1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua biện pháp sân khấu hoá một số tác phẩm, trích đoạn văn học dân gia

26 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 210,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

V ăn học dân gian mang tính nguyên hợp, là một bộ phận của văn hóa dân gian.Đặc trưng này khiến văn học dân gian là một phần không thể tách rời với vănhóa dân gian.. Đối tượng nghiên cứu

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

Người thực hiện: Lê Thị Tuyết

Đơn vị: tổ Ngữ Văn

Năm học 2018 - 2019

Trang 2

MỤC LỤ

1 PHẦN MỞ ĐẦU 2

1.1 Lí do chọn đề tài 2

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

2 PHẦN NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3

2.2.1 Thuận lợi 3

2.2.2 Khó khăn 3

2.3 Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 3

2.3.1 Định hướng chung 3

2.3.2 Xây dựng kịch bản 3

2.3.2.1 Sân khấu hóa Truyện cố tích Tấm Cám 3

2.3.2.2 Sân khấu hóa trích đoạn Mẹ Đốp - Lý trưởng ……….3

2.3.2.3.Sân khấu hóa truyện cười Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày……… 3

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, với đồng nghiệp và nhà trường 3

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 3

3.1 Kết luận 2 3 3.2 Kiến nghị 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO 3

Trang 3

1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Văn học dân gian cùng với văn học viết là hai bộ phận hợp thành nền vănhọc Việt Nam Văn học dân gian có những giá trị cơ bản là: kho tri thứcphong phú về đời sống các dân tộc; giáo dục sâu sắc đạo lí làm người; có giátrị thẩm mĩ to lớn Việc giảng dạy văn học dân gian trong chương trình mônNgữ Văn các cấp học là cần thiết Riêng môn Ngữ Văn lớp 10, phần văn họcdân gian được giảng dạy khá nhiều tiết, tạo thành một mảng kiến thức quantrọng trong chương trình

V

ăn học dân gian mang tính nguyên hợp, là một bộ phận của văn hóa dân gian.Đặc trưng này khiến văn học dân gian là một phần không thể tách rời với vănhóa dân gian Vì thế, để hiểu văn học dân gian, không thể không đặt nó trongmối quan hệ với văn hóa dân gian

H

ơn nữa, văn học dân gian còn có các đặc trưng cơ bản là tính tập thể, tính truyềnmiệng, tính diễn xướng Nếu chỉ cung cấp kiến thức thì phần nào làm mất đi đặctrưng thể loại cũng như sự hứng thú của học sinh với văn học dân gian

Xuất phát từ đặc trưng thể loại và thực tế ở trường Trung học phổ thông Cầm

Bá Thước, nơi tôi đang công tác, tôi chọn đề tài “Tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua biện pháp sân khấu hóa mốt số tác phẩm, trích đoạn văn học dân gian”

Trang 4

hứ hai, khơi gợi ở học sinh sự yêu thích và hứng thú với bộ môn Ngữ Văn

T

hứ ba, giáo dục học sinh ý thức trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống

văn hóa dân tộc như đại hội Đảng đã đề ra “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đ

ề tài “Tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua biện pháp sân khấu hóa mốt số tác phẩm, trích đoạn văn học dân gian” là một phần trong

chuyên đề ngoại khóa văn học “Về với nguồn cội” của tổ Ngữ Văn năm học

2017 -2018 Sân khấu hóa văn học dân gian tức là chuyển tải các văn bản vănhọc dân gian thành các hình thức nghệ thuật như kịch, nhảy, múa, hát…

1.4 Phương pháp nghiên cứu

K

hi thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp dùng số liệu: Khảo sát sự yêu thích văn học dân gian của họcsinh

Phương pháp hướng dẫn: Giáo viên hướng dẫn rồi giao nhiệm vụ cho họcsinh xây dựng văn bản văn học thành kịch bản

Phương pháp liên ngành: Vận4 dụng kiến thức liên ngành để sân khấu hóa văn bản văn học bằng các hình thức như nhảy, múa, hát, kịch…

-2 PHẦN NỘI DUNG

Trang 5

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng của nhândân ra đời từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử chotới ngày nay

Ngôn từ truyền miệng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nội dung,

ý nghĩa và thế giới nghệ thuật của văn bản văn học dân gian nhằm phản ánh sinh động hiện thực đời sống

Văn học dân gian tồn tại và lưu hành theo phương thức truyền miệng.Đây là điểm khác biệt giữa văn học dân gian và văn học viết Nói truyềnmiệng là nói đến quá trình diễn xướng dân gian hào hứng và sinh động.Người ta có thể kể, nói, diễn, hát văn bản văn học dân gian Phần lời - tức làphần ngôn từ ở một số thể loại có thể kết hợp với các loại hình nghệ thuậtkhác (lời thơ trong ca dao thường được hát theo làn điệu; một vở chèo khiđược trình diễn bao gồm cả lời, nhạc, múa và diễn xuất của các nghệ nhân).Văn học viết là sáng tác của cá nhân, trong khi đó văn học dân gian là kếtquả của sáng tác tập thể Tính truyền miệng và tính tập thể chi phối, xuyênsuốt quá trình sáng tạo và lưu truyền tác phẩm, thể hiện sự gắn bó mật thiếtcủa văn học dân gian với các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.Phần lớn tác phẩm văn học dân gian được ra đời, truyền tụng và phục vụ trựctiếp cho sinh hoạt cộng đồng

Có thể nói sinh hoạt cộng đồng là môi trường sinh thành, lưu truyền,biến đổi của văn học dân gian, nó chi phối cả nội dung và hình thức tác phẩm.Tồn tại bằng diễn xướng là dạng tồn tại cần thiết của văn học dân gian Chínhtrong biểu diễn, các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian

mới có điều kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp “Việc dạy văn học dân gian trong nhà trường được đặt trong tổng thể văn hóa dân

5

gian (mối liên quan chặt chẽ giữa đời sống thực tiễn và các yếu tố văn hóa khác ngoài yếu tố ngôn từ như âm nhạc, nhảy, múa, diễn xướng…) nhằm đem đến một hiệu quả mới trong giảng dạy, học tập”.

Trang 6

(PGS TS Nguyễn Thị Huế - Mấy vấn đề nghiên cứu văn học dân gian gần đây)

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Thuận lợi

Sân khấu hóa văn học dân gian là việc làm thiết thực và cần thiết vì nó phùhợp với đặc trưng thể loại văn học

Sân khấu hóa văn học dân gian là sân chơi bổ ích mà ở đó giáo viên và

-học sinh thêm gần gũi và thân thiện

Sân khấu hóa văn học dân gian giúp học sinh hiểu rõ thêm đặc trưng, vị trí,vai trò, giá trị của Văn học dân gian với đời sống văn hóa dân tộc

Qua đề tài giúp học sinh có thái độ đúng mực đối với di sản văn hóa tinh thầncủa dân tộc, từ đó thêm yêu văn học dân gian Việt Nam

-2.2.2 Khó khăn

-Để sân khấu hóa một tác phẩm6 văn học thành công ngoài sự chuẩn bị chu đáo của giáo viên thì rất cần sự hợp tác nhiệt tình của các em học sinh.

Trang 7

Học sinh còn lúng túng trong việc chuyển tải tác phẩm thành kịch bản.

Đặc biệt nhiều học sinh còn hờ hững với môn Ngữ Văn

Qua khảo sát thực tế các lớp 10C1; 10C2, 10B1 ở trường THPT Cầm BáThước năm học 2017 - 2018 khi chưa áp dụng đề tài này, kết quả khảo sát họcsinh hiểu và yêu thích văn học dân gian theo số liệu thống kê theo các mứcnhư sau:

Sân khấu hóa văn bản văn học dân gian nhưng vẫn đảm bảo tính chân,

-thiện, mĩ mà nhân dân gửi gắm trong tác phẩm

-7

Thời gian biểu diễn trên sân khấu của mỗi kịch bản khoảng 15 phút

Giao nhiệm vụ cụ thể để học sinh chuẩn bị trước như sau: lớp 10C1 sân khấu

Trang 8

-hóa phần một truyện cổ tích Tấm Cám (tức là khi Tấm còn sống chung với dìghẻ và Cám); 10C2 sân khấu hóa trích đoạn Mẹ Đốp - Lý trưởng (Trích trong

vở chèo Quan Âm Thị Kính); Lớp 10B1 sân khấu hoá truyện cười Tam

đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày

2.3.2 Xây dựng kịch bản

2.3.2.1 Sân khấu hóa Truyện cố tích Tấm Cám

a Hệ thống nhân vật tham gia diễn xuất

Hoàng Long trong vai người dẫn chuyện

Tuấn Anh trong vai nhà Vua

Đinh Mai trong vai Cám

Văn Hiếu trong vai Ông Bụt

Ngọc Linh trong vai cô Tấm

Thùy Linh trong vai Mẹ Cám

Trần Đông, Lê Trung trong vai quân lính

Vân, Hoa, Thùy Linh, Ngọc: nhóm múa

-b Kịch bản và quá trình 8thực hiện

N

gười dẫn chuyện: Ngày xưa, có Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác

mẹ Mẹ đẻ Tấm đã mất, Tấm ở với dì là mẹ của Cám Dì rất cay nghiệt Hàng

Trang 9

ngày Tấm phải làm lụng vất vả từ sáng đến tối, trong khi đó Cám được mẹ nuông chiều, ăn trắng mặc trơn.

N gày qua ngày, Tấm bị dì bắt nạt, chửi mắng Nhưng Tấm luôn cam chịu,

ngoan ngoãn nghe lời, làm tốt mọi việc mà dì yêu cầu.

T ấm: Dạ dạ, con đây ạ!

D

ì ghẻ: Mấy giờ rồi mà chưa cho tôi ăn cơm hả?

T ấm: Dạ, con dọn cơm ngay ạ!

N

gười dẫn chuyện: Tấm dọn cơm ra cho dì và Cám Trong khi mẹ con Cám

ngồi nói chuyện với nhau, Tấm lén đưa cơm ra cho ra bống).

Trang 10

gười dẫn chuyện: Tấm gọi cá bống, mẹ con Cám rình nghe lén Thế rồi nảy

sinh âm mưu bắt bống.

D

ì ghẻ: Tấm, mai con đi chăn trâu đồng xa nghe con Chăn trâu đồng nhà làng

bắt trâu đấy con à!

T ấm: Dạ! Vâng ạ!

N

gười dẫn chuyện: Sáng hôm sau Tấm đi chăn trâu thật xa Ở nhà mẹ con

Cám tìm cách bắt bống rồi ăn thịt Chiều Tấm dắt trâu về, nấu cơm nước xong, Tấm lại lén mang cơm ra và gọi bống nhưng gọi mãi…gọi mãi không thấy bống đâu.

T ấm: Oà lên khóc.

( Bụt ra sân khấu).

B ụt: Làm sao con khóc?

( Tấm kể lại sự việc cho bụt nghe…)

B ụt: Thôi được rồi, con nín đi, con đi vào trong tìm lấy xương cá bống, bỏ vào

bốn cái lọ, rồi chôn vào bốn chân giường con nằm Nói rồi Bụt biến mất

gười dẫn chuyện: Tấm làm theo lời Bụt dặn Tìm lấy xương cá bống, bỏ

vào bốn cái lọ, rồi chôn vào bốn chân giường Ba ngày sau nhà Vua mở hội).

Trang 11

C ám: Mẹ ơi, mẹ ơi… con thấy, hình như chị Tấm cũng muốn đi xem lễ hội đấy

mẹ!

D

ì ghẻ: Cái gì? Cái gì? (la lớn) Tấm…

T ấm: Dạ dạ! Con đây dì!

C

ám và Dì: (cười mỉa mai) ha…ha…ha Muốn đi xem hội à Mày nghĩ mày

cũng được đi xem hội ư? Cám! Vào lấy gạo và thóc ra đây

C ám: Làm gì hả mẹ? Để con đem ra ngay ạ.

( Cám vào lấy thóc và gaọ ra Rồi dì ghẻ trộn thóc gạo lẫn lộn).

D

ì ghẻ: Tấm, mày nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, xong rồi đi đâu hãy đi.

ấm: Tấm ngồi xuống nhặt thóc, khóc thút thít.

Trang 12

( Bụt xuất hiện)

B ụt: Làm sao con khóc?

T

ấm: (nức nở) dạ… dạ… con…

( Tấm kể lại sự tình cho bụt nghe).

B ụt: Con đừng khóc nữa Để ta giúp con.

(

Âm nhạc…Bụt liền cho đàn chim sẻ xuống nhăt thóc Chỉ một lát thóc đã

ra thóc, gạo đã ra gạo).

N

gười dẫn chuyện: Gạo và thóc đã được nhặt xong nhưng Tấm vẫn khóc vì

không có quần áo đẹp đi hội Bụt giúp Tấm Tấm làm theo lời bụt và ngay lập tức đã có quần áo, hài và cả một con ngựa rất đẹp Tấm liền đến kinh đô dự hội Nhưng trên đường đi Tấm đánh rơi chiếc hài Đoàn xe nhà Vua đi sau, nhà vua đã nhặt được chiếc hài ấy Chiếc hài rất xinh Vua liền mở hội thử hài để kén vợ Các cô gái lần lượt vào thử hài).

( Lính ra sân khấu).

L ính 2: Thử hài đi, thử hài đi…

ì ghẻ: (Háo hức) Ui da …ui da, sắp vừa rồi…

Trang 13

L ính 2: Đi ra đi ra, rách hài bây giờ, vừa đâu mà vừa chân to quá.

L ính 2: Người tiếp theo.

C

ám: Tới tui, tới tui… hè hè, vừa rồi nè…(Dì ghẻ: vừa rồi vừa rồi, hài này

là của con tui mà…).

L ính 2: Qúa rộng, vừa gì mà vừa…

(

Mẹ con Cám tức tưởi lườm nguýt rồi đi ra).

L ính 2: Người tiếp theo…

T

ấm: Ôi, chiếc hài của mình sao lại ở đây (chạy lại mang vào)

( Lúc Tấm thử hài, dì ghẻ bĩu môi khinh bỉ: Chuông khánh còn chẳng ăn

ai; Nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre).

( Vua xuất hiện).

V ua: Cô này đi hài rất vừa và đẹp Đẹp thật!

( Vua mừng rỡ và nói với Lính 2 cho dừng hội Nhà Vua vui mừng thông báo).

ôi thấy cô gái kia đã đi vừa chiếc hài Tôi phong cô ấy làm hoàng hậu Làm lễrước cô gái ấy về cung

Trang 14

( Tất cả cùng rước Tấm về cung Vào sân khấu)

N

gười dẫn chuyện: Từ đó nhà Vua và Tấm sống hạnh phúc bên nhau Vua yêu

thương và chiều chuộng nâng niu Tấm hết mực Tấm lên ngôi hoàng hậu, hạ chỉ bắt giam mẹ con Cám nhốt trong vườn thượng uyển Ngày ngày phải trồng rau,chăn nuôi, dệt vải….phục vụ Tấm và nhà Vua).

Q

ua câu chuyện, nhân dân ta ca ngợi cô Tấm ngoan hiền, chăm chỉ, lễ phép;

phê phán dì ghẻ độc ác, cay nghiệt và đã rút ra bài học cho muôn đời: Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo.

2.3.2.2 Sân khấu hóa trích đoạn Mẹ Đốp - Lý trưởng (Trích trong vở chèo Quan Âm Thị Kính).

a Hệ thống nhân vật tham gia diễn xuất

Quỳnh Anh trong vai mẹ Đốp

Đức Hạnh trong vai bà Lý

Nhật Tân trong vai Lý trưởng

Đăng Nhât trong vai Bờm

Trang 15

ý trưởng: Mày…ông đây chả mù chả điếc gì đâu nhá!

Thằng bố Đốp mày đâu?

ý trưởng: (chỉ gậy vào mặt Đốp) Mà này…(ngập ngừng) chồng mày vắng

thì mày thay chồng rao cho ông bài mõ

Trang 16

gái phú ông, tên là Mầu thị, tư tình ngoại ý, mãn nguyệt có thai, già trẻ gái trai, ra đình ăn khoán”.

M

ẹ Đốp: Chuyện nhà Lý trưởng, đâu phải nhà con…

(Bờm lẩm bẩm: Ông Lý làm cô Mầu có chửa…rồi đi ra hậu trường).

L

ý trưởng: Nghe rõ lần nữa đây “Chiềng làng chiềng chạ, thượng hạ Tây

Đông, con gái phú ông, tên là Mầu thị, tư tình ngoại ý, mãn nguyệt có thai, già trẻ gái trai, ra đình ăn khoán” Nhớ chưa?

Mầu có chửa ấy…

B

à Lý (đứng hẳn dậy): Cái gì? Ông Lý…cô Mầu Ông này giám mèo mả gà

đồng sau lưng bà Bà cho biết tay

(

Lý trưởng ra sân khấu, hát16nghêu ngao):

Trang 17

à Lý: Á à, lại con mẹ Đốp Đồ mèo mả gà đồng.

(Ngay lúc đó, mẹ Đốp tiến vào vừa đi vừa rao mõ).

Cảnh III

M

ẹ Đốp: Chiềng làng chiềng chạ, thượng hạ Tây Đông, con gái phú ông, tên là

Mầu thị, tư tình ngoại ý, mãn nguyệt có thai, già trẻ gái trai, ra đình ăn khoán

Trang 18

à Lý: Mày nói ai ăn vụng?

(Bờm sợ vạ lây Chạy vào cánh gà sân khấu).

ẹ Đốp: Nghèo hèn à Nghèo thì công an bắt phạt à Nghèo mà sống ngay

thẳng, trong sạch thì đã sao? Còn hơn chúng mày, sống nhục nhã, luồn cúi.Thật xấu hổ

( Nhạc), (trong lúc náo loạn18mọi người chạy vào cánh gà sân khấu).

Trang 19

Đình Phương trong vai Cha học trò.

Trung Kiên trong vai Học trò

Tuấn Anh trong vai thầy Lí

Huyền Trang trong vai Người dẫn chuyện

-b Kịch bản và quá trình thực hiện

Cảnh I:

(Thầy Đồ, cha học trò, học trò)

Người dẫn chuyện: Tiếng chó sủa vang khi nhìn thấy anh nông dân dắt

theo một đứa trẻ vào nhà Thì ra, anh đến nhà thầy Đồ xin cho con học chữ.

Cha học trò: Thầy Đồ có nhà không? Đây có phải nhà thầy Đồ không? Thầy Đồ: Ai đấy? Tôi đây! Nhà thầy Đồ đây Mời vào, mời vào…

Cha học trò: 19

Thưa thầy, hôm nay con chọn được ngày lành tháng tốt,con đưa cháu đến đây để xin thầy dạy cho cháu cái chữ cho nó rộng tai, sángmắt ra ạ

Trang 20

Thầy Đồ: Chà! Việc này khó đây Không biết nhà anh có lo nổi.

Cha học trò: Dạ! Mong thầy thương cho con cái hoàn cảnh gà trống nuôi con lại không có chữ nghĩa Con xin gửi cháu nhà thầy để nhặt chữ vơi,

chữ vãi nhà thầy

Thầy Đồ: Được! Tôi thương cái hoàn cảnh cha con anh và trọng cái đức hiếu học của nhà anh mà nhận nó.

Cha học trò: Xin thầy nhận của cha con con một cái lạy a.

Thầy Đồ: Thôi! Thôi! Ngày mai anh mang đến đây một cái lễ để tôi cúng

Thành Hoàng, Thổ công báo với các ngài để các ngài phù hộ cho con anhdược sáng dạ

Người dẫn chuyện: Sáng sớm ngày mai cha con anh học trò lại đến

và mang theo một cái lễ như lời thầy Đồ.

Thầy Đồ (khấn): Kính lạy Thành Hoàng, Thổ công! Con xin lạy bốn

phương trời, mười phương chư phật đã chỉ đường cho bố con nhà nó đến đây xinhọc để con khỏi mang tiếng là thầy Đồ mà không có học trò Con xin các Ngàicho một đài âm dương để xem cái sự nghiệp của con có được hanh thông

(Thầy Đồ tung đài âm dương được hai mặt sấp ngửa).

Tốt quá! Các ngài đã đồng ý rồi đấy! Số cha con nhà anh thật là có phúc

Cha học trò (Lạy lia lịa): Tạ ơn các ngài! Quả là cha con nhà con thật

có phúc ạ.

Thầy Đồ: Hôm nay cũng là ngày lành tháng tốt để tôi dạy nó

luôn - Ta bắt đầu học từ sách Tam Thiên Tự Học trò: Tam

Trang 21

Học trò (ngân nga theo): Đăng là đèn, Thăng là lên, Giáng là xuống

Thầy Đồ: Tốt lắm ! Đọc to lên! To nữa lên! (Thầy Đồ đắc chí quay sang

nói với cha học trò: con nhà anh sáng dạ lắm Rồi dạy tiếp).

- Đồng là trẻ, Tước là con chim sẻ (Rồi bảo học trò đọc thật to Bổng chữ tiếp theo rối quá).

- Mẹ kiếp! Chữ quái gì đây nhỉ? (Thầy lẩm bẩm một mình Vừa lúc đó học trò hỏi dồn).

Học trò: Thầy ơi! Chữ tiếp theo là gì ạ?

Thầy Đồ (lúng túng): Dủ dĩ là con dù dì (Rồi bảo học trò đọc bé bé kẻo

mệt).

Người dẫn chuyện: Dù thế, nhưng thầy Đồ không chắc bèn vào góc nhà xin đài âm dương Thầy tung ba đài được cả ba Thầy đắc chí.

Thầy Đồ: Thì ra mình cũng thông minh phết! (Nói rồi thầy ra bảo học

trò đọc to lên Cha học trò đang thiu thiu ngủ nghe thấy lạ giật mình chạy lại).

Cha học trò: Chết chửa! Chữ Kê là gà mà thầy lại dạy Dủ dĩ là con dù

dì?

Thầy Đồ (nói một mình):

- Mình đã dốt Lão Thổ công còn dốt hơn cả mình

(Rồi quay sang nói với cha học trò).

- Thì vẫn, tôi biết chữ ấy là chữ Kê Kê nghĩa là gà Nhưng tôi muốn dạy cho cháu tận Tam đại con gà kia

Cha học trò (băn khoăn): Là sao thưa Thầy?

Thầy Đồ: Anh nghe đây này! Dủ dĩ là con dù dì Dù dì là chị con công,

con công là ông con gà 21

Cha học trò (bán tín bán nghi rồi cương quyết): Vậy tôi và thầy đến

gặp thầy Lí hỏi cho ra nhẽ.

Ngày đăng: 19/07/2020, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w