1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị bệnh cho gà mía dabaco nuôi chuồng hở tại trại gà lê thành sự tại xã đỗ sơn, huyện thanh ba, tỉnh phú thọ

71 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình củ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ THÀNH SỰ XÃ ĐỖ SƠN, HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

LÊ THÀNH SỰ XÃ ĐỖ SƠN, HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Phạm Diệu Thùy

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp Đại học là một học phần cần thiết và rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường, nhằm rèn luyện về kĩ năng, tay nghề, áp dụng được những kiến thức lý thuyết đã học trên lớp vào trau dồi thêm kinh nghiệm vào thự tế cho công việc sau này

Sau một thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em

đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này ngoài

sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự động viên, hướng dẫn chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Thông qua khóa luận này, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn tới: Ban giám hiệu và toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là cô giáo TS Phạm Diệu Thùy

đã luôn động viên giúp đỡ, chỉ bảo tận tình, chia sẻ ý kiến quý báu cho em trong suốt quá trình thực hiện và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này

Em xin trân trọng cảm ơn: Trang trại gà Lê Thành Sự xã Đỗ Sơn, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ đã tiếp nhận và tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp tại đây

Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè trong suốt khóa học

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 19 tháng 12 năm 2019

Sinh viên

Hứa Anh Tú

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Mỗi sinh viên khi ra trường đều mong muốn mình sẽ trở thành một kỹ

sư, bác sỹ thú y giỏi có tay nghề cao, được xã hội chấp nhận Để làm được điều đó sinh viên khi ra trường cần trang bị cho mình một hành trang kiến thức khoa học, chuyên môn vững vàng và sự hiểu biết xã hội Do vậy, thực tập tốt nghiệp là việc hết sức quan trọng giúp sinh viên củng cố lại kiến thức

đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, tiếp cận và làm quen với công việc Qua đó sinh viên sẽ nâng cao trình độ, khả năng áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất Đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc khoa học, nhanh nhẹn, có tính sáng tạo để ra trường phải là một cán bộ vững vàng về lý thuyết, giỏi về tay nghề, có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của sản xuất góp phần vào sự phát triển của đất nước

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của cô giáo TS.Phạm Diệu Thùy, và sự tiếp nhận của trang trại gà Lê Thành Sự em đã thực hiện đề tài:

“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị bệnh cho gà Mía Dabaco nuôi chuồng hở tại trại gà Lê Thành Sự tại xã Đỗ Sơn, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ” Sau thời gian thực tập tốt nghiệp với tinh thần

khẩn trương nghiêm túc nên em đã hoàn thành khóa luận Tuy nhiên, do trình

độ có hạn, lần đầu còn bỡ ngỡ nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được nhận xét và đóng góp của thầy, cô giáo, ban hội đồng để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Khẩu phần ăn cho 5000 gà 41

Bảng 3.2 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của cám 12S, 13 và 15 của Công ty Cổ phần Công nghệ Sinh học Tân Việt trong từng giai đoạn phát triển của gà 42

Bảng 4.1 Kết quả việc vệ sinh sát trùng chuồng trại 46

Bảng 4.2 Kết quả đạt được trong sử dụng vắc xin tại trại 48

Bảng 4.3 Những bệnh thường gặp ở gà 48

Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm bệnh theo tháng 50

Bảng 4.5 Phác đồ điều trị và tỷ lệ khỏi bệnh 52

Bảng 4.6 Kết quả các công tác khác 54

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Ý nghĩa

CP (Crude Protein) Chất đạm thô

cs Cộng sự Nxb Nhà xuất bản

TT Thể trọng

Vs Với VTM Vitamin

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI NÓI ĐẦU ii

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC v

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 4

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 4

2.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất của trại 5

2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại 6

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước 7

2.2.1 Cơ sở khoa học 7

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 35

3.1 Đối tượng 35

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 35

3.3 Nội dung tiến hành 35

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tiến hành 35

3.4.1 Chỉ tiêu theo dõi 35

3.4.2 Phương pháp tiến hành 36

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 37

Trang 8

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

4.1 Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn gà thịt 38

4.1.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 38

4.1.2 Chăm sóc nuôi dưỡng đàn gà 43

4.1.3 Đánh giá thực hiện công tác chăm sóc, quản lý đàn gà nuôi thịt 45

4.2 Kết quả thực hiện công tác thú y tại trại 45

4.2.2 Thực hiện tiêm phòng vắc xin tại trại 47

4.3 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn gà 48

4.3.1 Những bệnh gà thường mắc trong chăn nuôi chuồng hở 48

4.3.2 Tỷ lê nhiễm bệnh theo tháng 52

4.4 Kết quả điều trị gà mắc các bệnh thông thường 52

4.2 Các công tác khác 53

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Kiến nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG THỜI GIAN THỰC TẬP

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành chăn nuôi luôn chiếm một vị thế quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh

tế đất nước Ngành chăn nuôi ở nước ta hiện nay đang rất phát triển, đặc biệt

là chăn nuôi gia cầm Theo số liệu của Tổng cục thống kê (2018): năm 2018 nước ta có khoảng 316,916 triệu gia cầm; tổng đàn gà 408,970 triệu con Ngành chăn nuôi gia cầm phát triển đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao mức thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Mặt khác, ngành chăn nuôi còn cung cấp sản phẩm phụ cho các ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao Đáp ứng nhu cầu ấy đã có nhiều giống gà có khả năng sản xuất thịt, trứng được đưa vào chăn nuôi theo hướng công nghiệp Đặc biệt là các giống gà lông màu có ưu điểm tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, năng suất thịt cao, chất lượng thịt tốt, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng

Phương thức chăn nuôi đã và đang được chuyển dịch theo hướng tích cực từ quy mô gia đình, nhỏ lẻ sang quy mô trang trại, tập trung Nhờ đó việc quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt hơn và tạo ra giá trị sản phẩm kinh tế cao hơn, các sản phẩm từ gà như: trứng, thịt là nguồn thực phẩm quan trọng trong đời sống của nhân dân, ngoài ra còn cung cấp một lượng phân cho ngành nông nghiệp Phát triển chăn nuôi gà đã mang lại một khoản lợi nhuận không nhỏ cho người dân, cũng như tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo Đặc biệt người dân biết tiếp cận với khoa học và công

Trang 10

nghệ, ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ vào chăn nuôi, lựa chọn các giống gà có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất

Tuy nhiên, bên cạnh việc đầu tư con giống tốt, chăn nuôi gà muốn phát triển, đạt năng suất và hiệu quả cao thì vấn đề quan trọng hàng đầu là công tác chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh cho gà phải tốt

Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, ở miền Bắc mùa hè nóng ẩm, mùa đông có mưa phùn gió bấc Những yếu tố thời tiết đó rất thuận lợi cho các mầm bệnh phát triển Khi gà bị bệnh sẽ gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm Để khắc phục tình trạng trên, cần phải có những giải pháp như: nâng cao nhận thức, kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ, phòng tránh dịch bệnh từ chính phía người chăn nuôi, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ thú y cơ sở và nâng cao kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ, phòng tránh dịch bệnh từ chính phía người chăn nuôi

Xuất phát từ tình hình thực tế, được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của cô giáo TS Phạm Diệu Thùy và của nơi thực tập, em thực hiện đề tài:

“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị bệnh cho gà Mía Dabaco tại trại gà Lê Thành Sự xã Đỗ Sơn, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu của đề tài

- Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà thịt

- Chẩn đoán và xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại trại gà nhà ông Lê Thành Sự

- Đưa ra phác đồ điều trị bệnh và đánh giá hiệu quả, lựa chọn phác đồ chính xác

- Sinh viên nâng cao được tay nghề, thành thạo về chẩn đoán, điều trị

bệnh, dùng thuốc chính xác, có hiệu quả

Trang 11

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại

- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn gà thịt tại trại

- Xác định được tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn gà thịt nuôi tại trại

- Thành thạo các thao tác thú y, điều trị bệnh có hiệu quả

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Thanh Ba là huyện miền núi Tây Bắc tỉnh Phú Thọ Huyện Thanh Ba có

26 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 thị trấn huyện lỵ (Thanh Ba) và 25 xã: Diện tích toàn huyện 195,0343 km² Dân số 112.589 (1/2009), gồm các dân tộc: Dao, Kinh, Cao Lan

Phía Đông Bắc Thanh Ba giáp huyện Đoan Hùng, phía Tây Bắc giáp huyện Hạ Hòa, Tây Nam giáp huyện Cẩm Khê, phía Nam giáp huyện Tam Nông, Đông Nam giáp thị xã Phú Thọ và huyện Phù Ninh

Thanh Ba có địa hình đồi gò xen kẽ thung lũng tích tụ xâm thực, dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam Trên địa bàn huyện có sông Hồng chảy qua

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu

Nhiệt độ không khí trung bình 23,4°C, tháng cao nhất là 28,3°C, tháng thấp nhất là 16,3°C Độ ẩm trung bình năm là 85,1%, tháng cao nhất là 91%, tháng thấp nhất là 78% Lượng mưa trung bình hàng năm là 1577 mm, tháng lớn nhất là 305mm tháng nhỏ nhất 24 mm Lượng mưa trung bình hàng năm

là 1577 mm, tháng lớn nhất là 305 mm tháng nhỏ nhất 24 mm

Tỉnh Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy tỉnh thuộc vùng Đông bắc nhưng do độ cao không lớn nên ngay trong mùa đông thì khí hậu cũng không lạnh lắm

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Thanh Ba là huyện giàu tiềm năng đất đai có khả năng phát triển và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa, chất lượng đất tốt, nguồn nước phong phú, khí hậu thuận lợi để tạo điều kiện cho cây lúa, rau

Trang 13

màu và cây nông nghiệp phát triển Đặc điểm địa hình đồi gò xen kẽ, thung lũng, chạy dài dọc theo sông Hồng nên huyện có điều kiện phát triển trồng cây trên đất bãi như ngô, dâu tằm, chuối, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm

và nuôi trồng thủy sản trên mặt nước

Những năm gần đây, kinh tế của huyện Thanh Ba tận dụng tối đa các thế mạnh của một vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, đa dạng về ngành nghề và nắm bắt thời cơ, khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có Trên cơ sở đó, nhanh chóng xác định các ngành kinh tế mũi nhọn để đầu tư phát triển, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại

hóa bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp

Chăn nuôi gia súc, gia cầm được chú trọng, đàn lợn, gia cầm tăng theo hướng sản suất hàng hóa, phát triển mạnh về số lượng và quy mô.Bên cạnh chăn nuôi, huyện đã tiến hành quy hoạch các vùng nuôi trồng thủy sản, lập các dự án nuôi tập trung theo phương pháp bán thâm canh và công nghiệp

Có thể nói, bức tranh kinh tế Thanh Ba trong giai đoạn gần đây đã có những gam màu sáng, hoạt động kinh tế sôi động hơn đã mang lại hơi thở mới trong cuộc sống của người dân nơi đây Đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Thanh Ba được cải thiện rõ rệt nhờ các biện pháp chăm lo đầu

tư cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa giáo dục

Người dân chủ yếu là làm tại các nhà máy trên địa bàn huyện và các cơ quan hành chính Nhà nước, số còn lại trực tiếp sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành trồng trọt, chăn nuôi tại địa phương và một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ

2.1.3 Điều kiện cơ sở vật chất của trại

Trang trại đã đi vào hoạt động cũng trong một thời gian khá lâu, lại là trang trại tư nhân không có vốn đầu tư của công ty nên cơ sở vật chất cũng khá ổn định Bước đầu trại đã có những đầu tư về cơ sở vật chất như sau:

- Trang trại được xây dựng và hoạt động từ năm 2010 Trại được thiết kế

xa khu dân cư, có hàng rào thép gai bao quanh

Trang 14

- Được lắp đặt, trang bị máng ăn treo đổ tay, đường ống uống tự động, mỗi dãy chuồng có từ 40 – 50 máng ăn và 2 - 3 đường nước tự động chạy dọc chuồng Nền trại bê tông và mái được lợp bằng tấm lợp Fibro xi măng

- Có 3 kho thức ăn xây dựng ở mỗi đầu chuồng, 1 máy phát điện, mỗi chuồng được lắp đặt 4 - 6 cái quạt công nghiệp tùy theo diện tích của chuồng, được bố trí 10 - 12 chụp ga để sưởi ấm, úm gà và một số dụng cụ như bạt, khung úm,…

- Trong mỗi chuồng có 1 nhiệt kế theo dõi nhiệt độ chuồng nuôi

- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan và có hệ thống lọc nước rồi bơm lên bể chứa

- Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha

- Sân trại là nền đất dải gạch vụn và đá dăm lên trên

2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu của trại tổ chức như sau:

Mỗi khu chuồng nuôi gà của anh Sự được quy hoạch tổng diện tích khoảng 2.000m², bao gồm 2 dãy chuồng nhốt gà quay mặt vào nhau, rộng 1.000m2 (mỗi chuồng 600m² và nuôi được 5.000 con), khu vực sân chơi ở giữa 2 chuồng rộng chừng 1.000m² Phần sân chơi cho gà được thiết kế hệ thống giàn khung xi măng kiên cố có tuổi thọ cao, khấu hao dài kết hợp nền sân phía dưới là đất pha cát

- Diện tích trại hơn 10.000m2

- Gồm 11 chuồng nuôi và khác nhau về diện tích nên mật độ nuôi giữa các chuồng khác nhau, dao động từ 2000 - 9000 gà

- Chuồng 9000 gà có chiều dài 90m, rộng 15 m và cao 3m

- Chuồng 2000 gà có chiều dài 20 – 30m rộng 12m

- Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây rào bao quanh bằng lưới thép B40

- Đội ngũ quản lý, kĩ thuật, công nhân gồm:

05 công nhân

Trang 15

2.2.1.1 Một số đặc điểm gà Mía Dabaco

Hiện các giống gà Mía thuần phổ biến trên thị trường thường phải nuôi từ 150 - 175 ngày mới đạt điều kiện xuất chuồng và trọng lượng gà mái thường chỉ khoảng 1,5 - 1,7kg/con, trống 1,7 - 1,9kg/con nên phải bán được giá rất cao người chăn nuôi mới có lợi nhuận

Nhưng riêng giống gà Mía Dabaco, thời gian nuôi rút xuống chỉ còn

105 - 120 ngày là đủ điều kiện xuất bán Trọng lượng gà trống khi đó đạt 2,2 - 2,5kg/con, gà mái 1,6 - 1,9kg/con nên rất lợi cho phía người chăn nuôi Mặc

dù chỉ nuôi 3,5 - 4 tháng, nhưng lông, cựa của gà Mía Dabaco đã phát triển cân đối, đầy đủ, đẹp mã, chất lượng thịt đảm bảo rắn chắc, thơm ngon

2.2.1.2 Những hiểu biết về khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của gà thịt

 Khả năng sinh trưởng của gà

Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng Sự tăng trưởng thực chất là các tế bào của mô cơ có tăng thêm khối lượng, số lượng và kích thước các chiều, vì từ khi thụ tinh cho đến khi trưởng thành, được chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai

và giai đoạn ngoài thai Đối với gia cầm là giai đoạn hậu phôi và thời kỳ trưởng thành

Sinh trưởng và phát dục có liên quan chặt chẽ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhưng cũng hạn chế lẫn nhau Sự tương quan giữa sinh trưởng và phát dục đó cũng là kết quả của cả một quá trình tiến hóa của các cơ thể bậc cao và

Trang 16

điều đó làm cho vật nuôi có thể thích nghi được trong các điều kiện môi trường khác nhau Quá trình thích ứng này là cả một chuỗi dài thay đổi về chất lượng và số lượng, liên tục bắt đầu từ lúc hợp tử phân chia tăng số lượng

tế bào, hình thành các lá phôi, xuất hiện các mô cho đến lúc các bộ phận, các

cơ quan hoàn chỉnh, trở thành một hệ thống bảo đảm được nhiệm vụ tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, bài tiết, trao đổi chất

Quá trình phát triển gồm hai mặt có liên quan chặt chẽ với nhau là: sinh trưởng và phát dục Khi nghiên cứu ở gia cầm, các nhà khoa học xác định khả năng sinh trưởng là xem xét sự tăng khối lượng sau nở, còn phát dục là sự thay đổi hoàn chỉnh cấu tạo, chức năng sinh lý của các bộ phận Đối với chăn nuôi gà thịt người ta chú ý đến sinh trưởng là chủ yếu Vì khả năng tăng khối lượng của gia cầm là một chỉ tiêu có ý nghĩa rất lớn nó biểu hiện khối lượng

cụ thể của từng cá thể hoặc đại diện cho một dòng, một giống

Quá trình sinh trưởng được xác định một phần bằng số liệu qua tính toán sự thay đổi về các chiều của cơ thể, khối lượng, thể tích các cơ quan, bộ phận Để đánh giá khả năng sinh trưởng, người ta sử dụng khái niệm sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối

 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm

* Ảnh hưởng của dòng giống:

Tốc độ sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào loài, giống và bản thân cá thể Các giống gà chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn các giống gà chuyên trứng và kiêm dụng Trong cùng một điều kiện chăn nuôi mỗi giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [7] cho biết sự khác nhau giữa các dòng, giống gia cầm là rất lớn

Theo Chambers 1990 [28] có rất nhiều gen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể gà, có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung,

có gen ảnh hưởng tới nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ

Trang 17

Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs, 1994 [5] thì sự sai khác về khối lượng giữa các giống gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng năng hơn giống gà hướng trứng từ 13 - 38%

Theo Trần Công Xuân và cs (1999) [27], nghiên cứu tốc độ sinh trưởng trên hai dòng gà kiêm dụng (882 và Jiang cun) của giống gà Tam Hoàng cho thấy tốc độ sinh trưởng của hai dòng gà khác nhau: ở 15 tuần tuổi dòng 882 đạt 1872,67g/con, dòng Jiang cun đạt 1742,86g/con

Các nghiên cứu trên cho thấy, đặc tính di truyền của các dòng, các giống

là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và cho thịt của gà

Từ các kết quả nghiên cứu này giúp cho người chăn nuôi biết được giới hạn sinh trưởng của từng dòng, giống khác nhau để mà áp dụng vào thâm canh hợp lý có hiệu quả cao

* Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông:

Tính biệt cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới khối lượng cơ thể: gà trống cân năng hơn gà mái từ 22 - 34% Những sai khác này cũng được biểu hiện về cường độ sinh trưởng được quy định không phải do hormone sinh học mà do các gen liên kết với giới tính Sự sai khác về mặt sinh trưởng còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng phát triển nhanh so với các dòng phát triển chậm (Chambers, 1990) [28]

Rõ rệt nhất là ở gà do sự khác nhau về quá trình trao đổi chất, đặc điểm sinh lý và khối lượng cơ thể Trần Đình Miên, 1994 [14] cho biết: lúc gà mới

nở, trống nặng hơn mái 1%, tuổi càng tăng sự sai khác càng lớn, ở 8 tuần tuổi

sự sai khác về khối lượng giữa gà trống và gà mái là 27%

North, 1990 [33] kết luận: lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn; ở 2 tuần tuổi là 5%, 3 tuần tuổi lớn hơn 11%, 5 tuần tuổi lớn hơn 17%, 6 tuần tuổi lớn hơn 20%, 7 tuần tuổi lớn hơn 23%, 8 tuần tuổi lớn hơn 27%

Những kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học xác định trong cùng một giống, cùng giới tính ở gà có tốc độ mọc lông nhanh có tốc độ

Trang 18

sinh trưởng và phát triển nhanh hơn Tốc độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ với sinh trưởng, thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn gà mọc lông chậm

Ảnh hưởng của tính biệt đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà Broiler có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Ở các nước công nghiệp, người ta nuôi gà Broiler tách riêng trống mái Việc này, làm tăng độ đồng đều trong đàn và thuận lợi cho việc giết mổ tự động Nuôi tách riêng trống mái sẽ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, tăng khối lượng nhanh, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, làm cho gà trống không lấn át gà mái, giảm gà bị trầy, xước (Đặng Hữu Lanh và

cs (1999) [10]

* Ảnh hưởng của dinh dưỡng:

Dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm Gia cầm sử dụng thức ăn nhằm bảo đảm các hoạt động duy trì cơ thể và sản xuất (sinh trưởng, sản xuất trứng)

Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2003) [11], cho biết: để phát huy được sinh trưởng cần cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân bằng hợp lý giữa protein và năng lượng Ngoài ra, trong thức ăn hỗn hợp cho chúng còn được bổ sung hàng loạt các chế phẩm hoá sinh không mang theo nghĩa dinh dưỡng nhưng có kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng thịt

Năng lượng và protein là 2 yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất trong khẩu phần ăn của gia cầm (Rose, 1997) [33] Ngoài ra trong dinh dưỡng gia cầm các thành phần như axit béo khoáng, vitamin và nước cũng không thể thiếu được

Ảnh hưởng của năng lượng trong thức ăn: gia cầm có khả năng chuyển hoá năng lượng từ những carbon hydrate đơn giản, một vài carbon hydrate phức tạp như dầu mỡ, nhưng những carbonhydrate quá phức tạp như cellulose thì gia cầm không thể sử dụng được Nhu cầu về năng lượng cho các mục đích thay đổi chất rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng

Trang 19

hầu hết đến quá trình sản xuất Theo Rose (1997) [33] nếu hàm lượng năng lượng trong khẩu phần thay đổi thì gia cầm điều chỉnh sự cân bằng năng lượng bằng cách thay đổi lượng thức ăn tiêu thụ

Ảnh hưởng của protein: trong thức ăn protein chứa 22 axit amin trong

đó có một số axit amin cần thiết mà gia cầm không thể tự tổng hợp được Khẩu phần ăn của gia cầm đòi hỏi phải có sự cân bằng các axit amin cần thiết mới đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng Kircge Bner và cs (1997) [31] đã chứng minh sự thiếu hụt protein trong khẩu phần đến năng suất của gà Để đạt được năng suất tối ưu và rút ngắn thời gian nuôi dưỡng của gà thịt, trong thí nghiệm của Vogt (1990) [36] đã tìm ra protein thích hợp trong khẩu phần là 118g protein/MJ ME, với khẩu phần này khối lượng của gà thịt khi kết thúc thí nghiệm đạt lớn nhất Bên cạnh đưa ra hàm lượng protein, năng lượng thích hợp, người ta phải tính đến tỷ lệ protein/năng lượng Nếu hàm lượng protein trong khẩu phần quá cao gây tình trạng tích luỹ mỡ trong cơ thể

Nguyễn Duy Hoan (1998) [7], protein trong cơ thể gia cầm có vai trò rất to lớn và đa dạng, chúng là thành phần cấu trúc quan trọng của các mô khung và mô bảo vệ như xương, sụn, dây chằng, da lông vũ, lông tơ, móng Khối lượng chủ yếu của một số cơ quan trong cơ thể như: tim, gan, các cơ quan sinh sản, tuyến nội tiết, phổi, thận, máu, lách là protein Nếu không có protein sẽ không có các enzyme vì protein tham gia cấu tạo nên các enzyme,

mà không có enzyme để xúc tác quá trình chuyển hóa sinh học trong cơ thể trao đổi chất sẽ bị rối loạn

Boushy (2009) [30] trong cơ thể gia cầm, phần protein chiếm gần 18 - 20% khối lượng sống, nếu cho rằng lượng nước trong cơ thể chiếm khoảng 65

- 70% thì suy ra rằng protein tạo nên khối lượng chủ yếu của vật chất khô (đến 55 - 65%), trong các sản phẩm chăn nuôi gia cầm như: thịt, trứng, lông

vũ và lông tơ, tỷ lệ đạt tới 50 - 90% khối lượng vật chất khô

Từ Quang Hiển và cs (2002) [6] dinh dưỡng protein trong nuôi dưỡng gia cầm là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức

Trang 20

khỏe và chất lượng sản phẩm Người ta cho rằng 20 - 25% sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi dinh dưỡng protein

Phạm Công Thiếu (2001) [20], cho biết: ở gia cầm protein chiếm 1/5 khối lượng cơ thể và khoảng 1/7 - 1/8 khối lượng trứng Chính vì vậy, protein

là chất hữu cơ quan trọng nhất mà không có một chất dinh dưỡng nào có thể thay thế được vai trò của nó Trong cơ thể vật nuôi nói chung và gia cầm nói riêng không thể tổng hợp protein từ gluxit hay từ lipit mà bắt buộc phải lấy từ bên ngoài vào qua con đường thức ăn Khi cần thiết protein cũng là nguyên liệu giải phóng năng lượng cho các hoạt động sống của cơ thể (1 gam protein phân giải cho 4,0 kcal năng lượng trao đổi) trong khi gluxit và lipit lại không thể chuyển hóa thành protein được

Trần Tố (2007) [24], nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ khác nhau giữa methionine và lysine trong khẩu phần đến sinh trưởng của gà Broiler Kabir cho biết đến 10 tuần tuổi lô có tỷ lệ methionine/lysine 40,5% cho sinh trưởng tốt hơn các lô có tỷ lệ này bằng 45,5% và 35,5%

Như vậy, để đạt năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm đặc biệt

là phát huy được tiềm năng di truyền về sinh trưởng, thì những vấn đề căn bản

là lập ra được khẩu phần dinh dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở đảm bảo nhu cầu của gia cầm qua từng giai đoạn Mặt khác, khả năng sinh trưởng còn chịu ảnh hưởng của điều kiện chăm sóc, mùa vụ, khí hậu chuồng nuôi, phương thức chăn nuôi, thú y phòng bệnh

 Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ môi trường:

Trong chăn nuôi hiện đại, vật nuôi bị giam giữ hoàn toàn nên kỹ thuật chuồng trại đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng năng suất vật nuôi Chính chuồng trại quyết định điều kiện vi khí hậu và vệ sinh môi trường xung quanh vật nuôi Một chuồng nuôi thỏa mãn tiêu chuẩn sẽ tạo điều kiện tốt cho vật nuôi và cho năng suất tối đa Ngược lại, sự hạn chế về kỹ thuật của chuồng nuôi sẽ tạo điều kiện vệ sinh, vì khí hậu không phù hợp và từ đó làm giảm năng suất vật nuôi

Trang 21

Ngoài vật nuôi, người chăn nuôi cũng làm việc trong môi trường chăn nuôi và chuồng nuôi chính là phương tiện quyết định điều kiện làm việc của người lao động Do đó, ngoài việc thỏa mãn điều kiện sống của vật nuôi, chuồng nuôi còn thỏa mãn các điều kiện làm việc và quyết định năng suất lao động của con người Các thiết kế khác nhau của chuồng nuôi sẽ quyết định năng suất lao động của người chăn nuôi

Sự biến đổi của độ ẩm và nhiệt độ không khí chuồng nuôi tương đối thích ứng với nhau Ban đêm ẩm độ tuyệt đối tăng, buổi sáng và ban ngày giảm Càng gần mái chuồng, độ ẩm tuyệt đối càng lớn hơi nước tích tụ ở trên cao, nơi có nhiệt độ cao Mặt khác lại thêm hơi thở của gia súc cũng góp phần đẩy không khí nóng lên cao Do vậy, dễ xuất hiện các giọt nước động ở mái chuồng gây mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khỏe gia cầm Độ ẩm không khí cao kết hợp nhiệt độ cao là điều kiện thuận lợi cho các nấm mốc độc sinh trưởng, phát triển trên thực phẩm, nguyên liệu, thức ăn chăn nuôi, sản sinh độc tố gây ngộ độc cho gia súc, gia cầm khi sử dụng Ngoài ra, độ ẩm không khí cao còn ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển của các của các vi sinh vật gây bệnh Nói chung, chuồng nuôi gia cầm ẩm thấp là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát sinh

+ Ảnh hưởng của nhiệt độ

Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sống của cơ thể sinh vật, sự thay đổi ít, diễn biến từ từ thường không gây tác hại mà có khi có tác dụng như một kích thích có lợi Trường hợp nhiệt độ biến đổi đột ngột, biên độ dao động lớn, vượt xa giới hạn bình thường sẽ gây tác hại trực tiếp và gián tiếp đến gà Gà phải được đi lại tự do ở nhiệt độ 280C trong chuồng và 32 - 350C trong giai đoạn úm Gà con chưa mọc lông rất nhạy cảm với biến động của nhiệt độ, vì chúng chưa điều tiết được thân nhiệt, thân nhiệt sẽ bị hạ rất nhanh Khoảng giữa 22 và 28 ngày điều chỉnh nhiệt độ theo tốc độ mọc lông Đo nhiệt độ ở ngang tầm lưng gà, ẩm độ trong chuồng phải đảm bảo 65 - 70%

Trang 22

Theo một số nghiên cứu cho thấy tiểu khí hậu trong chuồng nuôi có liên quan mật thiết với sức sản xuất của gia cầm.Trong điều kiện nóng ẩm, sức sản xuất của gà bị ảnh hưởng nghiêm trọng Gia cầm không có tuyến mồ hôi, lại có bộ lông vũ bao phủ nên độ pH và áp suất thẩm thấu khi không thể

hạ nhiệt bằng cách xòe cánh, uống nhiều nước, vùi mình trong lớp chất độn chuồng ẩm, mát và dồn mạch máu từ cơ quan nội tạng ra mạch máu ngoại vi thì cách tỏa nhiệt hiệu quả nhất là bốc hơi nước qua đường hô hấp Gia cầm

há mỏ ra để thở làm tăng tần số hô hấp, thải một lượng lớn khí CO2, làm giảm lượng H2CO3 làm kiềm hóa máu, thay đổi độ pH và áp suất thẩm thấu Những biến đổi sẽ làm gia cầm không thể thực hiện các chức năng sinh lý một cách bình thường Điều kiện nóng ẩm sẽ làm gia cầm giảm lượng thức ăn thu nhận hằng ngày, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm tốc độ sinh trưởng và chất lượng thịt, giảm sức đề kháng, giảm khả năng đáp ứng miễn dịch Tăng hiện tượng cắn mổ nhau, tăng nhu cầu về diện tích chuồng nuôi, nhu cầu về không khí sạch và chi phí làm mát Tất cả những vấn đề trên sẽ làm giảm sức sản xuất và hiệu quả chăn nuôi

Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng rất rõ rệt, đặc biệt là giai đoạn gà con Với gà Broiler và gà hậu bị, nhiệt độ ngày thứ nhất cần đảm bảo 32 - 34°C, ngày thứ 2 - 7 là 30°C, tuần thứ 2 là 26°C, tuần thứ 3

là 22°C, tuần thứ 4 là 20°C

Lê Hồng Mận và cs (1993) [12], cho biết nhiệt độ tối ưu chuồng nuôi với gà con sau 3 tuần tuổi là 18 - 200C Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu năng lượng trao đổi (ME) và chất đạm thô (CP) của gà Broiler, như vậy tiêu thụ thức ăn của gà chịu sự chi phối của nhiệt độ môi trường Trong điều kiện nhiệt độ khác nhau thì mức tiêu thụ thức ăn của gà cũng khác nhau

+ Ảnh hưởng của ẩm độ

Ẩm độ cao làm tăng khả năng truyền nhiệt của không khí Khi kết hợp với nhiệt độ môi trường cao vật nuôi sẽ bị nóng, khó giải nhiệt do nóng trong

Trang 23

hơi thở ít và lượng mồ hôi bốc hơi ít Đồng thời, nhiệt độ và ẩm độ không khí cao sẽ là điều kiện tốt cho vi sinh vật phát triển Khi kết hợp với môi trường nhiệt độ thấp, vật nuôi bị lạnh và làm tăng sự mất nhiệt của cơ thể

Khi ẩm độ môi trường thấp sẽ làm tăng nhanh sự mất hơi nước trong hơi thở và trên da làm niêm mạc khô, nứt nẻ và gia súc dễ nhiễm bệnh đặc biệt là bệnh đường hô hấp Ẩm độ tối hảo cho các loài là 60-80%, trung bình

là 70%, dưới 60% là thấp, dưới 50% gây bệnh đường hô hấp Trên 80% là cao, trên 90% gây khó khăn trong việc giải nhiệt và dễ bị nóng

Độ ẩm trong chuồng có khoảng 75% được sản sinh từ cơ thể gia súc, 25% từ mặt đất (thức ăn, nước uống, chất độn chuồng, tường ẩm bốc ra…), 10-15% do không khí ở bên ngoài chuồng đưa vào Đồng thời độ ẩm tương đối 55-85%, mức độ ảnh hưởng đến chưa rõ rệt nhưng khi độ ẩm lớn hơn 90% sẽ gây ảnh hưởng rất lớn Bất kỳ nhiệt độ không khí cao hay thấp, chuồng trại ẩm ướt đều không tốt Khi nhiệt độ thấp, độ ẩm cao làm tăng sự tỏa nhiệt, gia súc gia cầm bị lạnh Khi nhiệt cao, ẩm độ cao sẽ gây trở ngại sự tỏa nhiệt, nhiệt lượng thừa ở lại trong cơ thể gây rối loạn chức năng sinh lý cơ thể

20-Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt và sự thông thoáng:

Mật độ nuôi nhốt cũng là yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm Theo Van Horne (1991) [35]: khi chăn nuôi gà ở mật độ cao thì hàm lượng NH3, CO2 và H2S được sinh ra trong chất độn chuồng cao Vì khi mật độ gà đông thì lượng bài tiết thải ra nhiều hơn, trong khi đó gà cần tăng cường trao đổi chất nên lượng nhiệt thải ra cũng nhiều, do đó nhiệt độ chuồng nuôi tăng, nên sẽ ảnh hưởng tới việc tăng khối lượng gà và làm tăng tỷ lệ chết khi mật độ chuồng nuôi quá cao cùng nhiệt độ không khí cao

Sự thông thoáng chuồng nuôi là yêu cầu đối với tất cả các loại gà Đối với gà thịt, nhu cầu về thông thoáng của chuồng nuôi cao hơn vì gà thịt thương phẩm có tốc độ sinh trưởng nhanh, điều đó có nghĩa là cường độ trao đổi chất của gà thịt rất mạnh Nhu cầu về oxy là rất cao, hay nói cách khác là

Trang 24

yêu cầu về lượng không khí rất lớn Cần đảm bảo nhu cầu thông thoáng cho

gà thịt mới có thể đạt năng suất cao Trong điều kiện nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp, nhu cầu về lượng không khí mới của gà thịt từ 4-5 m3/kg khối lượng cơ thể/giờ Tốc độ gió trong chuồng nuôi ở 2 tuần tuổi đầu là 0,2-0,3 m/s Các tuần sau tăng dần 0,3-0,6 m/s

 Sức sống và khả năng kháng bệnh của gà

Sức sống là một tính trạng số lượng, nó đặc trưng cho từng giống, dòng

và cá thể Trong cùng một giống, sức sống của mỗi dòng, của các cá thể trong giống là khác nhau nhưng nằm trong giới hạn của phẩm giống

Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh.Trong chăn nuôi, người ta thường lấy tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi Tỷ

lệ nuôi sống phụ thuộc vào nhiều yếu tố: di truyền, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, ngoại cảnh

Ngoài các yếu tố như dinh dưỡng, giống, kỹ thuật thì vấn đề nhiễm bệnh của gia cầm cũng là yếu tố cơ bản dẫn đến thất bại trong chăn nuôi

Gia cầm rất mẫn cảm với dịch bệnh, khi mắc bệnh thường lây lan nhanh

và tỷ lệ chết cao, dễ kế phát các bệnh khác, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm

Khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm, các nhà nghiên cứu cho biết: sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền ở cơ thể động vật chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh

Khi điều kiện sống thay đổi (thức ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng ), gà lông màu có khả năng thích ứng tốt hơn với môi trường sống (Phan Cự Nhân và cs, 1998)[18]

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nga và cs (2000) [19], ở giai đoạn 1-16 tuần tuổi; tỷ lệ nuôi sống của gà Ri là 96,5 - 100%; của gà Ác là 88,28%; của gà Mía là 92,33 - 93,9% Con trống có sức đề kháng mạnh hơn con mái

do có sự tác động khác nhau của hormone

Trang 25

Trong chăn nuôi, để nâng cao tỷ lệ sống, sức đề kháng, giảm tổn thất

do bệnh tật gây ra, bên cạnh việc cần tiến hành các biện pháp phòng bệnh thú y và chăm sóc, nuôi dưỡng thích hợp với từng loại vật nuôi, một vấn đề hết sức quan trọng là cần phải chọn nuôi giống gia cầm có khả năng thích nghi cao Vấn đề này chỉ có thể xác định được thông qua các thử nghiệm trong thực tiễn

2.2.1.3 Những hiểu biết về phòng trị bệnh cho vật nuôi

Bệnh xuất hiện trong một đàn vật nuôi thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp

cả hai Trong một trang trại chăn nuôi quy mô lớn việc kiểm soát được bệnh truyền nhiễm đóng vai trò quan trọng Khác với các loại gia súc khác, thường được nuôi nhốt cá thể hoặc trong các nhóm có số lượng nhỏ, gà trong trang trại nuôi theo phương thức công nghiệp được nuôi tập trung với số lượng lớn

và mật độ cao Việc phòng bệnh trong chăn nuôi gà thịt cần chú ý đến yếu tố này Có nhiều biện pháp được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra dịch bệnh trên đàn gà Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao khả năng phòng bệnh của đàn gà

Các tác nhân gây bệnh có thể lan truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ cá thể này sang cá thể khác Do đó quy trình phòng bệnh lan truyền vào đàn gà cần tập trung vào các vấn đề sau:

Trang 26

* Tổ chức quy trình chăn nuôi

Quy trình chăn nuôi thích hợp sẽ hạn chế được sự hình thành và lây lan của các ổ dịch Hiện nay trong chăn nuôi gà trang trại, người ta thường áp dụng quy trình “cùng ra - cùng vào”, trong đó một chuồng hoặc một dãy chuồng được đưa vào để nhốt đồng loạt cùng một loại gà (có thể tương đương

về khối lượng hoặc tuổi) Sau một thời gian nuôi nhất định số gà này được đưa ra khỏi chuồng Chuồng trại sẽ được để trống 5 - 7 ngày để tẩy rửa và sát trùng Như vậy, việc sản xuất ở các chuồng hoặc các chuồng đó tạm thời bị gián đoạn một số ngày nhất định Quy trình kỹ thuật này không chỉ có thể áp dụng cho từng chuồng hoặc khu chuồng mà còn áp dụng cho từng nhà, hoặc từng vị trí với các đối tượng vật nuôi cụ thể

Như vậy, hệ thống này có tác dụng phòng bệnh do việc làm vệ sinh chuồng trại thường xuyên, định kỳ mỗi khi giải phóng gà để trống chuồng Đồng thời, ở đây sẽ không có sự tiếp xúc giữa các lô gà trước với các lô gà sau do đó hạn chế khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh từ lô này qua lô khác

* Tổ chức dây truyền sản xuất khép kín

Mỗi cá thể vật nuôi có thể là vật mang sẵn các loại vi khuẩn hay virus gây bệnh nên con đường lây bệnh phổ biến thường là nhập đàn mới Do đó bệnh có thể được phòng bằng cách hạn chế hoặc ngừng hẳn việc đưa vào một

số cá thể khác Việc áp dụng dây truyền sản xuất khép kín, tự sản xuất được con giống trong phạm vi trang trại là điều lý tưởng để phòng bệnh

Trang 27

* Công tác theo dõi chăm sóc phát hiện gà ốm

Bằng biện pháp quan sát ta có thể đánh giá được tình trạng sức khỏe của đàn gà và nó giúp phân biệt gà khỏe gà ốm, bệnh để điều trị

* Trạng thái chung

+ Gà khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thích hoạt động, đi lại quanh chuồng Mắt

mở, lông mượt, mềm, phân bình thường

+ Gà ốm: Lông xù, gà lù đù, nhìn không được nhanh nhẹn, gà tọp, nhẹ cân dần mặc dù không đi ỉa và ăn vẫn tiêu hao

* Chăm sóc và quản lý đàn gà thịt

Chuồng trại phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật ấm về mùa Đông, thoáng mát về mùa Hè, nền chuồng luôn luôn khô ráo Đặc biệt chuồng trại phải được đối lưu không khí tốt để giảm bớt độ ẩm trong chuồng, tránh cho

gà khỏi các bệnh về đường hô hấp

Biện pháp khắc phục điều kiện thời tiết mùa Hè: chuồng nên theo hướng Đông - Nam để đảm bảo ấm áp về mùa Đông và thoáng mát về mùa

Hè, đảm bảo ánh sáng chiếu vào chuồng hạn chế được lượng nhiệt sinh ra do ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp

Biện pháp khắc phục thời tiết mùa Đông: với chuồng hở trời rét dùng bạt che gió bảo nhiệt độ trong chuồng không bị hạ xuống quá thấp Khi có nắng thì kéo bạt lên để chuồng được khô ráo.Với chuồng khép kín có thể treo

hệ thống đèn điện bóng tròn ở đầu giàn mát để làm nóng không khí được hút vào chuồng che bớt giàn mát lại để hạn chế không khí lạnh vào chuồng, giảm bớt quạt nhưng không được để tích khí trong chuồng nó sẽ gây viêm phổi

Công việc hàng ngày cần làm ở chuồng gà thịt: kiểm tra nguồn nước, nếu dùng vòi nước uống tự động thì cần kiểm tra nước chảy mạnh hay yếu hay không có nước Phải kiểm tra hàng ngày tránh bị kẹt hoặc bị rò rỉ làm ướt nền chuồng Hàng ngày, vệ sinh chuồng, máng ăn, đồng thời quan sát hành vi,

Trang 28

biểu hiện của đàn gà Theo dõi xem nhiệt độ trong chuồng thế nào để điều chỉnh cho phù hợp với hệ thống chuồng kín

Đối với chăn nuôi trong chuồng kín để đảm bảo sức khỏe của gà cần chú ý tới việc điều chỉnh tốc độ gió trong chuồng Làm sau để có thể đảm bảo lượng không khí lưu thông thích hợp và đảm bảo được nhiệt độ trong chuồng Với gà con quan trọng nhất là giai đoạn úm ban đầu, trời mùa Hè có thể úm 1 đến 2 tuần, mùa Đông 2 đến 3 tuần có khi lâu hơn Trong giai đoạn úm này phải luôn được đảm bảo nhiệt độ yêu cầu ở trong quây úm là 30 - 32oC Nếu

gà trong giai đoạn này khỏe mạnh, phát triển tốt nó là tiền đề cho các giai đoạn sau phát triển tốt Đặc biệt trong giai đoạn lớn nhỏ quan sát hành vi của

cả đàn để biết được gà bị lạnh hay bị nóng Nếu gà nằm chồng đống lên nhau thì là gà bị lạnh cần phải giảm quạt và bật bóng điện trong lồng úm

Trong quá trình chăm sóc cho con vật nếu phát hiện gà ốm thì phải điều trị ngay để làm tăng khả năng khỏi bệnh cho con vật Ngoài ra, phải thật chú ý

để phát hiện kịp thời gà ốm để con vật không bị mắc bệnh quá nặng rồi mới điều trị, nó sẽ làm giảm kết quả điều trị

 Các biện pháp phòng bệnh trong chăn nuôi gà thịt

Công tác thú y, vệ sinh và phòng chữa bệnh rất quan trọng trong chăn nuôi Vì ở các cơ sở chăn nuôi lớn nếu xảy ra dịch bệnh thì sự thiệt hại sẽ không ít Khi có một ổ dịch phát sinh thì có phần lớn đàn gà bị tiêu diệt nhưng khi không phải là ổ dịch mà gà bị các bệnh như giun sán, rối loạn tiêu hóa… thì thường bị hao mòn sức khỏe, tiêu phí thức ăn, không đưa ra được sản phẩm, sản phẩm kém Do đó, vấn đề vệ sinh phòng bệnh và chữa bệnh cho gà cùng với công tác giống và thức ăn là 3 khâu kỹ thuật có tầm quan trọng đặc biệt

Vậy đối với các trại chăn nuôi theo quy mô lớn nên tuân thủ theo các quy tắc kỹ thuật thú y để đảm bảo an toàn cho trại, mang lại hiệu quả cao trong sản xuất Chuồng trại phải thường xuyên vệ sinh sạch sẽ, chuồng nuôi luôn thoáng mát và khô ráo

Trang 29

Mỗi lần xuất chuồng là phải tổng hợp vệ sinh dọn dẹp, rửa sạch, sát trùng bằng NaOH, thuốc sát trùng Terminator Các dụng cụ chăn nuôi được phun và rửa sạch với nước sát trùng để đảm bảo vệ sinh cho những lần chăn nuôi sau Nền chuồng được phun rửa bằng NaOH 20% Sau khi cọ rửa sạch sẽ thì phun toàn bộ chuồng nuôi bằng thuốc sát trùng Terminator với nồng độ pha theo quy định, cuối cùng là quét vôi lại toàn bộ nền chuồng, máng ăn uống, tường

Các khung sắt được quét sơn bảo vệ chống rỉ và hệ thống quạt được rửa sạch sẽ Sau khi dọn vệ sinh chuồng nuôi xong thì để trống chuồng 5 - 15 ngày Trong thời gian trống chuồng này có thể phun sát trùng 2 lần, trước khi vào gà con 2 ngày phun lại 1 lần, khi vào gà xong phun 1 lần

Lối vào khu chăn nuôi được rắc vôi định kỳ 1 lần/tuần, phun sát trùng 2lần/ tháng và trong chuồng nuôi phun 1 lần/ tháng

Trước khi vào khu vực chăn nuôi phải mặc quần áo bảo hộ lao động và tắm sạch sẽ

Trong khu chăn nuôi không cho chó, mèo, chuột, bọ ruồi, muỗi xâm nhập vào chuồng để tránh lây lan và mang mầm bệnh vào chuồng trại cho con vật khỏe

Người, xe chở thức ăn, thuốc, phương tiện đi lại đều phải phun sát trùng theo đúng quy định trước khi vào trại

Công nhân chăn nuôi trước khi vào chuồng nuôi phải tắm qua thuốc sát trùng, thay quần áo thường bằng quần áo bảo hộ lao động, đi ủng bảo vệ sau

đó mới được vào khu chăn nuôi Thực hiện đầy đủ nội quy, quy định của trang trại đề ra

* Phòng bệnh bằng vắc xin

Sau khi tiêm vắc xin một thời gian nhất định động vật mới có miễn dịch Cần chú ý các trường hợp sau: ở nơi có ổ dịch cũ, do nhiều bệnh truyền nhiễm phát sinh theo mùa nên hàng năm cần phải tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm trước mùa phát bệnh Ở nơi bệnh đang phát thì đối với động vật đã

Trang 30

mắc bệnh cấm không được tiêm vắc xin ngay mà phải dùng kháng huyết thanh hoặc kháng sinh thích hợp điều trị Đối với động vật còn khỏe nhưng dễ

bị lây nhiễm (do tiếp xúc với con bệnh) có thể tiêm kháng huyết thanh cùng một lúc với vắc xin (nhưng ở vị trí khác nhau trên cơ thể) Đối với động vật khỏe mạnh hoặc ở động vật khu vực xung quanh ổ dịch thì tiêm ngay vắc xin

để tạo vành đai miễn dịch Đối với động vật khác loài nhưng có cảm thụ với bệnh cũng có thể cần tiêm vắc xin phòng bệnh đó

Động vật được tiêm nói chung phải khỏe mạnh Không tiêm vắc xin cho những con đang nung bệnh, những con quá gầy yếu, quá non, những con

có nhiều ký sinh trùng

Phải tiêm phòng liên tục (tiêm nhắc lại) do sau một thời gian kháng thể được tạo ra bởi sự cảm ứng của vắc xin thường suy giảm đến mức hết hiệu lực và phải tiêm đạt tỷ lệ cao cho động vật thuộc diện phải tiêm để tạo miễn dịch tập đoàn bền vững Chỗ tiêm phải sát trùng, dụng cụ tiêm phải tiêu độc Liều lượng tiêm phải đúng theo sự chỉ dẫn của nơi sản xuất

2.2.1.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn gà thịt

 Bệnh cầu trùng

- Lứa tuổi bị bệnh:

Gà ở 10 ngày tuổi trở đi đối với nuôi lứa đầu và 6 ngày tuổi với lứa sau

- Nguyên nhân gây bệnh:

Do cầu trùng gây nên Có 9 chủng thường gặp nhất là 6 chủng:

E.tenela ký sinh ở ruột thừa, E acervulina ký sinh ở tá tràng, E necaltrix ký

sinh - ở ruột non nhưng không ở tá tràng, E mitis - cuối ruột non đầu ruột già,

E bruneti - ở ruột già và manh tràng, E praecox - ở tá tràng và không tràng,

E haeami - ở tá tràng, E maxima - ở ruột non nhưng không ở tá tràng,

E mivati - ký sinh ở tá tràng và ruột non

Cầu trùng gây bệnh cầu trùng trên gà tồn tại rất lâu ngoài môi trường

và rất khó tiêu diệt bằng các loại thuốc sát khuẩn cũng như vôi bột vì vậy đàn

Trang 31

gà rất dễ bị mắc bệnh từ môi trường Bệnh gây tổn thương ruột nên tạo điều

kiện cho bệnh E coli xâm nhập vào máu bại huyết, viêm ruột hoại tử

Cần thay đổi các loại thuốc trong các lứa khác nhau

Dùng một trong các thuốc trị cầu trùng trên kết hợp với một trong các thuốc sau: Amoxicillin, oxytetracyclin, enrofloxacin để tăng cao hiệu quả chữa bệnh cũng như đạt tác dụng tối đa khi đưa thuốc vào cơ thể bệnh

Trang 32

Kết hợp với Vitamin K để cầm máu

Dùng Toltrazurin + Amoxicillin + Vitamin K

 Bệnh CRD

* Đặc điểm chung

- Do một loại vi khuẩn Mycoplasma galliseptium gây ra Mycoplasma ở

trong cơ thể gà và gây bệnh khi có tác nhân gây stress như thời tiết thay đổi

đột ngột, chế độ dinh dưỡng kém, tiêm ngừa,… Mycoplasma chỉ sống được

1-3 ngày, khi đã ra khỏi cơ thể (ở trong phân, dụng cụ chăn nuôi), trong dịch nhầy chúng tồn tại lâu hơn (khoảng 4-5 ngày) trong lòng đỏ trứng tồn tại đến

18 ngày

- Hầu hết các chất sát trùng đều có khả năng diệt Mycoplasma như:

Phenol, formol, propiolactone, methiolate, chế phẩm sát trùng chuồng trại biodine, bioxide, Biosept, của hãng thuốc Bio rất có hiệu quả Các loại kháng sinh có tác dụng điều trị thuộc nhóm tetracyline, macrolides và quinolones từ thế hệ thứ 2

* Mầm bệnh:

+ Gà mắc bệnh bài thải vi khuẩn vào không khí, gà bệnh chỉ truyền bệnh cho gà khỏe khi ở chung đàn hay cùng chuồng trại Dụng cụ chăn nuôi, thức ăn nhiễm vi khuẩn cũng là nguồn gây bệnh

+ Một đường lây truyền nguy hiểm nữa là mầm bệnh có thể truyền qua cho thế hệ sau do trứng đã bị nhiễm trùng

+ Gà khỏi bệnh nhưng vẫn con mang trùng, nếu chủng vắc xin

Mycoplasma hoặc nhiễm trùng kế phát bệnh trở lại rất nặng

* Triệu chứng:

+ Trên gà thịt: bệnh hay xảy ra lúc đàn gà được 5-8 tuần, thông thường

kết hợp E coli-CRD (C-CRD) với các triệu chứng giảm ăn, chảy nước mũi,

viêm xoang mũi, thở khò khè, viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt, sưng mặt,

gà ủ rũ kém ăn và chậm lớn

Trang 33

+ Trên gà trưởng thành - gà đẻ, bệnh phát ra khi có stress như thay đổi thời tiết đột ngột, tiêm phòng, chuyển chuồng, cắt mỏ…Các triệu chứng chính vẫn là chảy nước mũi, thở khò khè, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng, gà con yếu, tỷ lệ ấp nở kém, còn các triệu chứng khác không xuất hiện

* Bệnh tích:

+ Viêm xuất huyết ở đường hô hấp trên

+ Mổ khám thấy xoang mũi, khí quản có nhiều dịch nhầy, xuất huyết, túi khí viêm đục, có chấm trắng, có bọt Trường hợp bệnh lâu ngày ghép

thêm E.coli: Màng phổi, màng bao tim và màng gan bị phủ lớp fibrin dày có

màu trắng ngà, phù nề các khớp, xuất hiện dịch viêm ở khớp, thoái hóa bề mặt của khớp

* Phòng bệnh:

+ Bệnh CRD rất dễ xảy ra lúc giao mùa hoặc khi thời tiết thay đổi, gia cầm bị stress, vì vậy biện pháp phòng bệnh cần được thực hiện đầy đủ các bước sau:

+ Nên mua gà giống ở những cơ sở chăn nuôi có gà bố mẹ không bị bệnh CRD

+ Chuồng nuôi phải được nghỉ cách ly phun sát trùng (phơi chuồng) ít nhất 3 tuần, chuồng nuôi phải thông thoáng phun sát trùng định kỳ, sát trùng máy ấp cẩn thận

+ Bổ sung đầy đủ các loại VTM đặc biệt là VTM nhóm B, C, các chất điện giải như Bio-Electrolytes, nhằm nâng cao sức đề kháng

+ Sử dụng kháng sinh để phòng bệnh Hiện nay có 3 nhóm kháng sinh

chính để điều trị bệnh Mycoplasma đó là nhóm Tetracyline, nhóm Macrolide

và nhóm Quinolone Người chăn nuôi có thể sử dụng các loại thuốc sau để phòng như Bio-Tylodox Plus hoặc Tilmicosin

Trang 34

* Điều trị:

+ Thuốc của hãng Bio như Bio-Tilmicosin rất đặc trị với bệnh CRD ở gia cầm Liều lượng 1ml/12-13kg TT hoặc 0,3ml/1lít nước uống, uống liên tục 3 ngày

+ Nếu bệnh CRD ghép với E coli thì ta nên sử dụng thuốc đặc trị

Bio-Tylodox plus cho kết quả tương đối hiệu quả Ngoài ra, cần dùng thêm chất điện giải, bổ sung VTM và khoáng chất cần thiết cho đàn gia cầm Cần lưu ý thêm là chuồng nuôi phải luôn khô thoáng, mát về mùa Hè, ấm về mùa Đông, tránh ẩm ướt sẽ thuận lợi cho vi khuẩn phát triển

 Bệnh ORT

- Nguyên nhân gây bệnh

Do vi khuẩn có tên Ornithobacterium Rhinotrcheale (ORT) gây nhiễm

+ Túi khí bị phá hủy hoàn toàn

+ Ngoài ra còn có triệu chứng viêm khớp, có mủ và dịch tiết trong khớp

- Phòng bệnh:

+ Chủng ngừa các loại vắc xin đầy đủ cho gà

+ Độ thông thoáng chuồng nuôi tốt, mật độ nuôi phù hợp, nâng cao sức

đề kháng cho gà bằng RTD-Polyvitamin

Trang 35

- Điều trị

+ Dùng bộ đặc trị ORT của RTD bao gồm 400ml KC-AMIN và 100ml CEPTISUS pha vào nhau, lắc đều tiêm cho gà với liều như sau:

Gà có trọng lượng bé hơn 1kg: Tiêm bắp 0.2 ml dung dịch trên cho một con

Gà trọng lượng lớn hơn 1kg: Tiêm bắp 0.5ml dung dịch trên cho một con + Kết hợp cho uống doxycycline

 Bệnh đầu đen

- Nguyên nhân gây bệnh

+ Do đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở niêm mạc manh tràng

và gan gây nên các bệnh tích điển hình

- Điều Trị

Dùng Sulfamonomethoxine hoặc Doxycylin

Cho uống hoặc trộn vào thức ăn

Ngày đăng: 18/07/2020, 09:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm