ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG NGUYỄN VĂN BẮC TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG GÓP PHẦN BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI CỘNG ĐỒNG DÂN T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN VĂN BẮC
TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG GÓP PHẦN BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIẾU SỐ VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, TỈNH
NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội – Năm 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN VĂN BẮC
TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG GÓP PHẦN BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC THIẾU SỐ VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT, TỈNH
NGHỆ AN
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS LÊ TRỌNG CÚC
Hà Nội – Năm 2014
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Lê Trọng Cúc đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Ngoài ra tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới:
- Ban quản lý Vườn quốc gia Pù Mát
- Ban dân tộc Tỉnh uỷ Nghệ An
- Thư viện Nghệ An
- Huyện uỷ, UBND huyện Con Cuông
- Các phòng ban của UBND huyện Con Cuông: Phòng dân tộc, Phòng văn hoá, Phòng giáo dục, Phòng thống kê, Phòng nông nghiệp, Phòng kinh tế - kế hoạch, Phòng tài nguyên-môi trường, Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em, Phòng y tế
- Đảng uỷ, UBND xã Châu Khê, lãnh đạo bản Bu và bản Nà xã Châu Khê
- Sự cộng tác của đồng bào người Đan Lai Lai sống tại bản Bu và bản Nà là nơi tôi trực tiếp khảo sát, nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, luận văn chắc chắn còn có rất nhiều hạn chế Tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự góp ý của thầy cô, gia đình, người thân và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 11/2014
Tác giả:
Nguyễn Văn Bắc
Trang 4Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi những tài liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan, được trích dẫn rõ ràng Nếu không đúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 11/2014
Tác giả:
Nguyễn Văn Bắc
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn……….….i
Lời cam đoan……….….ii
Mục lục……… iii
Danh mục các chữ viết tắt……….…….iv
Danh mục các bảng……… v
Danh mục các hình vẽ……….…v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3 Những đóng góp của đề tài 5
4 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Một số khái niệm 6
1.1.1 Tri thức bản địa 6
1.1.2 Cộng đồng địa phương 7
1.1.3 Đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học 7
1.2 Tống quan vấn đề nghiên cứu 8
1.2.1 Trên thế giới 8
1.2.2 Ở Việt Nam 9
Trang 61.2.3 Tình hình nghiên cứu mối quan hệ giữa tri thức bản địa của các cộng
đồng dân tộc lên TNR và ĐDSH tại vùng đệm VQG Pù Mát 11
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 13
2.2 Phương pháp nghiên cứu 13
2.2.1 Phương pháp luận 13
2.2.2 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin, số liệu 13
2.2.3 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu 16
3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 17
3.1.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 17
3.1.2 Điều kiện kinh tế -xã hội khu vực nghiên cứu 19
3.2 Tri thức bản địa của người Đan Lai trong quản lý tài nguyên rừng 26
3.2.1 Các dạng tri thức bản địa ở địa bàn nghiên cứu 26
3.2.2 Phong tục, tín ngưỡng liên quan đến quản lý bảo vệ tài nguyên rừng 32
3.2.3 Tri thức bản địa của người Đan Lai trong khai thác và sử dụng lâm sản 33 3.2.4 Tri thức bản địa của người Đan Lai trong canh tác nương rẫy 48
3.2.5 Tri thức bản địa của người Đan Lai trong chăn nuôi 58
3.3 Vấn đề về giới trong khai thác và sử dụng TNR 60
3.4 Thời gian khai thác một số lâm sản của cộng đồng người Đan Lai 62
3.5 Tri thức bản địa đang ngày bị mai một 63
3.5.1 Nguyên nhân 63
3.5.2 Một số tri thức bản địa bị mai một 64
Trang 73.6 Những cơ hội và thách thức của việc áp dụng tri thức bản địa của cộng đồng
người Đan Lai trong quản lý TNR ở địa phương 66
3.7 Đề xuất một số giải pháp 68
3.7.1 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị tri thức bản địa trong quản lý TNR 68
3.7.2 Đề xuất các giải pháp kỹ thuật góp phần bảo tồn ĐDSH, phát triển và sử dụng hợp lý LSNG đồng thời nâng cao đời sống cộng đồng dựa vào kết KTBĐ và kiến thức KHKT 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 79
Phụ lục 1 Danh sách cán bộ UBND xã Châu Khê tham gia thảo luận nhóm 79
Phụ lục 2 Danh sách người dân tham gia thảo luận nhóm tại bản Bu 79
Phụ lục 3 Danh sách người dân tham gia thảo luận nhóm tại bản Nà 80
Phụ lục 4 Danh sách các cá nhân tham gia phóng vấn 80
Phụ lục 5 Tập quán khai thác và sử dụng một số loài LSNG của người Đan Lai 82
Phụ lục 6 Phân loại nhóm thực vật dùng làm lương thực, thực phẩm, gia vị và thức ăn chăn nuôi 83
Phụ lục 7 Tập quán khai thác và sử dụng một số loại làm lương thực thực phẩm, gia vị và thức ăn chăn nuôi 84
Phụ lục 8 Một số loại cây dùng làm cây cảnh và cây bóng mát 85
Phụ lục 9 Thành phần lao động tham gia thu hái một số loại LSNG chú yếu 85
Phụ lục 10 Thời gian khai thác tập trung của một số LSNG chú trọng của cộng đồng người Đan Lai vùng đệm VQG Pù Mát 86
Phụ lục 11 Đề xuất kỹ thuật khai thác một số LSNG bền vững 88
Trang 8Phụ lục 12 Khả năng gây trồng một số loại cây chú yếu tại khu vực nghiên cứu 91
Phụ lục 13 Phân tích thuận lợi, khó khăn và kiến nghị trong việc phát huy kinh nghiệm khai thác và sử dụng TNR của cộng đồng người Đan Lai tại xã Châu Khê 91 Phụ lục 14 Những công cụ làm rẫy của người Đan Lai 92
Phụ lục 15 Những hình vẽ về công cụ săn bắt của người Đan Lai 93
Phụ lục 16 Những vật dụng đan lát do Đan Lai làm ra 96
Phụ lục 17 Bếp là nơi sấy khô lương thực của người Đan Lai 98
Phụ lục 18 Một số vật dụng trong gia đình của người Đan Lai 98
Phụ lục 19 Một số hình ảnh hoạt động liên quan việc khai thác và sử dụng TNR của cộng đồng người Đan Lai 99
Trang 10Bảng 3.5 Hiểu biết về đặc điểm của một số LSNG của người Đan Lai………….39
Bảng 3.6 Phân loại nhóm thực vật dùng làm lương thực, thực phẩm, gia vị và thức
ăn chăn nuôi……… 40
Bảng 3.7 Hiểu biết về một số LSNG thường dùng làm dược liệu và thuốc chữa bệnh mà người dân Đan Lai khai thác và sử dụng………42
Bảng 3.8 Tập quán khai thác và sử dụng cây thuốc của người dân Đan Lai…….45 Bảng 3.9 Một số loại cây dùng làm cây cảnh và cây bóng mát……… 47
Bảng 3.10 Xếp loại ưu tiên các loài LSNG theo giới……… 61
Bảng 3.11 Lịch mùa vụ khai thác một số LSNG chú trọng của cộng đồng người Đan Lai vùng đệm VQG Pù Mát……… 62
Trang 11Danh mục các hình vẽ
Hình 3.1 Bản đồ VQG Pù Mát (vùng lõi và vùng đệm) và 2 bản nghiên cứu…….17
Hình 3.2 Địa hình xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An ………….… 18
Hình 3.3 Thu nhập trung bình mỗi hộ từ các nguồn thu năm 2013………… 23
Hình 3.4 Chu kỳ canh tác nương rẫy truyền thống của người Đan Lai………….36
Hình 3.5 Hình thức chăn nuôi ở bản Bu và bản Nà năm 2014………43
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tri thức bản địa (indigenous knowledge) đã gắn liền với đời sống và sinh hoạt của người dân đặc biệt là người dân của các dân tộc ít người Người dân các dân tộc ở miền núi có hệ thống kiến thức bản địa (KTBĐ) rất phong phú Hệ thống kiến thức này thực sự là nguồn lực quý giá cho sự phát triển của cộng đồng cũng như sự phát triển của cả xã hội Nó có một vai trò quan trọng không chỉ về mặt văn hoá, tinh thần mà còn trong sản xuất và đời sống của người dân Không những thế,
hệ thống KTBĐ còn góp phần trong việc duy trì và bảo tồn giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH) cho từng địa phương
Theo Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc (1998), KTBĐ là hệ thống các kiến thức của các dân tộc bản địa hoặc của một cộng đồng tại một khu vực nào đó, nó tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng ở một vùng địa lý xác định Ở Việt Nam, các TTBĐ thường rất phát triển ở những vùng rừng núi nơi có các khu hệ sinh thái vô cùng phong phú,
đa dạng Các tri thức của người dân về cách sử dụng và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH) không đơn thuần có ý nghĩa về khoa học mà còn là tài sản văn hóa quý giá của quốc gia và thế giới Song theo thời gian, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật (KHKT), sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội (KTXH), như xây dựng thủy điện, khai thác tài nguyên bằng các công cụ công nghệ cao, chuyển đổi mục đích sử dụng đất không được kiểm soát Do vậy, hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang phải đối mặt với những vấn đề về suy thoái tài nguyên mà trong đó mất rừng và suy giảm ĐDSH là vấn đề được quan tâm hàng đầu
Mặt khác các cộng đồng dân sống ở gần hoặc trong rừng vẫn đang phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên (TNTN), đặc biệt là phụ thuộc vào các sản phẩm ngoài gỗ (như mây, tre, măng, nấm, cây thuốc, các loài động vật…) để phục vụ những nhu cầu cơ bản hàng ngày của họ Sinh kế của các cộng đồng này càng gặp
Trang 13nhiều khó khăn hơn khi nguồn tài nguyên đang bị cạn kiệt dần bởi những hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên không bền vững
Trong những năm gần đây, các phương thức khai thác và quản lý TNTN của người dân địa phương ngày càng được cái tiến và hiện đại hơn Thực tế đã cho thấy các phương thức khai thác càng được cải tiến, hiện đại bao nhiêu thì mức độ tàn phá tài nguyên của chúng càng nghiêm trọng bấy nhiêu Trước đấy việc khai thác tài nguyên rừng (TNR) là dựa vào các phương thức thủ công của các cộng đồng bản địa nên việc tàn phải không phải là mỗi lo ngại lớn Ngày này các công nghệ phát triển, kỹ thuật khai thác hiện đại, một loạt máy móc thiết bị hiện đại như hiện này
có thể khai thác một lượng tài nguyên gấp hàng ngàn lần so với phương thức thủ công ngày xưa trong một thời gian ngắn Vì vậy muốn bảo tồn các TNR và ĐDSH thì cần phải có các phương thức khai thác hợp lý và bền vững Ngày nay vai trò TTBĐ của các cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) trong việc bảo tồn các giá trị ĐDSH đã bị đánh giá chưa đầy đủ và gây nên các kết quả tồi tệ trong công tác bảo tồn TNR và ĐDSH Nên việc đánh giá và duy trì các phương thức này là cần thiết góp phần quản lý và bảo tồn tài nguyên ĐDSH trong bổi cảnh hiện nay
Vườn Quốc gia (VQG) Pù Mát hiện đang lưu giữ một diện tích rừng rất lớn với tính ĐDSH cao Diện tích vùng lõi là 94.804,4ha và vùng đệm khoảng 86.000ha, trong đó 94% diện tích đang còn rừng che phủ và khoảng 22% là rừng nguyên sinh Pù Mát được xem là rừng đặc dụng có diện tích lớn nhất miền Bắc nước ta Diện tích rừng vùng lõi do VQG quản lý; phần diện tích vùng đệm do công
ty lâm nghiệp, chính quyền một số xã và người dân quản lý Hiện nay, trong vùng đệm đang có hơn 93.500 người có các dân tộc Thái, Khơ Mú, H’mông, Đan Lai, Poọng, Ơ đu và Kinh sinh sống trong 111 thôn bản và tốc độ gia tăng dân số khoảng 2,6% mỗi năm Đa số dân cư hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, trong khi đó diện tích đất canh tác ngày càng hạn chế do sự nghèo kiệt nhanh chóng của các vùng đất dốc, do biến đổi khí hậu, do hạn hán và thiếu nước canh tác Trung bình, người dân sống trong vùng đệm chỉ có thể tự túc được khoảng 2/3 lượng lương
Trang 14thực, phần còn lại được mua hoặc cung cấp từ đồng bằng Tình trạng thiếu lương thực trầm trọng hơn ở các bản không hoặc ít ruộng, như bản Bu và bản Nà ở xã Châu Khê, bản Thịn ở xã Lục Giạ, huyện Con Cuông; bản Liên Hương, Tân Hương, Tùng Hương ở xã Tam Quang, huyện Tương Dương, Để duy trì cuộc sống, người dân sống trong vùng đệm VQG Pù Mát đã phải dựa vào rừng, khai thác tài nguyên từ rừng không chỉ để có đủ cái ăn mà còn để bán lấy tiền chi tiêu cho rất nhiều khoản chi phí khác Khi gỗ và động vật hoang dã ngày càng trở nên khó khai thác hơn, họ tập trung nhiều vào việc khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ (LSNG)
Cộng đồng người Đan Lai tại xã Châu Khê thuộc vùng đệm VQG Pù Mát đặc biệt tại hai bản Bu và bản Nà có cuộc sống gắn bó với núi rừng từ lâu đời, có đời sống KTXH còn quá nghèo nàn lạc hậu, mặt bằng dân trí còn quá thấp (gần 100
% người Đan Lai, trên 90% hộ nghèo và cận nghèo), đang gặp nhiều khó khăn vì nguồn TNR cung cấp cho cuộc sống của họ, trong đó có LSNG ngày càng bị thu hẹp về diện tích và hạn chế về số lượng mà một vài trong số các nguyên nhân đó là sức ép dân số và nhu cầu của thị trường Mặt khác, những kinh nghiệm bản địa trong khai thác và sử dụng TNR ở khu vực này đặc biệt là vùng đệm vẫn chưa được nhận diện, nhìn nhận và sử dụng một cách đúng mức Vấn đề bức bách được đặt ra
là làm thế nào để cộng đồng người Đan Lai cải thiện được đời sống của mình đồng thời bảo tồn và quản lý bền vững TNR, bảo tồn ĐDSH là một câu hỏi không dễ gì giải đáp đang đặt ra cho các nhà làm công tác phát triển và bảo tồn
Trước những yêu cầu cấp thiết đó thì tôi thực hiện đề tài: “Tri thức bản địa trong quản lý tài nguyên rừng góp phần bảo tồn đa dạng sinh học tại cộng đồng dân tộc thiểu số vùng đệm vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An”
Trang 152 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu TTBĐ của cộng đồng DTTS vùng đệm VQG Pù Mát liên quan tới việc quản lý TNR, từ đó đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị TTBĐ góp phần phát triển bền vững TNR nói chung và bảo tồn ĐDSH nói riêng, cũng như đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao đời sống của người dân
- Tìm hiểu các cơ hội, thách thức của việc áp dụng các TTBĐ trong quản lý
và phát triển bền vững LSNG tại địa phương;
- Đề xuất các giải pháp phù hợp để bảo tồn và phát triển TTBĐ trong công tác quản lý TNR và bảo tồn ĐDSH tại địa phương cũng như đề ra những biện pháp góp phần nâng cao đời sống phù hợp với TTBĐ của người dân địa phương
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Tri thức bản địa (Indigenous knowledge) của cộng đồng người Đan Lai tại
xã Châu Khê- huyện Con Cuông- tỉnh Nghệ An liên quan đến vấn đề quản lý TNR nói riêng và bảo tồn ĐDSH nói chung
- Cộng đồng người Đan Lai sống tập trung và lâu đời tại bản Bu và bản Nà,
xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Tại hai bản này rất ít có dân tộc khác sinh sống và nằm sát ngay vùng lõi VQG Pù Mát là cộng đồng có hoạt động kinh tế bao đời nay chú yếu khai thác các nguồn lợi từ rừng Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu tại hai bản trên
Trang 163 Những đóng góp của đề tài
- Đề tài hoàn thành là một tài liệu bổ ích cho các nghiên cứu về bảo tồn ĐDSH, phát triển kinh tế bền vững của cộng đồng người Đan Lai gắn với việc sử dụng hợp lý TNR
- Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho những ai quan tâm tới TTBĐ người Đan Lai Đề tài là nguồn tư liệu khảo sát từ thực tiễn và đề xuất một số ý kiến làm cơ sở bảo lưu các giá trị văn hóa tộc người Đan Lai, phục vụ sự nghiệp bảo tồn tộc người này
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
Trang 17CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Tri thức bản địa
Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu, nhưng cho tới nay khái niệm TTBĐ hay tri thức truyền thống vẫn chưa được thống nhất Nói cách khác, tri thức bản địa - tri thức truyền thống được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào các lĩnh vực chuyên môn và theo các mục đích sử dụng thuật ngữ khác nhau
Trong “Cẩm nang về TTBĐ” (tài liệu dịch), được NXB Nông nghiệp ấn hành năm 2000, “TTBĐ (còn có thể gọi bằng những tên khác như "kiến thức địa phương", "kiến thức kỹ thuật bản địa" hay "kiến thức truyền thống") là kiến thức mà người dân ở một cộng đồng đã tạo nên và đang phát triển dần theo thời gian” Khái niệm “Tri thức bản địa” trong tập tài liệu xuất bản tháng 12 năm 2002 của tổ chức quốc tế COMPAS (Tổ chức quốc tế chuyên nghiên cứu và hoạt động khuyến khích hỗ trợ, phát huy hệ thống Tri thức bản địa của tất cả các cộng đồng dân tộc) công bố: “TTBĐ hoặc là kiến thức địa phương, được tái tạo, được sử dụng, được phát triển từ người dân ở mỗi vùng Nó không bị giới hạn đối với cư dân bản địa và có thể bao gồm kiến thức nguyên gốc từ mọi miền đã được hòa đồng bởi người địa phương thông qua xử lý địa phương trong học tập, thực nghiệm và thích nghi Nó hình thành những cơ sở xác định, tổng hợp, nhận biết, khám phá và bảo tồn nguồn tài nguyên địa phương Nó cũng là gốc rễ của mọi trạng thái thực hành, nâng cao sự hiều biết và luôn luôn hoàn thiện hơn”
Ở Việt Nam, vấn đề này cũng được nhiều nhà khoa học thuộc cả hai lĩnh vực
- khoa học tự nhiên và khoa học xã hội - như Lê Trọng Cúc, Hoàng Xuân Tý, Phạm Quang Hoan, Ngô Đức Thịnh… quan tâm Tuỳ theo cách hiểu của mình, họ cũng đưa ra nhiều khái niệm với những nội hàm khác nhau Lê Trọng Cúc đồng nhất tri thức địa phương với văn hoá truyền thống Theo ông, “tri thức địa phương được tích luỹ qua kinh nghiệm to lớn nhờ tiếp xúc chặt chẽ với thiên nhiên, dưới áp lực chọn
Trang 18lọc, trong quá trình tiến hoá của sinh quyển và dần dần trở thành văn hoá truyền thống” (Lê Trọng Cúc và cộng sự, 1998) [4, tr 18]
Trong khuôn khổ của luận văn, khái niệm TTBĐ được sử dụng theo Hoàng
Xuân Tý và Lê Trọng Cúc, 1998, “Tri thức bản địa (TTBĐ) (Indigenouse knowledge) là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa, hoặc của một cộng đồng
tại một khu vực cụ thể nào đó, tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng” [4, tr 22]
Cộng đồng trong khái niệm QLR cộng đồng, được giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn bản gần rừng gắn bó chặt chẽ với nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống văn hoá xã hội (Nguồn FAO, 2000)
1.1.3 Đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học
Theo Luật Đa dạng sinh học năm 2008 thì Đa dạng sinh học là sự phong phú
về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên
Đa dạng gen còn được gọi là đa dạng di truyền, là tập hợp những biến đổi
của các gen và các kiểu gen (genotype) trong nội bộ của một loài [9, tr 122]
Đa dạng loài là sự phong phú về số lượng các loài được tìm thấy trong các
hệ sinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định, thông qua việc điều tra, kiểm kê [9, tr 137]
Đa dạng hệ sinh thái là thuật ngữ dược sử dụng để mô tả cả về số lượng các
môi trường sống hoặc các quần xã sinh vật khác nhau (ví dụ, rừng lá kim, sa mạc,
Trang 19rừng mưa nhiệt đới, đất ngập nước, v.v) lẫn sự đa dạng về các cộng đồng sinh học
và các quá trình sinh thái diễn ra trong một HST nhất dịnh Thực tế, chưa có nghiên cứu nào chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa đa dạng loài với sự ổn định của cả một hệ sinh thái (Jonhson et al, 1996), tuy nhiên, người ta tin rằng chính sự phổ biến của một số loài chủ chốt (hoặc là các sinh vật độc lập hoặc là nhóm các sinh vật) sẽ quyết định sự vững mạnh của một hệ sinh thái cụ thể (Folke at al, 1996)
Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các HST tự nhiên
quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền
1.2 Tống quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Trên thế giới
Trước đây, TTBĐ được coi là những kiến thức nông cạn, hời hợt, không mang tính khoa học Ngày nay, TTBĐ được nhìn nhận đúng với vai trò của nó
Xác định về thời gian và không gian thì TTBĐ là hệ thống tri thức tồn tại
và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý xác định với sự đóng góp của các thành viên trong cộng đồng (G.Louise, 1993), Herb (1991) cũng đã đưa
ra những lập luận nhằm ủng hộ QLR cộng đồng rằng “QLR bởi cộng đồng tạo ra những cơ hội để tìm kiếm các giải pháp mà ở hệ thống tập trung quyền lực không
có được Cộng đồng là nơi mà các hoạt động được thực tế diễn ra, và kế hoạch được xác lập hàng ngày Quá trình lập kế hoạch và hành động được lồng ghép một cách
có trách nhiệm bởi vì chúng được thực hiện ở tại một nơi và bởi cùng một cộng đồng” [16, tr 2]
Các công trình nghiên cứu của nước ngoài như của Smita Mishra (2004) nghiên cứu về KTBĐ của phụ nữ trong quản lý TNR ở Ấn Độ, của Moreno-Black
và nnk (2004) và của Zweifel (2004) nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong bảo tồn ĐDSH Các tác giả đã đưa ra kết luận rằng người phụ nữ bản địa chính là các
Trang 20chuyên gia về ĐDSH và có vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn nguồn tài nguyên ĐDSH [16, tr 2]
Công trình của R.J Fisher (1991) nghiên cứu về các hệ thống QLR bản địa
ở Nê Pan đã chỉ ra rằng các hệ thống này là rất đa dạng và mang tính đặc thù về dân tộc và phân bố địa lý [16, tr 3]
Nghiên cứu điển hình của Casson (2004) về hệ thống nông lâm kết hợp của cộng đồng người bản địa Krui ở Inđônêxia cũng cho thấy KTBĐ của người dân trong việc sử dụng và quản lý khôn khéo nguồn TNR đã được chính người dân phát huy để nâng cao đời sống của mình [16, tr 3]
Sử dụng bền vững LSNG đang được coi là một trong những giải pháp giúp xoá đói giảm nghèo cho các nước vùng nhiệt đới Các nghiên cứu của nước ngoài như đã đăng trong tạp chí Nuffic IK WorldWide (2002) về vai trò của ong mật bản địa trong việc cải thiện đời sống của người dân địa phương vùng Himalaya hay công trình nghiên cứu của Erdelen và nnk (2004) về vai trò quan trọng của dược liệu truyền thống của Inđônêxia – một sản phẩm mang giá trị hai mặt: ĐDSH và đa dạng văn hóa, cũng là những gợi mở cho hướng phát triển LSNG như là một sinh kế quan trọng đối với những người dân có cuộc sống phụ thuộc vào rừng [16, tr 3]
1.2.2 Ở Việt Nam
Thực tế, không phải chờ cho đến khi diễn ra quá trình “Tái nhận thức bản thân” thì ở Việt Nam mới có những nghiên cứu về TTBĐ Sự bảo tồn, duy trì và phát triển của một loạt các truyền thống phương Đông (y học, kỹ thuật dẫn thuỷ nhập điền, canh tác trên đất dốc, các nghề thủ công…) chứng tỏ rằng chưa bao giờ các TTBĐ bị coi nhẹ trên mảnh đất hình chữ “S” này Nghiên cứu của các nhà thực vật học, dược học, nông học, dân tộc học, văn hoá học… đã góp phần chỉ ra những giá trị quan trọng của hệ thống các TTBĐ của người dân các DTTS Chính các nhà khoa học trong các lĩnh vực này cũng đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa hệ thống TTBĐ với việc duy trì cuộc sống của các DTTS trong bối cảnh hoà quyện với
tự nhiên, với nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, với bản lĩnh - bản sắc văn hoá tộc
Trang 21người, cho dù đã có rất nhiều biến cố xảy ra trong suốt gần 2 thế kỷ ảnh hưởng của
văn hoá phương Tây [18, tr 34]
Việc nghiên cứu vận dụng các TTBĐ trong khai thác và sử dụng tài nguyên được nhiều cơ quan quản lý và các ngành hữu quan quan tâm Các nhà khoa học tự nhiên thường tìm hiểu các kinh nghiệm quản lý, sử dụng và bảo vệ các nguồn TNTN; các nhà nông học thường tìm hiểu về các tri thức liên quan đến giống cây trồng, vật nuôi, mùa vụ, kinh nghiệm canh tác…; các nhà khoa học thuộc ngành y - dược thường quan tâm đến các tri thức liên quan đến cây thuốc, các bài thuốc dân gian và các y thuật cổ truyền… Một nghiên cứu về cây thuốc và TTBĐ về cách sử dụng cây thuốc ở Việt Nam cho biết: “Việt Nam được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và đa dạng sinh vật Trong đó, hệ thực vật cũng rất phong phú và đa dạng Hiện nay, đã biết 10.386 loài thực vật bậc cao có mạch, dự đoán có thể tới 12.000 loài Trong số này, nguồn tài nguyên cây làm thuốc chiếm khoảng 30% Theo tài liệu của Pháp, trước nǎm 1952 toàn Đông Dương chỉ biết có 1.350 loài cây thuốc, nằm trong 160 họ thực vật Sách "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của Đỗ Tất Lợi (1999) giới thiệu 800 cây con và vị thuốc Sách
"Cây thuốc Việt Nam" của Lương y Lê Trần Đức (1997) có ghi 830 cây thuốc Cuốn "Từ điển cây thuốc Việt Nam" của Võ Vǎn Chi (1997) đã thống kê khoảng 3.200 loài cây thuốc, nhưng trong đó lại có cả những cây nhập nội như bạch chỉ
(Angelica dahurica), đương quy (Angelica sinensis), độc hoạt (Angelica pubescens) và theo số liệu mới nhất của Viện dược liệu (2000) thì ở Việt Nam có 3.830 loài cây làm thuốc (Trần Công Khanh, 2000) [18, tr 35]
Nghiên cứu về các TTBĐ trong trồng trọt, Lê Trọng Cúc tán đồng quan điểm
của Đào Thế Tuấn (Hệ sinh thái nông nghiệp Việt Nam, 1984): “canh tác nương rẫy
vẫn là phương thức có hiệu quả nhất đối với các nước vùng nhiệt đới ẩm Một đơn
vị năng lượng bỏ ra có thể thu được từ 5 đến 15 đơn vị năng lượng sản phẩm Một ngày công sản xuất nương rẫy thu được bằng 2 lần ngày công ở Đồng bằng sông Cửu Long và 3 lần ở vùng Đồng bằng sông Hồng” [18, tr 36]
Trang 22Một trong những giá trị nổi bật của các DTTS là những TTBĐ của nhân dân
về quản lý và khai thác TNTN, ở đó con người và tự nhiên gắn bó hữu cơ, con người là một bộ phận không thể tác rời tự nhiên Luật tục với những TTBĐ về môi trường và cách thức quản lý, khai thác các nguồn TNTN vẫn giữ nguyên giá trị tích cực của nó (Ngô Đức Thịnh,1999) [14, tr 14]
Nghiên cứu TTBĐ trong sử dụng TNTN và bảo vệ môi trường ở nông thôn Việt Nam năm 2003, Võ Chí Trung đã chỉ ra rằng không nhất thiết chỉ có một phương thức dựa vào tiến bộ kỹ thuật và kiến thức khoa học hiện đại, mà kế thừa, ứng dụng, phát huy được nhiều vốn TTBĐ của các dân tộc Phát triển những loài LSNG phần lớn kế thừa vốn quí TTBĐ của các cộng đồng tộc người, thực hiên xóa đói giảm nghèo và bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên rất có hiệu quả (Võ Chí Trung, 2003) [3, tr 20]
1.2.3 Tình hình nghiên cứu mối quan hệ giữa tri thức bản địa của các cộng
đồng dân tộc lên TNR và ĐDSH tại vùng đệm VQG Pù Mát
Tình hình nghiên cứu về TTBĐ lên TNR và ĐDSH tại vùng đệm VQG Pù Mát trước đây chưa thật sự rõ nét đâu đó trong các tài liệu cũng được đề cập sơ qua nhưng không làm nổi bật giá trị các TTBĐ đó Nghiên cứu về TTBĐ của con người
và vùng đất khu vực này nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung hầu như đến nay vẫn
có tính chất riêng lẻ, không mang tính hệ thống, phương pháp tiếp cận sử dụng chủ yếu là mô tả không đi vào bản chất cốt lõi thực sự của TTBĐ Trong đó đáng kể nhất là nghiên cứu của Lê Trọng Cúc, A Terry Rambo (2000) đã báo cáo trong dự
án “Giám sát xu hướng phát triển miền núi phía Bắc Việt Nam”, nghiên cứu đã tiến hành tại cộng đồng người Đan Lai ở Khe Nóng, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, cho thấy được luật tục và vai trò của cộng đồng trong quản lý, khai thác rừng, mối quan hệ giữa sinh thái và hiện trạng phát triển của cộng đồng người này, tác giả đã chỉ ra rằng hiện trạng thảm thực vật tự nhiên ở Khe Nóng là tốt nhất trong 5 điểm nghiên cứu của dự án do cư dân Đan Lai ở Khe Nóng có hệ thống canh tác kém phát triển, dựa chủ yếu vào canh tác nương rẫy truyền thống mang tính tự cung tự
Trang 23cấp tại chỗ và mức độ bảo tồn thiên nhiên có mối quan hệ ngược lại với hiện trạng phát triển [8, tr 56]
Nghiên cứu về tái định cư và sự thay đổi phương thức mưu sinh của người Đan Lai ở Tân Sơn và Cửa Rào, xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, tác giả Bùi Minh Thuận (2012) đã bước đầu đưa ra được một số phương thức canh tác nương rẫy và chăn nuôi của cộng đồng người Đan Lai trong đó hoạt canh tác nương rẫy và khai thác LSNG là chú yếu của cộng đồng người Đan Lai, gạo, sắn và ngô chỉ cung cấp đủ 6-8 tháng trong năm, các tháng còn lại người dân vào rừng khai thác củ mài, môn thục và các loại LSNG khác [19, tr 63]
Trong báo cáo Đánh giá vai trò của LSNG trong đời sống cộng đồng ở khu vực Khe Bu, vùng đệm VQG Pù Mát, Đào Minh Châu và Trần Minh Hợi (2012) đã chỉ ra rằng ba bản vùng Khe Bu thuộc vùng đệm của VQG Pù Mát là những bản nằm gần vũng lõi, là người dân tộc Thái và Đan Lai có cuộc sống phụ thuộc nhiều vào rừng, từ 41%-61% tổng thu nhập của hộ là từ khai thác LSNG Trong số 60 hộ được phỏng vấn thì 100% số hộ đều khai thác LSNG và trung bình mỗi hộ hàng năm khai thác được lượng LSNG có giá trị khoảng 15 triệu đồng [4, tr 6]
Hiện nay đã có một số nghiên cứu về TTBĐ liên quan đến quản lý TNR và ĐDSH của các cộng đồng DTTS tại một số địa phương, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về TTBĐ liên quan đến quản lý TNR được thực hiện với cộng đồng người Đan Lai ở vùng đệm VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Vùng đệm VQG Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
Những người dân bản địa sống ở gần rừng, qua quá trình phát triển lâu dài đã tích lũy và phát triển các kinh nghiệm và kiến thức về quản lý nguồn cung cấp sự sống cho họ, và nhờ đó họ có thể thích ứng với điều kiện môi trường luôn thay đổi Những kinh nghiệm và kiến thức này được hình thành, phát triển trong quá trình lao động sản xuất và những hoạt động sử dụng TNTN Đó là những kiến thức kỹ thuật
và phi kỹ thuật (phong tục, tập quán, tín ngưỡng, luật tục) được phát triển nhờ sự đóng góp của tất cả các thành viên của một cộng đồng cụ thể ở một vùng xác định
và được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền khẩu (Hoàng Xuân
Tý, 2000)
2.2.2 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin, số liệu
a) Phương pháp kế thừa
Các tài liệu được thu thập theo phương pháp kế thừa có chọn lọc trong vòng
từ 3 – 5 năm (từ năm 2010 – 2014) trong việc thu thập các tài liệu về: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Châu Khê; các tài liệu, công trình nghiên cứu về người Đan Lai VQG Pù Mát; các báo cáo, văn bản về chính sách và công tác quản lý bảo
vệ rừng ở VQG Pù Mát; các báo cáo về các chương trình nâng cao đời sống cho cộng đồng người dân vùng đệm VQG Pù Mát; các báo cáo nghiên cứu về vùng đệm
Trang 25VQG Pù Mát, tài liệu các hội thảo về phát triển vùng đệm các khu bảo tồn và VQG,
sự tham gia của cộng đồng địa phương trong công tác bảo tồn TNR, các văn bản luật và chính sách liên quan đến vùng đệm VQG Pù Mát
b) Chọn điểm nghiên cứu
Lựa chọn điểm nghiên cứu dựa vào thông tin cơ bản về dân tộc, sinh kế, khai thác sử dụng TNR của các nghiên cứu liên quan đã thực hiện (Đào Minh Châu và cộng sự 2013, Bùi Minh Thuận 2012, Trần Chí Trung và cộng sự 2004, Lê Trọng Cúc và Terry Rambo 2001 và một số nghiên cứu khác) và phóng vấn cán bộ VQG
Pù Mát, Chi cục kiểm lâm huyện Con Cuông, UBND huyện Con Cuông trên cơ sở
đó xã được chọn là xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An thuộc vùng đệm VQG Pù Mát
Dựa vào thông tin của các nghiên cứu trước và các kết quả trao đổi với lãnh đạo xã, tôi đã lựa chọn các bản làm điểm nghiên cứu Chỉ tiêu lựa chọn các bản này
là sự phụ thuộc của họ vào TNR, thành phần dân tộc, sinh kế Các bản đã được lựa chọn là: bản Bu và bản Nà (xã Châu Khê) và lựa chọn cộng đồng người Đan Lai là cộng đồng có hoạt động kinh tế bao đời nay chú yếu khai thác các nguồn lợi từ rừng [8, tr 8]
c) Thu thập thông tin và số liệu hiện trường
Để thu thập các số liệu và mục tiêu của đề tài đã nêu trên, luận văn sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) để thu thập các thông tin và
số liệu hiện trường:
-Thảo luận nhóm:
Tại mỗi bản, chọn 10- 15 người dân (Danh sách xem Phụ lục 2 và 3) là những người những người làm nghề thuốc, thợ săn (trước đây), những người già có nhiều kinh nghiệm sản xuất và trưởng họ được mời tham gia thảo luận nhóm Một
số công cụ như: lược sử sử dụng TNR, phân tích lịch mùa vụ, phân tích thuận lợi,
Trang 26khó khăn và giải pháp được áp dụng để trao đổi, thu thập và phân tích thông tin Nội dung các buổi thảo luận nhóm tập trung vào việc xác định và phân tích TTBĐ liên quan đến vấn đề quản lý TNR nói chung và ĐDSH nói riêng tại mỗi bản
- Phóng vấn bán cấu trúc:
Chọn mẫu: thông qua buổi trao đổi với trưởng bản chọn 20 hộ ở mỗi bản là những người làm nghề thuốc, thợ săn (trước đây), những người già có nhiều kinh nghiệm sản xuất và trưởng họ
Tiến hành phóng vấn bán cấu trúc 20 hộ (Danh sách phóng vấn xem phụ lục 4) mỗi bản đã lựa chọn thông qua bảng câu hỏi soạn sẵn, nội dung phỏng vấn tập trung vào quy ước, tín ngưỡng, phong tục tập quán của người Đan Lai trong quản lý bảo
vệ rừng; loại sản phẩm, thời gian, cách thức, đối tượng tham gia (giới tính, tuổi) khai thác, mục đích sử dụng các loại lâm sản
* Một số thuận lợi và khó khăn khi thực hiện:
- Thuận lợi:
+ Sau một thời gian tiếp xúc thì người dân bắt đầu cởi mở và nhiệt tình cung cấp thông tin
+ Những thông tin của các câu hỏi được người dân tham gia thảo luận để đưa
ra câu trả lời chính xác nhất (kiểm tra được độ tin cậy của thông tin)
- Khó khăn:
+ Người dân tộc có trình độ học vấn còn thấp nên khi đưa ra câu hỏi người dân trả lời lan man hoặc lạc chủ đề nên thường phải nhắc lại nhiều lần và giải thích cặn kẽ cho người dân hiểu rõ trọng tâm của câu hỏi
+ Người dân tại điểm nghiên cứu là dân tộc thiểu số có giọng nói khó nghe + Ban đầu người dân còn e dè trong việc cung cấp thông tin liên quan đến khai thác và sử dụng TNR
Trang 272.2.3 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu
Dựa trên số liệu điều tra, thu thập được tiến hành xử lý và phân tích định lượng bằng phần mềm Microsoft Office Excel Thống kê mô tả là phương pháp chính được sử dụng để xử lý số liệu trong đề tài Kết quả xử lý được thể hiện theo dạng phân tích, mô tả và bảng Các kết quả thảo luận, các thông tin định tính như chính sách, tổ chức cộng đồng, thể chế cộng đồng, thị trường được phân tích theo phương pháp định tính
Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng công cụ phân tích SWOT để phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa của cộng đồng người Đan Lai liên quan đến quản lý TNR, từ đó có thể đưa ra nhưng giải pháp bảo tồn và phát huy những kiến thức tích cực của cộng đồng người Đan Lai góp phần nâng cao đời sống người dân vùng đệm VQG Pù Mát
SWOT là chữ viết tắt từ các từ tiếng Anh: Strength (điểm mạnh), Weakness (điểm yếu), Opportunity (cơ hội) và Threat (đe doạ) Phân tích SWOT giúp cho việc làm rõ 4 mặt trên đây để lựa chọn phương án hay giải pháp tối ưu, tránh sa vào các quyết định chủ quan
- Điểm mạnh và điểm yếu: phân tích các nguồn lực bên trong khu vực nghiên cứu bằng cách kiểm kê tài nguyên và vốn của khu vực nghiên cứu Các nguồn lực rất đa dạng, nhưng tập trung vào các khía cạnh: nhân lực, tài lực (kinh phí), vật liệu (trang thiết bị, nguyên liệu ), tin lực (thông tin), thời lực (quỹ thời gian), nguồn lực quản lý - lãnh đạo - điều hành
- Cơ hội và đe dọa là những đánh giá về môi trường bên ngoài khu vực nghiên cứu Cơ hội chính là những thuận lợi của đầu vào, là mối tương tác thuận lợi với các hệ thống khác, là thời cơ Đe dọa bao gồm các sức ép, các cản trở, các khó khăn bên ngoài tác động vào cộng đồng người Đan Lai trong khu vực nghiên cứu
Đó có thể là những đe dọa công khai hay tiềm ẩn
Trang 28CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Hình 3.1 Bản đồ VQG Pù Mát (vùng lõi và vùng đệm) và 2 bản nghiên cứu
“Nguồn:[ Đào Thị Minh Châu, 2013]”
Trang 29Hình 3.2 Địa hình xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
“Nguồn: [SRTM data-USGS, 2005]”
Xã Châu Khê có diện tích tự nhiên vào khoảng 44.057,66 ha, trong đó có diện tích rừng là 41.051,62ha, diện tích đất nông nghiệp là 714,90 ha Hiện nay diện tích rừng trồng theo dự án 147 là 25ha, theo dự án Tân Hồng là 21ha và trồng rừng thay nương rẫy năm 2010 là 100ha Cũng như các xã miền núi Tây Nam của tỉnh Nghệ
Trang 30An, địa hình của xã Châu Khê rất phức tạp và hiểm trở, có nhiều núi cao trên 1300m và bị chia cắt bởi các sông suối (hình 3.2) Các dãy núi cao chạy dọc theo biên giới Việt-Lào như Pù Mát (1841m), Pù Văn, Pù Đen Đinh, các dãy núi thấp hơn một chút như Pù Luông, Pù Nong, Pù Nhong, Pù Huổi Ngoa và Cao Vều có độ cao từ 1100m đến 1600m chạy theo hướng Đông bắc-Tây nam ra sông Lam Với địa hình hiểm trở như vậy Châu Khê có rất ít đât bằng phẳng, chủ yếu là đất có độ dốc cao
c) Khí hậu
Xã Châu Khê nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió Tây nam (gió Lào) vào mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 10, và gió Đông bắc vào mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Theo số liệu khí tượng của trạm Con Cuông năm 2013: nhiệt độ trung bình năm của khu vực là 23,5°C Tháng 7 là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất 34,6°C Tháng 1 là tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất 14,4°C
Lượng mưa trung bình năm là 1791mm Tháng 12 là tháng có lượng mưa trung bình thấp nhất 33,5mm Tháng 9 là tháng có lượng mưa trung bình cao nhất 386mm
3.1.2 Điều kiện kinh tế -xã hội khu vực nghiên cứu
a) Dân số
Xã Châu Khê có 3 dân tộc Thái, Kinh và Đan Lai cùng chung sống Năm
2013 Châu Khê có 5500 nhân khẩu thuộc 1220 hộ gia đình Trong đó người Thái có
2554 người, Kinh có 1666 người và Đan Lai có khoảng 1280 người Cuộc sống của người dân xã Châu Khê chủ yếu là dựa vào canh tác nông nghiệp và khai thác lâm sản Trong nông nghiệp họ trồng lúa nước, lúa nương, ngô, sắn và các loại hoa màu khác Ngoài ra họ còn nuôi trâu, bò, lợn, gà
Trang 31Đợt điều tra đánh giá của tôi được thực hiện ở 2 bản vùng trong, sâu nhất của
xã Châu Khê và gần nhất với vùng lõi của VQG Pù Mát, đó là bản Bu và bản Nà Trong bảng 3.1 dưới đây chỉ ra một số thông tin cơ bản của 2 bản vùng nghiên cứu:
Bảng 3.1 Một số thông tin cơ bản của bản Bu và bản Nà, xã Châu Khê
năm 2013
Thông tin
Bản
Tổng diện tích
đất (ha)
Diện tích đất nông nghiệp (ha)
Diện tích đất rừng (ha)
Tổng
số dân
Tổng số
hộ gia đình
Tổng số
hộ nghèo
Số tháng thiếu ăn
“Nguồn: [Báo cáo thống kê VQG Pù Mát, 2013]”
Theo số liệu do VQG Pù Mát cung cấp thì bản Bu có số dân đông nhất nhưng diện tích đất nông nghiệp lại nhỏ nhất, đó là lý do chính dẫn tới số tháng thiếu ăn của người dân bản Bu trung bình là 8 tháng, cũng là bản có số hộ nghèo nhiều hơn cả, chiếm tỷ lệ tới 61,6% Bản Nà là bản có diện tích đất nông nghiệp/khẩu lớn, vì thế số tháng thiếu đói ít hơn bản Bu
b) Tình hình sản xuất và thu nhập
- Sản xuất nông nghiệp:
Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là lúa và ngô (Bảng 3.2) Do địa hình đồi núi và khí hậu khắc nhiệt nhiệt nên đã ánh hướng lớn đến năng suất của các cây trồng
Trang 32Bảng 3.2 Diện tích gieo trồng các nông sản chính của xã Châu Khê năm 2013
2014, tình hình chăn nuôi của xã như sau: trâu, bò: 2.331 con; lợn: 2.747 con; gia cầm: 13.050 con [22, tr.12]
c Khai thác lâm sản ngoài gỗ
Qua thu thập thông tin, ước tính mức thu nhập từ một số LSNG của người Đan Lai ở bản Bu và bản Nà, xã Châu Khê như sau:
Trang 33Bảng 3.3 Thu nhập từ một số loại lâm sản năm 2013
“Nguồn: [Đào Minh Châu và cộng sự, 2013]”
Qua hình 3.3 cho thấy hai bản Bu và bản Nà thuộc vùng đệm của VQG Pù Mát là những bản nằm gần vũng lõi, có cuộc sống phụ thuộc nhiều vào rừng, từ 52%-61% tổng thu nhập của hộ là từ khai thác LSNG trung bình mỗi hộ hàng năm khai thác được lượng LSNG có giá trị khoảng 15-17 triệu đồng, trong khi đó hoạt động làm ruộng và rẫy chỉ chiếm khoảng 9 % và 15% ước khoảng 2,62 triệu và 4,21 triệu đồng năm
Trang 34Bản Bu Bản Nà
Hình 3.3 Thu nhập trung bình mỗi hộ từ các nguồn thu năm 2013
“Nguồn: [Đào Thị Minh Châu và cộng sự, 2013]”
Diện tích đất nông nghiệp tại bản Bu chỉ chiếm 0,44 % (6 ha) và bản Nà chỉ chiếm 1,02 % (11 ha), có thể nói rằng thiếu đất nông nghiệp là khó khăn lớn đối với vấn đề an ninh lương thực và xoá đói giảm nghèo ở đây Tuy nhiên diện tích đất lâm nghiệp khá lớn của địa phương (73%) có thể được coi là tiềm năng phát triển trong tương lai Nhưng làm thế nào để người dân có thể nâng cao đời sống trên diện tích đất lâm nghiệp hiện có lại là bài toán không dễ giải đáp Trên thực tế, cuộc sống của người dân vẫn phải phụ thuộc nhiều vào các sản phẩm của rừng, nhưng thu nhập từ các sản phẩm rừng lại thấp do điều kiện khai thác khó khăn cũng như khả năng tiếp cận thị trường của người dân bị hạn chế, họ thường bán sản phẩm ở dạng thô cho người thu mua trung gian, nên phải chịu bán với giá rẻ
d) Một số thông tin về văn hóa của cộng đồng người Đan Lai
vẫn còn là một điều bí ẩn, xung quanh vấn đề này vẫn còn tồn tại rất nhiều ý kiến trái ngược nhau Các nhà nghiên cứu dân tộc học, lịch sử học, xã hội học, văn hóa học… vẫn chưa thể thống nhất được một ý kiến chung về nguồn gốc hình thành tộc người Đan Lai Trong sách Thanh Chương Tú Khí (của Bùi Dương Lịch, thư tịch
Trang 35Chương, Nghệ An) bắt dòng họ La phải tìm cho ra “100 cây nứa bằng vàng, một chiếc thuyền chèo liền mái”, nếu không sẽ bị thảm sát cả họ Dưới vòm trời này làm
gì có cây nứa bằng vàng, con thuyền liền mái? Thế là trong đêm tối mịt mùng, cả làng họ La gồng gánh nhau trốn chạy lên núi, họ chạy mãi, mãi mãi đến thượng nguồn con sông Giăng này, nơi không còn nghe thấy tiếng người mới dám dừng chân - một bộ tộc mới ra đời từ đây…” Họ đã chọn vùng biên giới Việt Lào thuộc huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An làm nơi cư trú cho tộc người Đan Lai là một nhóm địa phương của dân tộc Thổ Theo thống kê năm 2013 của Chi cục thống kê huyện Con Cuông, hiện nay có khoảng hơn 3000 người Đan Lai phân bố chú yếu ở các xã Châu Khê, Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Lạng Khê
- Sản xuất: Người Đan Lai trước đây có lối sống theo kiểu du canh, du cư
Cuộc sống chủ yếu dựa vào rừng, phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên, do vậy, đời sống của người Đan Lai gặp vô vàn khó khăn Những chuyển biến của kinh tế người Đan Lai chỉ diễn ra những năm cuối giao thời của hai thế kỷ XX và XXI họ đã biết trồng loại cây như ngô, sắn Các loại cây trồng mới như lạc, mía cũng được đưa vào trồng trên đất màu của người Đan Lai Nhiều giống cây công nghiệp mới được đưa vào trồng như keo, vải, xoài, cam, chanh, nhãn
- Văn hóa: Trải qua hàng trăm năm lịch sử, tộc người Đan Lai đã có một nền
văn hóa truyền thống lâu đời khá phong phú bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Ngoài những nét chung về văn hóa giống với các dân tộc cư trú trên cùng địa bàn với họ như Kinh, Thái, thì người Đan Lai cũng có nhiều nét văn hóa mang yếu tố đặc trưng riêng khó lẫn Đời sống văn hóa vật chất của tộc người Đan Lai thể hiện khá phong phú từ cách chế biến món ăn, cách tiếp thu và cải biến các loại trang phục cho đến các kiểu xây dựng nhà cửa, tổ chức làng bản… Đặc biệt là tục ngủ ngồi, người Đan Lai có tập tục là không bao giờ ngủ nằm Tục ngủ ngồi ăn sâu vào máu thịt từ người già đến trẻ con trở thành thói quen của tất cả mọi người Tục ngủ ngồi xuất phát từ việc phải thường trực ý thức trốn chạy thật nhanh nếu bị quan quân chế độ phong kiến vây bắt Đó cũng là cách để giúp họ hàng ngày chống chọi
Trang 36với muông thú hoang dã đang rình rập Từ hơn 300 trăm năm tộc người Đan Lai đã luôn sống trong cảnh không có nhà, chỉ lấy cành cây dựng tạm thành cái lều ở tạm cho đến khi hỏng thì mới làm lại Mỗi khi màn đêm buông xuống, trong túp lều tạm
bợ ấy, cả gia đình chỉ dám ngồi quây quần bên đống lửa để canh chừng thú dữ tấn công Lâu dần thành thói quen, ngồi thâu đêm như vậy ai cũng mệt nhoài, chỉ dám tranh thủ chợp mắt để khi có thú đến còn có đà chạy vào rừng sâu lẩn trốn Chính vì thế, cho đến tận bây giờ, ngủ ngồi đã thành một tập tục của tộc người Đan Lai Trẻ con lớn lên chỉ cần biết ngồi vững là đã phải học cách ngủ ngồi Người Đan Lai không chỉ ngủ ngồi quanh bếp lửa, tộc người này còn có thể ngủ trên cây mỗi khi đi săn bắt, hái lượm không kịp về bản Hiện nay, do những điều kiện thay đổi nên tục ngủ ngồi chỉ còn xuất hiện ở những hộ dân ở khu vực bản Cò Phạt, Khe Khặng thuộc xã Môn Sơn nằm trong vùng lõi VQG Pù Mát [1, tr 33]
Đời sống văn hóa tinh thần của người Đan Lai cũng khá phong phú và đa dạng Trong tín ngưỡng, ngoài những quan niệm chung của người Đan Lai về các loại vật tổ, người Đan Lai còn có những quan niệm về linh hồn, về thế giới đất trời trong vũ trụ Tục thờ cúng tổ tiên cũng được thể hiện với nhiều nét đặc sắc riêng, tộc người này còn có tục lệ đón tết cổ truyền với nhiều hình thức phong phú Trong những ngày vui, ngày lễ lớn, họ cũng đã tổ chức nhiều hội trò chơi dân gian như ném còn, hội uống rượu cần, hội thi bơi… góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người Đan Lai Về văn học nghệ thuật, tuy còn khá đơn giản về loại hình và không phong phú trong hình thức thể hiện nhưng qua đó cũng đã nói lên được một cách khá đầy đủ những biến thiên của cuộc sống và khát vọng vươn lên làm chủ cuộc sống của người Đan Lai
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của người Đan Lai thuộc ngữ hệ Việt - Mường và
trong tiếng nói hàng ngày của họ cho đến tận ngày nay vẫn còn giữ được nhiều tiếng cổ Trong từ vựng giữa hai nhóm Đan Lai và Tày Poọng có hơn 80% từ chung, nên có nhiều nhà nghiên cứu đang đề nghị xếp ngôn ngữ của hai nhóm này thành một ngữ hệ riêng chứ không phải là phương ngữ của một ngôn ngữ [1, tr 42]
Trang 373.2 Tri thức bản địa của người Đan Lai trong quản lý tài nguyên rừng
Qua quá trình sống gắn bó lâu đời với núi rừng, người dân bản địa đã tích luỹ được các kiến thức và kinh nghiệm mưu sinh phong phú, đa dạng và quý giá Hệ thống TTBĐ của người Đan Lai ở xã Châu Khê liên quan đến quản lý TNR nói chung và ĐDSH nói riêng có nhiều dạng, bao gồm: thông tin, kinh nghiệm và kỹ thuật/công nghệ khai thác, sử dụng, chế biến và phát triển, các loại công cụ, nguồn nhân lực và về tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ nghi và các giá trị văn hoá,
3.2.1 Các dạng tri thức bản địa ở địa bàn nghiên cứu
a) Thông tin
Những hiểu biết của người dân về các loại lâm sản, đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh trưởng, thời vụ khai thác, cách thức khai thác, các hiểu biết về điều kiện môi trường xung quanh,.v.v được xếp vào dạng kiến thức thông tin Trong số đó, thông tin về đối tượng lâm sản được khai thác sử dụng là tương đối đông nhất, nhưng hiểu biết về môi trường xung quanh của các lâm sản đó lại có sự khác biệt lớn và chỉ một vài cá nhân có được bởi vì những kiến thức này phụ thuộc vào thời gian tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn và khả năng quan sát tinh tế
Mối quan tâm, hiểu biết của người dân về các lâm sản có sự phân biệt theo giới Nam giới thường quan tâm và có hiểu biết nhiều hơn về các loài vật liệu xây dựng, có giá trị kinh tế như các loài cây gỗ, song , mây và nhóm cây thuốc có công dụng tăng cường sức khoẻ, còn phụ nữ thường quan tâm đến các loài thực phẩm cho người và cho gia súc như: nhóm măng, rau, tôm, cua, cá đặc biệt là các loài mang nhiều công dụng và một số cây thuốc liên quan đến bệnh tiêu hoá và tăng cường sức khoẻ cho phụ nữ
Người dân ở đây có kiến thức phân loại, thể hiện trong cách họ phân biệt các loại khác nhau thuộc cùng một nhóm lâm sản Ví dụ: nhóm cây mây gồm có mây nếp, mây nước và mây bột Loại kiến thức này có thể sẽ hữu dụng trong công tác
Trang 38phát triển những lâm sản có tiềm năng giá trị kinh tế cao, phục vụ cho đời sống người dân
Cách thức khai thác lâm sản của người dân dựa trên sự hiểu biết về khả năng sinh trưởng và tái sinh của chúng, đặc biệt đối với một số loài thể hiện tính chọn lọc
và bảo tồn rất rõ Qua phỏng vấn người dân cho biết, cây mây có khả năng tái sinh sau 5 năm và vì một cây với ba ngọn, sau một năm có thể cho ra 36 lá nên khi khai thác phải để lại ba lá non để cho cây phát triển tiếp Kiến thức này của họ nếu so sánh với kiến thức kỹ thuật hiện đại là không có sự khác biệt: "Mây nếp trong vườn ươm với 3 - 4 lá là có thể đem trồng" [11, tr 22]
Ngoài ra người Đan Lai còn có cách dự báo thời tiết dựa vào thiên nhiên và kinh nghiệm cổ truyền, dựa vào thời tiết của 12 ngày đầu tiên trong tháng Giêng để làm căn cứ dự báo thời tiết của 12 tháng trong năm Thời tiết của ngày mồng 1 tháng Giêng ứng với thời tiết của cả tháng Giêng và cứ thế thời tiết tháng 2 thì ứng với ngày mồng 2 tháng Giêng Nếu thời tiết từ sáng đến chiều mồng 1 tháng Giêng
âm u thì có thể thời tiết cả tháng Giêng năm đó sẽ âm u, mưa phùn nhiều Căn cứ như vậy, kinh nghiệm dự báo thời tiết của người Đan Lai như sau:
Sáng câm u, chiều nắng: đầu tháng mưa, cuối tháng nắng
Sáng nắng, chiều âm u: đấu tháng nắng, cuối tháng mưa
Sáng nắng, chiều nắng: cả tháng nắng, có thể mưa phùn
Sáng mưa, chiều mưa: cả tháng mưa nhiều, nắng ít [1, tr 64]
Tuy nhiên, hiện nay chỉ còn những người già, lớn tuổi mới biết kinh nghiệm này, theo thời gian cũng như có nhiều thông tin truyền thông mà kiến thức dự báo thời tiết truyền thống ngày càng mai một
Trang 39b) Công cụ sản xuất và văn hoá
Người Đan Lai ở bản Bu và bản Nà xã Châu Khê tự sản xuất nhiều công cụ sản xuất, các công cụ văn hoá và trang phục với những hình dáng hoa văn, kích cỡ
đa dạng, độc đáo Ví dụ, dụng cụ để đựng cũng đã có rất nhiều loại như: cái Lọc ló dùng để đựng các hạt giống như ngô, lúa (được đan bằng tre hoặc nứa rừng); cái Thúng để đựng thóc lúa (cũng được đan bằng tre và mây rừng); cái Nỏ (được làm bằng gỗ, tre, mây) dùng để sắn bắn, mũi tên thường được tấm thuốc đột chiết xuất
từ thân cây cò nòng Không chỉ có vậy, những công cụ dùng trong sản xuất cũng được những người dân nơi đây đan rất tỉ mỉ, khéo léo: cái rổ dùng để đựng các vật dụng trong nhà (làm bằng tre rừng), cái Bể, cái sàng, cái thúng, cái sá dùng để đựng rau hay lúa gạo hay như các dụng cụ đánh bắt cá cũng được người dân chế tạo từ sản phẩm của rừng: cái Chàn (chài) được làm từ sợi gan đan thành ô dùng để đánh bắt cá Tuy nhiên, kiến thức loại này không được truyền thụ lại cho con cháu và hầu như đã bị mai một Hiện nay chỉ còn một vài cụ già còn nhớ cách đan các vật dụng trên, đặc biệt là vật dụng trong quá trình đánh bắt cá thì thế hệ trẻ không còn biết cách đan
c Kỹ thuật/ công nghệ
Một số kiến thức ở dạng kỹ thuật trong khai thác TNR như: khai thác mật ong rừng là dạng kiến thức đặc biệt, thường chỉ có đàn ông tham gia Bên cạnh những kiến thức kỹ thuật đặc biệt thì cũng có những kiến thức kỹ thuật mang tính phổ thông đơn giản như cách chặt cây hay cách lợi dụng dòng chảy của con suối để vận chuyển gỗ, củi đốt mà họ khai thác, thu lượm được từ rừng
c Tín ngưỡng, phong tục tập quán
Người Đan Lai có những phong tục tập quán lâu đời nhằm giữ gìn một số vùng đất quan trọng cho bản Những tập quán này góp phần giữ gìn các vùng đất đầu nguồn nước, hay những nơi rừng tốt tránh khỏi việc bị khai thác một cách bừa bãi Một loại
Trang 40rừng cấm bị nghiêm ngặt trong việc khai thác là “rừng ma” - là nơi chôn người chết của bản và các khu miếu thờ Những khu rừng này cũng bị cấm khai thác.
Cộng đồng người Đan Lai ở bản Bu và bản Nà xã Châu Khê có cơ chế tự quản từ lâu đời và hiện vẫn được duy trì khá hiệu quả Cơ chế này có thể được xem như là quản lý cộng đồng, nó cho phép các thành viên trong cộng đồng được tiếp cận và hưởng lợi từ rừng nhưng loại trừ người ngoài cộng đồng hoặc thôn, bản ngoài Tổ chức cao nhất của hội này bao gồm trưởng bản, các người già và các trưởng họ Nhờ chính những niềm tin vào phong tục truyền thống này của cộng đồng bản địa ở đây mà một bộ phận rừng đã được bảo vệ từ thế hệ này sang thế hệ khác Ý thức bảo tồn của người dân có thể được nâng cao nếu quan niệm truyền thống của họ được trân trọng và được khuyến khích một cách hợp lý
đ Các giá trị văn hóa
Giá trị văn hóa nghệ thuật là một bộ phận trong đời sống văn hóa tinh thần của tộc người Đan Lai Tuy nhiên, có thể thấy rằng nền văn học nghệ thuật của họ khá đơn giản trong các loại hình và trong hình thức thể hiện Có một điều đặc biệt là một số loại hình trong nền văn học nghệ thuật được người Đan Lai được tiếp biến từ các dân tộc khác, đặc biệt là một số làn điệu dân ca, một số câu hát của người Đan Lai được tiếp thu và cải biến từ các câu hát của người Thái Sau đây một số bài cúng, bài đồng giao của người Đan Lai có liên quan đến TNR
- Bài cúng 30 tết
Tộc người Đan Lai sống chủ yếu trong rừng sâu, nơi chốn “sơn cùng thuỷ tận” họ vẫn có một bản sắc văn hoá hết sức độc đáo, tục đón tết đơn giản những rất văn hoá, chiều 30 tết cả già trẻ, trai gái người Đan Lai đều xuống suối tắm giặt sạch
sẽ không để lại những cáu bẩn của năm cũ trên thân thể mình Cỗ cúng tết chỉ có mật ong, cá, rượu, bài cúng tuy dân dã những đậm đà tính nhân văn: