẳng, chống sự phân biệt đẳng cấp của Đức Phật và quan

điểm dân vi quý của Mạnh Tử, đến lý luận về dân chủ, dân quyền trong cuộc

cách mạng tư sản sau này… đều phản ánh khát vọng ngày càng mạnh mẽ của nhân dân và các lực lượng tiến bộ về một xã hội dân chủ hơn, công bằng hơn

Về thực hành dân chủ, dân chủ cũng là một quá trình phát triển, vận động

không ngừng với mô hình nhà nước dân chủ đầu tiên ở Aten, Hy Lạp vào cuối thế kỷ thứ VI đến đầu thế kỷ thứ V trước công nguyên cho đến nhà nước dân chủ tư sản ở các nước Phương Tây thì các thành tựu về dân chủ từng bước được thực thi, các giá trị về dân chủ và dân quyền trong đời sống xã hội ngày càng được khẳng định

Trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, kế thừa các giá trị phổ quát của nhân loại về dân chủ, V.I.Lênin đã không chỉ khẳng định dân chủ là quyền của nhân dân nói chung mà còn chỉ rõ dân chủ

là quyền làm chủ của đại đa số quần chúng nhân dân lao động, giai cấp vô sản, những người bị áp bức bất công, đặc biệt nhân dân lao động tại các nước thuộc địa Ông viết:

Trang 8

“Giai cấp vô sản không thể giành được thắng lợi bằng cách nào tốt hơn là thông qua chế độ dân chủ, nghĩa là bằng cách thực hiện chế độ dân chủ triệt để và đem những yêu sách dân chủ được đề ra một cách kiên quyết nhất mà gắn liền với từng giai đoạn đấu tranh của họ” (V.I.Lênin, 1987, Toàn tập, tập 27, tr 78 - 79)

Bằng sự hiểu biết sâu sắc về thực tiễn cách mạng Việt Nam, trên nền tảng tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông và Phương Tây, Hồ Chí Minh đã

để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản tư tưởng hết sức quý giá, trong đó có tư tưởng về dân chủ Người cho rằng: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ” (Hồ Chí Minh, 2011, Toàn tập, tập 9, tr.12); “Các cơ quan của chính phủ từ toàn quốc cho đến làng, đều là công bộphâc của nhân dân, nghĩa là gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải là để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật” (Hồ Chí Minh, 2011, Toàn tập, tập 4, tr 9)

Trải qua hơn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước do Đảng, Nhà nước và nhân dân ta khởi xướng, lãnh đạo và tiến hành, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực của xã hội Cùng với việc đổi mới và phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, Đảng và Nhà nước

ta rất quan tâm đến xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo

quyền làm chủ của nhân dân Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng xác định:

“Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tr 29) Quan điểm đề cao dân chủ cũng

đã được Đảng ta khẳng định rõ trong mục tiêu xây dựng chế độ xã hội ta là:

“Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr 70) Vì thế, trong quá trình thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã đạt được những tiến bộ to lớn, đáng ghi nhận: “Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy ngày càng tốt hơn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ đại diện

và dân chủ trực tiếp Nhiều cấp ủy, chính quyền đã lắng nghe, tăng cường tiếp

Trang 9

xúc, đối thoại với nhân dân, tôn trọng các ý kiến khác nhau” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.167); các quyền con người, quyền công dân về mọi mặt được công nhận, tôn trọng bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật; ý thức về quyền

và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ xã hội của nhân dân, ý thức về dân chủ trong chủ nghĩa xã hội tăng lên; việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn có tiến bộ; nhiều cấp ủy Đảng, chính quyền đã lắng nghe, tăng cường tiếp xúc, đối thoại với nhân dân, tôn trọng các ý kiến khác nhau (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr 167)

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, việc phát huy dân chủ ở nước ta trong những năm vừa qua, chưa thực sự đáp ứng tốt cho yêu cầu phát triển kinh tế -

xã hội: “Nhận thức về dân chủ trong bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế Tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, pháp luật còn tồn tại ở nhiều nơi Quyền làm chủ nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn vi phạm.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr 169) Những hạn chế trên đã và đang tác động tiêu cực đến công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, vì vậy đòi hỏi chúng ta “phải quyết tâm, nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr 75) nhằm xây dựng đất nước ta trở thành một đất nước: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan

hệ sản xuất tiến bộ ph hợp; có nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.70)

Để hoàn thành sứ mệnh có ý nghĩa lịch sử to lớn và cao cả đó, một mặt chúng ta cần phải biết tiếp thu có chọn lọc những giá trị về dân chủ tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại; mặt khác, chúng ta cũng cần phải biết kế thừa, phát huy những tinh hoa giá trị tư tưởng tốt đẹp trong việc đề cao vai trò của dân, “trọng dân”, “thân dân”, “khoan sức dân”… trong truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam, biến những giá trị đó trở thành động lực và sức sức mạnh tinh thần to lớn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, là một vấn

đề có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn vừa có tính thời sự cấp bách vừa mang tính chiến lược lâu dài

Trang 10

Dân tộc Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, luôn đề cao vai trò của nhân dân, dân là gốc Vì thế, dân chủ không chỉ đã góp phần khẳng định bản chất tốt đẹp của truyền thống văn hóa Việt Nam, mà còn

là một trong những nhân tố góp phần làm nên mọi thắng lợi của dân tộc Việt Nam Một trong những nhà tư tưởng, nhà cách mạng tiêu biểu của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trước Cách mạng Tháng tám là Phan Bội Châu (1867 - 1940), một chí sĩ yêu nước, nhà hoạt động chính trị tiêu biểu cho phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Sự nghiệp cứu nước không mệt mỏi của ông là tấm gương mãi tỏa sáng cho mọi thế hệ Việt Nam noi theo, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định ông là: “Bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng

xả thân vì độc lập dân tộc, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” (Hồ Chí Minh, 2000, Toàn tập, tập 2, tr 172) Phan Bội Châu không chỉ

để lại cho chúng ta tấm gương về lòng yêu nước đầy nhiệt huyết, tinh thần hy sinh vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân cao cả, mà còn để lại cho chúng ta những di sản tư tưởng to lớn trong nhiều lĩnh vực như triết học, chính trị, văn hóa,… trong đó, đặc biệt là tư tưởng về dân chủ; nổi bật là quan điểm của ông về nhà nước dân chủ mà bản chất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và các quyền và nghĩa vụ của nhân dân

Nếu bỏ qua những hạn chế về hoàn cảnh, điều kiện lịch sử, lập trường giai cấp thì tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu vẫn còn nguyên ý nghĩa và bài học lịch sử quý báu đối với quá trình thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay đó là: thực hiện dân chủ phải dựa trên cơ sở gắn với “dân quyền” và “quốc quyền”; thực hiện dân chủ phải xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu của lịch sử và thực tiễn đời sống xã hội; thực hiện dân chủ phải gắn với kỷ cương, pháp luật…

Cho nên, tác giả đã chọn vấn đề “Tư tưởng dân chủ của Phan Bội

Châu với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay” làm

đề tài luận án tiến sĩ triết học cuả mình

2 T ng quan t nh h nh nghi n c u đề t i

Phan Bội Châu là một trong những chí sĩ yêu nước và cũng là một trong những nhà tư tưởng lớn của Việt Nam thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Trang 11

Do vậy, cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Phan Bội Châu nói chung, những quan điểm thể hiện tư tưởng dân chủ trong tư tưởng của ông nói riêng, đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước với một số công trình ở các góc độ khác nhau Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về tư tưởng dân chủ trong tư tưởng của Phan Bội Châu ở các hướng chính sau:

Hướng th nhất, những công trình nghiên c u li n quan đến điều kiện và tiền đề h nh th nh tư tưởng của Phan Bội Châu Cuộc đời, sự

nghiệp và tư tưởng của Phan Bội Châu, trong đó có tư tưởng dân chủ chính là

sự phản ánh khá chân thực đặc điểm lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Vì thế, đã có các công trình, tác phẩm của các tác giả quan tâm tìm hiểu về bối cảnh lịch sử, về cuộc đời và sự nghiệp của ông Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này, có thể khái quát:

Một là, các công trình nghiên cứu những tiền đề kinh tế, xã hội xuất hiện

tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong đó có tư tưởng của

Phan Bội Châu Về chủ đề này, trước hết, đó là tác phẩm Phan Bội Châu và

thời đại ông, của G.Boudarel, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1997 đã

nghiên cứu một cách khá công phu về Phan Bội Châu Phương pháp chính được

sử dụng trong tác phẩm là sự kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic, nhằm đi sâu phân tích đặc điểm của xã hội Việt Nam về các mặt kinh tế - xã hội, tư tưởng trong bối cảnh lịch sử khu vực Đông Nam Á và thế giới Trong các công trình viết về Tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu

thế kỷ XX còn có cuốn Tư tưởng cải cách ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX của Lê Thị Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tác giả trình bày khá khái quát các điều kiện xuất hiện tư tưởng cải cách Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Tiếp đến là công trình Nghiên cứu Phan Bội Châu của Chương Thâu,

Nxb Chính trị quốc gia, 2004 Đây là công trình tập hợp các bài viết, các công trình nghiên cứu khoa học của tác giả trong hơn 40 năm Trong phần thứ nhất

công trình này với tựa đề Thân thế và sự nghiệp cứu nước của Phan Bội Châu

tác giả đã làm rõ bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng của Phan Bội Châu từ

Trang 12

hoàn cảnh quê hương, xứ sở cũng như hoàn cảnh chính trị - xã hội trong khu vực như Trung Hoa, Nhật Bản, lý giải được chủ trương làm cách mạng lẫn những thay đổi trong đường lối cứu nước của ông Bên cạnh đó còn có công

trình Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do

Trương Văn Chung, Doãn Chính (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2005; cũng như đề tài Tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

qua một số chân dung tiêu biểu, (Mã số: B2004-18b-06) do Vũ Văn Gầu làm

chủ nhiệm Thông qua một số nhà tư tưởng tiêu biểu giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong đề tài, các tác giả của đề tài trên đã phân tích nêu bật được những tiền đề xuất hiện tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX

Công trình Tư tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châu, Nxb

Chính trị quốc gia, 2006 của Nguyễn Văn Hòa Đây là công trình có nội dung phong phú trên khía cạnh tư tưởng triết học và tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu Nội dung tác phẩm với 179 trang viết được tác giả phân làm 3 chương, 9

tiết, trong đó chương 1 với tiêu đề Điều kiện hình thành và phát triển tư tưởng

triết học của Phan Bội Châu (từ trang 9 đến trang 57), tác giả đã đi sâu phân

tích ba tiền đề cơ bản trong việc hình thành tư tưởng của Phan Bội Châu: một

là, xuất phát tư điều kiện lịch sử xã hội ở Việt Nam và thế giới trong giai đoạn

nửa đầu thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX theo tác giả của công trình này thì đây là tiền đề có “ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết

học và chính trị của Phan Bội Châu” (Tư tưởng triết học và chính trị của Phan

Bội Châu, Nguyễn Văn Hòa, Nxb Chính trị quốc gia, 2006, tr 24); hay trong

luận án tiến sĩ Bước chuyển tư tưởng Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

- giá trị và bài học lịch sử của Phạm Đào Thịnh (2009), tác giả đã làm rõ ba vấn

đề: một là, tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử thế giới; những điều kiện kinh tế, chính

trị - xã hội, văn hóa, khoa học - kỹ thuật ở nước ta; những tiền đề lý luận và yếu

tố chủ quan của các nhà tư tưởng tạo nên bước chuyển tư tưởng chính trị Việt

Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; hai là, từ những tiền đề hình thành tư

tưởng chính trị, tác giả đã trình bày khái quát nội dung, đặc điểm của bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thông

Trang 13

qua tư tưởng của các nhà tư tưởng, các nhà cách mạng tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, và thông qua

trào lưu tư tưởng Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục; ba là, những tiền đề chủ

quan (như bản thân, gia đình, quê hương,…) cũng là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành tư tưởng của Phan Bội Châu

Hai là, các công trình nghiên cứu sự ảnh hưởng qua lại giữa tư tưởng dân

chủ của Phan Bội Châu đối với phong trào cách mạng cũng như những nhà tư tưởng khác, như: Ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ của Khổng Tử, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn đối với Phan Bội Châu, ảnh hưởng của cách mạng Trung Quốc đối với sự chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu Nội dung này không

thể không kể đến các tác phẩm và công trình: Phong trào dân tộc Việt Nam và

quan hệ của nó với Nhật Bản và châu Á; Tư tưởng của Phan Bội Châu về cách mạng thế giới của Shiraisi Masaya (bản dịch của Trần Sơn), Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2000 Nội dung trong tác phẩm được kết cấu thành 14 chương với gần 900 trang sách (nguyên bản) đã chứng tỏ đây là một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của tác giả về vấn đề này Chủ đề của công trình là nghiên cứu phong trào dân tộc Việt Nam, tác giả đặt trọng tâm vào việc xem xét đường lối, chủ trương hoạt động của Phan Bội Châu, chủ yếu trong thời kỳ Phan Bội Châu ở Nhật Bản để từ đó khái quát, phân tích những đặc điểm của phong trào đấu tranh của dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX

Ba là, các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của các tư tưởng phương

Đông, Phương Tây đối với sự hình thành tư tưởng của Phan Bội Châu như:

Công trình của Minh Anh (Hoàng Kim Kính), Tìm hiểu tư tưởng Khổng giáo

của Phan Bội Châu qua “Khổng học Đăng”, trong 40 năm Viện Triết học -

Một số kết quả nghiên cứu, Hà Nội, 2002, tr 216 - 221; hay trong bài viết, Tư

tưởng của Phan Bội Châu qua tác phẩm “Xã hội chủ nghĩa” đăng trong Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2005, trang 295 - 312), đã phân tích và nêu bật được giai đoạn chuyển biến quan trọng về tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng con người Việt Nam của Phan Bội Châu khi tiếp nhận ánh sáng của chủ nghĩa Mác -

Lênin; và tác phẩm Tư tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châu, Nxb

Trang 14

Chính trị quốc gia, 2006, tác giả Nguyễn Văn Hòa đã trình bày Cách mạng Tháng Mười Nga với bước đầu chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu

Như vậy, qua những công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu ở hướng thứ nhất, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã trình bày khá bao quát về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của ông, trong bối cảnh đặc biệt của lịch sử - xã hội thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, giúp chúng ta có cái nhìn khá toàn diện và sâu sắc về chân dung của một nhà yêu nước, nhà văn hóa, nhà chính trị và nhà tư tưởng lớn của Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - Phan Bội Châu Tuy nhiên, các công trình trên chưa tập trung trình bày, lý giải một cách hệ thống những đặc điểm về bối cảnh lịch sử, về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Phan Bội Châu, như năng lực, phẩm chất cá nhân Phan Bội Châu, truyền thống gia đình, quê hương và cuộc đời hoạt động cách mạng gian khổ, nhiệt thành của ông đã ảnh hưởng, ghi dấu ấn đến quá trình hình thành và nội dung tư tưởng dân chủ của ông như thế nào Mặt khác, các công trình trên cũng chưa đi sâu phân tích, chỉ ra Phan Bội Châu đã tiếp thu, kế thừa những tiền đề lý luận trước đó, như truyền thống tư tưởng và văn hóa dân tộc; quan điểm về dân và vấn đề nhân sinh của Nho, Phật; tư tưởng dân chủ tiến bộ Phương Tây, đặc biệt là ảnh hưởng, tiếp thu tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Mác, như thế nào trong những quan điểm dân chủ của ông Đây chính là những vấn đề trọng tâm mà nghiên cứu sinh cần tập trung nghiên cứu, trình bày, lý giải làm rõ trong luận án

Hướng th hai, những trình nghiên c u li n quan đến quá trình hình thành và nội dung tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu Về hướng nghiên

cứu này, có thể khái quát như sau:

Thứ nhất, là các công trình nghiên cứu khái quát, hệ thống, từng giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu Trước hết,

đó là tác phẩm Phan Bội Châu của Hoài Thanh, Nxb Văn hóa Hà Nội, năm

1978 Nội dung cuốn sách này được tác giả kết cấu thành 5 phần, thể hiện năm giai đoạn trong quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Phan Bội Châu

Đó là các giai đoạn hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu: Trước khi ra nước ngoài; Những năm đầu ở nước ngoài; Phong trào Đông Du tan rã và thời

Trang 15

gian Bạn Thầm; Hội Việt Nam Quang phục hội và thời gian bị cầm tù ở Quảng

Châu; Những năm cuối ở nước ngoài; Từ sau khi bị bắt về nước Điểm được coi

là dễ tiếp cận trong tác phẩm này, so với các công trình nghiên cứu c ng đề tài,

ở chỗ tác giả đã tiếp cận dưới góc độ văn học ngôn ngữ, thông qua việc phân tích, chứng minh, bình luận những tác phẩm thơ, văn, phú của Phan Bội Châu trong từng giai đoạn, để từ đó đúc rút ra những giá trị tư tưởng và đã thể hiện rõ

những bước chuyển trong cuộc đời và sự nghiệp của Phan Bội Châu

Nghiên cứu một cách khái quát và có tính hệ thống từng giai đoạn hình

thành, phát triển tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu còn có công trình Nghiên

cứu Phan Bội Châu của Chương Thâu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm

2004, đây là một cuốn sách tập hợp, tuyển chọn một số công trình trong gần 50 năm nghiên cứu của tác giả Nội dung của công trình này, được tập hợp thành

ba phần: Phần thứ nhất, với tiêu đề “Phan Bội Châu - Thân thế và sự nghiệp

cứu nước; Phần thứ hai, với tiêu đề “Giới thiệu một số tác phẩm của Phan Bội Châu”; Phần thứ ba, với tiêu đề “Một số bài chuyên khảo về Phan Bội Châu”

là tập hợp những bài viết giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu của Phan Bội

Châu như: Thiên hồ! Đế hồ!, xã hội chủ nghĩa, chủng diệt dư ngôn… đặc biệt

nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề con người của Phan Bội Châu, trong phần này

có bài giới thiệu tác phẩm Nhân sinh triết học (bài viết đã được đăng trên tạp

chí Triết học tháng 12 năm 1981), qua việc nghiên cứu tác phẩm này, tác giả đã

đi đến khẳng định: “Tư tưởng Phan Bội Châu về con người, là phần quan trọng nhất trong tư tưởng triết học của cụ” Thông qua tư tưởng về con người, với việc phân tích các quyền cơ bản của con người của Phan Bội Châu chúng ta cũng thấy được quan điểm dân chủ của ông Cùng với chủ đề này cũng có công

trình Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu, Nxb Nghệ An, 2005 Đây là

công trình của Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, để kỷ niệm 100 năm phong trào Đông Du Nội dung kết cấu của tác phẩm bao gồm ba phần chính:

một là, Phong trào Đông Du - những vấn đề chung; hai là, Nhân vật Đông Du;

ba là, Di sản văn hóa Đông Du Qua các tham luận của các nhà khoa học, có thể

thấy rằng các tác giả đều khẳng định phong trào Đông Du và nhà yêu nước, nhà cách mạng, nhà tư tưởng Phan Bội Châu đã giữ một vị trí và ý nghĩa rất quan

Trang 16

trọng, trong lịch sử dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX, như Đinh Xuân Lâm đã

khẳng định:

“Phan Bội Châu là người đứng đầu phái bạo động, nhưng đồng thời Cụ cũng là một nhà Nho duy tân tiêu biểu, suốt đời phấn đấu cho công cuộc vận động duy tân, tự cường dân tộc Có thể nói thêm rằng, đối với các sỹ phu “tân tiến” đầu thế kỷ XX của nước ta, thì “duy tân” và “bạo động”, là hai biện pháp để đạt mục tiêu chung, “duy tân” suy yếu đến cùng lại là mặt chủ yếu là sự chuẩn bị tích cực để tiến tới bạo động Vì vậy, có thể khẳng định Phan Bội Châu chính là ngọn cờ đầu trong phong trào Duy

tân nước ta hồi đầu thế kỷ XX”( Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu,

Nxb Nghệ An, 2005, tr.15)

Nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển tư tưởng dân chủ của

Phan Bội Châu, còn có tác phẩm Phan Bội Châu về tác giả và tác phẩm, của

Chương Thâu và Trần Ngọc Vương (giới thiệu và tuyển chọn), Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 2007 Nội dung của cuốn sách là tập hợp của 60 bài chuyên khảo và cảm nhận của các nhà khoa học trong nước và thế giới, với 156 trang cuốn sách

được phân làm ba phần: Phần một, “Người khổng lồ trong thế giới bề bộn”; Phần hai, “Phan Bội Châu - câu thơ dậy sóng”; Phần ba, “Những dấu ấn không

mờ” Đặc biệt, trong phần một của cuốn sách, các nhà khoa học đã có những

đánh giá sâu sắc, có giá trị về tư tưởng của Phan Bội Châu nói chung, và tư tưởng về “dân quyền”, “quốc quyền” cũng như về giải phóng con người của

Phan Bội Châu nói riêng

Thứ hai, là các công trình nghiên cứu nội dung tư tưởng của Phan Bội Châu Về chủ đề này phải kể đến các công trình như: Nhà yêu nước và nhà văn Phan Bội Châu của Lam Giang, Nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1959; Giai thoại Phan Bội Châu của Chương Thâu, Nxb Nghệ An - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ

Đông Tây, 2005 Ngoài các công trình trên, nghiên cứu về tư tưởng của Phan Bội Châu còn có các công trình khác được công bố trên các tạp chí chuyên

ngành như: Cụ Phan Bội Châu sinh năm nào?, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số

97, 1967; “Quá trình tiếp thu ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười của Phan

Bội Châu”, Tạp chí Triết học, số 4 (19), 1977; “Chủ trương phát triển kinh tế

Trang 17

của Phan Bội Châu trong cuộc vận động cách mạng đầu thế kỷ”, Tạp chí

Nghiên cứu lịch sử, số 5, 1978… Đặc biệt, trong công trình Phan Bội Châu con người và sự nghiệp của trường Đại học Khoa học xã hội Nhân văn Hà Nội,

Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1997, tập hợp các báo cáo của hội nghị khoa học, kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Phan Bội Châu Công trình khoa học này

đã tập hợp làm rõ nhiều vấn đề liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp cách mạng, tư tưởng và vai trò của Phan Bội Châu, đối với phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới Trong đó có các bài viết, công trình nghiên cứu về hoạt động ở nước ngoài của Phan Bội Châu; những đóng góp về văn hóa tư tưởng của Phan Bội Châu; một số tư liệu mới về Phan Bội Châu Nội dung của các tham luận công trình nêu trên đã khai thác nhiều khía cạnh quan trọng trong cuộc đời hoạt động yêu nước của Phan Bội Châu, về tư tưởng cũng như phương pháp cách mạng,

về ảnh hưởng to lớn của cụ Phan đối với thế hệ thanh niên yêu nước đương thời, các bài viết đều đã chỉ ra tinh thần đổi mới, ý thức duy tân sâu sắc của nhà

yêu nước Phan Bội Châu trong cuộc đời hoạt động và tư tưởng của ông

Như vậy, với hướng nghiên cứu thứ hai này, các nhà nghiên cứu đề cập khá sâu rộng, bao quát về nội dung tư tưởng của Phan Bội Châu, dưới nhiều góc

độ kể cả lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, các công trình trên mới chủ yếu tập trung nghiên cứu về nội dung tư tưởng của Phan Bội Châu nói chung, chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách tập trung, hệ thống vấn đề dân chủ trong

tư tưởng của ông Đây là vấn đề, là nhiệm vụ chính trong nội dung luận án, mà nghiên cứu sinh cần tiếp tục triển khai, thực hiện

Hướng th ba, những trình nghiên c u li n quan đến sự nhận định, đánh giá về những đặc điểm cơ bản, giá trị và bài học lịch sử trong tư tưởng của Phan Bội Châu nói chung v tư tưởng dân chủ nói riêng Về chủ

đề này có các công trình sau: Phan Bội Châu con người và sự nghiệp của

Trường Đại học Khoa học xã hội Nhân văn Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1997, là tập hợp các báo cáo của hội nghị khoa học kỷ niệm 130 năm ngày

sinh của Phân Bội Châu Công trình đã tập trung ba vấn đề: một là, hoạt động của nước của Phan Bội Châu; hai là, những đóng góp về văn hóa tư tưởng của Phan Bội Châu; ba là, một số tư liệu mới về Phan Bội Châu Nội dung của các

Trang 18

tham luận trong cuốn sách trên đã khai thác nhiều khía cạnh quan trọng trong cuộc đời hoạt động yêu nước của Phan Bội Châu, về tư tưởng cũng như phương pháp cách mạng, về ảnh hưởng to lớn của cụ Phan đối với thế hệ thanh niên yêu nước đương thời Đặc biệt các báo cáo đều đã chỉ ra tinh thần đổi mới, ý thức duy tân sâu sắc của nhà yêu nước Phan Bội Châu trong cuộc đời hoạt động và

tư tưởng của mình

Công trình Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách

mạng Tháng Tám, 3 tập của GS.Trần Văn Giàu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, xuất bản năm 1996,1997, 1998 Đây là công trình có tính tổng kết quá trình phát triển của tư tưởng Việt Nam qua ba hình thức, tạo ra sự chuyển biến, thay đổi về chất của tư tưởng Việt Nam; đó là: “Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử”; “Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó trước các nhiệm vụ lịch sử”; “Thành công của chủ nghĩa Mác - Lênin - tư tưởng

Hồ Chí Minh ở Việt Nam” Đặc biệt, trong chương thứ hai của tập 2, với tiêu đề

Phan Bội Châu - Nhà tư tưởng tiêu biểu ở đầu thế kỷ XX, tác giả đã trình bày

khá sâu sắc và khái quát những nội dung tư tưởng triết học của Phan Bội Châu,

tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu và quan điểm sử học của Phan Bội Châu Trong đó vấn đề con người, vấn đề dân chủ là một trong những chủ đề nổi bật trong tư tưởng của Phan Bội Châu Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “Không thấy ai đả động tới vấn đề con người bằng Sào Nam, riêng điều ấy cũng đủ chứng tỏ rằng tư tưởng cụ Phan cao hơn tư tưởng nhiều bạn đồng chí của mình”

(Trần Văn Giàu, 1997, t 2, tr.128)

Tác phẩm Phan Bội Châu - Nhà yêu nước, nhà văn hóa của Chương

Thâu, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, xuất bản năm 2012 Công trình gồm: phần thứ nhất, “Phan Bội Châu - nhà yêu nước - nhà văn hóa”; phần thứ hai,

“Tư tưởng Phan Bội Châu” và phần phụ lục I, “Thơ văn Phan Bội Châu (trích tuyển), phụ lục II Trong đó, tác giả đã khẳng định: “Việc Phan Bội Châu nhấn mạnh vào vị trí quan trọng nhất của nhân dân trong ba nhân tố tạo thành một nước, có thể nói là một sự phủ định quan niệm trước đó coi vua là gốc của nước

và hết thảy mọi sản vật, đất đai, sông núi, cho cả đến cư dân nữa cũng đều là của vua.” (Chương Thâu, 2003, tr 193)

Trang 19

Về hướng nghiên cứu này còn có bài viết “Phan Bội Châu - Nhà cách

mạng dân tộc, nhà yêu nước nhà tư tưởng dân chủ lớn nhất Việt Nam thế kỷ XX” của Trần Văn Giàu đã nhận định: “Chủ nghĩa của Phan Bội Châu là một

mức khá tiến bộ của chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu” (Phan Bội Châu về tác gia

tác phẩm, Chương Thâu và Trần Ngọc Vương (giới thiệu và tuyển chọn), Nxb

Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr 66), bởi vì, “chủ nghĩa của Phan Bội Châu trước hết

là yêu nước, mục đích của Cụ là cứu nước, cho nên tôn Cường Để làm minh chủ hay định lập cộng hòa, hay khuynh hướng theo “cách mạng thế giới” đều là

cách làm ngày càng gần chân lý để kiên trì đi đến độc lập” (Phan Bội Châu về

tác gia và tác phẩm, Chương Thâu và Trần Ngọc Vương (giới thiệu và tuyển

chọn), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr 54)

Trong luận án tiến sĩ Bước chuyển tư tưởng Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX

đầu thế kỷ XX - giá trị và bài học lịch sử của Phạm Đào Thịnh, năm 2009 tác

giả đã khái quát nội dung, đặc điểm của bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thông qua tư tưởng của các nhà tư tưởng, các nhà cách mạng tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, và thông qua trào lưu tư tưởng Duy tân, Đông Kinh Nghĩa Thục Trên cơ sở nội dung và đặc điểm tác giả đã rút ra giá trị và bài học lịch sử của bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX đối với nhận thức nói chung và công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay nói riêng

Luận án tiến sĩ Tư tưởng Phan Bội Châu về con người và ý nghĩa lịch sử

của nó của Cao Xuân Long, tác giả tập trung làm rõ các vấn đề: Một là, phân

tích những tiền đề hình thành tư tưởng Phan Bội Châu về con người Hai là, phân tích quá trình hình thành, phát triển và những nội dung chủ yếu trong tư tưởng về con người của Phan Bội Châu Ba là, rút ra giá trị, hạn chế và những ý nghĩa lịch sử đối với việc xây dựng và phát triển nguồn lực con người trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Trong công trình này, qua việc tác giả khẳng định tư tưởng về con người của Phan Bội Châu được hình thành trên cơ sở thực tiễn lịch sử của phong trào đầu tranh giải phóng dân tộc những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trên

Trang 20

cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu của tư tưởng dân tộc và tư tưởng tiến bộ trên thế giới về con người Tư tưởng của Phan Bội Châu về giải phóng con người, giải phóng dân tộc là tư tưởng cơ bản, cốt lõi xuyên suốt trong hệ thống tư tưởng của ông Nội dung trong tư tưởng của Phan Bội Châu về con người không chỉ làm rõ nguồn gốc, kết cấu, bản chất, vị trí, vai trò, nhân cách, đạo đức của con người và cách thức để con người làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội mà còn chỉ ra những phương pháp nâng cao giá trị con người cả

về năng lực, phẩm chất, lý tưởng sống Tư tưởng con người của Phan Bội Châu không chỉ có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người trong giai đoạn lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, mà nó còn có ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, đặc biệt là bài học về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở Việt Nam hiện nay

Về hướng nghiên này còn có luận án tiến sỹ Giá trị nhân văn trong tư

tưởng của Phan Bội Châu của Trịnh Kim Chi (2017), công trình gồm ba phần:

Cơ sở xã hội và tiền đề lý luận hình thành giá trị nhân văn của Phan Bội Châu; Nội dung giá trị nhân văn trong tư tưởng của Phan Bội Châu; Đặc điểm, ý nghĩa

và bài học lịch sử của giá trị nhân văn trong tư tưởng của Phan Bội Châu Trong

phần Cơ sở xã hội và tiền đề lý luận hình thành giá trị nhân văn của Phan Bội

Châu, tác giả đã nêu bật lên đặc điểm cơ sở xã hội hình thành tư tưởng nhân văn

của Phan Bội Châu đó là bối cảnh của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta, một giai đoạn chuyển biến đặc biệt từ một nước phong kiến tự chủ, độc lập sang một xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến với chính sách bình định

để cai trị của thực dân Pháp Cũng trong phần này, tác giả còn chỉ ra tư tưởng nhân văn của Phan Bội Châu là kết quả kế thừa lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng… lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình của dân tộc Việt Nam; Tư tưởng nhân văn của Phan Bội Châu còn là sự tiếp thu các tư tưởng nhân văn trong lịch sử tư tưởng Đông, Tây và đặc biệt là lý tưởng giải phóng con người của chủ nghĩa Mác-Lênin trên cơ sở giải quyết nhiệm vụ cấp bách lịch sử đặt ra là giành độc lập dân tộc, đem lại hạnh

phúc cho nhân dân Trong phần Nội dung giá trị nhân văn trong tư tưởng của

Trang 21

Phan Bội Châu, tác giả chỉ ra các nội dung cơ bản của giá trị nhân văn trong tư

tưởng của Phan Bội Châu đó là: Quan điểm đề cao bản chất, giá trị, nhân cách và quyền của con người, gắn liền với dân quyền, quốc quyền, độc lập, tự do, dân chủ, bình đẳng; quan điểm nhân ái, vị tha, yêu thương đồng bào, nhân dân, yêu quý giống nòi, lòng căm th giặc Pháp sâu sắc; Quan điểm giáo dục nhằm nâng cao trí tuệ, nhân cách, tinh thần dân tộc, lòng yêu nước cho người dân Việt Nam

lý tưởng giải phóng cho nhân dân và dân tộc Việt Nam, bằng các phương pháp

khác nhau Trong phần Đặc điểm, ý nghĩa và bài học lịch sử của giá trị nhân văn

trong tư tưởng của Phan Bội Châu, tác giả đã làm rõ đặc điểm nổi bật của giá trị

nhân văn của Phan Bội Châu đó là: sự thống nhất giữa văn hóa và chính trị; sự thống nhất giữa tính dân tộc và tính nhân loại, trong đó tư tưởng cốt lõi, đặc sắc, như sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đó là tinh thần yêu nước Ngoài ra, trong phần này tác giả còn khẳng định giá trị nhân văn của Phan Bội Châu không những góp phần làm phong phú, sâu sắc nội dung tư tưởng nhân văn nói chung và tinh thần, giá trị nhân văn của dân tộc Việt Nam nói riêng, mà còn góp phần khơi dậy lòng tin, nâng cao tinh thần yêu nước, hun đúc ý chí chiến đấu và là nguồn động lực tinh thần to lớn, cổ vũ toàn dân đoàn kết đứng lên cứu nước cứu nhà

Tóm lại, ở hướng nghiên cứu thứ ba, các nhà khoa học khi nghiên cứu về

tư tưởng của Phan Bội Châu đã đưa ra những nhận định, đánh giá khá sâu sắc khác nhau về đặc điểm, khuynh hướng và ý nghĩa lịch sử to lớn trong tư tưởng của Phan Bội Châu nói chung, vấn đề dân chủ trong tư tưởng của ông nói riêng Tiếp thu những kết quả nghiên cứu trên, trong luận án của mình, tác giả sẽ tập trung phân tích, đánh giá và rút ra từ các quan điểm dân chủ của Phan Bội Châu những đặc điểm, ý nghĩa và bài học lịch sử một cách khái quát và hệ thống, cả

về mặt lý luận và về mặt thực tiễn, nhất là với thực tiễn lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cũng như thực tiễn xây dựng, phát triển hoàn thiện nền dân chủ và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

Mục đích của luận án: Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu một cách hệ

thống nội dung và đặc điểm tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu, luận án nhằm

Trang 22

phân tích, đánh giá làm rõ những giá trị và hạn chế, rút ra những bài học lịch sử

từ tư tưởng dân chủ của ông đối với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ của luận án: Để đạt được mục đích trên, luận án phải thực

hiện các nhiệm vụ sau:

Một là, trình bày, phân tích làm rõ những điều kiện, tiền đề hình thành tư

tưởng dân chủ của Phan Bội Châu

Hai là, trình bày, phân tích quá trình hình thành, phát triển và những nội

dung cơ bản tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu

Ba là, phân tích, đánh giá những đặc điểm, giá trị, hạn chế trong tư tưởng

dân chủ của Phan Bội Châu và từ đó rút ra bài học lịch sử của nó đối với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tư ng v ph m vi nghi n c u của luận án

- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu và bài học lịch sử đối với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: Luận án không tìm hiểu, nghiên cứu toàn bộ nội dung tư tưởng của Phan Bội Châu nói chung, mà chỉ tập trung nghiên cứu nội dung, đặc điểm của tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu, từ đó rút ra bài học lịch sử đối với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay

5 Cơ sở lý luận v phương pháp nghi n c u của luận án

Luận án được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Luận án sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu cụ thể, như sự thống nhất giữa lô gích và lịch sử, phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, đối chiếu và so sánh để nghiên cứu và trình bày luận án Luận án được tiếp cận

ở góc độ triết học chính trị

6 Cái mới của luận án

Thứ nhất, qua trình bày, phân tích, hệ thống hóa và làm rõ những nội

dung cơ bản, đặc điểm, giá trị trong tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu luận

án rút ra ý nghĩa lịch sử về mặt lý luận và về mặt thực tiễn từ tư tưởng dân chủ của ông

Trang 23

Thứ hai, từ sự phân tích, đánh giá những đặc điểm, giá trị, hạn chế trong

tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu, luận án rút ra bài học lịch sử bổ ích, góp phần phát huy dân chủ hóa đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án

Ý nghĩa khoa học của uận n: Trên cơ sở trình bày một cách có hệ

thống nội dung, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử giá trị trong tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu, luận án góp phần nâng cao nhận thức về tư tưởng của Phan Bội Châu, ngoài ra còn giúp chúng ta có sự đánh giá khách quan, khoa học hơn giá trị và vai trò lịch sử của tư tưởng Phan Bội Châu nói riêng, cũng như của tư

tưởng Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nói chung

Ý nghĩa thực tiễn của luận án: Những phân tích, đánh giá của luận án

về đặc điểm, giá trị, hạn chế và những bài học lịch sử rút ra từ tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu góp phần vào việc nâng cao nhận thức về dân chủ và việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội

ở Việt Nam hiện nay

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận chung và danh mục tài liệu tham

khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết, 14 tiểu tiết

Trang 24

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH

TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ- HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỦA PHAN BỘI CHÂU

Với tư cách là một trong những hình thái ý thức xã hội, tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu không phải hình thành một cách tự phát hay có tính chất chủ quan, tư biện Nó chính là sự phản ánh và chịu sự quy định của những đặc điểm, yêu cầu của lịch sử - xã hội Việt Nam và thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX đặt ra Đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người , chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” (C.Mác và Ph.Ăng ghen, 1995, Toàn tập, tập 4, tr 37 - 38) Đó chính là quy luật tất yếu, phổ biến của sự phát triển xã hội Do vậy, để nghiên cứu, hiểu rõ nội dung, đặc điểm, giá trị, hạn chế và bài học lịch sử trong tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu, trước hết cần phân tích, làm rõ bối cảnh lịch sử - xã hội thế giới

và Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - cơ sở xã hội hình thành nên tư tưởng dân chủ của ông

1.1.1 Bối cảnh lịch sử-xã hội thế giới cuối thế kỷ I đầu thế kỷ XX với sự h nh th nh tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu

Một trong những yếu tố tác động, chi phối đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nói chung, cũng như tư tưởng của Phan Bội Châu nói riêng chính là điều kiện lịch sử - xã hội thế giới của giai đoạn này Trong đó, nổi bật nhất là việc mất quyền độc lập của các dân tộc và quyền tự do, dân chủ của nhân dân, do sự cai trị, áp bức và bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với nhân dân lao động các nước chính quốc và sự xâm lược, nô dịch, áp bức đối với nhân dân các nước thuộc địa trên thế giới

Trang 25

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dựa trên sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những lực lượng sản xuất to lớn, làm thay đổi căn bản, sâu sắc toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của nhân loại Trước hết là một loạt những phát minh khoa học được áp dụng vào trong sản xuất và đời sống đã góp phần thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển mạnh mẽ, đó là học thuyết về sinh học của Charles Darwin Cuốn sách của ông viết về nguồn gốc các loài đã gây ra một cuộc cách mạng trong ngành sinh học và có ảnh hưởng sang cả lĩnh vực khoa học xã hội Nội dung cơ bản của học thuyết Charles Darwin làm rõ quy luật tự nhiên cạnh tranh để sinh tồn của các loài Tất cả những giống loài đều trải qua quá trình biến hóa để thích nghi với điều kiện tồn tại Nếu không tự biến đổi để thích nghi thì các loài sẽ chịu sự đào thải của tự nhiên Trong lĩnh vực sinh học không chỉ dừng lại ở học thuyết tiến hóa của Charles Darwin mà khoa học về sinh học còn tiến xa hơn bởi môn di truyền học Menđen (Gregor Mendel) được coi là cha đẻ của môn di truyền học Lĩnh vực y học có phát hiện quan trọng về vắcxin của Paxtơ (Louis Pasteur) Ngành hóa học Menđêlêép (Duitri Ivanovitch Mendeleiev) đã thiết lập Bản tuần hoàn các nguyên tố hóa học Anhxtanh (Albert Einsetein) với học thuyết tương đối của mình đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong ngành vật lý học Trên lĩnh vực kỹ thuật, nét nổi bật ở thời kỳ này là những phát minh về điện như: phát minh của Moocxơ (Samuel Morse) về điện báo; Eđixơn (Thomas Edison) về bóng đèn và xây dựng nhà máy điện; tiếp theo là những phát minh về điện thoại, điện ảnh, vô tuyến truyền thanh và phát hiện ra tia Rơnghen… C.Mác đã đánh giá rằng những phát minh khoa học và những tiến bộ kỹ thuật đã góp phần tăng sản lượng của các ngành công nghiệp nhanh chóng C.Mác đã viết: “Sự chinh phục những lực lượng tự nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng hóa học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu thủy chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá toàn bộ lục địa, việc điều hòa sông ngòi…” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tập 4, tr 603)

Đánh giá về vai trò của những thành tựu khoa học - kỹ thuật đối với sự phát triển của lịch sử - xã hội thời kỳ này, Phan Bội Châu cũng cho rằng, sự phát triển của khoa học - kỹ thuật đã thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội, góp

Trang 26

phần mở mang tri thức, đẩy lùi những quan điểm thần quyền, mê tín, khẳng định

vị thế, vai trò làm chủ của con người trong thế giới Phan Bội Châu viết:

“Từ thế kỷ 19 lại đây, khoa học các nước càng ngày càng nẩy nở Thử xem điện học phát minh mà ông “Thần lôi” đã không dám hống hách, địa học phát minh mà nhà phong thủy long hổ đã không dám múa men; sinh

lý học phát minh mà thần rắn quỷ trâu đã c ng đường trốn tránh” (Phan Bội Châu, 1990, Toàn tập, tập 4, tr 121)

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã làm cơ sở cho giai cấp tư sản, xã hội tư bản phát triển, điều này kéo theo sự phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng trong xã hội tư bản phát triển

Chủ nghĩa tư bản ra đời là một bước tiến lớn trong lịch sử nhân loại, nhờ

sự phát triển của khoa học - kỹ thuật dẫn đến sức sản xuất xã hội phát triển vượt bậc như C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá: “Giai cấp tư sản đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử”(C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, Toàn tập, tập 2,

tr 559) Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một giai đoạn thế giới

có sự biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội khi mà chủ nghĩa

tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang độc quyền và phát triển thành chủ nghĩa

đế, điều đó đã tác động mạnh mẽ đến tình hình các nước trong khu vực trong đó

có xã hội Việt Nam

Đối lập với sự phát triển của kinh tế, khoa học kỹ thuật, cuộc sống của giai cấp công nhân làm thuê ngày càng sa sút, bần cùng hóa Trong tác phẩm

Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh, Ph.Ăngghen đã mô tả cuộc sống của

người công nhân: “Nhà cửa của người lao động đều quy hoạch tồi tàn, xây dựng tồi, không được giữ gìn, bí hơi, ẩm thấp và thiếu vệ sinh: người ở chen chúc nhau, và trong đa số trường hợp, thì trong một phòng ít ra cũng có cả một gia đình ngủ” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tập 2, tr 419) Và về pháp luật, người công nhân “là nô lệ của giai cấp có của, giai cấp tư sản; họ bị nô lệ đến mức có thể bị bán đi như hàng hóa và cũng lên xuống như hàng hóa vậy” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tập 2, tr 426)

Do mất quyền tự do, dân chủ dẫn tới sự bất công cả về kinh tế lẫn địa vị chính trị - xã hội, buộc người công nhân hoặc phải đứng lên đấu tranh để tự giải

Trang 27

phóng mình, hoặc tiếp tục chấp nhận thân phận nô lệ Nhận định về tình hình

nước Pháp lúc này, Ph.Ăngghen trong Lời nói đầu quyển Ngày 18 tháng sương

mù của Lui Bônnapactơ đã viết:

“Nước Pháp, hơn bất cứ nước nào hết, là nơi mà những cuộc đấu tranh

lịch sử bao giờ cũng đạt đến kết cục triệt để, và do đó là nơi mà các hình thức chính trị luôn luôn thay đổi, - tức là những hình thức trong đó cuộc đấu tranh giai cấp ấy diễn ra, những hình thức biểu hiện kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp ấy - đã có những hình thù rõ rệt nhất Là trung tâm của chế độ phong kiến thời trung cổ, là xứ sở kiểu mẫu của nền quân chủ tập quyền từ thời Phục hưng, của nước Pháp trong cuộc Đại cách mạng của mình đã phá hủy chế độ phong kiến và đã dựng lên một cách hết sức rõ nền thống trị thuần túy của giai cấp tư sản, mà không một nước nào khác

ở châu Âu đã từng đạt được Ở cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đang trỗi dậy chống giai cấp thống trị, cũng mang những hình thức gay gắt chưa từng thấy ở nước nào khác” (C.Mác và Ph.Ăngghen,1995, Toàn tập, tập 21, tr 373)

Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm

1900 - 1903, cuộc khủng hoảng ấy là cơ sở dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất Theo V.I.Lênin, “tính chất cuộc chiến tranh là chiến tranh đế quốc chủ nghĩa nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bóp nghẹt các dân tộc nhược tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, chia và chia lại thuộc địa” (V.I.Lênin, 1976, Toàn tập, tập 31, tr 8)

Nhằm mở rộng thị trường, thu lợi nhuận nhiều hơn nữa cho giai cấp tư sản, các nước tư bản đã đưa cỗ máy xâm lược, bóc lột đến các dân tộc phương Đông, điều này dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trên các mặt của đời sống xã hội như kinh tế, tư tưởng, chính trị, văn hoá, xã hội trên phạm vi thế giới

Có thể khẳng định, chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản có vai trò rất lớn trong việc mở đường, phát triển khoa học kỹ thuật nhằm thúc đẩy nền sản xuất

xã hội phát triển, thể hiện tính cách mạng trong lịch sử, đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá: “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực

Trang 28

lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” (C.Mác và Ph.Ăngghen,

1995, Toàn tập, tập 4, tr 603)

Về chính trị - xã hội, trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản dần dần

củng cố và phát triển nền dân chủ tư sản, tạo nên bước chuyển từ chế độ quân chủ sang dân chủ; từ quân quyền, thần quyền sang pháp quyền; từ niềm tin tôn giáo sang thực nghiệm khoa học… ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của các quốc gia phong kiến Chế độ dân chủ tư sản ra đời đánh dấu một nấc thang trong tiến trình lịch sử nhân loại Đó còn là sự phát triển về tư duy chính trị và

tổ chức đời sống xã hội của các giai cấp cầm quyền Tuy nhiên, cuối thế kỷ XIX, nền dân chủ tư sản đã bộc lộ bản chất phản động, một số nước tư bản nhanh chóng trở thành chủ nghĩa đế quốc liên kết với nhau đi xâm lược mở mang thuộc địa ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ - Latinh

Như vậy, nền dân chủ mà giai cấp tư sản xây dựng mặc dù là một giá trị văn hoá, có ý nghĩa rất to lớn đối với giai cấp tư sản, chống lại cường quyền, chuyên chế của chế độ phong kiến Nền dân chủ tư sản vẫn là giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được và trở thành vấn đề chính trị lớn có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với thế giới Nhưng các cuộc chiến tranh của các nước tư bản chủ nghĩa đối với các dân tộc thuộc địa lại là một hành động phản dân chủ, phi nhân tính Chính vì vậy, trên bước đường xâm lược, các nước đế quốc luôn phô trương, truyền bá các giá trị tự do, bình đẳng, bác ái của nền đân chủ của mình hòng che đậy bản chất thực dân đế quốc của các cuộc xâm lăng Và cũng vì lẽ đó mà theo nhận định của Giáo sư Trần Văn Giàu, nền dân chủ tư sản trên thế giới đã lỗi thời nhưng ở nước ta vẫn được tiếp nhận một cách say sưa, nó như một thứ quả trái mùa: “Tư tưởng dân chủ tư sản ở Tây phương đầu thế kỷ XX rõ ràng là

đã quá lạc hậu quá rồi bởi vì bấy giờ Tây phương đứng trước ngưỡng cửa cách mạng vô sản.” (Trần Văn Giàu, 1997, tr 115)

Về cơ cấu xã hội, sự phát triển của nền kinh tế tư bản kéo theo sự biến

đổi về cơ cấu giai cấp trong xã hội Phương Tây Trong quá trình phát triển kinh

tế của chủ nghĩa tư bản dẫn đến sự phân hóa xã hội, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày một gay gắt Theo Phan Bội Châu mâu thuẫn đối kháng đó là do các nhà tư bản:

Trang 29

“có sẵn vốn mà sắm sanh được máy móc, họ lại nhờ máy móc mà nảy nở

ra tư bản càng thêm nhiều Tay chân phường lao động, họ đã không thể làm gì; mà phường lao động lại vì sinh hoạt khó khăn, nên phải lượm gối cúi đầu xin ơn với nhà tư bản, nhà tư bản mới ra tay bắt chẹt phường lao động Tiền nhân công rẻ, giờ làm công thì nhiều Mà những món lời lãi vì lao động mà nảy nở ra, thời tất cả tóm vào trong túi nhà tư bản, rót hết giọt máu mủ nhà lao động để làm no béo sung sướng cho nhà tư bản Nhà tư bản tối ngày khoanh tay tréo chân, ăn sung ở sướng, xe xe, ngựa ngựa, lâu lâu, đài đài Mà người lao động thì cơm thừa canh lạnh, ăn ít làm nhiều, áo đói tơi hàn, vào luồn ra cúi” (Phan Bội Châu, 1990, tập 4, tr 133)

Chính từ những mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa giai cấp tư sản và vô sản đã dẫn đến các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nổ ra với qui mô ngày càng mở rộng Điều đó tất yếu đòi hỏi sự ra đời của một hệ tư tưởng để dẫn dắt, chủ nghĩa Mác xuất hiện đáp ứng yêu cầu đó, trở thành ngọn cờ lý luận cách mạng cho giai cấp công nhân Chủ nghĩa Mác ra đời đã đưa phong trào công nhân phát triển từ trình độ đấu tranh tự phát lên tự giác Cách mạng Tháng Mười Nga đánh dấu một bước phát triển vượt bậc trong phong trào đấu tranh của nhân dân lao động Phong trào cách mạng vô sản như một luồng gió mới nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, và như thế, ít nhiều tác động đến bước chuyển tư tưởng nước ta những năm đầu thế kỷ XX, trong đó có tư tưởng dân

chủ của Phan Bội Châu Thật vậy, sau nhiều năm bôn ba tìm kiếm “bài thuốc

giải” cho “căn bệnh” của đất nước, nhưng không thành công sau “trăm lần thất

bại” Giữa khúc tối của đường hầm thì ánh dương đã lóe lên, tạo niềm tin và hy vọng cho các dân tộc bị áp bức, ánh dương đó chính là Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917 Chính Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra một thời đại mới, sự hình thành nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới khiến Phan Bội Châu bắt đầu thay đổi cách nhìn về lực lượng của cách mạng Ông đã bắt đầu thấy vai trò cốt yếu của giai cấp công nhân và nông dân trong cách mạng Mặc dù chỉ mới tiệm cận với chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga đã soi rọi vào tư tưởng của Phan Bội Châu ở giai đoạn cuối đời, đã thức tỉnh ông sau biết bao sự tròng trành và biến đổi trong tư

Trang 30

tưởng Tuy nhiên, dù rất có cảm tình với chính phủ công nông của nước Nga

đỏ, dành nhiều thiện cảm cho Lênin và chủ nghĩa Lênin, nhưng vì sự hạn chế của giai cấp và bản thân con người ông (không biết tiếng Nga và tiếng Anh) như ông từng thừa nhận, nên nhiệm vụ tiếp nhận và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, ông đành phải chuyển cho lớp người kế cận, và người tiếp nhận trọng trách ấy chính là Hồ Chí Minh

Về mặt tư tưởng, phản ánh sự biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội và

sự phát triển khá rực rỡ của các thành tựu văn hóa, khoa học - kỹ thuật thời kỳ này đã thúc đẩy sự phát triển trên lĩnh vực tư tưởng, làm xuất hiện các trào lưu

tư tưởng tiến bộ Phan Bội Châu đã viết:

“học thuyết Lư Thoa đã xuất hiện, tư tưởng ông Mã Khắc Ty đã mở mang, thời quyền dân với quyền lao động đã v n vụt vùn vụt như gió thổi, như thủy triều lên, dầu ai muốn ngăn mà ngăn sao đặng, dầu ai muốn cấm mà cấm sao đặng Ngọn cờ thần quyền chắc rày mai cũng bị làn sóng văn minh kia đánh tan” (Phan Bội Châu, 1990, Toàn tập, tập 4,

về phát huy quyền con người truyền thống phải có những chuyển biến nhất định, đáp ứng nhu cầu của xã hội nước ta

Cùng với sự tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học - kỹ thuật, những tư tưởng tiến bộ Phương Tây với tư tưởng về dân chủ, dân quyền, quốc quyền, tự

do, bác ái, bình đẳng, những cuộc duy tân của Nhật Bản, Trung Quốc, cuối

thề kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cũng đã có sự ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến những chuyển biến tư tưởng về dân chủ, dân quyền của nhân dân Việt Nam nói

chung, của Phan Bội Châu nói riêng

Trước hết, là ở Nhật Bản, thế kỷ XVIII - XIX, Nhật bản vẫn là nước kém

phát triển, với một nền kinh tế nông nghiệp rất lạc hậu Vào giữa thế kỷ XIX,

Trang 31

chế độ phong kiến Tokugawa sau thời kỳ thịnh vượng đã rơi vào tình trạng bế tắc, suy thoái, không thể nào đáp ứng sự phát triển chung của thời cuộc cũng như không đủ sức chống lại sự xâm lược của đế quốc Âu - Mỹ Mặc d chính phủ Shogun cố gắng làm cho nước Nhật vươn lên, nhưng lại muốn duy trì nguyên trạng các đẳng cấp với quyền lực của các đại danh (Daimyo) và các Samurai Tuy nhiên, theo quy luật phát triển xã hội, quan hệ hàng hóa tiền tệ đã làm xói mòn những giá trị tưởng chừng bất biến, làm thay đổi các đẳng cấp trong xã hội Nông dân vẫn chiếm 80% - 90% cư dân, là lực lượng cơ bản của nền sản xuất Nhật Bản Thân phận khốn khó của nông dân làm cho họ bất mãn với chế độ Tướng quân (Shogun) Khắp nơi nông dân nổi dậy đấu tranh, gây nên những đợt sóng làm xói mòn chế độ phong kiến, nó cho thấy chính quyền Tokugawa sau mấy thế kỷ tồn tại đã đến lúc không đủ sức điều hòa các mâu thuẫn xã hội và giải quyết con đường phát triển xã hội của Nhật Bản

Trong bối cảnh đó, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Âu - Mỹ đòi hỏi Nhật mở cửa để giao lưu buôn bán Mỹ và sau đó là Anh, Pháp, Nga, Hà Lan và các cường quốc châu Âu khác đã buộc Nhật Bản mở các cửa biển quan trọng thông qua việc ký hàng loạt các hiệp ước bất bình đẳng Nhật nhanh chóng rơi vào địa vị phụ thuộc và Mỹ nắm quyền lũng đoạn

Tình hình tài chính ngày càng cạn kiệt do việc mở cửa và bồi thường thiệt hại cho người ngoại quốc cũng như những khoản khổng lồ chi cho việc mua chiến thuyền Âu - Mỹ, xây dựng pháo đài… Bên cạnh đó, đời sống nhân dân ngày càng khó khăn do hàng hóa nước ngoài tràn vào, cạnh tranh và bóp chết các ngành nghề thủ công trong nước, tạo nên sự hỗn loạn trong cuộc sống kinh tế, c ng với nó là hiện tượng “chảy máu vàng” làm giá cả tăng đột biến Như vậy, việc mở cửa và hệ quả của nó làm cho phong trào đòi lật đổ Shogun càng mạnh mẽ Các lực lượng chống Shogun, đứng đầu là các công quốc Satsuma, Choshu, Hizen, Tosa đã hợp thành lực lượng chủ yếu chống lại lực lượng bảo thủ, ủng hộ Thiên hoàng, đòi trả tự do cho Thiên hoàng và tiến hành canh tân đất nước

Năm 1867, trước thế lực của các công quốc Choshu, Satsuma c ng Thiên hoàng, Shogun Keiki trao trả quyền cho Thiên hoàng Mutsuhito, lấy niên hiệu

Trang 32

Thiên hoàng Minh Trị (Meiji), đánh dấu một bước đi lên, một bước đổi mới có

ý nghĩa cách mạng Với phẩm chất, trí tuệ và tư duy nhạy bén trước thời cuộc, Thiên hoàng Minh Trị đã đưa ra nhiều chính sách duy tân mang tính đột phá và mang lại hiệu quả thần kì cho đất nước

Trước hết là cuộc cải cách chính trị và hành chính Thiên hoàng đã xây

dựng một hệ thống hành chính thống nhất trong cả nước Thiên hoàng nắm quyền lãnh địa tối cao, thực hiện “phế phiên, lập huyện”, bãi bỏ hệ thống lãnh địa của các Đại danh, thay đổi chế độ đẳng cấp, tuyên bố “Tứ dân bình đẳng”; thay chế độ thu tô lãnh địa bằng chế độ lương bổng, thành lập các bộ và các bộ trưởng trong bộ máy nhà nước, theo mô hình chế độ cộng hòa, nghị viện của Phương Tây

Về nông nghiệp, Nhật Bản cho phép tự do mua bán ruộng đất và tự do

kinh doanh trên đất của mình, điều này góp phần giải phóng sức sản xuất, tạo nên khả năng bổ sung nguồn nhân lực cho thành thị và đưa kinh doanh nông nghiệp vào quỹ đạo của kinh tế thị trường

Về công thương nghiệp, Thiên hoàng chú trọng với việc thiết lập thị

trường c ng chế độ tiền tệ thống nhất trong nước và vươn ra thị trường thế giới, đồng thời lên kế hoạch du nhập kỹ thuật tiến tiến Ngành công nghiệp, Thiên hoàng tập trung xây dựng các cơ sở hạ tầng như đường xá, bến cảng, đặc biệt là đường sắt, phát triển các ngành cơ khí, khai thác mỏ, luyện kim, đóng tàu, và ngành công nghiệp quân sự cũng được coi trọng

Đồng thời, để nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu tiếp thu kỹ thuật

và phát triển xã hội, Minh Trị nhanh chóng tiến hành cải cách giáo dục, thi

hành chế độ cưõng bức giáo dục, mời các nhà khoa học nước ngoài, như Anh, Pháp, Đức, Mỹ về dạy, gửi người đi đến các nước tiên tiến để tiếp thu tri thức mới… Đặc biệt, triều đình còn thành lập các trường đại học để đào tạo tầng lớp lãnh đạo chính quyền và kinh doanh, đưa các thành tựu khoa học kỹ thuật vào giảng dạy và áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc Chuyển từ việc học lịch sử sang học khoa học, kỹ nghệ, thương mại Mô hình tự trị, tự chủ đại học được áp dụng theo hình mẫu Phương Tây Chương trình và chất lượng dạy học cũng chịu ảnh hưởng của Hoa kỳ và Phương Tây nhiều mặt

Trang 33

Để tiến hành cải cách giáo dục, người Nhật đã mời hàng trăm giảng viên nước ngoài tham gia giảng dạy trong các trường đại học, chính vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn các sách về văn hóa, khoa học, kỹ thuật của các nước Phương Tây đã được dịch sang tiếng Nhật Kỹ sư Anh dạy cách làm đường xe lửa và đóng tàu, người Pháp dạy về luật và binh bị, giáo sư Đức dạy về y học và hóa học, nhà chuyên môn Hoa Kỳ tổ chức giáo dục, các nghị sĩ Ý thì dạy âm nhạc và điêu khắc Chính vì chính sách mở cửa và canh tân kịp thời, quyết liệt

đã giúp cho nước Nhật không những chấm dứt được tình trạng lạc hậu, nghèo nàn, mà còn giúp họ giữ được nền độc lập, thậm chí còn vươn lên thành một cường quốc trong khu vực và trên thế giới

Về quân sự, quân đội được triều đình tổ chức và huấn luyện theo kiểu

Phương Tây Lục quân theo mô hình của Đức, hải quân theo mô hình của Anh, các công xưởng và nhà máy vũ khí theo mô hình của Pháp, hệ thống hậu cần học hỏi từ Hoa Kỳ Nếu như trước đây, do tình trạng cát cứ mà nước

áp dụng chế độ trưng binh thì nay họ áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự, chế

độ nghĩa vụ quân sự một mặt giúp việc tuyển quân được công bằng, minh bạch, mặt khác nó đã tạo được sự thống nhất trong toàn bộ quân đội quốc gia Bên cạnh đó, Nhật Bản còn tăng cường mua và sản xuất vũ khí, mời các giảng viên quân sự nước ngoài về giảng dạy trong các trường quân sự và đưa các sinh viên sĩ quan đến một số nước như Anh, Pháp để học tập Chính những cải cách này đã đưa quân đội nước Nhật trở thành một đội quân hùng mạnh có thể chiến thắng được đội quân hùng mạnh và hiện đại của nước Nga thời Sa hoàng

Thành công của công cuộc canh tân không chỉ đưa nước Nhật đạt đến trình độ phát triển sánh ngang với các cường quốc Phương Tây mà còn trở thành điểm đến hấp dẫn với các nhà yêu nước và cách mạng trong khu vực Với thành công của cuộc canh tân, còn đưa Nhật Bản nhanh chóng hòa mình vào hàng ngũ của các nước đế quốc tư bản, sẵn sàng xâm lược các nước để mở rộng thuộc địa Năm 1879, Nhật sáp nhập Lưu Cầu vào lãnh thổ của mình, gây hấn với Triều Tiên những năm 1882 - 1884, tiến hành chiến tranh và xâm lược Trung Quốc (1894 - 1895)…

Trang 34

Thành tựu nổi bật của công cuộc canh tân ở Nhật bản, có ảnh hưởng tới các nước châu Á còn chìm sâu trong chế độ phong kiến nghèo nàn, lạc hậu, là ở lĩnh vực chính trị và đời sống xã hội Nhật Bản đã xây dựng một chế độ xã hội

và thiết chế chính trị theo mô hình Phương Tây Đó là nền dân chủ cộng hòa, tạo sự trật tự và bình đẳng giữa người với người trong xã hội Phan Bội Châu rất ngưỡng mộ thể chế chính trị ấy, và ông đã ảnh hưởng khá sâu đậm tư tưởng

dân chủ, cộng hòa của Nhật Bản Vì thế, trong Gọi tỉnh hồn quốc dân Phan Bội

Châu đã viết:

“Cuộc duy tân Nhật Bản làm xong,

Dân đoàn cả nước một lòng,

Nổi danh năm bể, xưng h ng bốn phương.” (Phan Bội Châu, 1990, tập 2,

tr 80) Còn trong Hải ngoại huyết thư, ông đã ca ngợi chế độ dân chủ tư sản ở

Nhật Bản, rằng: “Vua nước Nhật Bản kính dân như thầy, như cha, thương dân như mẹ, như con… không việc gì là không dành phần trước cho dân, rồi mới đến mình… không việc gì là không do nghị viện nhân dân quyết định.” (Phan Bội Châu, 1990, tập 2, tr 198)

Ở Trung Quốc, tình hình Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XIX gần giống với

Việt Nam, tư tưởng phong kiến cũng trở thành vật cản trên con đường phát triển của đất nước, nguy cơ mất nước đã gần kề Trong khi đó, cách mạng tư sản ở các nước Phương Tây đã phát triển mạnh mẽ, nó đã lật nhào thần quyền và chế

độ phong kiến lỗi thời, lạc hậu ở hầu hết các nước châu Âu, trong đó tiêu biểu

là cuộc cách mạng tư sản Pháp Cách mạng tư sản Pháp là cuộc cách mạng triệt

để hơn cả vì nó đã chém đầu vua Lui XVI, xóa bỏ hoàn toàn chế độ quân chủ Ánh sáng của các cuộc cách mạng tư sản Phương Tây đã lan tỏa đến các nước phương Đông trong đó có Trung Quốc

Cuối triều Mãn Thanh, xã hội phong kiến Trung Quốc bước vào giai đoạn khủng hoảng sâu sắc trong bối cảnh đế quốc Âu - Mỹ xâm lược và chia xẻ

đất nước, sau chiến tranh thuốc phiện (1839 - 1842) Về kinh tế, các nước đế

quốc sau khi lập các tô giới - là những v ng lãnh thổ đặc biệt, hoàn toàn phụ thuộc - đã bắt đầu chương trình khai thác thuộc địa, xây dựng các ngành công nghiệp mới với mục đích là vơ vét tài nguyên Tiếp đó, chúng mở cửa Trung

Trang 35

Quốc, biến Trung Quốc thành thị trường tiêu thụ với việc hạ mức thuế xuống thấp, hàng hóa các nước đế quốc thi nhau tràn vào chiếm lĩnh thị trường nội địa, nhất là thuốc phiện (chỉ đánh 5% thuế) Các ngành nghề thủ công nghiệp bị phá sản, nhất là nghề dệt do không thể cạnh tranh với vải ngoại quốc vừa rẻ, bền và đẹp Nông nghiệp ngày càng trở nên sa sút, lạc hậu vì trước đó đã bị triều đình không quan tâm đến, chỉ lo bóc lột về tô thuế Đồng thời, do việc buôn bán bất bình đẳng với nước ngoài, bạc trắng của Trung Quốc thi nhau chạy ra nước ngoài Nông dân phải nộp thuế bằng bạc trắng rất nặng, họ buộc phải bán lúa lấy tiền và mua lại bạc trắng của bọn nhà giàu với giá cắt cổ để nộp thuế và địa

tô Gánh nặng bồi thường chiến tranh dường như đổ lên đầu nông dân, thêm vào đó là bọn cho vay nặng lãi đang từng ngày đẩy người nông dân đến bần cùng hóa

Về xã hội, những biến động về kinh tế làm cho xã hội Trung Quốc phân

hóa nhanh chóng, giai cấp mới ra đời đó là công nhân làm thuê, trong đó có một

bộ phận công nhân cấp tiến như công nhân đóng tàu hay các xưởng máy…, tập trung ở Hương Cảng, Quảng Châu, Thượng Hải, Phúc Châu… Bên cạnh đó, chính sự đầu tư của các nước đế quốc đã kích thích chủ nghĩa tư bản Trung Quốc phát triển trong chừng mực nhất định, một bộ phận nhà tư bản là địa chủ phong kiến chuyển thành, hình thành nên giai cấp tư sản dân tộc, với các phong trào vận động cải cách, cách mạng mang tính chất tư sản cải lương, họ vừa có tinh thần bài đế phản phong, lại vừa thỏa hiệp, dao động trong đấu tranh cách mạng, nhất là trong chính trị - xã hội

Về chính trị, nền chính trị cuối triều Mãn Thanh là bức tranh khủng

hoảng, sa đọa, thối nát; triều đại nhà Mãn Thanh không đủ can đảm và sức lực

để bảo vệ đất nước do sự thống trị của tư tưởng bảo thủ, đó là tư tưởng của Nho giáo đã lỗi thời và thái độ đớn hèn, coi quyền lợi giai cấp hơn quyền lợi của dân tộc Trung Quốc ngày càng rơi sâu xuống vũng b n của chế độ nô dịch, làm cho mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân với bè lũ đế quốc và chế độ phong kiến Mãn Thanh thối nát ngày một sâu sắc Vì vậy, các phong trào khởi nghĩa của nông dân nổ ra mạnh mẽ, tiêu biểu là Hồng Tú Toàn với phong trào Thái Bình Thiên Quốc với mục tiêu lật đổ triều đình Mãn Thanh, thực hiện bình đẳng xã

Trang 36

hội, bình đẳng nam nữ, đòi xóa bỏ quyền sở hữu ruộng đất phong kiến và chia lại ruộng đất cho nông dân, xây dựng một xã hội không có người bóc lột người

Đặc biệt, trong xã hội bắt đầu xuất hiện trào lưu tư tưởng mới của giai cấp tư sản dân tộc đòi canh tân đất nước, cải cách chế độ, thậm chí chủ trương cách mạng dân chủ tư sản dân tộc cải lương, để Trung Quốc sớm thoát khỏi vòng nô lệ Tiêu biểu là phong trào Duy tân cuối thế kỷ XIX mang tính chất cải lương của giai cấp tư sản do Khang Hữu Vi (1858 - 1927) lãnh đạo, và Lương Khải Siêu (1873 - 1929) tiếp nối, với tư tưởng “biến pháp”, đề xướng “Tân học”, “Tây học”, “học hiệu”, đại biểu cho tư tưởng của giai cấp tư sản, đấu tranh chống lại tư tưởng chính thống của Nho giáo với chủ trương “Cựu học”,

“Trung học”, “khoa cử” là đại biểu cho chủ nghĩa phong kiến chuyên chế, gọi là cuộc “Mậu Tuất biến pháp” (1898) “Bách nhật duy tân” Nội dung cương lĩnh hoạt động của phong trào Duy tân đề cập đến tất cả các vấn đề, từ kinh tế, chính trị, quân sự cho đến văn hóa giáo dục Cơ bản là chủ trương phát triển khoa học

kỹ thuật từ việc du nhập kỹ thuật Phương Tây và khuyến khích phát minh khoa học kỹ thuật; xây dựng công xưởng chế tạo máy và súng đạn; xây dựng đường sắt, tiến hành khai mỏ và tất cả đều do chính phủ quản lý Đề cao dân chủ, cách chức quan lại bất lực, tham nhũng Xây dựng quân đội theo kiểu các nước Phương Tây Cải cách văn hóa, giáo dục theo kiểu Phương Tây, cử người đi học nước ngoài Như vậy, phái Duy tân muốn thông qua con đường cải cách ôn hòa để cải tạo quan hệ sản xuất, mở đường cho sức sản xuất mới phát triển Tuy những đề nghị cải cách này không được thực thi do vấp phải sự chống đối của phái thủ cựu trong giai cấp phong kiến mà đứng đầu là Từ Hy thái hậu, song nó lại ph hợp với quy luật khách quan của yêu cầu đổi mới đất nước Bên cạnh

đó, phong trào này còn truyền bá các học thuyết chính trị Phương Tây, quan điểm tiến hóa xã hội, tư tưởng dân chủ tư sản, quan điểm tự do, bình đẳng và

tầm quan trọng của khoa học tự nhiên, như Tiến hóa luận của Sáclơ Đác uyn,

Thiên diễn luận của Tômát Huxlây, Quần học, Nguyên phú của Adam Smít, Vạn pháp tinh lý của Sáclơ Môngtexkiơ, Thiên phú nhân quyền, Khế ước xã hội

của G.G Rút xô Qua đó, phong trào đã tạo nên một làn sóng chống lại tư tưởng thủ cựu, lạc hậu của chế độ phong kiến, thổi một luồng gió mới đầy sinh khí về

Trang 37

tư tưởng vào đời sống xã hội Trung Quốc thời bấy giờ, thể nghiệm được những ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng văn hóa tiến bộ của Phương Tây, mở đường cho tư tưởng dân chủ tư sản phát triển

Sang đầu thế kỷ XX, giai cấp tư sản Trung Quốc đã làm nên một cơn bão táp cách mạng mà đỉnh cao là thắng lợi của Cách mạng Tân Hợi năm 1911 do Tôn Trung Sơn (1866 - 1925) lãnh đạo, thông qua chính đảng cách mạng với

tên gọi Trung Quốc Đồng minh hội Đây được xem là tổ chức cách mạng tiến

bộ nhất từ trước đến nay với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp, từ tư sản, tiểu tư sản, địa chủ, thân sĩ cho đến một số ít phần tử công nông, vượt xa tính chất cục bộ địa phương bởi nơi nào cũng có đại biểu, cơ cấu lãnh đạo thống nhất và có cương lĩnh chính trị Cương lĩnh chính trị của Đồng minh hội dựa trên học thuyết Tam dân của Tôn Trung Sơn là “dân tộc độc lập, dân quyền tự

do và dân sinh hạnh phúc” “Dân tộc chủ nghĩa” tức là làm cách mạng lật đổ vương triều phong kiến chuyên chế nhà Thanh tay sai đế quốc, phản đối sự đầu hàng bán nước, phản đối sự phân liệt, bảo vệ độc lập dân tộc và quốc gia Trung Hoa thống nhất “Dân quyền chủ nghĩa” tức là đánh đổ chế độ chuyên chế phong kiến, xây dựng nước cộng hòa tư sản ở Trung Quốc “Dân sinh chủ nghĩa”, nội dung của nó là “bình quân điền địa”, bảo đảm tự do, hạnh phúc, bình đẳng của nhân dân, không có sự phân cực giàu nghèo, thực chất là cương lĩnh phát triển chủ nghĩa tư bản dân tộc Theo đó, mục tiêu đấu tranh là: “Đánh đuổi giặc Thát, khôi phục Trung Hoa; Thành lập dân quốc; Bình quân địa quyền”, đồng thời nêu lên ba nhiệm vụ là: lật đổ triều đại Mãn Thanh, thành lập Trung Hoa dân quốc, thực hiện quyền bình đẳng về ruộng đất Cách mạng Tân Hợi đã

để lại ý nghĩa vô c ng to lớn, nó đã đập tan triều đại cuối c ng của chế độ phong kiến Trung Quốc, thiết lập Trung Hoa dân quốc - nước Cộng hòa tư sản đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, làm cho tư tưởng cộng hòa dân chủ ăn sâu bám rễ vào quần chúng Tư tưởng dân chủ cách mạng tiến bộ ấy, không chỉ xâm nhập và phát triển ở Trung Hoa mà còn ảnh hưởng to lớn đến nhiều quốc gia Đông Nam

Á, trong đó phải kể đến Việt Nam, mà nhân vật đại diện tiêu biểu là nhà cách mạng Phan Bội Châu Thắng lợi đó, với Phan Bội Châu như “sấm vang đến lỗ tai tôi Tôi vì đó mà đổi bánh thay dây” (Phan Bội Châu, tập 6, tr 213), và “Phong

Trang 38

triều của Trung Hoa cách mệnh thành công, ảnh hưởng nước ta hung lắm Nhiệt

độ người nước ta so với trước kia lên gấp bội Nếu ở ngoài có cái gì tiên thanh, thì khí thế ở trong nước khắc sống lại.” (Phan Bội Châu, 1990, tập 6, tr 215) Đặc biệt, cách mạng Tân Hợi năm 1911 thành công đã thực sự gây một tiếng vang lớn đến Việt Nam, nó tạo cơ sở để Phan Bội Châu quyết định sửa đổi tổ

chức Duy tân hội thành Việt Nam quang phục hội, quyết định công khai bỏ “chủ

nghĩa quân chủ ra đằng sau ót” để lấy chủ nghĩa dân chủ

Tóm lại, với sự phát triển về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của các nước trên thế giới đã làm cho Phan Bội Châu nhận rõ những giá trị và vai trò của dân chủ đối với công cuộc canh tân, cách mạng, cứu dân, cứu nước, xây dựng và phát triển đất nước ta thành “một nước cộng hòa dân chủ…”, “dân tộc ta thành một dân tộc h ng cường, hoàn toàn tự do” (Phan Bội Châu, 1990, tập 3, tr 135), và do đó, đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành tư tưởng dân chủ của ông

1.1.2 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ I đầu thế kỷ

XX với sự h nh th nh tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu

Quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX không chỉ phản ánh đặc điểm điều kiện lịch sử - xã hội trên thế giới, mà còn xuất phát từ đặc điểm lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội và yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết của lịch sử dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX đặt ra Đó là nhiệm vụ đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho đất nước và hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam

Từ thế kỷ XVII - XVIII, châu Âu đã đi vào chủ nghĩa tư bản, nhưng châu

Á vẫn đang còn chìm sâu trong chế độ phong kiến Việt Nam ở trong thời kỳ này cũng vậy, chế độ quân chủ chuyên chế của nhà Nguyễn vẫn đè nặng lên xã hội, với nền kinh tế sản xuất nhỏ, hoạt động theo phương thức tự cung tự cấp,

xã hội phong kiến tồn tại hai giai cấp cơ bản, mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ với giai cấp nông dân là mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam

Từ đầu thế kỷ XIX, chính quyền triều Nguyễn ngày càng suy yếu, toàn

bộ nước ta bị đặt dưới sự thống trị của thực dân Pháp Sau khi hoàn thành chiến tranh xâm lược và bình định nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai

Trang 39

trị theo chế độ thực dân và tiến hành chính sách khai thác thuộc địa, nhằm tước đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, mở rộng sự ảnh hưởng và thị trường tiêu thụ hàng hóa Ở Đông Dương, thực dân Pháp đã thực hiện hai cuộc khai thác thuộc địa Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất diễn ra từ năm 1897 đến năm 1914 và cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai được tiến hành từ năm 1919 đến năm 1929, với vốn đầu tư quy mô lớn hơn và tốc độ nhanh hơn

Về kinh tế, sau khi bình định được Việt Nam và đặt được bộ máy cai trị

trên toàn Đông Dương, với sự “hợp tác” của triều đình Huế và một số không nhỏ các phú hào, thực dân Pháp bắt tay vào việc khai thác, vơ vét tài nguyên thiên nhiên cũng như nguồn nhân công rẻ mạt

Kết quả của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, các ngành công nghiệp, giao thông vận tải và đô thị hóa trên nhiều miền đất nước được triển khai

Từ năm 1897, hàng loạt các công ty, xí nghiệp công nghiệp ra đời Hệ thống giao thông vận tải gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy và cả đường hàng không ra đời và ngày càng phát triển… Tất cả những chuyển biến đó, trước hết là do nhu cầu thống trị và bóc lột thuộc địa, mặt khác nó đã làm hiện đại hóa mọi mặt của đời sống trong chừng mực đáng kể, kèm theo quá trình đô thị hóa

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương diễn ra ồ ạt từ năm 1925 - 1929, đưa đến sự phát triển mới của cơ

sở hạ tầng, của công nghiệp và thương nghiệp Với số vốn đầu tư khổng lồ, nhiều biến đổi kinh tế quan trọng tiếp tục diễn ra trên toàn đất nước, như sự hình thành các đô thị, các bến cảng mới… Lúc này, nội thương và ngoại thương cũng tăng lên nhanh chóng Việt Nam đã gia nhập đáng kể vào thị trường thế giới so với trước đó Những bạn hàng lớn của Việt Nam lúc này là Pháp, Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Inđônêxia, Xingapo, Philíppin, Malaixia, Ấn Độ…

Do việc đẩy mạnh đầu tư phát triển kinh tế, hầu hết các chỉ số của nền kinh tế đều có mức tăng rõ rệt Mặc d tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng đời sống của nhân dân lao động vẫn không được nâng lên thậm chí một số tầng lớp nhân dân, nhất là công nhân và nông dân có xu hướng bần c ng hơn

Như vậy, trong quá trình thống trị của mình, thực dân Pháp đã vô tình hay cố ý tạo ra những cơ sở, những điều kiện thuận lợi cho việc du nhập và phát

Trang 40

triển nền sản xuất tiến bộ - tư bản chủ nghĩa, tạo ra những biến đổi thực sự trong kết cấu kinh tế và cấu trúc xã hội Việt Nam Song mục đích chính của công cuộc đầu tư, phát triển sản xuất ở Việt Nam là khai thác, vơ vét các nguồn lực và tài nguyên thiên nhiên nên thực dân Pháp đã có những chính sách phản động nhằm hạn chế sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Chúng vẫn chủ trương duy trì chế độ phong kiến trong xã hội mới Điều đó đã tạo nên ở Việt Nam một nền kinh tế mất cân đối, què quặt và lệ thuộc Đó chính là nghịch lý của lịch sử cận đại Việt Nam, đồng thời cũng là hạn chế của công cuộc tư bản hóa của người Pháp ở nước ta

Thực dân Pháp còn biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ những sản phẩm thừa của nền công nghiệp chính quốc Mục đích của chúng là nhằm đem lại lợi nhuận tối đa, nhằm tái đầu tư cho cỗ máy chiến tranh Để thực hiện được mục đích, một mặt chúng cố gắng duy trì phương thức sản xuất phong kiến, mặt khác chúng xuất khẩu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam Chính điều này đã làm cho cơ sở hạ tầng ở Việt Nam trở nên hết sức phức tạp, vừa tồn tại quan hệ sản xuất phong kiến, vừa phát triển quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào tư bản Pháp Với quan hệ sản xuất phong kiến, đây là quan hệ sản xuất đã lỗi thời, nhưng đối với thực dân Pháp, nó vẫn còn có thể lợi dụng được sự yếu hèn của triều đình phong kiến Còn đối với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà thực dân Pháp phát triển ở nước ta không phải là “chủ nghĩa tư bản thời trai trẻ”, không phải chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, mà là chủ nghĩa tư bản độc quyền của nhà nước chính quốc, chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc Cơ cấu kinh tế của nước ta lúc này cũng đã có sự biến đổi mạnh mẽ, tư sản chính quốc đã thấy được nguồn lợi chắc chắn từ thuộc địa này, nên chúng đẩy mạnh đầu tư, mở rộng quy mô khai thác Các trung tâm thương mại, nhà máy, hầm mỏ và đồn điền đã ra đời Để thực hiện công cuộc khai thác, thực dân Pháp đã đẩy mạnh việc phát triển cơ sở vật chất như bến cảng, cầu cống, đường sá… phá bỏ tình trạng bế quan tỏa cảng dưới triều đình nhà Nguyễn trước đây

Như vậy, ngay sau khi thôn tính Việt Nam, bên cạnh hoạt động quân sự, thực dân Pháp đã đề ra và thực hiện nhiều chính sách trên các lĩnh vực kinh tế,

Ngày đăng: 19/07/2020, 23:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w