ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VŨ MINH PHƯƠNG ẢNH HƯỞNG CỦA YÊU CẦU CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN ĐẾN VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN CỦA GIÁO V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ MINH PHƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA YÊU CẦU CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN ĐẾN VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ (Nghiên cứu trường hợp tại địa bàn Thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ
TRONG GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ MINH PHƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA YÊU CẦU CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN ĐẾN VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ (Nghiên cứu trường hợp tại địa bàn Thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ
TRONG GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC
Mã số: 8140115
Người hướng dẫn khoa học: TS Tạ Thị Thu Hiền
HÀ NỘI – 2020
Trang 3i
Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Tạ Thị Thu Hiền – người hướng dẫn khoa học cho đề tài luận văn của tôi Những định hướng, chỉ bảo, hỗ trợ kịp thời của cô đã giúp tôi vượt qua những khó khăn và có thêm nghị lực để hoàn thành nhiệm
vụ nghiên cứu đề ra
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy/Cô tại Khoa Quản trị Chất lượng, trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tận tình chỉ bảo cũng như giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại nhà trường
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu, quý Thầy/Cô cũng như các em học sinh tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn Thành phố Hà Nội, các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập dữ liệu cũng như cung cấp những tư liệu cần thiết và có những ý kiến đóng góp quý báu cho luận văn này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình đã tạo điều kiện và khuyến khích động viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày 17 tháng 12 năm 2019
Tác giả
Vũ Minh Phương
Trang 4ii
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân thôi và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào của người khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực trong nội dung luận văn của mình
Hà Nội ngày 17 tháng 12 năm 2019
Tác giả luận văn
Vũ Minh Phương
Trang 5CNTT : Công nghệ thông tin
CNTT-TT : Công nghệ thông tin và truyền thông
KH&CN : Khoa học và công nghệ
KT-ĐG : Kiểm tra-đánh giá
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
(The United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)
Trang 6iv
Danh mục bảng
Bảng 1.1 Một số kỹ năng cần được đào tạo để phát triển năng lực ứng dụng CNTT
trong tổ chức dạy học cho giáo sinh 9
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn năng lực CNTT dành cho GV Hàn Quốc 29
Bảng 1.3 Nội dung Chuẩn NNGV theo Thông tư 20/2018/TT-BGD&ĐT 32
Bảng 1.4 Nội dung yêu cầu Chuẩn về ứng dụng CNTT trong dạy học (Chuẩn NNGV 2009 và 2018) 35
Bảng 2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 52
Bảng 2.2 Cấu trúc phiếu khảo sát GV (chính thức) 62
Bảng 2.3 Số lượng phiếu khảo sát GV và HS trong nghiên cứu 64
Bảng 2.4 Kiểm định độ tin cậy thang đo phiếu khảo sát GV 65
Bảng 2.5 Kiểm định độ tin cậy thang đo phiếu khảo sát HS 66
Bảng 2.6 Số lượng HT, TTCM, GV Toán tham gia phỏng vấn 67
Bảng 3.1 Thống kê ý kiến GV về các hoạt động nhà trường thực hiện để thúc đẩy GV ứng dụng CNTT vào dạy học 71
Bảng 3.2 Thống kê GV theo mức độ hiểu biết và triển khai thực hiện yêu cầu Chuẩn 81
Bảng 3.3 Thực trạng tìm hiểu và thực hiện yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học theo Chuẩn NNGV 82
Bảng 3.4 Các nguồn mà GV biết đến yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học 84
Bảng 3.5 Thống kê văn bằng, chứng chỉ kỹ năng CNTT đã đạt của GV 86
Bảng 3.6 Mức độ thực hiện yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung theo Chuẩn NNGV 88
Bảng 3.7 Mức độ thực hiện yêu cầu Chuẩn của GV chưa thực hiện-đã thực hiện Chuẩn (% lựa chọn mỗi mức 1-3) 90
Bảng 3.8 Kết quả kiểm định sự khác biệt mức độ thực hiện yêu cầu Chuẩn theo từng nhóm hoạt động giữa GV chưa thực hiện và đã thực hiện Chuẩn 94
Bảng 3.9.Mức độ thực hiện các kỹ năng ứng dụng CNTT trong dạy học giữa nhóm GV chưa thực hiện và đã thực hiện yêu cầu Chuẩn 96
Trang 7v
Danh mục hình vẽ
Hình 1.1 Khung năng lực ICT phiên bản 3 dành cho GV của UNESCO 26
Hình 1.2 Khung châu Âu về năng lực kỹ thuật số của các nhà giáo dục 27
Hình 1.3 Khung lý thuyết của đề tài 46
Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu của đề tài 50
Hình 3.1 Thống kê % GV ghi nhận các hoạt động được nhà trường thực hiện để thúc đẩy GV ứng dụng CNTT vào dạy học (theo loại hình trường) 77
Hình 3.2 Thống kê % GV ghi nhận các hoạt động được nhà trường thực hiện để thúc đẩy GV ứng dụng CNTT vào dạy học (theo khu vực trường) 79
Hình 3.3 Thống kê tỉ lệ GV theo mức độ hiểu biết và thực hiện yêu cầu Chuẩn 82
Hình 3 4 Mức độ thực hiện các hoạt động ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung của nhóm GV chưa thực hiện và đã thực hiện yêu cầu Chuẩn 89
Hình 3.5 Mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học giữa GV chưa thực hiện và đã thực hiện yêu cầu Chuẩn (theo từng khâu của QTDH) 94
Hình 3.6 Phân loại mẫu theo mức độ thực hiện yêu cầu Chuẩn NNGV 102
Hình 3.7 Mức độ ứng dụng CNTT trong Chuẩn bị các HĐDH của GV trước và sau khi thực hiện yêu cầu Chuẩn 103
Hình 3 8 Mức độ ứng dụng CNTT vào Tổ chức thực hiện các HĐDH của GV trước và sau khi thực hiện yêu cầu Chuẩn 105
Hình 3 9 Mức độ ứng dụng CNTT trong Quản lý người học, hồ sơ dạy học của GV trước và sau khi thực hiện yêu cầu Chuẩn 107
Hình 3 10 Sự thay đổi mức độ thực hiện các kỹ năng ứng dụng CNTT vào dạy học của GV trước và sau khi thực hiện yêu cầu Chuẩn 108
Hình 3.11 Sự thay đổi mức độ ứng dụng CNTT vào dạy học của GV trước và sau khi thực hiện yêu cầu Chuẩn (theo nhóm các kỹ năng) 110
Trang 8vi
Danh mục hộp ý kiến
Hộp 3.1 Ý kiến của HT về việc lập kế hoạch, ban hành quy định ứng dụng CNTT trong nhà trường 72Hộp 3.2 Ý kiến của HT, GV về việc ứng dụng CNTT trong dạy học Toán 100Hộp 3.3.Ý kiến của HT, GV về sự thay đổi mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học Toán của GV 112
Trang 9vii
Mục lục
Danh mục bảng iv
Danh mục hình vẽ v
Danh mục hộp ý kiến vi
Mục lục vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 4
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Những đóng góp của luận văn 6
9 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 8
1.1.1 Các nghiên cứu về thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học 8
1.1.1.1 Trong dạy học nói chung 8
1.1.1.2 Trong dạy học môn Toán 12
1.1.2 Một số nghiên cứu về Chuẩn năng lực CNTT dành cho giáo viên 14
1.2 Một số khái niệm 17
1.2.1 Đánh giá – Tự đánh giá 17
1.2.2 Năng lực – Năng lực giáo viên 18
1.2.3 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên 20
1.2.4 Công nghệ thông tin và Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 22
1.3 Yêu cầu về năng lực ứng dụng CNTT dành cho giáo viên 25
1.3.1 Trên thế giới 25
1.3.2 Ở Việt Nam 31
1.3.2.1 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông ở Việt Nam 31
1.3.2.2 Yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học theo Chuẩn NNGV 35
1.4 Ứng dụng CNTT trong dạy học Toán ở trường phổ thông 39
1.4.1 Yêu cầu đổi mới dạy và học Toán trong nhà trường phổ thông đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông mới (2018) 39
1.4.2 Vai trò của CNTT trong dạy và học Toán ở trường phổ thông 41
1.4.3 Một số thiết bị, phần mềm công nghệ cơ bản phục vụ dạy và học Toán ở trường phổ thông hiện nay 44
Trang 10viii
1.5 Khung lý thuyết của đề tài 45
Tiểu kết Chương 1 46
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
2.1 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 48
2.2 Tổ chức nghiên cứu 49
2.2.1 Quy trình nghiên cứu 49
2.2.2 Chọn mẫu nghiên cứu 51
2.2.3 Xây dựng công cụ nghiên cứu 53
2.2.3.1 Công cụ nghiên cứu định tính 53
2.2.3.2 Công cụ nghiên cứu định lượng 54
2.3 Các phương pháp thu thập thông tin 63
2.3.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 63
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc 66
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 67
2.3.4 Phương pháp chuyên gia 68
2.4 Phân tích và xử lý dữ liệu 68
Tiểu kết Chương 2 lxx CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 71
3.1 Thực trạng triển khai yêu cầu ứng dụng CNTT theo Chuẩn NNGV tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn Thành phố Hà Nội 71
3.1.1 Cấp độ nhà trường 71
3.1.1.1 Đánh giá chung 71
3.1.1.2 So sánh theo loại hình trường (công lập - tư thục) 76
3.1.1.3 So sánh theo khu vực (nội thành - ngoại thành) 78
3.1.2 Việc thực hiện của giáo viên 81
3.1.2.1 Mức độ hiểu biết và thực hiện yêu cầu Chuẩn về ứng dụng CNTT trong dạy học 81
3.1.2.2 Nguồn mà GV biết đến yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học 84
3.1.2.3 Văn bằng/chứng chỉ trình độ kỹ năng CNTT 86
3.1.2.4 Mức độ thực hiện các nội dung yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học Toán nói chung 87
3.1.2.5 Mức độ ứng dụng CNTT vào dạy học Toán của GV 92
3.2 Ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV đối với việc ứng dụng CNTT trong dạy học Toán của giáo viên Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội 98
3.2.1 Sự thay đổi về nhận thức của giáo viên 98
3.2.2 Sự thay đổi mức độ thực hiện các kỹ năng ứng dụng CNTT vào dạy học của giáo viên 101
3.2.2.1 Các kỹ năng ứng dụng CNTT vào Chuẩn bị các hoạt động dạy học 103
Trang 11ix
3.2.2.2 Các kỹ năng ứng dụng CNTT vào Tổ chức thực hiện các hoạt động
dạy học 104
3.2.2.3 Các kỹ năng ứng dụng CNTT vào quản lý người học, hồ sơ dạy học 106
3.2.2.4 Đánh giá chung 108
3.2.3 Kiểm định một số giả thuyết 112
Tiểu kết Chương 3 113
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 116
1 Kết luận 116
2 Khuyến nghị 117
3 Hạn chế của đề tài 118
4 Những hướng nghiên cứu tiếp theo 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 12“Thông qua việc cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, giáo dục – đào tạo cùng với khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, làm ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, có giá trị cao” (Nguyễn Đức Chính, 2017, tr.2) Giờ đây, CNTT trở thành một phương tiện quan trọng hỗ trợ mọi hoạt động của con người, trong lĩnh vực giáo dục thì đây lại là một công cụ có tính kết nối cao, giúp kéo lớp học ra khỏi bốn bức tường, đưa thế giới vào với lớp học, hỗ trợ và làm sinh động hơn các hoạt động dạy và học Giáo dục do đó cần đón đầu xu hướng phát triển, làm thế nào để thực sự nâng cao hiệu quả học tập của người học thông qua việc ứng dụng các thành tựu mới của CNTT vào quá trình dạy và học đang là một vấn đề thiết thực cần được xem xét
Việt Nam đang trong giai đoạn tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo hướng hiện đại hóa để có thể bắt kịp xu thế phát triển thế giới, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đủ năng lực hội nhập quốc tế Cuộc cách mạng công nghệ số - CMCN 4.0 - đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống, do đó đào tạo được nguồn nhân lực có năng lực CNTT tốt là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục trong tiến trình đổi mới Vấn đề này đã được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm, đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT phải gắn chặt với việc nâng cao, tăng cường ứng dụng CNTT hơn lúc nào hết Ứng dụng CNTT cần gắn liền với tất cả các lĩnh vực của ngành giáo dục, từ công tác quản lý, hoạt động dạy và học cho tới nghiên
Trang 132
cứu khoa học Do đó, một trong những giải pháp hàng đầu được Nghị quyết 29 xác
định rõ đó là: “[…] Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Trong suốt những năm qua, ứng dụng CNTT trong dạy học cũng như
các hoạt động khác trong ngành giáo dục luôn được quan tâm, chú trọng Thông tư 03/2014/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành ngày 11/03/2014 quy định rõ Chuẩn kỹ năng sử dụng Công nghệ thông tin áp dụng đối với tất cả cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia trực tiếp hoặc có liên quan đến hoạt động đánh giá
kỹ năng sử dụng CNTT Chuẩn này mô tả rõ những kỹ năng cơ bản và nâng cao cụ thể cần đạt để mỗi cá nhân tự đánh giá, điều chỉnh, cải thiện năng lực ứng dụng CNTT trong học tập, lao động và đời sống cá nhân, là định hướng kỹ năng kỹ thuật số trong thời đại bùng nổ CNTT Ngày 25/01/2017, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án
“Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025” (Đề án 117) Trong ngành giáo dục, năm học 2008 – 2009, Bộ Giáo dục và đào tạo (Bộ GD&ĐT) đã phát động “Năm học CNTT” nhằm tạo ra bước đột phá trong đổi mới giáo dục Kể từ đó, Bộ GD&ĐT đều có văn bản hướng dẫn Sở
GD các địa phương thực hiện nhiệm vụ CNTT từng năm học, triển khai phù hợp với
tình hình thực tế của địa phương mình, trong đó chú trọng hai nhiệm vụ là “ứng dụng CNTT hỗ trợ đổi mới nội dung, phương pháp dạy, học và kiểm tra đánh giá”, và “tăng cường bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục”
Ngày 23/05/2017, Bộ GD&ĐT tiếp tục ban hành Kế hoạch số 345/KH-BGDĐT thực hiện Đề án 117 đối với các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Điều này cho thấy rõ, các cấp, các ngành đều rất quan tâm đến việc ứng dụng CNTT nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục – đào tạo
Yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học không hề mới đối với GV nói chung
và GV dạy Toán cấp THCS nói riêng Tuy nhiên trong thực tế, GV biết đến nhưng chưa nhận thức rõ yêu cầu này là một trong những năng lực nghề nghiệp cần thiết Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông [31] (sau đây gọi chung là Chuẩn NNGV 2009) quy định về năng lực dạy học của GV (Tiêu chuẩn 3) tại tiêu chí 12, như sau: “Sử dụng các phương tiện dạy học làm tăng
Trang 143
hiệu quả dạy học”, trong đó đánh giá cao “việc sử dụng một cách sáng tạo các phương tiện dạy học truyền thống kết hợp với sử dụng máy tính, mạng Internet và các phương tiện hiện đại khác; biết cải tiến phương tiện dạy học và sáng tạo những phương tiện dạy học mới” [33] Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông [38] (sau
đây gọi chung là Chuẩn NNGV 2018) mới ban hành, quy định rõ: Ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục là một trong những năng lực nghề nghiệp bắt buộc đối với GV, nâng mức độ đòi hỏi
GV từ mới tiếp cận, bước đầu áp dụng CNTT vào dạy học theo Chuẩn 2009 sang ứng dụng hiệu quả để đáp ứng được quá trình dạy học Yêu cầu này vừa là một trong những căn cứ đánh giá GV trong quá trình nâng cao chất lượng giáo dục, vừa tạo động lực thúc đẩy mỗi cá nhân liên tục học hỏi, đổi mới, ứng dụng, chuyển giao CNTT một cách phù hợp và hiệu quả trong thực tiễn công tác của mình Trong những năm qua, GV trên khắp các tỉnh, thành cả nước, đặc biệt là GV Toán THCS đã bước đầu ứng dụng CNTT trong dạy học và đạt được những kết quả tích cực Bên cạnh đó, cũng còn nhiều hạn chế, bất cập trong khâu tiến hành khiến cho việc thực hiện yêu cầu này vẫn chưa phát huy được hết ưu điểm, cải thiện chất lượng hoạt động dạy và học GV ở bất kỳ cấp học, môn học nào cũng cần nhận thức việc nâng cao năng lực ứng dụng CNTT trong dạy học nói riêng và các hoạt động chuyên môn khác nói chung là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong việc phấn đấu đạt Chuẩn NNGV Chất lượng đội ngũ GV sẽ quyết định chất lượng sản phẩm giáo dục, chính
là người học
Thủ đô Hà Nội là nơi đi đầu về việc tiếp cận các chính sách, văn bản quy chuẩn, có 306 100 GV THCS đang trực tiếp tham gia giảng dạy trên địa bàn (tính đến ngày 30/9/2018, số liệu từ Tổng cục thống kê) Trong quá trình triển khai thực hiện Chuẩn NNGV, CBQL, GV ở các CSGD mới chỉ tham gia đánh giá việc GV có hay không ứng dụng CNTT thông qua đánh giá GV cuối năm, việc đánh giá những thay đổi của GV khi thực hiện Chuẩn trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học để có những giải pháp, điều chỉnh phù hợp vẫn chưa được triển khai đầy đủ Đã có nhiều nghiên cứu ở nước ta đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý việc ứng dụng CNTT trong dạy học, hoặc các biện pháp tăng cường kỹ năng ứng dụng
Trang 154
CNTT trong dạy học đối với GV từng bộ môn, nhưng chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về đánh giá ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV đối với việc ứng dụng CNTT
trong dạy học của GV THCS, đặc biệt là dạy học Toán Đề tài “Ảnh hưởng của yêu
cầu Chuẩn nghề nghiệp giáo viên đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán của giáo viên trung học cơ sở” (nghiên cứu trường hợp tại địa bàn TP Hà Nội) sẽ làm rõ những thay đổi, chuyển biến trong việc ứng dụng CNTT
trong dạy học môn Toán của GV THCS khi thực hiện yêu cầu Chuẩn NNGV 2018,
từ đó cung cấp căn cứ để triển khai các hoạt động hỗ trợ GV thực hiện hiệu quả hơn yêu cầu Chuẩn, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, chất lượng giáo dục của toàn hệ thống
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học Toán của GV THCS, từ đó đề xuất các biện pháp triển khai thực hiện Chuẩn NNGV hiệu quả hơn, góp phần nâng cao năng lực ứng dụng CNTT trong dạy học nói riêng, năng lực nghề nghiệp của GV nói chung
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu lý luận về yêu cầu Chuẩn NNGV dành cho GV phổ thông; xác định mối liên hệ giữa yêu cầu của Chuẩn và việc ứng dụng CNTT trong dạy học đối với GV dạy Toán THCS
- Nghiên cứu về thực trạng yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy học theo Chuẩn NNGV tại các trường THCS và của GV dạy Toán trên địa bàn TP Hà Nội
- Xác định những ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV đến việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn Toán của GV THCS trên địa bàn TP Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp để thực hiện hiệu quả hơn các yêu cầu Chuẩn NNGV, việc ứng dụng CNTT trong dạy học Toán nói riêng, dạy học nói chung đối với GV THCS trên địa bàn TP Hà Nội
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Trang 165
Đề tài tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
1 Các nhà trường và GV dạy Toán cấp THCS trên địa bàn TP Hà Nội đã triển khai thực hiện yêu cầu ứng dụng CNTT theo Chuẩn NNGV như thế nào?
2 Yêu cầu Chuẩn NNGV ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học Toán của GV THCS trên địa bàn TP Hà Nội như thế nào?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
1 Yêu cầu ứng dụng CNTT theo Chuẩn NNGV đã được các nhà trường, GV dạy Toán cấp THCS trên địa bàn TP Hà Nội đã triển khai thực hiện đầy đủ
2 Yêu cầu Chuẩn NNGV đã có ảnh hưởng đến nhận thức cũng như hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học Toán của GV THCS trên địa bàn TP Hà Nội
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV đến việc ứng
dụng CNTT trong dạy học Toán của GV THCS trên địa bàn TP Hà Nội
5.2 Khách thể nghiên cứu: GV dạy Toán tại các trường THCS trên địa bàn TP Hà
- Nghiên cứu ba khâu của quá trình dạy học Toán có ứng dụng CNTT bao gồm: (1) Chuẩn bị các hoạt động dạy học; (2) Tổ chức thực hiện các hoạt động dạy học; (3) Quản lý người học, hồ sơ dạy học
Trang 17- Thu thập dữ liệu khảo sát được thực hiện trong thời gian từ tháng 10/2019 đến hết tháng 11/2019
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, các công trình trong nước và trên thế giới có liên quan đến đề tài, sau đó phân tích, phân loại, tổng hợp, khái quát hóa để rút ra các kết luận làm cơ sở lý luận cho đề tài
- Tiến hành nghiên cứu các văn bản quy định các cấp, các Hướng dẫn, Thông
tư, Kế hoạch, Báo cáo tổng kết trong năm học 2018-2019, triển khai thực hiện nhiệm
vụ năm học 2019-2020 của ngành giáo dục (cấp Bộ, Sở, Phòng) và các văn bản được ban hành nội bộ liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường THCS trong nghiên cứu với điều kiện được sự đồng ý tham khảo, sử dụng
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia;
- Phương pháp điều tra khảo sát (sử dụng bảng hỏi để thu thập thông tin, dữ liệu) kết hợp nghiên cứu hồ sơ, tài liệu;
- Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc;
- Phương pháp thống kê Toán học (sử dụng phần mềm Excel, SPSS để nhập liệu, xử lý và phân tích số liệu)
8 Những đóng góp của luận văn
Góp phần khẳng định ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV 2018 tới việc nâng cao năng lực ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán của GV THCS, từ đó đề
Trang 187
xuất giải pháp để tăng cường hiệu quả việc thực hiện Chuẩn NNGV, nâng cao năng lực nghề nghiệp cho GV phổ thông
9 Kết cấu của luận văn
Cấu trúc của luận văn ngoài các phần Mở đầu, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, bao
gồm bốn phần chính như sau:
- CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
- CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
- KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trang 191.1.1 Các nghiên cứu về thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học
1.1.1.1 Trong dạy học nói chung
- Về cách thức ứng dụng:
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Long (2016) đăng trên Tạp chí Khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội (Tập 32, số 2-2016, tr.36-47) đã phân tích nhu cầu thực tiễn và tính thiết yếu của việc ứng dụng CNTT trong bối cảnh Việt Nam, kèm theo là thực trạng ứng dụng hiện nay Bài báo đã chỉ ra quá trình ứng dụng CNTT vào giáo dục nói chung và giảng dạy ngoại ngữ nói riêng trên thế giới được chia thành ba giai đoạn,
cụ thể: giai đoạn giới thiệu công nghệ vào lớp học (Introduction); giai đoạn tích hợp công nghệ vào lớp học (Intergration); và giai đoạn vô hình hóa công nghệ trong lớp học (Invisibilisation) So với các quốc gia tiên tiến, việc ứng dụng CNTT vào dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam được đánh giá đang ở ngưỡng cuối của giai đoạn một Tác giả cũng cho biết mặc dù việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy trong các trường phổ thông đã được phát động và thực hiện từ những năm 1990 nhưng hiện nay thực tiễn
áp dụng còn chưa triệt để, nhiều địa phương, cá nhân còn chưa hiểu rõ hoặc xem nhẹ việc phát triển ứng dụng CNTT trong dạy và học Việc ứng dụng đa phần còn dừng lại ở thí điểm, thao giảng, chưa nhân rộng đại trà để trở thành một trong những công
cụ thiết yếu mà mỗi giáo viên cần phải sử dụng
Nguyễn Văn Hiền (2018) trong nghiên cứu của mình đã nhận định: thực chất
“kỹ năng sử dụng CNTT của giáo viên trong dạy học là tổ hợp của kỹ năng công nghệ
và phương pháp dạy học tương ứng” [77; tr.5] Tác giả đã chỉ ra các kỹ năng giáo
Trang 20ảnh đa phương tiện;
- Nhận biết các vấn đề liên quan
đến đạo đức và pháp luật khi sử
- Có kỹ năng thiết kế hoạt động học tập theo hướng hoạt động hóa người học
- Biết tổ chức kiểm tra đánh giá dựa trên hoạt động
- Biết thiết kế và tổ chức kiểm tra đánh giá phù hợp;
- Biết phân tích, sử dụng hồ sơ của người học (profile) để thiết kế, tư vấn hoạt động học tập phù hợp Tác giả cũng phân tích, chỉ ra hướng (1) hiện đang là phổ biến nhất ở Việt Nam, do
cả yếu tố khách quan và chủ quan Yếu tố khách quan là hệ thống cơ sở hạ tầng ở nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu của hướng (2) và (3), đặc điểm phân phối chương trình chưa thuận lợi cho GV tổ chức, thực hiện bài dạy theo hướng này; yếu tố chủ
Trang 2110
quan là GV cũng chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng trong dạy học theo hướng (2) và (3) Trong khi hướng (1) GV có thể tận dụng cơ sở hạ tầng hiện có
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn (2012) cũng chỉ ra có năm mức độ ứng
dụng CNTT trong các cơ sở giáo dục nói chung, đó là: mức (i): sử dụng các thiết bị
CNTT để trợ giúp GV trong một số thao tác nghề nghiệp như soạn giáo án bằng hệ soạn thảo văn bản, in ấn tài liệu, sưu tầm tài liệu, … nhưng chưa sử dụng CNTT trong
tổ chức dạy học các tiết học cụ thể của môn học Mức (ii): ứng dụng CNTT để hỗ trợ
một khâu, một công việc cụ thể nào đó trong QTDH, chẳng hạn sử dụng PowerPoint/
Violet trình chiếu bài giảng Mức (iii): sử dụng phần mềm dạy học để tổ chức dạy học một chương, một số tiết, một vài chủ đề của môn học Mức (iv): tích hợp CNTT
vào QTDH Các yếu tố của CNTT được tính đến trong tất cả các hoạt động của quá trình tổ chức và quản lý dạy học trong nhà trường phổ thông: dạy học trong giờ lên lớp; tổ chức học tập ngoài giờ lên lớp; kiểm tra – đánh giá; giám sát kiểm tra hoạt động học tập của học sinh ở nhà; hỗ trợ các hoạt động chuyên môn của GV, các hoạt động quản lý chuyên môn như hồ sơ học tập của người học, hồ sơ GV, lập thời khóa
biểu, giao tiếp với các đối tượng liên quan thông qua website… Mức (v): triển khai
trường học thông minh và E-learning Hiện nay ở các nhà trường phổ thông nước ta, việc ứng dụng CNTT trong dạy học mới chỉ được thực hiện ở mức 1 đến mức 4,
nhưng chưa thường xuyên và thực sự hiệu quả, mức (v) chưa thể thực hiện đồng bộ
sâu rộng do những hạn chế về cơ sở hạ tầng CNTT cũng như năng lực CNTT của đội ngũ GV (tr.66)
- Về các thiết bị, phần mềm ứng dụng:
Burns (2010) đã chỉ ra trong nghiên cứu của mình rằng GV đang tìm nhiều cách hơn tích hợp các công nghệ vào lớp học để tăng sự tham gia và thành tích đạt được của HS Tác giả Phan Tiến Chức (2015) nhận định: hiện nay ở nước ta ngoài các thiết bị công nghệ hỗ trợ như máy chiếu, máy tính và Internet, hai loại phần mềm
chính hỗ trợ dạy học đó là: (i) phần mềm được ứng dụng vào dạy học cho hầu hết các
môn học như phần mềm Microsoft Word (soạn thảo văn bản), Microsoft PowerPoint (trình chiếu điện tử), Macromedia Flash (tạo thí nghiệm ảo, mô phỏng thí nghiệm);
phần mềm thiết kế video, bài giảng điện tử, phần mềm vẽ sơ đồ tư duy…; (ii) các
Trang 2211
phần mềm sử dụng cho từng môn học riêng biệt như phần mềm Cabri, Geogebra, Maple, Geometer’s Sketchpad,… sử dụng trong dạy học môn Toán;…[49; tr.32] Việc sử dụng phần mềm nào, hiệu quả ra sao tùy thuộc vào mục đích triển khai dạy
và học cũng như năng lực của GV
- Về điểm tồn tại, các yếu tố tác động:
Nghiên cứu của Jef Peeraer và Peter Van Petegem (2010) đã khảo sát các yếu
tố ảnh hưởng tới việc ứng dụng CNTT trong ngành sư phạm Việt Nam, một nước đang ở giai đoạn đầu của ứng dụng CNTT vào những năm 2010 Nghiên cứu khẳng định việc sử dụng các chương trình ứng dụng CNTT còn hạn chế, chủ yếu để thay cho PPDH cũ Các yếu tố tác động đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học thực hành gồm: cơ hội tiếp cận với máy tính, cường độ sử dụng máy tính, kỹ năng CNTT, sự tự tin về CNTT, và đặc điểm cá nhân (gồm thái độ với CNTT và quan niệm về việc học tập ở HS) Nghiên cứu cũng đưa ra một số gợi ý về cách ứng dụng hiệu quả CNTT vào ngành sư phạm Việt Nam [54; tr.2]
Nghiên cứu của Trần Đình Châu và Đặng Thị Thu Thủy (2011) cho thấy việc ứng dụng CNTT ở các trường phổ thông hiện nay phát triển khá mạnh mẽ, đa dạng, phong phú, góp phần hỗ trợ đổi mới PPDH, hỗ trợ công việc của GV, bước đầu nâng cao chất lượng dạy học Tuy nhiên, ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay thường chú trọng đến kỹ thuật CNTT mà chưa chú trọng nhiều đến hiệu quả dạy học Phần lớn bài giảng điện tử mang tính trình diễn, đôi lúc còn lạm dụng CNTT đưa nhiều tranh ảnh, hiệu ứng chữ, màu sắc lòe loẹt dẫn đến chi phối sự tập trung chú ý ở HS, biến bài học, giờ học trở thành “giờ xem”, HS bị động, ít được tham gia vào hoạt động học [46; tr.3]
Đồng quan điểm với những nghiên cứu trên, nhiều nghiên cứu nước ngoài cũng chỉ ra các yếu tố tác động đến mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học của GV, điển hình có thể kể đến luận án tiến sĩ của Mohammed I Isleem (2003) Trong nghiên cứu của mình, Isleem đã chỉ ra năm yếu tố cơ bản tác động đến mức độ ứng dụng CNTT của GV trong hoạt động dạy học, đó là sự thành thạo (expertise), cơ hội tiếp cận (access), thái độ (attitude), sự hỗ trợ (support), và đặc điểm cá nhân của GV (teacher characteristics) (tr.59) Một nghiên cứu khác của Snoeyink và Ertmer (2004)
Trang 2312
cũng chỉ ra 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT trong giáo dục
là yếu tố “bên ngoài” như nguồn lực và sự hỗ trợ kỹ thuật; yếu tố “bên trong” như thái độ của GV với việc ứng dụng CNTT vào dạy học… (tr.12)
Jo Shan Fu (2013) trong nghiên cứu tổng quan các đề tài về ứng dụng CNTT trong giáo dục đã tổng kết những lợi ích của CNTT trong dạy học, chủ yếu là: hỗ trợ
HS truy cập thông tin điện tử hiệu quả; hỗ trợ việc học tập lấy HS làm trung tâm và học tập tự định hướng; tạo ra môi trường học tập sáng tạo; thúc đẩy học tập hợp tác trong môi trường học tập từ xa; cung cấp nhiều cơ hội hơn để phát triển các kỹ năng
tư duy quan trọng (bậc cao); cải thiện chất lượng dạy và học; hỗ trợ giảng dạy bằng cách tạo điều kiện truy cập vào nội dung khóa học (tr.15) Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những rào cản với việc ứng dụng CNTT theo ghi nhận quan điểm của GV như: thiếu sự hợp tác của GV và sự hỗ trợ về mặt sư phạm, cũng như thiếu kinh nghiệm giữa các GV hợp tác cùng nhau; không đủ thời gian để thành thạo phần mềm mới hoặc tích hợp CNTT trong một tiết học; … Quan điểm của nhà quản lý và cơ sở hạ tầng CNTT cũng là những rào cản được tác giả đề cập Một số rào cản có thể kể đến
là thiếu phần cứng, phần mềm và vật liệu phù hợp; nhiệm vụ quản lý để cải thiện kết quả kiểm tra, giúp chuyển sự tập trung khỏi việc sử dụng CNTT để thu hút HS vào các hoạt động tư duy bậc cao… Tác giả cũng nhận định việc tích hợp CNTT là trung gian và đòi hỏi một quá trình để phát triển, không phải là một sản phẩm cuối cùng
Để đạt được sự tích hợp thành công của công nghệ đòi hỏi nỗ lực từ ba phía: GV, học sinh và nhà quản lý [12]
1.1.1.2 Trong dạy học môn Toán
- Về các thiết bị, phần mềm ứng dụng:
Nghiên cứu của Ramey (2012) cho thấy trong những năm qua, các nguồn công nghệ có thể ứng dụng trong dạy học nói chung, dạy học Toán nói riêng đã tăng lên rất nhiều Tài nguyên công nghệ mới liên tục được giới thiệu trong các lớp học Những công nghệ này bao gồm: bảng trắng tương tác (Promethean, SMART và Bảng hoạt động), máy tính bảng điện tử, máy đọc sách điện tử, iPod, Geogebra, Maple, Geometer Sketch Pad, thiết bị bình chọn điện tử, v.v.,(tr.13) và các thiết bị này còn tiếp tục mở rộng
Trang 2413
- Về cách thức ứng dụng, những tồn tại:
Tác giả Lê Thái Bảo Thiên Trung (2011) đề xuất phân loại các mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học Toán thành ba mức: GV ứng dụng CNTT chỉ để trình chiếu và minh họa; GV ứng dụng CNTT để minh họa các hoạt động; HS thao tác trực tiếp trên phần mềm trong một tình huống gợi vấn đề Tác giả cũng xác định được một
số các khó khăn khi ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông phần lớn nhằm phục vụ cho mục đích trình chiếu, minh họa như: Kiến thức quá nhiều, thời gian hạn chế; Ðiều kiện cơ sở vật chất, phương tiện dạy học không đảm bảo; Trình độ HS thấp, HS chú ý nhiều đến kỹ thuật mà xao lãng nội dung bài; Khả năng của GV còn hạn chế, GV không có thời gian, công sức đầu tư; Không phải bài nào cũng ứng dụng CNTT được [71; tr.6]
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, Gulay Bozkurt (2016) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng CNTT của GV để dạy học Toán Nghiên cứu cho thấy: nhóm
GV - người học tham gia nghiên cứu đã cam kết sử dụng CNTT trong giảng dạy, họ
tự tin và chủ yếu tin vào giá trị của CNTT trong việc dạy học Toán Tuy nhiên, các kết quả cũng cho thấy các rào cản đối với GV - HS khi sử dụng CNTT trong dạy học liên quan đến việc thiếu hụt cơ sở vật chất, sự hạn chế các khuyến khích từ các cố vấn và các GV khác trong khoa Toán và việc sử dụng CNTT không thường xuyên của GV hiện tại trong dạy học, thiếu liên kết trong kế hoạch làm việc và ràng buộc thời gian (tr.6)
- Về ảnh hưởng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học đến việc học môn Toán của học sinh:
Hội đồng Quốc gia các GV Toán của Mỹ (The National Council of Teachers
of Mathematics, NCTM) và Hiệp hội các nhà giáo dục Toán học (the Association of Mathematics Teacher Educators, AMTE) đều chứng thực rằng công nghệ, khi được
sử dụng một cách thích hợp, có thể làm tăng hiệu suất của HS trong lớp học Toán (AMTE, 2006; NCTM, 2008)
Một nghiên cứu của Hiệp hội các nhà giáo dục Toán học (2008) đã chỉ ra: công nghệ là công cụ thiết yếu đối với việc học Toán thế kỷ 21, và các trường học phải đảm bảo tất cả HS có thể truy cập, sử dụng các thiết bị công nghệ GV dạy học hiệu
Trang 2514
quả sẽ tối đa hóa tiềm năng công nghệ để phát triển sự hiểu biết của người học, kích thích sự quan tâm của họ, và tăng sự thành thạo Toán học của họ “Khi công nghệ được sử dụng có chiến lược, mọi HS đều có thể học Toán” [8; tr.12]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi GV tích hợp công nghệ một cách phù hợp vào quá trình học tập, mức độ động lực và thành tích của HS được tăng lên (Engel & Green, 2011; MacBride & Luehmann, 2008; Shirley & cộng sự, 2011) Công nghệ được sử dụng một cách thích hợp khi nó là một phần tích cực, không thể thiếu trong quá trình dạy học Toán (Cononiah Latrece Watson, 2015, tr.2)
House and Telese (2011) phát hiện ra rằng những HS thường xuyên sử dụng máy tính điện tử cho các hoạt động liên quan đến trường học, rất thích nghiên cứu Toán học HS trở thành người học có động lực khi họ quan tâm đến chủ đề nào đó Đây là lý do tại sao việc sử dụng công nghệ là một công cụ tuyệt vời để tăng mức độ động lực của HS (tr.11)
Trịnh Thanh Hải [50], Nguyễn Chí Thành [69] nhận định CNTT có những tác động nhất định đến việc dạy – học Toán, trong đó công nghệ tác động trực tiếp đến hoạt động của HS, tạo điều kiện để HS hiểu sâu, mở rộng kiến thức Sử dụng CNTT trong dạy và học Toán cũng góp phần rèn luyện kỹ năng, củng cố và ôn tập kiến thức của HS, giúp người học phát triển tư duy Toán học Sự hỗ trợ của CNTT trong dạy-học Toán cũng tạo cơ hội cho HS tiếp cận với các phương tiện công nghệ hiện đại, hình thành và phát triển các kỹ năng sử dụng máy tính điện tử và các kỹ năng làm việc trong môi trường công nghệ
1.1.2 Một số nghiên cứu về Chuẩn năng lực CNTT dành cho giáo viên
- Chuẩn năng lực CNTT dành cho giáo viên:
Năm 2016, một nghiên cứu đánh giá về khung Chuẩn năng lực ICT cho GV
do UNESCO ban hành (UNESCO ICT Competency Framework for Teachers, CFT) được tiến hành để xem xét Chuẩn này được sử dụng trên toàn cầu như thế nào Nghiên cứu cho thấy các tiêu chí đánh giá của Chuẩn các phiên bản trước chưa có các hướng dẫn thực hiện cụ thể, và từ năm 2008 đến 2016, Khung ICT-CFT đã ảnh hưởng đến: phát triển CNTT quốc gia trong chính sách giáo dục; tạo ra các tiêu chuẩn
ICT-GV quốc gia liên quan đến việc tích hợp CNTT trong giáo dục; xây dựng các tiêu chí
Trang 2615
đánh giá trình độ quốc gia về năng lực CNTT của GV và phân tích các sáng kiến đào tạo; định hình về CNTT trong chương trình giáo dục; và phát triển các khóa học phát triển chuyên môn của GV [21;22; tr.15]
Jef Peeraer cùng Trần Nữ Mai Thy (2011) trong nghiên cứu phân tích chính sách về tầm nhìn và nhiệm vụ quốc gia về ứng dụng CNTT của giáo dục Việt Nam
đã chỉ ra: các hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT các địa phương đều khuyến khích GV áp dụng CNTT vào dạy học Trong giai đoạn đó, kết quả cuối cùng mà ứng dụng CNTT trong giáo dục hướng tới là việc học tập điện tử (e-learning) và xây dựng,
sử dụng bài giảng điện tử, nhưng lại không có định nghĩa rõ ràng nào về e-learning được đưa ra Trong các văn bản hướng dẫn của Bộ GD&ĐT đều nhấn mạnh tới vai trò quan trọng của việc ứng dụng CNTT hiệu quả trong giáo dục, nhưng lại không có câu trả lời rõ ràng về cách thức chính xác để ứng dụng CNTT cho dạy và học, dẫn tới một khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn giáo dục [54,55; tr.2] Các nhà giáo dục cần biết chính xác CNTT sẽ được sử dụng như một công cụ dạy học như thế nào (UNESCO, 2004, tr.2) Do vậy, các tác giả cũng đề xuất những hành động cụ thể như xây dựng cơ sở vật chất, phát triển chuyên môn đội ngũ, thay đổi về phương pháp sư phạm và chương trình học, xây dựng thư viện điện tử/hệ thống bài giảng điện tử và tăng cường hỗ trợ kỹ thuật để việc ứng dụng CNTT trong giáo dục đạt hiệu quả rõ rệt
- Ảnh hưởng của việc bồi dưỡng năng lực CNTT đối với sự phát triển nghề nghiệp giáo viên:
Nhiều GV ở trường THCS hiểu rằng việc sử dụng công nghệ hiệu quả trong lớp học khiến cho mức độ tham gia và thành tích của HS cao hơn (Cononiah Latrece Watson, 2015, tr.7) GV cũng phải đối mặt với nhiều trở ngại khi cố gắng sử dụng công nghệ vào lớp học của họ Điều đó phát sinh từ tính khả thi, chi phí, tính hữu dụng và kiến thức về mặt kỹ thuật Một số GV có công nghệ có sẵn trong lớp học của
họ, nhưng chưa được đào tạo về cách sử dụng hiệu quả GV nói rằng họ sẽ sử dụng công nghệ nhiều hơn và ở cấp độ nhận thức sâu hơn, nếu họ có được cung cấp kiến thức này qua một số hình thức phát triển nghề nghiệp - hướng dẫn trực tuyến, các cuộc họp hoặc hỗ trợ trực tiếp [12; tr.15]
Trang 2716
Theo đánh giá của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ về Chương trình Tăng cường đào tạo thông qua công nghệ, 86% GV cho biết họ đã tham gia vào một số hình thức của một hội thảo phát triển nghề nghiệp tập trung vào việc sử dụng công nghệ trong lớp học Những cách phát triển nghề nghiệp này chú trọng vào các công nghệ hỗ trợ đánh giá chấm điểm, giúp HS trong quá trình học Toán, phát triển chương trình giảng dạy cho
GV và giúp dạy các khái niệm khác nhau theo nhiều cách khác nhau Mặc dù vậy, 52% GV cho biết họ cần được đào tạo nhiều hơn về tích hợp công nghệ trong hướng dẫn GV cũng quan tâm đến các cơ hội phát triển nghề nghiệp để giúp HS học Toán
ở cấp độ cao hơn (Cononiah Latrece Watson, 2015, tr.29)
Một nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của Chương trình ICTE – chương trình quốc gia với mục đích chuẩn bị cho các GV Jordan sử dụng CNTT trong giáo dục – được thực hiện tại trường Đại học Jordan, Ả Rập (2016) đã chỉ ra những thay đổi trong niềm tin và thực tiễn hoạt động của GV đối với việc tích hợp CNTT trong dạy học Kết quả cho thấy: Có sự gia tăng ngay lập tức cường độ áp dụng CNTT trong công việc hàng ngày của GV, bao gồm tăng hiệu quả trong việc lập kế hoạch và chuẩn
bị công việc do sự hợp tác nhiều hơn giữa các giáo viên GV có thái độ tích cực đối với CNTT và tăng đáng kể niềm tin của họ trong việc sử dụng CNTT Quan hệ với
HS đã được cải thiện đáng kể Sau khi họ tích hợp những gì đã học được trong chương trình ICTE, nhiều GV đã báo cáo rằng HS có thể xử lý các bài tập phức tạp hơn và thực hiện nhiều các kỹ năng bậc cao hơn bởi các hỗ trợ được cung cấp bởi công nghệ [1; tr.8,9]
Khảo cứu những nghiên cứu kể trên giúp tác giả khái quát được bức tranh toàn cảnh về thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học Toán cũng như sự cần thiết của yêu cầu về năng lực CNTT trong Chuẩn NNGV Các nghiên cứu cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cũng như mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học của
GV nói chung, GV Toán nói riêng, là nguồn tham khảo hữu ích cho tác giả trong việc xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu này Cũng qua khảo cứu này tác giả phát hiện việc nghiên cứu ảnh hưởng của yêu cầu Chuẩn NNGV đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học Toán của GV THCS chưa được thực hiện
Trang 2817
1.2 Một số khái niệm
1.2.1 Đánh giá – Tự đánh giá
1.2.1.1 Đánh giá
Có nhiều quan niệm khác nhau về định nghĩa đánh giá
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “đánh giá là nhận định giá trị” (Hoàng Phê chủ
biên, 1998, tr.56)
Nguyễn Đức Chính cùng cộng sự (2011) cho rằng “đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào” (tr.2)
Hay “đánh giá là quá trình thu thập và xử lí thông tin một cách hệ thống để đưa ra các quyết định” [47; tr.3]
Trong lĩnh vực giáo dục, đánh giá có nhiều cấp độ và loại hình tùy thuộc vào mục đích sử dụng thông tin thu nhận được Ví dụ, đánh giá người học là quá trình thu thập thông tin để đưa ra những quyết định giáo dục liên quan tới người học, để phản hồi cho người học về sự tiến bộ, những điểm mạnh và điểm tồn tại trong học tập của
họ, để đưa ra phán quyết về hiệu quả của công tác giảng dạy và sự phù hợp của chương trình đào tạo, và cuối cùng là để cung cấp thông tin xây dựng chính sách (AFT, NCME, NEA1, 1990)
Như vậy, có thể hiểu rằng: đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và xử
lí thông tin một cách có hệ thống nhằm đưa ra những nhận định về mức độ đạt được các mục tiêu đã đề ra, từ đó làm cơ sở đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh để nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính Đánh giá luôn được thực hiện theo một tiêu chuẩn, mục tiêu hoặc tiêu chí
Trang 2918
Falchikov, 1989, tr.56), là một cách tiếp cận có giá trị để hỗ trợ việc học của người học, đặc biệt là khi được sử dụng mang tính hình thành
Andrade và Du (2007) đưa ra một định nghĩa hữu ích về tự đánh giá, tập trung
vào việc học tập có thể thúc đẩy: Tự đánh giá là “một quá trình đánh giá quá trình trong đó người học phản ánh và đánh giá chất lượng công việc và việc học của họ, đánh giá mức độ mà họ phản ánh các mục tiêu hoặc tiêu chí đã nêu rõ ràng, xác định điểm mạnh và điểm yếu trong công việc của họ và sửa đổi cho phù hợp” (tr.112)
Tự đánh giá không chỉ dành cho người học, mà bản thân người dạy cũng cần thường xuyên tự đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn nhất định Tự đánh giá hỗ trợ việc học của mỗi cá nhân và là một trong những kỹ năng quan trọng nhất mà mỗi người cần có để phát triển nghề nghiệp trong tương lai và học tập suốt đời, vì nó phát triển năng lực của họ để trở thành người đánh giá việc học
1.2.2 Năng lực – Năng lực giáo viên
1.2.2.1 Năng lực
Năng lực (competency) là một thuật ngữ được đề cập thường xuyên ở nước ta hiện nay, nhất là trong lĩnh vực giáo dục Cho đến nay, có nhiều cách hiểu về năng lực, do quan điểm tiếp cận khác nhau, ví dụ như: năng lực được xem như mục tiêu dạy học, giáo dục; hay năng lực được xem xét dưới góc nhìn các thành tố cấu trúc nên nó; xem xét liên hệ giữa năng lực và nội dung dạy học; năng lực được đề cập tới bình diện thực hành, ứng dụng, gắn với thực tiễn, liên môn…
Định nghĩa phổ biến nhất được sử dụng là của Weinert (2001): “năng lực là những khả năng nhận thức và kĩ năng vốn có hoặc học được của cá thể nhằm giải quyết các vấn đề xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, ý chí, ý thức xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề trong những tình huống thay đổi một cách thành công và có trách nhiệm” (tr.45)
“Năng lực được mô tả tốt nhất là sự kết hợp phức tạp giữa kiến thức, kỹ năng,
sự hiểu biết, giá trị, thái độ và mong muốn dẫn đến hành động hiệu quả, thể hiện của con người trên thế giới, trong một lĩnh vực cụ thể” (Deakin Crick, 2008, tr.62) Do
đó, năng lực được phân biệt với kỹ năng (skill) - được định nghĩa là khả năng thực
hiện các hành vi phức tạp một cách dễ dàng, chính xác và khả năng thích ứng
Trang 3019
Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể (2018) do Bộ GD&ĐT nước ta ban
hành đã nêu: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [39; tr.37]
“Bản chất của năng lực là khả năng chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lí các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định” (Đinh Quang Báo & cộng sự, 2017,
tr.110)
Tóm lại, năng lực có thể hiểu là sự kết hợp của các kiến thức, kĩ năng, phẩm chất, thái độ và hành vi của một cá nhân để thực hiện một công việc có hiệu quả Năng lực không chỉ bao hàm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, mà còn cả giá trị, động cơ, đạo đức và hành vi xã hội Năng lực có tính phức hợp hơn kĩ năng, và mức độ thành thạo của một kĩ năng cũng có thể xem như thể hiện một phần mức độ cao hay thấp của năng lực tương ứng
1.2.2.2 Năng lực giáo viên
Trong lĩnh vực giáo dục, ở nước ta định nghĩa: “năng lực giáo viên nói chung
là khả năng thực hiện công việc, nhiệm vụ của giáo viên” (Điều 3, khoản 2, Thông tư
T20/2018/TT-BGD, tr.2)
Cần phân biệt giữa “năng lực giảng dạy” và “năng lực giáo viên” (OECD, 2009) Năng lực giảng dạy tập trung vào vai trò của giáo viên trong lớp học, liên kết trực tiếp với 'nghề' giảng dạy - với kiến thức và kỹ năng chuyên môn được huy động
để hành động Năng lực giáo viên ngụ ý một cái nhìn rộng hơn, có hệ thống về tính chất nghề nghiệp của giáo viên, trên nhiều cấp độ - cá nhân, nhà trường, cộng đồng địa phương, mạng lưới nghề nghiệp [6; tr.10]
Trong các chương trình dạy học hiện nay của các nước thuộc khối OECD, người ta cho rằng năng lực được chia thành năng lực chung, cốt lõi và năng lực chuyên môn, trong đó năng lực chung, cốt lõi là cần thiết, làm nền tảng để phát triển
Trang 3120
năng lực chuyên môn, còn năng lực chuyên môn đặc trưng ở những lĩnh vực nhất định Theo cách hiểu này năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên môn không tách rời mà có quan hệ chặt chẽ với nhau
Năng lực cốt lõi đề cập đến những năng lực được coi là nền tảng, nhờ chúng
người ta có thể thực hiện được yêu cầu công việc đặt ra, hay hoàn thành nhiệm vụ học tập, trong các bối cảnh và tình huống khác nhau; ví dụ như sử dụng các phương tiện thông tin, giao tiếp, khả năng hành động tự chủ…
Năng lực chuyên môn liên quan đến từng môn học riêng biệt, ví dụ mô hình
năng lực trong môn Toán (theo Chuẩn của Đức, 2012) bao gồm: năng lực toán học chung: lập luận toán, giải quyết các vấn đề toán, mô hình hóa toán học, sử dụng các cách trình bày biểu đồ, bảng biểu, sử dụng ký hiệu, công thức, các giao tiếp toán học; các tư tưởng toán học chủ đạo: thuật toán và số học, đo lường, không gian và hình học, quan hệ hàm số, dữ liệu và ngẫu nhiên…
Dù theo cách tiếp cận nào thì các nhà giáo dục trên thế giới đều thống nhất ở chỗ: nhắc đến năng lực là nói đến khả năng có thể thực hiện, hoàn thành nhiệm vụ của từng người, do đó không nên so sánh năng lực của người này với năng lực của người kia; năng lực thường được biểu hiện ra bên ngoài và ta có thể quan sát được, đánh giá được thông qua từng mảng hoạt động, nhiệm vụ, do vậy ta có thể mô tả được năng lực đề cập theo những tiêu chuẩn, tiêu chí chất lượng và có thể tìm được minh chứng cho mức độ thể hiện này
1.2.3 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên
1.2.3.1 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên
Ở hầu hết các quốc gia hiện nay đều có Chuẩn nghề nghiệp giáo viên (Chuẩn
NNGV) hay còn gọi là Khung năng lực nghề nghiệp dành cho GV
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông mới ban hành ở nước
ta được định nghĩa là “hệ thống phẩm chất, năng lực mà giáo viên cần đạt được để thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục HS trong các cơ sở giáo dục phổ thông”
(Điều 3, khoản 3, Thông tư 20/2018/TT-BGD&ĐT, tr.2)
1.2.3.2 Một số định nghĩa liên quan đến Chuẩn NNGV
Trang 3221
Tiêu chuẩn nghề nghiệp GV là “yêu cầu về phẩm chất, năng lực ở từng lĩnh
vực của chuẩn nghề nghiệp GV” (Điều 3, khoản 4, Thông tư 20/2018/TT-BGD, tr.2)
Tiêu chí là “yêu cầu về phẩm chất, năng lực thành phần của tiêu chuẩn” (Điều
3, khoản 5, Thông tư 20/2018/TT-BGD, tr.2)
Đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên là “việc xác định mức độ đạt được
về phẩm chất, năng lực của giáo viên theo quy định của chuẩn nghề nghiệp giáo viên” (Điều 3, khoản 8, Thông tư 20/2018/TT-BGD, tr.3)
Có sự khác biệt giữa định nghĩa “năng lực của giáo viên” và “tiêu chuẩn nghề nghiệp” Tiêu chuẩn nghề nghiệp nỗ lực để mô tả những gì GV tin, biết, hiểu và có thể làm như những người hành nghề chuyên môn trong lĩnh vực của họ (Ingvarson,
1998, tr.114) Cụ thể, các tiêu chuẩn nghề nghiệp dành cho GV tập trung vào những
gì GV dự kiến sẽ biết và có thể làm được Chúng thường quan tâm đến trách nhiệm giải trình và cơ chế chất lượng, và được liên kết chặt chẽ với hành động của các cơ quan thể chế và nghề nghiệp Chúng có thể được định nghĩa là:
Các mô tả được chia sẻ về tầm nhìn thực tiễn, có nghĩa là để mô tả mô hình
thống kê về những gì có giá trị nhất trong việc dạy kiến thức và thực hành;
Các công cụ đo lường để đánh giá nghề nghiệp, tức là các công cụ để đưa ra
phán đoán và quyết định trong bối cảnh ý nghĩa và giá trị chung (Sykes và Plastrik, 1993) hoặc các công cụ để cung cấp thông số kỹ thuật về mức độ hiệu suất (Kleinhenz & Ingvarson, 2007)
Mục đích của các tiêu chuẩn nghề nghiệp có thể khác nhau, phổ biến tập trung vào một hoặc nhiều khía cạnh sau:
Thông tin: chúng có thể được sử dụng làm tín hiệu truyền thông tin về hành
động và hành vi của GV đến các nhóm xã hội khác nhau;
Hướng dẫn: như các nguyên tắc chỉ đạo hành động của các bên liên quan thể
chế và nghề nghiệp;
Mô hình hóa: như các ví dụ mẫu đại diện cho lý tưởng về chất lượng chuyên
môn và thực hành cho GV, dọc theo các giai đoạn nghề nghiệp khác nhau;
Quản lý: như các biện pháp thống nhất cho các mối quan hệ trong giảng dạy,
đào tạo GV và phát triển chuyên môn;
Trang 33tự đánh giá, cải tiến để đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra, từ đó đào tạo, cung ứng nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng được yêu cầu xã hội, phát triển đất nước Các tiêu chuẩn dành cho GV về phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn nghề nghiệp sẽ cho biết sự phát triển các mục tiêu cần phấn đấu, cung cấp một khung tổng thể để GV có thể đánh giá sự thành công của việc học tập, bồi dưỡng và hỗ trợ tự kiểm tra, tự đánh giá GV có thể sử dụng các tiêu chuẩn để xác định khả năng hiện tại và xu hướng phát triển của họ, nguyện vọng và thành tích chuyên môn
1.2.4 Công nghệ thông tin và Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
1.2.4.1 Công nghệ thông tin
UNESCO (2018) định nghĩa Công nghệ thông tin và truyền thông có nghĩa là
“máy tính, điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số, hệ thống định vị vệ tinh, thiết bị điện tử và máy ghi dữ liệu, radio, truyền hình, mạng máy tính, hệ thống vệ tinh hoặc hầu hết mọi thứ xử lý và truyền thông tin điện tử Công nghệ thông tin và truyền thông bao gồm cả phần cứng (thiết bị) và phần mềm (chương trình máy tính trong thiết bị)”
(tr.2)
Luật Công nghệ thông tin định nghĩa thuật ngữ Công nghệ thông tin là “tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lí, lưu trữ và trao đổi thông tin số” (Luật số 67/2006/QH11,
ban hành ngày 29/06/2006, Điều 4.1, tr.1)
Trong lĩnh vực giáo dục, Công nghệ thông tin và truyền thông được coi là một trong những phương tiện dạy học thông dụng, gồm có máy vi tính, đĩa mềm, đĩa CD-ROM, hệ đa phương tiện,… [56, tr.431] Cũng có nhiều hệ thống giáo dục gọi các công nghệ kỹ thuật số (digital technologies) là công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 3423
Tức là người nói muốn đề cập rằng CNTT&TT bao gồm đầy đủ các công cụ kỹ thuật
số có sẵn, cả phần cứng và phần mềm Về phần cứng, CNTT&TT có nghĩa là máy tính và các thiết bị điện tử có liên quan như máy tính bảng và máy tính xách tay, đầu đọc điện tử, điện thoại thông minh, trợ lý kỹ thuật số cá nhân, máy quay phim, máy tính vẽ đồ thị và bảng trắng điện tử Liên quan đến phần mềm, CNTT&TT bao gồm mọi thứ, từ trình duyệt Internet và các công cụ phát triển đa phương tiện đến các ứng dụng kỹ thuật, phương tiện truyền thông xã hội và các nền tảng chỉnh sửa hợp tác
Nghiên cứu này tiếp cận thuật ngữ CNTT theo Luật Công nghệ thông tin Việt Nam, bao gồm cả các phương pháp, phần cứng, phần mềm kỹ thuật giúp xử lí thông tin số, và sẽ sử dụng cách gọi “Công nghệ thông tin” thay cho thuật ngữ “Công nghệ thông tin và truyền thông”
1.2.4.2 Ứng dụng CNTT trong dạy học
Ứng dụng CNTT là “việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” (Luật số
67/2006/QH11, ban hành ngày 29/06/2006, Điều 4.5, tr.2)
Ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học là việc sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để khai thác, sản xuất và trao đổi thông tin số, phục vụ hiệu quả cho trong hoạt động dạy – học GV và HS Cụ thể hơn,
“ứng dụng CNTT trong dạy học là việc sử dụng máy tính, phần mềm máy tính và các thiết bị CNTT khác trong việc soạn bài, dạy học, kiểm tra đánh giá, hỗ trợ học sinh học tập và cả việc nghiên cứu nhằm phát triển chuyên môn” (Nguyễn Văn Nghiêm,
2013, tr.26)
Ở nước ta từ những năm 2000, thuật ngữ CNTT được dùng ngày càng nhiều, điều đó thể hiện vị trí và tầm quan trọng của CNTT trong đời sống loài người mà nét nổi bật là vai trò ngày càng tăng của máy tính điện tử và Internet Không nằm ngoài
xu thế đó, CNTT cũng được sử dụng ngày càng rộng rãi trong nhà trường nhờ những
ưu điểm về mặt kỹ thuật và tiềm năng về mặt sư phạm của công nghệ này Hiện nay
và thậm chí trong tương lai, CNTT có chức năng như một phương tiện dạy học, có thể làm một số phần việc của người thầy, cũng có thể đóng vai trò HS và thực hiện
Trang 3524
những chức năng khác trong QTDH [56, tr.433] Ứng dụng CNTT trong dạy học cũng
có thể hỗ trợ cho nhiều hình thức dạy học khác nhau như dạy học trực tiếp (face to face), dạy học từ xa (distance learning), phòng đào tạo trực tuyến (online training lab), học tập điện tử (e-learning) … đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng cao của các thành phần khác nhau trong xã hội, khuyến khích sự làm việc độc lập của HS, cá biệt hóa quá trình học tập, và giảm bớt sự vất vả thủ công của người thầy để họ dành nhiều thời gian hơn cho những HS cần hỗ trợ Với sự đa dạng và phong phú của các phần mềm dạy học hiện nay, CNTT hoàn toàn có thể trợ giúp cho QTDH để hiện thực hóa các mục tiêu giáo dục trong xã hội hiện đại, đó là “Học mọi nơi – Học mọi lúc – Học suốt đời – Dạy cho mọi người và mọi trình độ tiếp thu khác nhau”
Theo Nguyễn Văn Long (2016) thì quá trình ứng dụng CNTT vào giáo dục nói chung trên thế giới được chia làm ba giai đoạn, cụ thể: giai đoạn giới thiệu công nghệ vào lớp học (Introduction); giai đoạn tích hợp công nghệ vào lớp học (Integration); và giai đoạn vô hình hóa công nghệ trong lớp học (Invisibilisation), tức
là CNTT trở thành một phần thường xuyên của lớp học (tr.16)
Khi xem xét các khả năng ứng dụng CNTT trong giáo dục, thường có hai dạng:
thứ nhất CNTT là một nội dung giáo dục và đào tạo, thứ hai CNTT như một môi
trường, một công cụ, phương tiện dạy học mạnh và hiệu quả CNTT trong giáo dục tạo ra những cải tiến rõ rệt, nổi bật nhất là trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập, việc tổ chức quá trình học tập, thi cử, kiểm tra và đánh giá (Hà Thị Mai, 2013, tr.4) CNTT là một công cụ mạnh mẽ để thúc đẩy và hỗ trợ hình thành, phát triển một loạt các kỹ năng thế kỷ 21 cần thiết để người học thích ứng với cuộc sống Điều mà các nhà giáo dục cần suy nghĩ cẩn thận khi thiết kế trải nghiệm học tập là cách họ cũng như HS sử dụng CNTT và liệu nó có được sử dụng theo cách hiệu quả để giải quyết những vấn đề phức tạp, kiến tạo tri thức hay để thiết kế các sản phẩm dựa trên kiến thức Chúng ta cũng cần nghĩ làm thế nào CNTT có thể giúp người học hợp tác theo những cách mà trước đây không thể hoặc giao tiếp qua các phương tiện biểu đạt mới
Trang 362011, UNESCO phối hợp với Microsoft công bố khung Chuẩn năng lực ICT cho GV phiên bản 2.0 (ICT-CFT) với một số điều chỉnh so với phiên bản năm 2008 Phiên bản ICT-CFT phiên bản 3 (2018) chỉ ra những yêu cầu cần thiết về năng lực CNTT của GV để giúp HS không chỉ nắm vững những kiến thức học được từ chương trình
mà còn có thể biết cách kiến tạo ra những kiến thức mới
Với ba cấp độ - Tiếp thu kiến thức, Đào sâu kiến thức và Sáng tạo kiến thức - trên sáu khía cạnh công việc của GV - Hiểu biết về CNTT trong giáo dục; Chương trình giảng dạy và đánh giá; Phương pháp sư phạm; Các kỹ năng ứng dụng kỹ thuật số; Tổ chức và Quản lý; và Giáo viên học tập chuyên môn - ICT-CFT phiên bản 3 bao gồm 18 năng lực
Trang 3726
Hình 1.1 Khung năng lực ICT phiên bản 3 dành cho GV của UNESCO 2
Đối với mỗi năng lực, UNESCO đưa ra một hướng dẫn chi tiết để GV căn cứ trên đó triển khai cụ thể, các nhà chính sách dựa vào đó xây dựng chính sách về CNTT trong giáo dục phù hợp với điều kiện, bối cảnh ở địa phương, quốc gia mình Các năng lực được cụ thể hóa bằng các mục tiêu thành phần và các ví dụ hướng dẫn tương ứng để GV đối chiếu, tự đánh giá mức độ thực hiện của bản thân (tham khảo ví dụ tại Phụ lục)
Ủy ban Châu Âu (European Commission)
2 UNESCO (2018) Guidelines on Developing and Strengthening Qualifications Frameworks in Asia and the Pacific
Trang 3827
Trong khối châu Âu, Ủy ban châu Âu đã đưa ra Khung châu Âu về năng lực
kỹ thuật số của các nhà giáo dục (DigCompEdu, 2017) Khung đáp ứng nhận thức
ngày càng tăng của nhiều quốc gia thành viên châu Âu rằng các nhà giáo dục cần một
tập hợp các năng lực kỹ thuật số chuyên môn để có thể nắm bắt tiềm năng của các
công nghệ kỹ thuật số nhằm tăng cường và đổi mới giáo dục Khung này đưa ra thuật
ngữ “công nghệ kỹ thuật số” (digital technologies) bao gồm các thiết bị kỹ thuật số
(như máy tính, laptop, máy tính bảng, điện thoại di động, bảng trắng tương tác, TV,
máy chiếu, máy ảnh), các tài nguyên kỹ thuật số và dữ liệu (như Thông tin trực tuyến,
trang web, nền tảng; Nội dung đa phương tiện (hình ảnh, âm thanh, video); Tài liệu
học tập; (Trực tuyến) trò chơi, câu đố; Phần mềm, ứng dụng, chương trình giáo dục;
Môi trường học tập ảo; Mạng xã hội) Khung DigCompEdu phân biệt sáu lĩnh vực
khác nhau trong đó năng lực kỹ thuật số các nhà giáo dục được thể hiện với tổng số
22 năng lực (Hình 1.2) Sáu lĩnh vực này tập trung vào những khía cạnh khác nhau
của các hoạt động chuyên môn của nhà giáo dục
Hình 1.2 Khung châu Âu về năng lực kỹ thuật số của các nhà giáo dục
(Nguồn: Christine Redecker, 2017)
Trang 3928
Mô hình tiến trình phát triển năng lực được đề xuất nhằm giúp các nhà giáo dục hiểu được điểm mạnh và điểm yếu cá nhân của họ, bằng cách mô tả các giai đoạn hoặc mức độ phát triển năng lực kỹ thuật số Để dễ tham khảo, các giai đoạn năng lực này được liên kết với sáu mức độ thành thạo được sử dụng bởi Khung tham chiếu ngôn ngữ chung châu Âu (CEFR), từ A1 đến C2 với các cấp từ thấp đến cao: Người mới (A1), Nhà khám phá (A2), Người tích hợp (B1), Chuyên gia (B2), Lãnh đạo (C1)
và Người tiên phong (C2) (tham khảo ví dụ tại Phụ lục)
Australia
Chuẩn NNGV Australia bao gồm 07 tiêu chuẩn liên quan đến ba khía cạnh của giảng dạy: Kiến thức chuyên môn, thực hành chuyên môn và cam kết chuyên môn Từng tiêu chí trong mỗi tiêu chuẩn được mô tả cụ thể ở bốn giai đoạn nghề nghiệp chuyên môn từ Tốt nghiệp, Thành thạo, Hoàn thành tốt đến Dẫn đầu sẽ hỗ trợ
GV xác định khả năng hiện tại và đang phát triển của họ, các nguyện vọng và thành tích chuyên môn để có sự cải tiến phù hợp Yêu cầu ứng dụng CNTT trong dạy và học được đề cập trong tiêu chuẩn 2 và 4 Tiêu chuẩn 2 – “Biết nội dung và cách dạy” thuộc nội dung kiến thức chuyên môn, đã mô tả cách ứng dụng CNTT để giảng dạy,
từ giai đoạn GV mới tốt nghiệp (Thực hiện các chiến lược giảng dạy sử dụng CNTT
để mở rộng cơ hội học tập cho người học) đến Dẫn đầu (Dẫn dắt và hỗ trợ các đồng nghiệp trong trường lựa chọn và sử dụng CNTT với các chiến lược giảng dạy hiệu quả để mở rộng cơ hội học tập và nội dung kiến thức cho tất cả HS) Tiêu chuẩn 4 - nội dung thực hành chuyên môn quy định cách sử dụng ICT an toàn, trách nhiệm và
có đạo đức để xây dựng và duy trì môi trường học tập an toàn, hỗ trợ người học Ở mức độ cao nhất, GV cần xem xét hoặc thực hiện được các chính sách và chiến lược mới để đảm bảo việc sử dụng CNTT trong học tập và giảng dạy sao cho an toàn, trách nhiệm và có đạo đức (tham khảo tại Phụ lục)
Yêu cầu về ứng dụng CNTT là tiêu chuẩn bắt buộc đối với năng lực GV tại Australia và GV muốn thăng chức phải đạt được những tiêu chuẩn này Tại đây, họ cũng có hệ thống đánh giá quốc gia về năng lực GV, thông qua minh chứng, sự giới thiệu từ trường học/nơi làm việc, lượt truy cập trang web, quan sát, thảo luận chuyên môn (dành cho GV chính có thành tích cao) Bằng chứng phải đến từ nhiều nguồn và
Trang 40đó là Hàn Quốc và Singapore
Tiêu chuẩn năng lực CNTT quốc gia dành cho GV Hàn Quốc liên quan đến các nội dung: Thu thập thông tin; Phân tích và xử lý thông tin; Chuyển và trao đổi thông tin; Đạo đức thông tin & bảo mật Bao phủ bốn nội dung này là 15 tiêu chuẩn, được khái quát ở bảng sau:
Bảng 1 1 Tiêu chuẩn năng lực CNTT dành cho GV Hàn Quốc
Thu thập thông tin Xác định vị trí, truy cập và đọc thông tin,
Thu thập và đánh giá thông tin, Lưu trữ và quản lý thông tin
Phân tích và xử lý thông tin Sản xuất, chỉnh sửa và xử lý văn bản,
Xử lý và phân tích tài liệu bảng tính, Sản xuất và chỉnh sửa tài liệu đa phương tiện, Sản xuất và chỉnh sửa tài liệu thuyết trình,
Sử dụng và quản lý hệ thống NEIS
Chuyển và trao đổi thông tin Trình bày và chuyển thông tin,
Truyền thông và trao đổi
Đạo đức thông tin & bảo mật Hiểu biết về xã hội thông tin,
Ngăn chặn phân phối vật liệu có hại, Bảo vệ sở hữu trí tuệ,
Quản lý thông tin cá nhân,