1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA HỆ SỢI NẤM POLYPORES TRONG MỘT SỐ MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤY

50 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 3,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính mới và sáng tạo - Đây là đề tài nghiên cứu về điều kiện môi trường tối ưu cho hệ sợi nấm phát triển tốt phục vụ cho việc lưu giữ và bảo quản hệ sợi nấm cho các nghiên cứu cho khu vự

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

KHOA MÔI TRƯỜNG

Thuộc nhóm ngành khoa học:

Khoa học kỹ thuật và công nghệ

Trang 2

HÀ NỘI, THÁNG 7 – 2020

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

KHOA MÔI TRƯỜNG

Nhóm sinh viên thực hiện: Vũ Thị Thùy Dung

Trang 4

HÀ NỘI, THÁNG 7 – 2020

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

KHOA MÔI TRƯỜNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung

- Tên đề tài: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của hệ sợi nấm Polypores trong một

số môi trường nuôi cấy

- Nhóm sinh viên thực hiện:

1 Vũ Thị Thùy Dung

2 Nguyễn Minh Đức

3 Đào Việt Hà

4 Nguyễn Thị Thuyết

- Lớp: DH7M1 Khoa: Môi trường

- Năm thứ: 03 Số năm đào tạo: 04

- Người hướng dẫn: TS Lê Thanh Huyền

2 Mục tiêu đề tài

1 Đánh giá được các điều kiện môi trường đến quá trình sinh trưởng và phát

triển của hệ sợi nấm lớn Polypores.

2 Lựa chọn điều kiện môi trường tối ưu và theo dõi sự phát triển của hệ sợi

nấm lớn Polypores phục vụ cho việc lưu giữ và bảo quản hệ sợi nấm lớn.

3 Tính mới và sáng tạo

- Đây là đề tài nghiên cứu về điều kiện môi trường tối ưu cho hệ sợi nấm phát

triển tốt phục vụ cho việc lưu giữ và bảo quản hệ sợi nấm cho các nghiên cứu cho

khu vực nghiên cứu đồng thời bổ sung cho nghiên cứu về tìm loài nấm có giá trị

trong thực tiễn cho y dược

4 Kết quả nghiên cứu

- Nhóm đã thu được môi trường phù hợp thích nghi cho hệ sợi nấm lớn

Polypores phát triển tốt nhất , và duy trì giống nấm trên môi trường đĩa thạch.

- Môi trường thích ứng nhất đó là PDA, PGA

Trang 5

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng

và khả năng áp dụng của đề tài

Góp phần bổ sung vào đa dạng sinh học, phát hiện và làm nền tảng nghiên cứuchuyên sâu hơn về khả năng kháng khuẩn của một số Nấm lớn, góp phần tìm ra thành

phần môi trường phù hợp đối với loài nấm lớn Polypores Nhằm tạo ra các sản phẩm

mới hơn vào đa dạng sinh học các chủng nấm đang thích nghi với môi tường và pháttriển hơn Điều đó có giá trị rất lớn trong ngành Y học nói chung và ngành Sinh họcnói riêng

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả

nghiên cứu (nếu có): không

Hà Nội, Ngày tháng năm 2019

Sinh viên chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài

(Ký, ghi rõ họ và tên)

Vũ Thị Thùy Dung

Trang 6

Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện đề tài

Nhóm sinh viên thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của hệ

sợi nấm Polypores trong một số môi trường nuôi cấy” đã nghiên cứu, theo dõi được

3 mẫu nấm có hệ sợi phát triển tốt ở các điều kiện môi trường PDA, MCM,

PGA,TH và YMA Bước đầu đã nghiên cứu được những mẫu có khả năng phát

triển tốt ở điều kiện môi trường PDA, PGA

Nhóm sinh viên có kỹ năng đọc và tham khảo tài liệu tốt, trao đổi nghiên cứuvới giáo viên hướng dẫn khi gặp khó khăn Tuy nhiên do thời gian và chi phối bởihọc tập do vậy còn có một số sơ suất trong thao tác phân tích Tuy nhiên nhóm sinhviên do Dung làm trưởng nhóm đã hoàn thành tốt yêu cầu của nhóm đặt ra Có thểnói đây là nhóm sinh viên chăm chỉ và có ý thức kỷ luật tốt, luôn luôn trao dồi kỹnăng đọc và làm viêc nhóm tốt Tôi đánh giá nhóm sinh viên đã thực hiện đề tài tốt,hoàn thành nghiên cứu khoa học của sinh viên

Trang 8

Trong quá trình thực hiện đề tài: " Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của

hệ sợi nấm Polypores trong một số môi trường nuôi cấy” Chúng em đã nhận

được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất của các quý thầy cô giáotrong khoa Môi trường và các quý thầy cô giáo trong ban giám hiệu Trường Đạihọc Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Chúng em xin bày tỏ lòng cảm ơn chânthành về sự giúp đỡ đó

Đặc biệt, chúng em xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc nhất đến:

TS Lê Thanh Huyền - giảng viên khoa Môi trường- Trường Đại học Tài nguyên vàMôi trường Hà Nội- cô đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho chúng em trong suốtquá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu này Cô đã tận tình chỉ bảo cho chúng emnhững kiến thức lý thuyết và những thực nghiệm quý báu cùng với đó là những lờiđộng viên

Tiếp theo, chúng em xin được cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ, ân cần chỉ bảo vànhiệt tình giảng dạy của các thầy cô tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường

Hà Nội Những kiến thức mà thầy cô truyền đạt chính là nền tảng cho chúng emthực hiện đề tài nghiên cứu này

Cuối cùng, để có được kết quả như ngày hôm nay, chúng em xin được gửi lờicảm ơn và lòng biết ơn đến những người thân, bạn bè của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Nhóm sinh viên thực hiện

Vũ Thị Thùy DungNguyễn Minh Đức Đào Việt Hà Nguyễn Thị Thuyết

Trang 9

MỤC LỤC

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Trang

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Trang

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu về nấm lớn

* Đặc điểm về cây nấm:

Hình 1 Cấu tạo của nấm

* Điều kiện sống của nấm

Nấm phân bố khắp nơi trên thế giới, ký sinh và hoại sinh rộng khắp ở các loài

cây lá rộng đến lá kim, thậm chí ở các tre trúc, dừa, cau, cọ dừa và nho Nấm tiết racác men phân giải màng tế bào endopolygalacturonase (endo – PG) và endopectinmethyl – translinase (endo – PMTE) có tác dụng làm nhũn tế bào thực vật rất mạnhgây nên tình trạng các loại gỗ và rễ cây bị mùn ra

Bảng 1.1: Điều kiện môi trường cần thiết cho sự phát triển nấm

Trang 13

Nấm lớn là một thành phần quan trọng trong hệ sinh thái có giá trị kinh tế vàkhoa học cao Nấm là quả thể được biết đến với hai dạng: nấm ăn được và nấm độc.Nấm ăn được sử dụng rộng rãi làm thực phẩm, dược phẩm chúng có thể sử dụng trongrất nhiều món ăn, ở nhiều nền ẩm thực khác nhau Nấm là thực phẩm có giá trị dinhdưỡng cao, có độ đạm cao và ít chất béo, chứa nhiều vitamin nhóm B và C Nấm làloại thực phẩm được xếp vào loại rau sạch rất giàu dinh dưỡng, có thể thay thế thịt cá

và là nguồn dược liệu quý Bên cạnh đó nấm lớn còn có công dụng phòng ung thư,tăng cường sức khoẻ, nhiều loại nấm quý còn vừa là món ăn ngon vừa là mỹ phẩmthiên nhiên không tác dụng phụ giúp chống lão hoá, dưỡng tóc, đẹp da, đặc biệt một sốloài còn có công dụng trong ngành công nghiệp và y học Tuy có nhiều công dụng nhưvậy, nhưng các nghiên cứu về nấm lớn tại Việt Nam hiện nay còn rất ít, chủ yếu là vềcác hoạt chất của nấm, các nghiên cứu về phân loại nấm và đánh giá độ đa dạng củachúng vẫn chưa có nhiều Bên cạnh đó, tính đa dạng nấm lớn ở các rừng quốc gia ngàymột giảm xuống do không có sự bảo tồn các loài nấm quý hiếm và chưa có nhận thứcđúng đắn cho việc bảo tồn chúng Đây là một tổn thất rất lớn trên tất cả các phương

diện kinh tế, khoa học, môi trường, và nhân văn Chính vì lí do đó, nhóm chúng em

đã chọn đề tài “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của hệ sợi nấm Polypores trong một số môi trường nuôi cấy”.

2 Mục tiêu

1 Đánh giá được các điều kiện môi trường nuôi cấy ảnh hưởng đến quá trình

sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm lớn Polypores.

2 Lựa chọn điều kiện môi trường nuôi cấy tối ưu và theo dõi sự phát triển của

hệ sợi nấm lớn Polypores phục vụ cho việc lưu giữ và bảo quản hệ sợi nấm lớn.

3 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1 Khảo sát thực tế các điều kiện môi trường đến quá trình sinh trưởng

và phát triển của hệ sợi nấm lớn

+ Nghiên cứu hệ sợi nấm lớn thích hợp phát triển trên các môi trường: PDA,

PGA,TH và YMA

+ Xác định điều kiện môi trường thích hợp cho sự phát triển của loài nấm lớn Nội dung 2 : Nuôi cấy và theo dõi sự phát triển để giữ giống hệ sợi nấm lớn

Polypores trong điều kiện Phòng thí nghiệm

+ Nghiên cứu khảo sát môi trường tối ưu thích hợp cho sự sinh trưởng và phát

triển của nấm lớn Polypores

Trang 14

+ Giữ giống và theo dõi ở các điều kiện đã xác định được

Nội dung 3: Đề xuất môi trường tối ưu để phục vụ cho biện pháp bảo tồn đa dạngsinh học của nấm lớn

+ Đưa ra điều kiện môi trường tối ưu nhằm phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học củanấm lớn

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1.Tình hình nghiên cứu nấm lớn thuộc ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota trên thế giới

Nấm được con người biết đến cách đây hơn 3000 năm, trong suốt thời gian dài,trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về nấm lớn

Trong thế kỷ XIX, ngành Myxomycota được biết đến từ De Bary A., năm 1887tại London với công trình “Comparative morphology and biology of the fungi,

Mycetozoa and bacteria”, đã so sánh đặc điểm hình thái và sinh học của nấm, động vật

và vi khuẩn [7] Năm 1893 Čelakovský L., nghiên cứu về Myxomycetes “Ueber dieAufnahme lebender und todter verdaulicher Körper in die Plasmodien der

Myxomyceten” tại Đức [8] Năm 1884, Strasburger E nghiên cứu về loài Trichia

fallax [9] Trong thế kỷ này chưa có công trình nghiên cứu nấm ngành Asomycota và

Basidiomycota nổi bật Ở thế kỷ XX, ngành Myxomycota tiếp tục được nhiều nhàkhoa học quan tâm: Constantineanu JC., năm 1907 tại Berlin, đã giới thiệu sự pháttriển của ngành 7 Myxomycota [10] Năm 1930 tại Mỹ Kamby P., nghiên cứu màu sắcplasmic của các loài thuộc lớp Myxomycetes [11]

Lúc này nghiên cứu nấm ngành Basidimycota bắt đầu bởi Rea C., nghiên cứunấm Đảm tại Anh “British Basidiomysetes” năm 1922 [12] Năm 1953 tại Hoa Kỳ,Overholts L.O., cho ra đời công trình “The Polyporaceae of the United States, Alaska,Canada” đã phân tích tỉ mĩ về nấm lỗ [13]

Sau 1960, ngành nấm Myxomycota chỉ còn ít tác giả nghiên cứu: Wollman C.,Alexopoulos CJ., năm 1964 nghiên cứu bào tử Myxomycetes trong sự phát triển trênmôi trường thạch [14] Trong khi đó việc nghiên cứu nấm ngành Ascomycota vàBasidiomycota phát triển mạnh mẽ Tại New Zealand, Cunningham G.H., năm 1965công bố họ nấm lỗ với tên đề tài “The Polyporaceae of New Zealand”, ông đã cho biếttại New Zealand có 550 loài nấm lỗ [15] Corner E.J.H., dày công nghiên cứu về nấm

lỗ ở châu Âu với công trình “Ad Polyporaceas II” đã mô tả hình thái hiển vi, cấu trúc

sợi, khóa định loại của các loài thuộc họ Polypocraeae ở các chi Polyporus,

Mycobonia, Echinochaete tại Anh Tiếp tục ở phần “Ad Polyporaceas III” ông phân

tích các chi như Piptoporus, Buglossoporus, Laetipory Meripilus, bondarzewia Phần

“Ad Polyporaceas IV” ông phân tích hình thái và khóa định loại các chi như

Trang 16

Daedalea, Flabellophora, Flavodon, Gloeophyllum, Heteroporus, Irpex, Lenzites, Microporellus, Nigrofomes, Nigroporus, Oxyporus, Paratrichaptum, Rigidoporus, Scenidium, Trichaptum, Vanderbylia, and Steccerinum [16] Nghiên cứu về nấm sống

ở đất có Hanns Kreisel năm 1967, trong công trình

“Taxonmisch-Pflanzegeographische Monographie Der Gattung Bovista” của mình, ông đã mô tả đặc điểm hình thái, cấu trúc sợi nấm, định loại 45 loài nấm thuộc chi Bovista [17] Donk

M.A., năm 1967 ông đã mô tả, định loại các loài nấm lỗ ở Châu Âu công trình “Notes

on European Polypores II Notes on poria” [18]

Năm 1970, Teng S.C., cho ra đời tác phẩm “Fungi of China” ông mô tả đến 2400loài, 601 chi thuộc các lớp: Myxomycetes (5 bộ), Phycomycetes (6 bộ),

Ascomycetes (16 bộ), Basidiomycetes (12 bộ), Deuterommycetes (4 bộ) [19].Olive (1975) phân chia nấm thành bảy lớp: Protosteliomycetes, Ceratomyxomycetes,Dictyosteliomycetes, Acrasiomycetes, Myxomycetes, Plasmodiophoromycetes vàLabrinthulomycetes Sau đó, Ông đã nâng các lớp phụ như Protosteliomycete.Trong thời gian này nghiên cứu về nấm ngành Basidiomycota có tác giả Rolf Singer,năm 1986 với “The Agaricales in modern taxonomy” đã mô tả tỉ mĩ về hình thái, cấu

trúc và bào tử 17 họ, 230 chi và hàng trăm loài thuộc bộ Agaricales [22] Zhao Ji-Ding,

năm 1989, trong cuốn “The Ganodermataceae in China” ông mô tả hệ sợi, bào tử và

định loại cho 64 loài thuộc chi Ganoderma, 20 loài thuộc chi Amauroderma, Chi

Haddowia có 1 loài, chi Humphreya 1 loài [23] Năm 1994 tác giả Pegler D.N.,

Spooner B., nghiên cứu đề tài “The mushroom identifier” đã mô tả 341 loài nấm lớn ởAnh [24] Tại Đài Loan năm 1998, Chec-Jen Chen nghiên cứu đề tài “Morphological

and molecular phylogenies in the genus Tremella”, hình thái và cấu trúc của các loài thuộc chi Tremella đã được phân tích tỉ mĩ [25] Năm 1999, Alexadra M Gotlieb và Jorge E Wright nghiên cứu “Taxanomy of Ganoderma from southern south america:

Subgenus Elfvingia” đã phân tích hình thái hệ sợi nấm, mô tả và bằng hiển vi điện tử

bào tử của các loài G lipsiense, G lobatum, G testaceum, G tornatum, chú trọng đặc biệt loài G amazonensis, G annulare, G chilense, G phillippi ở Nam Mỹ [26].

Sang thế kỉ XXI các công trình nghiên cứu nấm ngành Myxomycota,Ascomycota và Basidiomycota phát triển nhanh chóng: đầu năm 2000 Abe T., cùng

đồng sự, nghiên cứu về Physarum polycephalum [33] Năm 2000, Johannesson H., đã nghiên cứu 5 loài thuộc chi Daldinia của bắc Âu là: D concentrica, D fissa, D.

Trang 17

grandis, D loculata, D petriniae [34] Năm 2004 Clark J, Haskins EF, Stephenson

SL., nghiên cứu về quá trình sinh sản của 11 loài nấm thuộc Mycetozoa [35] Còn MaoXiaolan và cộng sự, xuất bản cuốn “The Macro fungi in China”, ở tại Trung Quốctrong đó mô tả hình thái, cấu tạo sợi nấm, bào tử, với nhiều hình ảnh, bằng tiếngTrung Quốc và đã ghi tên loài bằng tiếng Latin [36] Lorelei L Norvell và Scott A

Redhead, đã nghiên cứu đề tài “Stropharia albivelata and its basionym Pholiota

albivelata”, dựa trên cơ sở phân tích bào tử và cấu trúc phân tử, ông đã thay đổi loài Pholiota albivelata thành loài Stropharia following và loài Stropharia earlei thành loài Pholiota cubensis [37].

Trong đề tài “Life history strategies of corticolor myxomycetes: the life cycle,plasmodial types, fruiting bodies, and taxonomic orders” Everhart S.E., và KellerH.W., cho biết năm 2001 họ tìm thấy ở ngành Myxomycota có 5 bộ: bộ Trichiales 156loài, bộ Licales 135 loài, bộ Stemonitales 175 loài, bộ Physarales 382 loài, bộEchinosteliales 19 loài Đến năm 2008 hai tác giả này tìm ra 46 loài mới trong đó: bộTrichiales 8 loài, bộ Licales 11 loài, bộ Stemonitales 9 loài, bộ Physarales 14 loài, bộEchinosteliales 4 loài [38] Năm 2003, Sheng-Hua Wu, Xiaoqing Zhang, nghiên cứu

đề tài “The Finding of three Ganodermataceae species in Taiwan” đã tìm ra 3 loài mới

là cho Taiwan là Ganoderma densizomatum, G rotundatum, Tomophagus colossus [39] Vellinga EC., Else C năm 2003 nghiên cứu đề tài “Chlorophyllum and

Macrolepiota (Agaricaeae) in Australia” đã mô tả và định loại 4 loài thuộc chi Chlorophyllum và 3 loài thuộc chi Macrolepiota [40] Năm 2005, K Heikki cùng đồng

sự tại miền nam Ural của Nga đã phân tích, mô tả và định loại 139 loài nấm lỗ trongcông trình “Polypore (Aphyllophorales, Basidiomycetes) studies in Russia 1 South

Ural” [41] Tan, Y.S., và cộng sự, năm 2007 đã nghiên cứu loài thuộc chi Marasmius

từ Malaysia, đã xác định được 3 loài mới: M acerosus, M nummulariodes, M.

selangorensis phân tích cấu trúc DNA được 6 loài M abundans var aurantiacus, M acerosus, M haematocephalus, M luteomarginatus, M nummulariodes, M selangorensis, [42] Takami H và Harold W K năm 2008 nghiên cứu nấm ngành

Myxomycota đã sử dụng SEM cho biết trong 40 loài nghiên cứu thuộc chi Badhamia

thì 14 loài phân tích có bào tử rất bé khoảng 0,4µm, một số loài bào tử đạt 0,3µm, thậm chí chỉ 0,1-0,2µm [43] Sanmee, R., và đồng sự năm 2008 tại Thái Lan đã

0,2-nghiên cứu đề tài “Studies on Amanita”, đã xác định 25 loài thuộc chi Amanita trong

Trang 18

đó có 18 loài mới cho Thái Lan [44] Năm 2009 tại Thái Lan các tác giả Wannathes, và

cộng sự nghiên cứu chi Marasmius (Basidiomycota) họ đã mô tả hình thái, phân tích cấu trúc hiển vi xác định được 57 loài thuộc chi Marasmius ở vùng bắc Thái Lan,

trong đó có 17 loài mới cho khoa học được phân tích trình tự DNA [45] Tan, Y.S., và

cộng sự tiếp tục nghiên cứu chi Marasmius trong đề tài “Marasmius sensu stricto in Peninsular Malaysia” họ đã xác định được 43 loài thuộc chi Marasmius trong đó: 9 loài mới cho khoa học: M angustilamellatus, M diminutivus, M distantifolius, M.

iran, M kanchigansis, M kuthubuttheenii, M musicolor, M ochroboides, M olivascens, 19 loài mới cho vùng Peninsular Malaysia, 36 loài phân tích được trình tự

DNA [46] Clark J., năm 2010, đánh giá hệ thống sinh sản của Myxomycetes [47].Tại Ấn độ, Bhosle S., cùng đồng sự, nghiên cứu về khóa phân loại và đa dạng chi

nấm Ganoderma ở phía tây của Maharashtra (Ấn Độ), nghiên cứu này đã mô tả hình dạng quả thể, phân tích bào tử của 15 loài và 3 chi Họ cho biết Ganoderma lucidum là dược liệu quan trọng và nhiều loài trong chi Ganoderma đều là nấm dược liệu [48].

Năm 2012, Ivan V Zmitrovich, OlegN Ezhov, Solomon P Wasser đã “Species of

genus Trametes Fr.” nghiên cứu phân tích các loài thuộc chi Trametes, mô tả hình thái hiển vi và đưa ra khóa định loại được 63 loài nấm thuộc chi Trametes [49].

Năm 2013, Kamila Tomoko YUYAMA, Jadergudson PEREIRA, Cristina Sayuri

MAKI, Noemia Kazue ISHIKAWA nghiên cứu loài Daldinia eschscholtii với đề tài

“Daldinia eschscholtii (Ascomycota, Xylariaceae) isolated from the Brazilian

Amazon: taxonomic features and mycelia growth conditions” đã nghiên cứu hình thái

và cấu trúc phân tử của loài Daldinia eschscholtii họ đã tiến hành nuôi cấy và phân lập

ở các điều kiện nhiệt độ 20, 25, 30, 35 độ C ở môi trường (MEPA), (MEP), (PD) và(MM) [50] Marisa Campos-Santana, cùng đồng sự nghiên cứu, mô tả và xây dựng

khóa định loại 6 loài mới Amaunoderma camerarium, A brasiliense, A intermedium,

A omphalodes, A schomburgkii, A.sprucei, với đề tài “Species of Amauroderma

(Ganodermatacea) in Santa Catarina State Southern Brazil” [51]

1.2.Tình hình nghiên cứu nấm lớn thuộc ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota ở Việt Nam.

Nghiên cứu nấm lớn trên lãnh thổ Việt Nam ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX cónhững công trình tiêu biểu như: nhà nấm học Pháp Patouillard, N.M đã có nhữngcông trình nghiên cứu nấm ở Việt Nam được công bố vào những năm 1890- 1928 có

Trang 19

235 loài được mô tả thì chỉ có 44 loài được thừa nhận [52, 53, 54] Ngoài raPatouillard và một số tác giả nước ngoài khác nghiên cứu về nấm lớn Việt Nam đượccông bố: năm 1909 với đề tài “Quelques champignons de l’Annam” [55], năm 1923với đề tài “Contributions a l’etude des champignons de l’Annam” [56], nghiên cứu đềtài “Nouvelle contribution a la flore mycologique de l’Annam et du Laos” ông công bố

178 loài nấm lớn cho Việt Nam [57] Năm 1968, Joly P., trên cao nguyên Lang-Bian,

đã mô tả, xác định 20 loài nấm thuộc chi Xylaria [68] Năm 1986, Parmasto E., thống

kê được 310 loài thuộc bộ Aphyllophorales và họ Polyporaeae s.str ở Việt Nam và tổng kết trong “Danh mục bước đầu về các loài nấm Aphyllophorales và Polyporaeae

s.str Việt Nam” [59].

Các nhà nghiên cứu nấm Việt Nam có Trịnh Tam Kiệt năm 1978, công bố

“Những dẫn liệu về hệ nấm sống trên gỗ vùng Nghệ An”, 90 loài nấm sống trên gỗ đãđược mô tả [60] Năm 1981 Trịnh Tam Kiệt công bố công trình “Nấm lớn ở Việt Namtập 1”, đã mô tả 116 loài nấm thường gặp ở Việt Nam [61] Trần Văn Mão năm 1984

đã xác định được 239 loài phá gỗ qua đề tài “Góp phần nghiên cứu thành phần loài vàđặc điểm sinh học của một số nấm lớn phá hoại gỗ ở vùng Thanh- Nghệ-Tỉnh” [62].Trịnh Tam Kiệt và Phan Huy Dục đã xác định được 29 loài nấm mực thuộc họ

Coprinaeae rose vùng Hà Nội [63].

Năm 1991, Ngô Anh xác định được 104 loài nấm lớn ở thành phố Huế [64] Phan

Huy Dục, công bố 56 loài trong bộ Agaricales qua “Kết quả bước đầu điều tra bộ

Agaricales Clements trên một số địa điểm thuộc đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam” [65].Năm 1992, Phan Huy Dục đã khẳng định Nấm Linh Chi là nguồn dược liệu quý hiếmcần được bảo vệ và nuôi trồng [66] Năm 1993, Phan Huy Dục tiếp tục với cánh rừngphía Bắc với đề tài “Nấm phá hoại gỗ thường gặp trong rừng nhiệt đới miền Bắc Việt

Nam” đã xác định được 39 loài nấm phá hoại gỗ [67] Ba loài nấm ăn Volvariella

volvacea, Auricularia polytricha và Pleurotus florida, được Ngô Anh báo cáo trong

thông tin khoa học Thừa Thiên Huế [68] Năm 1994, Phan Huy Dục xác định 16 loàinấm hoang dại được dùng làm thực phẩm ở Việt Nam khi nghiên cứu đề tài “Một sốloài nấm hoang dại được dùng làm thực phẩm ở Việt Nam” [69] Phan Huy Dục báocáo về công dụng dược liệu của nấm Linh chi ở Việt Nam, tại hội Đại học Y Khoa BắcKinh, Trung Quốc [68] Trịnh Tam Kiệt, Lê Xuân Thám nghiên cứu đề tài “Nhữngnghiên cứu về họ nấm Linh Chi Ganodermataceae Donk ở Việt Nam” đã cho biết năm

Trang 20

1994 ở Việt Nam họ Ganodermataceae gồm 43 loài, và ghi nhận mới 10 loài cho nấmlớn Việt Nam [69] Hai tác giả này tiếp tục nghiên cứu trong “Chuyên san nấm LinhChi Ganodermataceae” và cho biết các loài trong họ Ganodermataceae là một nguồndược liệu quý [70]

Vào thế kỷ XXI, nhiều công trình nghiên cứu nấm lớn trong cả nước xuất hiện:

đi suốt từ bắc vào nam, có những công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Nghiên cứu nấm ở miền Bắc bắt đầu từ năm 2000, Trong đề tài “Những dẫn liệu

bổ sung về thành phần loài và hóa các hợp chất tự nhiên của khu hệ nấm lớn ViệtNam”, Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, U Grafe và J Dӧrfelt đã báo cáo 65 loài mới chokhu hệ nấm lớn ở Việt Nam, 25 loài nghiên cứu hợp chất tự nhiên và phát hiện hơn 10hợp chất tự nhiên mới [71,72] Phan Huy Dục, năm 2001 công bố 41 loài, 17 họ trong

2 lớp Ascomycetes và Basidiomycetes trong hội thảo quốc tế Sinh học [73]

Hà Nội trong bài báo “Nấm lớn (Macromycetes) ở vườn quốc gia Tam Đảo, VĩnhPhú” [73] Cùng năm 2001, Trịnh Tam Kiệt và Heirich Dorfelt, đã công bố 9 loài mới

và ý nghĩa sinh thái của chúng cho Việt Nam [74], chi mới Macrocybe và loài mới

Macrocybe gigantean được Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh công bố [75].

Năm 2008, Lê Thị Hoàng Yến, cùng đồng nghiệp, thực hiện đề tài “Nghiên cứutính đa dạng sinh học khu hệ nấm đất rừng quốc gia Cúc Phương”, đã phân lập được

256 chuẩn nấm sợi, bằng phương pháp phân loại và so sánh hình thái, 51 chi nấm đấtđược tìm thấy, trong đó có 13 chi mới cho Việt Nam [76] Thành phần loài nấm dượcliệu của Việt Nam được Trịnh Tam Kiệt, Trịnh Tam Bảo, đưa ra danh lục 210 loài nấmtrong đó có 203 loài thuộc về ngành nấm Đảm và 7 loài thuộc về ngành nấm Túi [77]

Đoàn Văn Vệ, Trịnh Tam Kiệt, nghiên cứu thành phần nấm Auricularia của Việt Nam,

phân loại được 7 loài mộc nhĩ [78] Trong đề tài “Poisonous mushrooms of Viet Nam”Trịnh Tam Kiệt đã cho biết có 30 loài nấm độc gây độc thần kinh, độc tiêu hóa và gây

ảo giác ở Việt Nam [79] Chi Cookeina Kuntze thường có những loài nấm đẹp được

Trịnh Tam Kiệt, Phan Văn Hợp nghiên cứu thành phần loài (5 loài) và đặc điểm sinhhọc của chúng [80] Tại hội nghị Khoa học về Sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ

4 năm 2011 ở Hà Nội, tác giả Dương Minh Lam, cùng đồng nghiệp đã nghiên cứu

thành phần loài Xylaria ở vườn quốc gia Cúc Phương, công bố 5 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm Túi Việt Nam, nâng tổng số loài thuộc chi Xylaria hiện biết tại Việt Nam

lên 40 loài [81]

Trang 21

Ở miền Trung, năm 2001, trong báo cáo “Sự đa dạng về công dụng của khu hệnấm lớn ở Thừa Thiên Huế” Ngô Anh đã công bố 326 loài nấm lớn ở Thừa Thiên Huế.[82] Đến năm 2003, Ngô Anh trong luận án tiến sĩ của mình, tác giả xác định được: ởThừa Thiên Huế có 4 lớp, 28 bộ, 55 họ, 134 chi, 346 loài, và ghi nhận mới: 1 họGomphidiaceae, 7 chi và 39 loài cho khu hệ nấm lớn Việt Nam [83] Năm 2008, PhanVăn Hợp, Trịnh Tam Kiệt tại Pù Mát Nghệ An đã xác định được 129 loài, 59 chi, 23

họ, 16 bộ, 3 lớp, 3 ngành nấm lớn sống trên gỗ, trong đó 2 chi mới là Meruliopsis thuộc họ Meruliaceae và chi Xeromphalina thuộc họ Tricholomataceae, 12 loài ghi

nhận mới cho Việt Nam [84]

Từ sau năm 2003 đến nay, tiến sĩ Ngô Anh cùng học trò của mình đã nghiên cứunhiều đề tài về nấm như: năm 2013, Ngô Anh, Nguyễn Thị Kim Cúc, nghiên cứu “Đadạng nấm lớn ở khu bảo tồn thiên nhiên Phong điền Tỉnh Thừa Thiên Huế”, và xácđịnh có 162 loài thuộc 63 chi, 30 họ, 18 bộ thuộc 2 ngành Ascomycota vàBasidiomycota, đặc biệt xác định 21 loài ghi nhận mới cho khu hệ nấm Việt Nam [85].Tại Rú Lịnh tỉnh Quảng Trị Nguyễn Thị Thanh Hiền, Ngô Anh đã ghi nhận 14 loàithuộc 3 chi thuộc họ nấm Xylariaceae [86] Ngô Thị Thùy Trang, Ngô Anh, nghiêncứu họ Coriolaceae tại Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, đã xác định được 34 loàithuộc 12 chi, họ Coriolaceae trong đó chi Trametes chiếm ưu thế với 14 loài và ghi

nhận mới cho khu hệ nấm lớn Việt Nam là: Gloeoporus croceo- pallens, Perenniporia

tenuis var pulchella, Trametes obstinate, T socotrata [87].

Năm 2015, Ngô Anh, Nguyễn Thị Chi Lê, tại Cam Lộ Tỉnh Quảng Trị đã công

bố 159 loài, 80 chi, 36 họ, 22 bộ, 3 lớp thuộc 3 ngành Myxomycota, Ascomycota vàBasidiomycota [88] Ngô Anh, Nguyễn Thị Phượng nghiên cứu đề tài “Đa dạng nấmlớn huyện Phong Điền, Tỉnh Thừa Thiên Huế”, đã xác định được 168 loài thuộc 73chi, 34 họ, 22 bộ, 3 lớp trong 3 ngành Myxomycota, Ascomycota và Basidiomycota,

và đã ghi nhận 14 loài mới cho Việt Nam [89]

Gần đây nhất, năm 2017, Ngô Anh cùng với Phan Thị Ái Linh trong đề tài “Đadạng thành phần loài nấm lớn ở thành phố Huế” đã xác định được 305 loài, thuộc 92chi, 43 họ, 23 bộ, 3 lớp trong 3 ngành Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota,trong đó phát hiện và bổ sung 42 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm lớn Việt Nam.Trong 305 loài có 42 loài nấm ăn được, 48 loài nấm dược liệu, 9 loài cộng sinh có lợi,

47 loài hoại sinh trên đất, 87 loài kí sinh gây bệnh thực vật và 168 loài hoại sinh phá

Trang 22

hủy gỗ [90] Ngô Anh cùng Trần Hữu Khôi, tại Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế cũngghi nhận nơi đây gồm 168 loài, 51 chi, 26 họ, 20 bộ, 3 lớp, 3 ngành trong đó 23 loàimới ghi nhận cho khu hệ nấm lớn Việt Nam [91].

Vùng núi Tây nguyên có các nhà khoa học nghiên cứu về nấm tiêu biểu:

Năm 2001, Lê Bá Dũng xuất bản sách “Khu hệ nấm lớn Tây Nguyên” trong đógiới thiệu một số kiến thức cơ bản về nấm học, các phương pháp nghiên cứu nấmngoài thiên nhiên, trong phòng thí nghiệm Mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và cấutrúc hiển vi của gần 300 loài nấm phân bố tại Tây Nguyên [92] Và đề tài “Thành phần

loài của chi Hexagonia Fr ở vùng Tây Nguyên” đã xác định có 5 loài thuộc chi

Hexagonia, trong đó loài Hexagonia rigida Berk ghi nhận mới cho khu hệ nấm lớn

Việt Nam [93]

Bên cạnh đó, tác giả đã mô tả 3 ngành Myxomycota (3 loài), Ascomycota (17loài) và Basidiomycota (192 loài) với 319 hình ảnh hình thái, cấu trúc hiển vi minhhọa [94] Ở tập 2 (2012) tác giả tiếp tục phân tích sinh thái và phương thức sống, sựmọc và hình thành quả thể, sự hấp thụ và vận chuyển các chất của nấm, mô tả các loàinấm 4 ngành Myxomycota (23 loài), Glomeromycota (4 loài) Ascomycota (135 loài)

và Basidiomycota (632 loài) với 549 hình ảnh hình thái, cấu trúc hiển vi minh họa[95] Ở tập 3 (2013) các nhóm nấm ăn, nắm độc và nấm dược liệu được tác giả phântích thành phần công thức hóa học một số dược chất, độc chất đồng thời hướng dẫn kỹthuật nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu Tác giả đã mô tả 977 loài nấm lớn trong các

bộ Agaricales, Cortinariales, Russulales, Boletales, Geastrales, Phallales với 626 hìnhảnh minh họa [96]

Tóm lại, ở Việt Nam, việc nghiên cứu khu hệ nấm lớn đã có nhiều nhà khoa họcquan tâm, tuy nhiên, ở núi Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam, vùng rừng núi nguyên sinh,chưa có ai nghiên cứu đến Vì vậy, việc nghiên cứu khu hệ nấm lớn ở núi Ngọc Linh,tỉnh Quảng Nam là nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết nhằm phát hiện và góp phầnbảo vệ sự đa dạng thành phần loài nấm, sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên,đồng thời góp phần bảo vệ nguồn gen quý hiếm, tăng thêm tính đa dạng cho khu hệnấm Việt Nam

Trang 23

Ngành nấm Đảm (BASIDIOMYCOTA)

 Ngành phụ PUCCINIOMYCOTINA

Lớp PUCCINIOMYCETES: Bộ Septobasidiales: họ Septobasidiaceae

 Ngành phụ USTILAGOMYCOTINA

Lớp USTILAGOMYCETES: Bộ Ustilaginales: họ Ustilaginaceae

Lớp EXOBASIDIMYCETES: Bộ Exobasidiales: họ Exobasidiaceae

 Ngành phụ AGARICOMYCOTINA

Lớp TREMELLOMYCETES: Bộ Tremellales: họ Aporpiaceae, Exidiaceae,Tremellaceae, Sirobasidiaceae; Bộ Atractiellales: họ Chionosphaeraceae, PhleogenaceaeLớp DACRYMYCETES: Bộ Dacrymycetales: họ Dacrymycetaceae

Lớp AGARICOMYCETES: Bộ Auriculariales: họ Auriculariaceae; Bộ

Platygloeales: họ Platygloeaceae; Bộ Ceratobasidiales: họ Ceratobasidiaceae; Bộ Corticiales: họ Corticiaceae; Bộ Thelephorales: họ Bankeraceae, Thelephoraceae; Bộ Cantharellales: họ Cantharellaceae, Craterellaceae, Hydnaceae, Aphelariaceae,

Typhulaceae, Clavariaceae, Clavulinaceae, Clavariadelphaceae; Bộ Gomphales: họ Gomphaceae, lentariaceae, Ramariaceae;

Bộ Hymenochaetales: họ Repetobasidiaceae, Schizoporaceae, Asterostromaceae, Hymenochaetaceae

Bộ Trechisporales: Họ Hydnodontaceae

Bộ Polyporales: họ Phanerochaetaceae,

Meruliaceae,Grammothellaceae,Ganodermataceaae,Fomitopsisdaceae, Polyporaceae, Meripilaceae

Bộ Gloeophyllales: họ Gloeophyllaceae

Bộ Atheliales: họ Atheliaceae; Bộ Agaricales: họ Pterulaceae, Fistulinaceae,Cyphellaceae, Schizophylaceae, pterulaceae, Hygrophoraceae, Pleurotaceae, Niaceae,Marasmiaceae, Omphalotaceae, Mycenaceae, Physalacriaceae, Hydnangiaceae,Tricholomataceae, Entolomataceae, Lyophyllaceae, Amanitaceae, Agaricaceae,Pluteaceae, Psathyrellaceae, Strophariaceae; Bộ Cortinariales: họ Cortinariaceae,Inocybaceae

Bộ Russulales: họ Stereaceae, Lachnocladiaceae, Peniophoraceae,Auriscapiaceae, Albatrellaceae, Hericiaceae, Bondarzewiaceae, Russulaceae; BộBoletales: họ Coniophoraceae, Serpulaceae, Gomphidiaceae, Gyroporaceae,Boletaceae, Xerocomaceae, Strobilomycetaceae, Paxillaceae, Tabinellaceae,Diplocytidiaceae

Trang 25

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỀU KIỆN

VỀ PH VÀ NHIỆT ĐỘ

1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ sợi nấm lớn Polypores ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến , xã Thượng

Tiến, huyện Kim Bôi , tỉnh Hòa Bình

Bảng 2.1 Kết quả thu mẫu tại Kim Bôi, Hòa Bình (5 mẫu thuần sử dụng)

STT Mẫu

nấm

Đặc điểm hình dạng

Ngày, địa điểm khu vực thu mẫu Ghi chú tọa độ

1

Rộng 6-7cm, cómàu trắng; cuốngnấm rất ngắn gầnnhư không có; mũnấm dày độ 2mm,hình bán nguyệt,mặt trên có cácvòng, mặt dưới có

lỗ li ti nằm sát nhau

Ngày 21/10/2018Nơi thu mẫu rừngThượng Tiến tạihuyện Kim Bôi,Hòa Bình

6

Màu nâu đất, khánặng; cuống rấtngắn, gần nhưkhông có; mũ nấmrộng 18cm, dày1.5cm, mặt dưới cómàu trắng; đoạncuống bám vàothân cây gỗ có lớplông nhung màunâu

Ngày 21/10/2018Nơi thu mẫu CửuThác Tú Sơn tạihuyện Kim Bôi,Hòa Bình

Ngày đăng: 18/07/2020, 23:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. E.J.H.Corner (1985) - Ad Polyporaceae II & III, and IV, Nova Hedwigia Khác
17. Hanns Kreisel (1967) - Taxonmisch-Pflanzegeographische Monographie Der Gattung Bovista, Verlag Von J.Cramer. 143 Khác
18. M.A.Donk (1967) - Notes on European polypores-II. Notes on Poria Persoonia - Molecular Phylogeny and Evolution of Fungi, 1967, 5 (1), 47-130 Khác
20. L.S. Olive (1975) - The Mycetozoans, Academic Press, New York/San Francisco/London Khác
21. D.L.Hawksworth (1983) - A key to the lichen-forming, parasitic, parasymbiotic and saprophytic fungi occurring on lichens in the British Isles, 15(1), 1-44 Khác
22. R.Singer (1986) - The Agaricales in modern taxonomy, Koeltz Scientific books D6240 koenigstein Federal Republic, Germany Khác
24. D.N.Pegler, B.Spooner (1994) - The mushroom identifier, Apple Press, London Khác
25. C.J.Chen (1998) - Morphological and molecular phylogenies in the genus Tremella, Germany J. Cramer Khác
26. M.G.Alexadra, E.W.Jorge (1999) - Taxanomy of Ganoderma from southern south america: Subgenus Elfvingia, Mycol, 103(10), 1289-1298 Khác
27. J.Breitenbach, F.Kraenzlin, Pilze der schweiz (1981) band 1: Ascomycetes, Gebunden, In Deutsch Khác
28. J.Breitenbach., F.Kraenzlin, Pilze der schweiz (1986) - Band 2:HeterobasiBasidiomycetes, Aphyllopharales, Gateromycetes, Kartoniert Khác
29. J.Breitenbach, F.Kraenzlin, Pilze der schweiz (1991) - band 3: Boletales und Agaricales, Teil (1) , Farb photographien Khác
30. J.Breitenbach, F.Kraenzlin, Pilze der Schweiz (1995) - band 4: Entomanaceae, Pleuteaceae, Amanitaceae, Agaricaceae, Coprinaceae, Bolbitiaceae, Strophariaceae, Farbphotogr, Kartoniert Khác
31. Breitenbach. J., F.Kraenzlin, Pilze der Schweiz (2000) - Band 5: Blọtterpilze Teil 3: Cortinariaceae, Farbphotographien, Viele Sporen- zeichnungen Khác
32. J.Breitenbach, F.Kraenzlin, Pilze der Schweiz (2006) - Band 6: Russulaceae, Milchlinge und Tọublinge, Farbphotographien Khác
33. T.Abe, H.Takano, N.Sasaki, K.Mori, S.Kawano (2000) - In vitro DNA Fragmentation of mitochondria DNA caused by single-stranded breakage related to macroplasmodial senescence of the true slime mold Physarum polycephalum, 37, 125–135. 144 Khác
34. H.Johannesson (2000) - Ecology of Daldinia ssp., with special emphasis on Daldinia loculata, Doctor’s dissertation Khác
35. J.Clark, EF.Haskins, SL.Stephenson (2004) - Culture and reproductive systems of 11 species of Mycetozoa, Mycologia, 96 Khác
36–40. 36. M.Xiaolan (2000) - The Macro fungi in China, Henan Science and Technology Publishing House, Hefei, China Khác
37. L.N.Lorelei, A.R.Scott (2000) - Stropharia albivelata and its basionym Pholiota albivelata, Mycotaxon, I, XXVI, 315-320 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w